tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24366412
Tiểu thuyết
13.09.2013
Ngũ Hà Miên
Bão

Phần 3. ANH GIÁO HÒ LƠ


 


Nằm nhà mãi cũng chán, chàng làm đơn xin dạy học. Bấy giờ vùng kháng chiến đang cải cách giáo dục, đổi bậc Trung tiểu học thành Phổ thông cấp 2 và 1, mở trường khắp các huyện, bổ nhiệm một vị cựu quan học chánh thời Pháp, cựu hiệu trưởng trường Lê Khiết làm Trưởng ty Giáo dục: thầy Nguyễn Vỹ.


Mẹ gói một mo cơm, lại ép một con cá nục kho mặn như thời còn bé, chàng đi bộ gần ba chục cây số lên miền tây Sơn Tịnh gặp thầy cũ, chàng vòng tay cung kính:


Dạ thưa thầy, nghe nói các trường trong tỉnh đang thiếu giáo sư Quốc văn?


Có thiếu nhưng không cần những người như ông!


Vừa trả lời thầy vừa trề môi, cặp môi bình thường của thầy đã rất dày. Chàng được gọi bằng ông lần đầu tiên trong đời từ lúc ấy (1950). Tuy vậy, thầy Vỹ vẫn nhận đơn và sau đó vài tuần chàng được bổ nhiệm dạy trường cấp hai Đức Phổ. Thằng Hạm đã trở thành người lớn. Nhưng cảnh ngộ thật éo le: một anh chàng lỏng khỏng mới mười chín tuổi mặt còn nặn ra sữa làm thầy giáo mà học trò có người đã ngoài ba mươi, như anh Thủy chẳng hạn, từng học đệ nhị trung học Pháp thoát ly đi làm cách mạng, rồi vào bộ đội, rồi giải ngũ về làm tới Bí thư huyện ủy, bây giờ vừa đi học lại, ngồi lớp sáu.


Bây giờ những thiếu nữ nhà giàu hay con gái các tiểu viên chức ở thôn quê, gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu gặp thời buổi kháng chiến, vừa đi nhổ mạ, trồng bông, vừa muốn có chữ nghĩa. Giảng bài trong lớp, khi bắt gặp những ánh mắt nồng nàn của tuổi dậy thì bắt đầu biết thèm khát, của những bộ ngực căng tròn lẩn dưới làn áo vải phin trắng, những khuôn mặt tràn đầy nhựa sống, nước da ửng hồng, những cặp mắt mơ màng đen láy sáng lên giữa vùng tối um tóc xõa, chàng thấy xao xuyến tận tâm hồn. Nhờ đó, chàng mê man lột tả được tất cả những gì gợi tình, hấp dẫn nhất trong những bài thơ buổi đầu cách mạng, đánh giặc nhưng một cách thật lãng mạn, bằng quả tim yêu đương của Hoàng Cầm: Ai về bên kia sông Đuống/ Có nhớ từng khuôn mặt búp sen…/ Những nàng dệt sợi/ Đi bán lụa màu/ Những người thợ nhuộm/ Đồng Tỉnh, Huê Cầu/ Bây giờ đi đâu… về đâu1


Anh Mười, người bạn hơn là người anh của chàng đã ra đi, thì bấy giờ chàng cũng đã có kẻ thay thế. Đó là Phát ở Lương Nông, con một nông dân đang làm ăn phát đạt và Thưởng con một nhà buôn ở Quảng Ngãi, biết kéo violon thật hay, vừa là võ sĩ có hạng. Từng giờ từng phút ở đâu có bom rơi đạn nổ, lửa cháy người chết, có người chinh phụ trẻ hoặc hong tóc chờ chồng, hoặc làm lái đò đêm đêm đưa du kích sang sông, tất cả, với chàng đều thật nên thơ:


Nước ơi có chảy về nguồn


Mang giùm ta, chút mùi hương tóc thề


Những chiều thứ Bảy, dù đã mất nửa buổi để về nhà, buổi tối chàng còn cuốc bộ thêm vài trống canh trong đêm để ra sông Vệ đón Phát và Thưởng từ Ba Gia, miền tây Sơn Tịnh xuống nhà. Họ cùng đàn đúm ngâm thơ, hát xướng và ba hoa những lời cao ngạo với nhau tới khuya, tự cho mình là những kẻ sĩ số một trên đời. Mãi sáng thứ Hai họ phải dậy sớm, áo quần nhăn nhó, hôi hám, vội vã xỏ dép, khoác bị vải lên vai, gần như chạy lúp xúp cho kịp tới trường, nhiều khi trễ cả tiếng đồng hồ. Bê bối vậy, nhưng nhờ giọng giảng bài văn hoa, ru ngủ và có hồn, số đông đám học trò đang tuổi mộng mơ đã dễ dàng tha thứ cho lối sống cẩu thả của ông giáo trẻ.


 


1. TỎ MỐI TÌNH CÂM: BUỔI ẤY EM SẦU TAN TÁC MỘNG


 


Trường chàng dạy cách nhà Nhụy hơn một giờ đi bộ. Thế là một buổi chiều chàng ghé thăm.


Nàng đã học hết lớp Bảy, tương đương với bằng Thành chung trước đây, và phải ở nhà coi xưởng dệt cho mẹ. Thấy có người con trai đến chơi, mẹ nàng sai đứa em đem bộ ấm chén cổ mốc meo từ lâu không dùng ra chùi rửa và pha nước mời. Cha nàng là một quan chức lớn về tài chánh của Liên khu thường không có nhà. Mười bảy tuổi, nàng đã có vẻ người lớn. Chuyện vãn với mẹ nàng hồi lâu, rồi vờ vĩnh hỏi tin Tuyến, người anh trai nàng vốn là bạn học đang đi bộ đội, chàng xin phép ra sân nhìn những cây hoa ngọc anh (white magnolia) đang độ nở trắng cả hàng rào, thơm ngát sương chiều.


Chàng lần ra giếng, một mặt giếng cổ, cũng với những tảng đá ong mấy đời rêu phong, nơi nàng đang múc nước. Họ ngượng nghịu chẳng dám nhìn nhau, mắt cùng đăm đăm ngó những đám mây bạc đang tan tác vỡ trong lòng giếng.


Để bớt mắc cỡ, chàng kiễng chân vịn một cành khế nhà nàng, ôi cái cành khế định mệnh buổi mười lăm của nhà chàng bốn năm trước, ngắt một chùm, bứt từng chiếc hoa lấm tấm hồng thả xuống mặt giếng tù hãm nhưng lại như rộng mông mênh. Mặt nước nhăn xèo. Nàng hiểu, vẫn cúi mặt thẹn thùng.


Ý mẹ muốn em phải lập gia đình.


Dù chưa bao giờ được chàng mở lời một cách chính thức, nhưng nàng đã cảm nhận một cách sâu xa tình yêu mê đắm mà chàng dành cho mình, không hẳn là không hãnh diện và sung sướng. Chàng choáng váng, nửa tràn trề hạnh phúc, nửa lo âu vì một cái gì vô cùng mới mẻ. Ánh nắng vàng cuối năm lảng vảng ngoài vườn. Nhếch một nụ cười vừa mãn nguyện, vừa đau khổ, lần đầu tiên trong đời, chàng đặt bàn tay run rẩy của mình lên đôi vai thon nhỏ, dịu dàng của người yêu, lâng lâng như giữa cảnh khói sương.


Nàng rùng mình nhẹ nhàng, đôi mắt ngước lên đen láy, hun hút mở ra cho cả linh hồn chàng sa vào đấy. Cả hai đang trôi nổi phiêu diêu trong một thế giới lung linh, kỳ ảo của cả thiên đường lẫn địa ngục có đủ thập loại chúng sinh.


Bỗng dưng nàng bỏ tay, vụt chạy vào bếp. Chính chàng chớ không phải ai như con chim bị tên bắn trọng thương, chết lặng đi trong giây lát, phải dựa vào thành giếng cổ rồi định thần, loạng choạng vào nhà. Trên thế gian, mối tình đầu nào có lẽ cũng đẹp như vậy.


Bữa cơm đãi chàng chỉ có mẹ và mấy đứa em cùng ngồi. Mẹ nói rất nhiều về việc làm ăn, giá vải và nhất là tài nội trợ của nàng. Hiểu ý, chàng chỉ ừ cho phải lễ. Miếng cơm nhai trong miệng cũng nhạt nhếch.


Tối hôm đó về nhà trọ, ngọn đèn khuya bên cửa sổ thức trễ hơn mọi khi, chàng hí hoáy viết:


Buổi ấy em sầu tan tác mộng


Làm sao đôi lứa trọn duyên tình


Anh cười đau khổ, khô dòng lệ


Tím cả y thường, hoa mỏng manh


 


Mùa thu nào chết trong lòng giếng


Mây trắng về đâu kéo thật nhanh


 


Anh vịn vào em, giây lát ấy,


Lòng nghe rạn vỡ, bức trường thành!...


(1950)


Chàng chưa đủ tuổi để hiểu rằng, dù mới mười bảy, nhưng là con gái lớn của một gia đình nhiều em, nàng bắt buộc phải thành gia thất để trông coi việc nhà. Bằng ánh mắt và lời nói nhẹ nhàng, mẹ muốn kín đáo tỏ cho chàng biết chàng được chọn, nhưng phải tiến tới ngay, ít nhất là một lễ hỏi, kẻo nhiều kẻ ngắm nghé. Trái lại, bản thân chàng thì chưa tới hai mươi, gặp thời buổi chiến tranh mà trên chàng thì còn những hai người anh chưa lập gia đình: anh Bảy, giáo sư và anh Mười bộ đội ở tận miền Bắc.


Chưa có câu trả lời, chàng không còn dám năng lui tới nhà nàng nữa. Mối tình đầu càng chìm vào bên trong càng trở nên câm nín, sâu sắc.


Hồ Cơ, Hiệu trưởng trường Đức Phổ mới non ba mươi tuổi, chưa vào Đảng - là anh ruột nhà ngữ học Hồ Lê sau này - đối với chàng thật tâm đắc. Chỉ dạy ở đấy có mấy tháng mà chàng được học trò và đồng nghiệp rất thương mến. Nhưng vì Đức Phổ hơi xa nhà, những hơn hai mươi lăm cây số đi bộ, nên chàng đã xin chuyển về Mộ Đức.


Liên hoan gần Tết Canh Dần năm ấy cũng là tiệc tiễn hành. Đám học trò gái có, trai có, cùng với thầy giáo lốn nhốn sai biệt nhau hai ba tuổi đã hình thành một mối quan hệ khắng khít, hồn nhiên và lãng mạn. Được kích thích bởi không khí vừa vui nhộn, vừa sầu buồn ly cách, chàng đã nghẹn ngào ứng khẩu tặng đám môn sinh vừa là bầu bạn của mình một bài thơ, không biết viết cho mình hay cho ai, cho người bạn, người anh Hồ Cơ hay cho Bích Lâm, Hoàng Nhi, những cô nữ sinh xinh đẹp mà chàng cũng đem lòng thầm yêu:


Ngày xưa thắp nến trong lều cỏ


Đùa với nhân gian mấy nhịp cười


Sáng thu gió lạnh lùa qua ngõ


Nhắn hỏi người xa, hoa có tươi?


 


Dăm gã thư sinh chưa biết tuổi


Kết cánh hoa đen làm trò chơi


Tiếng hát canh khuya vang lối xóm


Sương xuống nghe buồn trong đêm hơi.


 


Một chút tình buồn không biết nói


Mắt xanh, xanh đọng mây trời xanh


Tôi đi, tóc rối niềm ly biệt


Buâng khuâng sầu dâng mấy dặm trình.


                                       (1950)


Giọng ngâm của chàng đã làm Hồ Cơ xúc động. Đang buổi vui xuân mà bỗng dưng cái không khí hiu hắt của mùa thu như từ đâu trong cổ thi xa xăm tới xâm chiếm tâm hồn họ.


Cơ đứng dậy, vỗ vào mặt bàn làm nhịp và cất giọng:


Ô hay! Sao mỗi lần thu tới


Là ở trần gian lắm biệt ly


Có phải mùa thu mùa khốc biệt


Giục người vô cớ phải ra đi?...


 


Mây trắng tiễn chân về xứ lạ


Trường đình bịn rịn buổi phân kỳ


Tiệc mời, chén rượu đưa chưa cạn


Lệ ở đâu về đọng dưới mi?


Vậy mà có nước mắt thật. Thầy khóc và trò khóc, tất cả đều xinh đẹp và trinh trắng, từ thể xác tới linh hồn. Cũng từ đó chàng và người yêu không gặp nhau nữa.


Về lại Mộ Đức, đầu tiên là dạy cấp hai tại ngôi trường mà sáu năm trước chàng còn học tiểu học, trên ngọn đồi nhỏ, một mỏ thiếc đã hoang phế.


Lẽ dĩ nhiên lại ở trọ nhà cô Ba. Cô vẫn coi chàng như đứa cháu nhỏ hồi xưa, chăm chút, nhắc tắm rửa hằng ngày, áo quần thay ra cô gom lấy đem giặt, phơi khô, xếp thẳng thớm dưới gối cho chàng.


Một buổi chiều đang ngồi trong nhà thì có tiếng máy bay gầm rú trên trời xanh yên tĩnh thôn quê, rồi bom rơi, tiếng nổ ì ầm, ánh sáng lóe lên, mọi người chạy ra hầm trú ẩn. Sau trận oanh tạc khủng khiếp chấm dứt, chàng đi bộ đến xem thì biết nạn nhân gồm đủ nam phụ lão ấu của họ hàng nhà kia có đám giỗ.


Họ đã lãnh đủ cả chục quả bom napal, đồ ăn, thức uống vung vãi, bàn thờ, mái tranh, trâu bò gà lợn đều làm mồi cho thần hỏa. Hàng chục thây người rơi đầu, rớt chân được nướng vàng như những miếng thịt thui trong chợ. Về nhà, chàng không sao nuốt trôi bữa cơm tối. Chứng kiến sự tàn phá của chiến tranh và cái chết thảm khốc, không kịp trối trăng của nhiều người trong số đó có người bạn cùng lớp Lê Sơn, chàng cho rằng tất cả thật phi lý không sao cắt nghĩa nổi, khi những chiếc phi cơ mang hiệu kỳ Tam Tài, tổ quốc của những Victor Hugo, Lavoisier… mà chàng yêu mến lại đem chết chóc tang thương cho những gia đình dân quê không tên, không tuổi chỉ an phận và mong cầu cho cuộc sống nghèo khổ, tối tăm của mình được bình yên bằng chính mồ hôi, nước mắt của mình.


Chàng chưa đủ sức để hiểu rằng trong chiến tranh nhân dân giữ nước thì mỗi người dù là kẻ vác cuốc ra đồng để làm ra hạt lúa hay người giáo viên cầm viên phấn đứng trước bảng đen để đào tạo thế hệ sắp đến, tất cả đều được xếp vào một phía trong bàn cờ đối địch nhau, phải giết chết lẫn nhau, phải tiêu diệt lẫn nhau.


Chiến tranh không cho phép ai quân tử Tàu, chiến tranh là tàn ác, và không thể có sĩ diện.


Hằng ngày chàng dạy cho các em giải một phương trình hay tập chúng viết câu đúng văn phạm, hàng tháng chàng nhận đủ ba mươi bảy ký lô gạo để nộp gần hết cho nhà trọ, còn dư dăm bảy ký thì chi tiêu vào việc hớt tóc, mua xà bông, thay một quai dép cao su đã đứt và thỉnh thoảng lắm, thưởng thức một tô phở nhà quê với vài lát thịt thái mỏng như giấy hay một bát thịt bò xào, thả bánh tráng nướng vào, món ăn đặc biệt của vùng quê Quảng Ngãi.


Có bao nhiêu, ăn tiêu bao nhiêu, không ai đặt vấn đề mình phải được hưởng thụ hay dành dụm riêng cho mình cái gì. Đấy là cái đẹp, cũng là hạnh phúc của những người kháng chiến.


 


2. TRƯỜNG TRUNG HỌC TƯ THỤC AN PHONG (NGƯỜI NÔNG DÂN VỚI THUYẾT MISSOURINE)


 


Lúc rỗi rảnh chàng đeo bị vải lên vai, đi bộ đến nhà những người bạn thân, ăn ké với gia đình bạn một bữa cơm, thường chỉ có rau mắm, chỉ thêm cái chén đôi đũa. Rồi họ bỏ chõng tre ra sân, cùng hút thuốc nằm ngửa lên, trong không khí thoáng mát, dặt dìu lời ca giun dế, nhìn bầu trời đêm lác đác sao, mà tán gẫu tới khuya.


Tuy vậy, chàng vẫn cố mượn sách vở để tự học, và tất nhiên, làm thơ.


Nhâm thìn (1952) cha đã sáu mươi mốt tuổi. Trong câu chuyện, cha thường tỏ lộ nỗi lo âu không được ở lâu với con cháu.


Chàng xin chuyển về dạy ở Bầu Súng cách nhà bốn cây số đường làng để có thể thỉnh thoảng chăm sóc cha. Đồng nghiệp của chàng là hai người lớn tuổi hơn nhiều. Tranh tre mái lá, ngôi trường nhỏ núp dưới chân đồi sỏi đá chỉ có hai lớp Năm và Sáu trong căn nhà tranh với tổng sĩ số non một trăm học trò.


Thầy trò tới lớp từ khi mặt trời sắp lặn và học, dạy đến khoảng cuối canh hai, leo lét ánh đèn dầu phộng lù mù. Mỗi khi nghe có tiếng máy bay ù ù từ xa vẳng lại, tất cả phải đồng loạt tắt lửa mà nhảy xuống hầm trú ẩn cá nhân.


Học trò ban ngày đi làm ruộng mới có cơm độn khoai bắp qua bữa. Thầy giáo thì được ba mống, lấy học phí trả bằng gạo của các môn sinh chân lấm tay bùn. Họ chia nhau, mỗi người ngoài ba chục ký lô, còn dư ra dùng mua giấy bút văn phòng nhà trường.


Ông Trần Ỷ, Hiệu trưởng, đỗ tú tài từng dạy ở Lê Khiết, công chức bưu điện thời Pháp, từng kể câu chuyện ma rất hay - ở đầu câu chuyện này ta đã gặp.


Còn ông Trần Giới, một giáo viên tiểu học, cha từng đỗ Thủ khoa Hương thí nên theo lý luận cách mạng, dù gốc nhà quan lại. Anh tập tước ấm sanh, nên người ta còn gọi là ông ấm Giới[1]. Nhưng anh vào Đảng sớm, được bố trí làm nòng cốt của trường. Nhờ được qui chế gần như tự trị, bộ ba Ỷ, Giới và chàng bông đùa thỏa thích, tự phong cho trường danh hiệu là nước Cộng hòa Nhân dân Tư thục.


Giáo sư Trần Ỷ con nhà giàu, từng học trường Tây ở Sài Gòn, chữ viết và sách vở bao giờ cũng nắn nót, ngay ngắn, cẩn thận đúng mực công chức thời xưa. Nhưng Ỷ rất vui tính, bất cứ lúc nào cũng có thể tuôn ra một vài câu thơ. Ví dụ như đang giữa tiết hè nóng nực, anh vẫn rung đùi ngâm lên: Hôm nay mùa thu tôi làm thơ! luôn luôn làm cả đám không nhịn được những chuỗi cười nắc nẻ, sảng khoái. Lối nói dí dỏm của anh đã bù trừ lại cái tính chững chạc nghiêm nghị của người Đảng viên con cụ Thủ khoa Trần Phan, khiến đời sống nơi cái xó nhà quê này bớt sự nhàm chán của nhịp điệu tù hãm thường ngày.


Cả ba trọ tại nhà một nông dân đã ngoài năm mươi, bà con xa xôi với chàng.


Buổi chiều, cơm nước xong, ánh hoàng hôn còn thoi thóp trên đồi An Phong, họ dắt nhau đi dạy. Hết canh hai, họ mò mẫm về nhà. Những đêm mưa tháng Mười trời đen như mực, quần áo bà ba bằng vải thô màu chàm hoặc xám tro, xăn tận gối và cùi chỏ, nón lá áo tơi mò mẫm đi về trong gió rét tê cóng. Thỉnh thoảng họ được bồi dưỡng bằng nồi bắp rang giòn, rưới mắm ớt hoặc mấy củ khoai lang luộc. Những buổi sáng nhàn hạ, họ cùng soạn bài và nói chuyện chính trị của khắp cái thế giới bao la này.


Ấm Giới trở thành Chính ủy của nhà trường mà đối tượng chỉ là chàng và Ỷ. Anh ngồi ngay ngắn:


Tôi mới đi họp tuyên huấn ở huyện về. Tỉnh ta mới may mắn đón tiếp đồng chí Dương Bạch Mai, một trí thức lớn của Nam bộ vừa từ Việt Bắc về báo cáo tình hình Liên Xô. Bên đó đã nuôi được những con bò sữa mà chu vi vú của chúng rộng tới hai mét, mỗi ngày cho hàng trăm lít sữa.


Ỷ phản bác ngay:


Tôi không thể tin được.


Giới cương quyết:


Anh còn tiểu tư sản quá, cách mạng luôn luôn tạo sự thần kỳ. Điều này cũng không mới mẻ gì. Xưa kia, nhờ lòng yêu nước mà cậu bé Phù Đổng mới ba tuổi có thể ăn một lúc bảy vạc cơm lớn để thở ba cái là vụt trưởng thành một trang nam nhi dũng sĩ, cưỡi ngựa sắt, phun lửa bay lên thần kỳ đuổi giặc. Đấy, ý chí ái quốc biến con người nên thần thánh.


Ỷ cũng chưa chịu:


Đó chỉ là truyền thuyết.


Giới vẫn kiên trì, đúng mẫu mực một chính ủy.


Huyền thoại cũng phải căn cứ trên thực tại.


Thấy câu chuyện đến hồi căng thẳng, chàng nhỏ nhẹ bênh vực Giới, cố tô điểm cho có vẻ khoa học hơn:


Vú bò hai mét chu vi thì bán kính…


Chàng tính nhẩm:


Hai trăm phân chia sáu, vị chi đường kính ba tấc, nếu có phương pháp chăn nuôi đặc biệt chắc cũng đạt được.


Ông chủ nhà Sum là nông dân gương mẫu làm việc không lúc nào ngừng tay từ cày ruộng, tát nước, gánh phân, dậy từ lúc mờ sáng thức tới nửa đêm, không hề đau ốm, ăn uống như voi, nằm xuống là ngáy o…o…, chàng nghĩ đó cũng là một kiểu thần kỳ. Và nghĩ: Không nên nói về lòng yêu nước ở đây. Ông ta chỉ lo cho mình, gầy dựng cơ ngơi cho con cái. Từ khả năng của một trung nông ông đã sắm thêm trâu, lãnh thêm ruộng, mướn thêm người làm. Chỉ biết bập bẹ đọc quốc ngữ mà ông đã tổ chức làm ăn rất khoa học, mùa nào thức ấy. Phú quý sinh lễ nghĩa, ông đã đón mấy ông giáo về, cho ở trọ, không lấy tiền. Riêng đối với chàng, ông hỏi han mấy người và biết là có bà con với chàng và kêu mẹ chàng bằng cô.


Những buổi sáng không có công việc ngoài đồng, ông vừa đan ki giỏ, sửa lưỡi cày, vừa nghe mấy ông giáo nói chuyện. Bữa tối, ông đội mưa, mang đụt ra đồng đơm cá chạch. Người ta nói, những con cá chạch mập ú vào lúc lúa đang độ con gái, mà gặp mưa thì nó xót mình xót dạ, chạy rông vào giỏ. Có khuya ông đem về cả rổ đầy.


Sáng lại, với một vẻ mặt tràn đầy hạnh phúc, ông đích thân múc lên mấy tô cháo cá tươi nóng hổi, rắc tiêu bột và lá hẹ đặc sản Quảng Ngãi thơm phức, mời mọc ân cần ba nhà trí thức miệt vườn của chúng ta, con người đó đâu cần thiên kinh vạn quyển!


Sân sau nhà ông, gà vịt đầy đàn, những con heo nái đẻ đều đặn mỗi lứa hàng chục con, tất cả được chăm chút sởn sơ, mau lớn. Đụn rơm và đống phân trâu của ông cao nhất xóm.


Một hôm trong bữa cơm, ông hỏi:


Chàng Mítsuarin mà mấy thầy nói hồi nãy là ai?


Đột ngột bị vấn nạn, chàng ngạc nhiên thấy người nông dân này bỗng dưng lại quan tâm tới một vấn đề khoa học nghiêm túc và tầm cỡ đến thế.


Chàng ôn tồn mỉm cười và nôm na giải thích:


Đó là tên một người Nga giỏi làm vườn. Ổng tập cho cây lúa mì chịu đựng được cái lạnh. Bên đó, mùa đông rét ghê gớm, hàng chục độ âm, đất đai bị tuyết phủ hàng tháng mà ổng có thể trồng lúa và gặt vào mùa xuân, người ta gọi là xuân hóa lúa mì. Ổng tên là Mítsuarin được tôn sùng như Thánh. Liên Xô vĩ đại coi ổng như nhà bác học lớn.


Sum tủm tỉm cười gật đầu không nói gì. Ai dè từ chỗ hãnh diện được giao thiệp với người có học cao và hỏi han, ông ngấm ngầm áp dụng những hiểu biết đơn giản ấy vô việc làm ăn của mình.


Năm đó, thành tích của ông khiến ai cũng ngạc nhiên: ông trồng được bí đỏ ngay trong mùa mưa và nuôi hom mía trong vườn với tàn cây che nắng và tưới nước cẩn thận ngay trong những tháng khô cháy, mãi đến khi ngọn mía nứt mụt lên chồi thật cao, ông chờ trời mưa mới đem trồng, tiết kiệm được thời gian, tận dụng được đất. Nông hội ca ngợi bầu ông làm Chiến sĩ thi đua. Ông ngầm coi đó là nhờ chàng bày vẽ nên đã đãi chàng thật to: gởi biếu mẹ chàng mấy ang gạo và cả một con gà.


Trường học chưa có Chi bộ. Sang năm thứ hai, một người cháu của chàng, Tía, hơn chàng cả mười tuổi đi bộ đội từ đầu khởi nghĩa 45, bảy năm sau (1952) phục viên về học lại. Ngoài mấy sào ruộng đủ cho vợ tăng gia nuôi ba đứa con nhỏ, Tía vừa làm Nông hội vừa cắp sách đến trường.


Hôm Tía giải ngũ thì gặp Chi, con chú ruột của chàng cũng từ chiến trường Tây nguyên về. Hai người hẹn nhau gõ cửa ngôi trường lá An Phong mà chàng đang dạy: nước Cộng hòa Nhân dân Tư thục.


Tía học lớp năm, con nhà ba đời bần cố, nên làm bí thư. Chi lớp Sáu, chi ủy viên. Đó là chi bộ ba người: Tía, Ấm Giới và Chi luôn luôn xung khắc nhau.


Tía thuộc giai cấp căn bản, Giới con nhà quan phong kiến, còn Chi thì trung nông, anh em chú bác và cùng tuổi với chàng. Chi chỉ biết học, và còn mải tìm trong đám bạn gái cùng lớp một ý trung nhân.


Chàng là ông giáo hò lơ, vì mỗi khi bắt đầu giờ học, chàng hay bắt giọng cho cả lớp cùng hò theo mấy câu hò Ta lý, đặc biệt của xứ Nẫu [2], sau bất cứ bài gì, Toán, Lý, Hóa hay Giảng văn, nhưng thích hợp nhất là về tăng gia sản xuất: Củ lang mỏng vỏ đỏ da.


Đám học trò đồng thanh phụ họa: Là hố hò lơ


Chàng tiếp: Ai về Quảng Ngãi (la hố!) theo ta mà về/ Ta lý tang tình mà nghe ta hò theo ta mà về


Chàng vô tâm, sống trên mọi tranh chấp, cho nên Giới và Tía có gì bất bình nhau thì đều mang ra tâm sự với chàng. Chàng lại trở thành hạt nhân đoàn kết của cái Chi bộ kỳ khôi này.


 


3. KHI NHÀ NGHỆ SĨ NGUYỄN VĂN XUNG


BÓ RAU MUỐNG MƯU SINH


 


Anh Bảy của chàng có cái tên luôn gắn liền với định mệnh cuộc đời anh: Xung.


Rất thông minh, học cái gì cũng thật nhanh, có tài phân tích và phê phán, đặc biệt có năng khiếu thẩm mỹ nghệ thuật. Nhưng anh Xung cực kì gàn dở, xung khắc với tất cả mọi người, đầu tiên là với người yêu của mình, cô Chương, một nữ sinh ở trường anh dạy. Chị đẹp, học giỏi nhưng có đôi lưỡng quyền cao và thích lý luận. Thế là hai nhà hùng biện gặp nhau, tất nhiên không mấy khi tránh được cãi vã. Họ luôn từ nói chuyện đến tranh luận. Lần cuối, không ai chịu ai, chị khóc và từ đó không lui tới nữa.


Anh rất buồn, tự dồn mình vào trạng thái cô đơn rồi chẳng may, anh bị phong thấp khớp trầm trọng, phải nằm liệt mấy tháng. Trong buồng tối, anh học thuộc cả cuốn tự điển Tứ Giác của Trung Quốc, đọc và làm thơ được bằng chữ Tàu, tiếng đồn ra ngoài ai cũng phục. Cảnh nhà chàng đi xuống rõ rệt. Mẹ không còn trông coi nổi ruộng vườn, phải dần dần cầm cố đi gần hết. Thấy tình hình đau ốm và lẻ loi của anh Bảy, một người bạn của anh, anh Nguyễn Lữ, ở Đồng Cát, người chột một mắt, nghèo đến nỗi cha làm phu xe kéo, nhưng đã quyết tâm cho Lữ vào tận Qui Nhơn học đến hết thành chung. Điều rất lạ là dù thuộc thành phần cơ bản, Lữ khăng khăng chống Cộng sản. Dưới mắt anh, tất cả cán bộ bây giờ đều ngu dốt và xu nịnh. Nhưng tấm lòng tận tình với bạn bè của Lữ thì không chê vào đâu được. Anh đem Bảy về nhà, tự tay đút cơm cháo, bồng ẵm khi ỉa đái và dù nghèo rớt mồng tơi, anh chạy khắp nơi lo thuốc men cho anh Bảy, sống không rời nhau như vợ chồng.


Có lần vô thăm anh Bảy ở nhà Lữ, chàng nghe được hai người nói chuyện với nhau:


Xung, mày có nhớ thằng Hiền trước cùng học Quy Nhơn không?


À, cái thằng to con giỏi võ, đánh boxe tỉ thí với Tự Do[3]?


Chính nó, bây giờ đã làm to. Hôm về nói chuyện trong huyện, nó ba hoa về Cách mạng Pháp, dẫn chứng tên một ông kêu là Điđẹt, tao nghĩ mãi không ra là nhân vật nào thời 1789.


Anh Bảy phá ra cười:


Nó vốn đã ngu rồi, nay lại thêm chữ nghĩa rơi rụng hết theo thời cuộc. Làm gì có ai với cái tên như thế. Chắc là Diderot mà sách in mất chữ o nên mới trở thành Điđẹt của ngài cán bộ đó thôi.


Với lối nói báng bổ như vậy, ít lâu sau Lữ bị qui là phản động, bị bắt giam ở nhà tù An Ba. May mà anh Bảy đã khá bệnh và trở về Thi Phổ. Anh chăm sóc thật chu đáo vườn rau trước nhà. Hàng rào được phá đi để cắm khoai mì. Đất còn lại thì trồng toàn rau muống.


Hai ngày một lần, anh cắt rau, dùng những cọng rạ tươi bó thành những lọn thật đều đặn, ánh mướt thật đẹp. Nhiều lần chàng bắt gặp anh ngồi mê man ngắm nhìn một bó rau muống mà anh bó rất đẹp, như một nghệ sĩ, trìu mến tác phẩm của mình.


 


4. CHA BỆNH NẶNG, NGƯỜI YÊU LẤY CHỒNG, ĐỜI VẮNG EM RỒI, HẾT ƯỚC MƠ


 


Chiều, mẹ đem rau ra chợ bán, đổi những con rô, con lóc nhỏ về kho với tí thịt ba rọi và măng tre ở hàng rào trước nhà. Mẹ nhặt trong vườn đủ thứ nào bọ hôi, dền cứt gà, thài lài, rau má, rau sam làm rau tập tàng mà chấm với nước cá kho thả vào trái ớt chín, đạm bạc quê mùa nhưng ngon lành êm ả làm sao.


Mẹ ơi! Những ngày xưa ấy đâu rồi? Những chiều thứ Bảy, chàng từ trường về nhà, chỉ còn cha mẹ và anh Bảy, bốn người ngồi quanh mâm cơm ở ngoài hè, lẳng lặng nhìn cái ánh chiều vàng vọt trên hàng cau trước nhà.


Chàng nhận ra sự thiếu thốn và sâu sốt rét mà mấy anh bộ đội đang đóng quân trong xóm mang từ rừng sâu về đã làm cho cha hao mòn suy sụp. Cha luôn bị lên cơn, lúc lạnh phải đem cái mền rách đắp lên rồi phủ cả một chiếc chiếu ra ngoài mà vẫn run cầm cập. Chàng lấy than trong bếp bỏ vào một cái nồi đất nứt nẻ cho cha sưởi.


Thiếu ăn lại thiếu cả thuốc, hết lá lảy trong vườn tới vỏ gòn[4], vỏ bưởi, bệnh cha vẫn không thuyên giảm. Thỉnh thoảng, anh Trí, bạn thân của anh Sáu đang làm cán bộ tình báo ở vùng địch hậu Đà Nẵng ghé thăm, anh cho cha mấy chục viên ký ninh và nếu không bị Pháp khám xét nghiêm ngặt, anh giấu được mấy ống thuốc đặc trị xanh màu lá cây nhưng quý hơn vàng: Quinobleu!


Một buổi tối, sau nhiều ngày mê man nằm vùi, cha có vẻ tỉnh táo.


Đêm qua trời rét dữ, chàng đã thổi hầu cha một nồi lửa than đặt dưới giường. Cha kêu chàng đỡ dậy. Mặt người ốm rốc, tóc râu không cạo bồm xồm, chỉ còn đôi mắt là sót lại một chút tinh anh.


Cha hỏi:


Hôm nay mấy rồi?


Chàng nhìn cha ái ngại, trả lời pha một chút bông đùa:


Thập nhất ngoạt ký vọng[5]


Cha cười, nụ cười hiếm hoi lâu rồi không thấy, mếu máo héo khô:


Con còn nhớ Xích Bích phú à?[6]


Mắt cha sáng lên, tỏ vẻ hài lòng với thằng con áp út, tới hồi này vẫn còn nhớ tới thi thư, nhất là chữ Nho của Thánh hiền mà cha từng học.


Cha như lẩm bẩm điều gì đó rồi thì thào:


Vậy là qua Đông chí rồi. Đông chí nhất dương sanh[7], may ra thì ta qua được. Ngoài kia có trăng không?


Một mối xúc động nhẹ nhàng lướt qua tâm hồn chàng. Chàng thưa:


Có lẽ đã quá canh một, trăng mười sáu sáng lắm.


Cha bảo:


Kéo cái cửa bệ một chút được không?


Dạ được. Trời đã dịu cơn gió bấc.


Chàng khẽ làm theo lời cha. Chao ôi, dưới ánh trăng trung tuần mới bắt đầu khuyết, vạt cúc trước nhà, mà chàng cố công chăm sóc để cha vui, đang độ trổ bông, vàng rực trong đêm, sương xuống càng làm cho cảnh vật thêm mơ màng kỳ ảo, lại có mùi hương huyền hoặc thoảng lại.


Chàng thưa:


Cha có thấy dễ chịu không?


Cha không trả lời, chỉ khẽ ngâm, giọng rất yếu chỉ như một lời thì thào:


Lục tử danh thành xưng phụ đức (Sáu người con trai đều đã nên người, có thể xưng là đã tròn cái Đức của kẻ làm cha)


Thật vậy, sáu người con của cha, thì anh Cả và anh Sáu đều có vợ con. Anh Bảy từng làm ông Thừa [8], chàng và Út đều đi dạy, chỉ có anh Mười ở miền Bắc chưa có tin về. Mặt cha sưng húp lên, đôi chân cũng bị phù thũng rất nặng. Cha đưa tay nắn vào mu bàn chân buồn rầu: Nam kỵ túc, nữ kỵ mục (đàn ông bệnh, kỵ sưng chân, đàn bà kỵ sưng mắt). Ý cha muốn nói, theo Đông y, người bịnh mà đàn ông sưng chân, đàn bà sưng mặt, là nặng lắm rồi.


Chàng dò ý cha:


Cha có còn điều gì chưa thỏa chăng?


Còn. Hai điều: Một là thằng Nha đi xa. Con, anh Bảy mày và Chót đều chưa có gia đình, rồi tụi bay sẽ ra sao? Hai: Cả đời cha chỉ mong ước các con làm ăn có tiền giúp cha tráng ximăng cái nền nhà và xây tường lợp ngói ngôi từ đường mà thờ phụng tổ tiên…


Cha tiếp:


Ước gì bây giờ mà được đủng đỉnh đi dạo dưới ánh trăng, nhắp chén rượu hoàng hoa cất bằng cái nếp tháng tám của ruộng Cứt sắt nhà mình.


Ôi! Cái mơ ước của một con người trong nền văn minh lúa nước Văn Lang chúng ta, đẹp và giản dị làm sao! Chàng an ủi cha:


Cha cố uống thuốc cho khá. Trời cho cha mạnh giỏi, thì rồi ra cái gì cũng có.


Chàng dìu cha vào nhà. Một hôm thằng Chu, con chú ruột chàng đến thăm. Chàng hỏi:


Lâu nay làm gì?


Chu nói:


- Thì vẫn là thợ dệt xita cho ông Huỳnh Chư ở Văn Trường. Mà nầy, cho anh hay, cô Nhụy sắp lấy chồng rồi đó. Chủ nhật sau làm đám cưới[9].


Chàng cảm thấy đau nhói trong tim nhưng vẫn làm bộ lơ đãng:


Ô! Sao sớm thế, cô ấy mới mười tám.


Chuyện, con gái lớn nhứt của gia đình mà. - Chu đáp.


Chàng vẫn cố làm ra vẻ tỉnh khô:


Đấng phu quân là ai vậy?


Một ông y sĩ, hơn cổ những mười tuổi. Cổ thật đảm đang, ai lấy được cổ, sướng là cái chắc.


Câu nói giáng thêm cho chàng một đòn nữa, chàng chịu hết nổi. Vờ đau bụng, chàng vụt chạy ra cánh đồng, bỏ Chu ngồi ngơ ngác.


Mưa vừa tạnh, cỏ còn ướt, trời đầy mây, gió thổi hoang vu. Hỡi ôi, mặt đất mênh mông quá mà con người nhỏ nhoi, cô đơn làm sao. Cha sắp chết rồi, nàng lại sang sông, anh em mỗi người một ốc đảo, ta còn ai?


Ngồi chồm hổm xuống nền cỏ sũng nước của vùng gò mả như một kẻ đang đại tiện, chàng úp mặt vào tay khóc. Một sự trống rỗng như vắng lặng lạ thường tràn ngập tâm hồn chàng. Khi đau khổ đã vượt quá sức chứa của một con người, nó không còn tên gọi nữa.


Trở lại trang nhật ký, chàng ghi trọn tâm sự mình:


Đời vắng em rồi hết ước mơ


Áo xanh chi nữa uổng mong chờ


Chong đèn đọc lại tờ thư cũ


Chữ múa tình không tiếc ngẩn ngơ


 


Em nhé lên đò, anh ở lại


Chẳng gì cũng một chuyến băng sương


Phụ nhau đâu một con đò ấy


Thì nói làm chi tiếng đoạn trường


 


Chép sử, tôi chép rằng: Hạng Vương


Một chiều sương ngập bến Ô giang


Ngu Cơ khăn gói theo vua Hán


Một giấc chiêm bao, một lỡ làng


 (1952)


Ngu Cơ không rút gươm tự vẫn mà khăn gói theo vua Hán như sử chép kiểu của chàng. Đau đớn cho chàng biết bao! Từ đó, chàng không gặp nàng nữa.


Mãi hăm bốn năm sau (1976), như lời Phan Khôi, tình cờ đất khách gặp nhau. Cũng không phải đất khách, vì đấy là Sài Gòn. Cũng không phải tình cờ, vì nàng tập kết về, tìm địa chỉ chàng đến thăm, chàng đã là giáo sư ở miền Nam, Dân biểu Quốc hội đối lập với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, bị ám sát, vẫn còn mang thương tích, bấy giờ chàng đang là Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố Hồ Chí Minh.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info


 








1 Bên kia sông Đuống. Thơ Hoàng Cầm (TX).




[1] Trong chế độ phong kiến cha làm quan thì con cũng có chức tước. Con lục phẩm trở lên được tước ấm sinh, thường gọi là cậu Ấm.




[2] Nam bộ gọi dân Quảng Nam, Quảng Ngãi là xứ Nẫu. Nẫu là tiếng địa phương, có nghĩa là người ta, họ.




[3] Nên, võ sĩ quyền Anh nổi tiếng ở miền Trung trước 1945.




[4] Tức cây bông gòn: vadding cotton tree




[5] Tháng 11 đã qua ngày vọng, tức qua ngày rằm tháng 11 âm.




[6] Nguyên văn trong bài Xích Bích phú của Tô Đông Pha là: Nhâm tuất chi thu, thất ngoạt ký vọng (Mùa thu năm Nhâm tuất, đã qua ngày rằm).




[7] Đông chí 21-12 thì khí dương trỗi dậy. Ở đây tác giả nhại một câu trong Xích Bích phú của Tô Đông Pha: Nhâm tuất chi thu, thất ngoạt ký vọng.




[8] Thừa phái, một quan chức hành chánh ở huyện, tỉnh trước 1945.




[9] Người yêu của chàng là họ Huỳnh. Chư là tên cha nàng.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trả giá - Triệu Xuân 23.10.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 18.10.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 18.10.2018
Bụi đời - Triệu Xuân 13.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 09.10.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 09.10.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 05.10.2018
Sừng rượu thề - Nghiêm Đa Văn 05.10.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
xem thêm »