tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30198018
Tiểu thuyết
16.12.2008
Dư Hoa
Gào thét trong mưa bụi

Tôi kệ xác bọn chúng, đi đến chỗ Lỗ Lỗ. Lúc này Lỗ Lỗ đã đứng dạy. Tôi bước đến bên cậu, bất chấp chung quanh có bao nhiêu người đang nhìn hoặc chỉ trích tôi, tôi nói to với Lỗ Lỗ:


Em nói với chúng nó, anh là anh trai em.


 


Nhưng ánh mắt hoảng sợ không yên của Lỗ Lỗ đã làm  tiêu tan nghĩa khí sục sôi của tôi. Tôi thấy mặt cậu đột nhiên đỏ bừng. Sau đó cúi đầu đi một mình. Tôi trố mắt ngạc nhiên. Tôi nhìn theo bóng dáng nhỏ thó của cậu  mất dần ở xa  xa. Cậu luôn luôn không quay đầu lại nhìn tôi. Chiều hôm sau, tôi đứng rất lâu ở cổng trường đều không thấy bóng cậu. Thực tế cậu  đã ra về từ cổng bên của trường, Sau đó tôi thỉnh thoảng nhìn thấy Lỗ Lỗ. Cậu thường tỏ ra căng thẳng né tránh tôi.


 


Coi như tôi đã biết vị trí thật sự của người anh trai hư cấu trong con mắt và trái tim Lỗ Lỗ. Tôi  nghĩ đến một câu truyện đã  từng kể cho Lỗ Lỗ. Đó là một câu truyện tôi tuỳ tiện bịa ra qua sức tưởng tượng nghèo nàn của mình. Tôi kể, để bảo vệ thỏ con của mình, bố thỏ con đã dũng cảm vật lộn với sói, cuối cùng bị sói cắn chết. Lỗ Lỗ  hết sức say mê nghe kể. Sau đó, khi cậu yêu cầu tôi kể nữa, tôi kể lại truyện này, chỉ sửa bố thỏ thành mẹ thỏ. Cậu trố mắt nghe tôi kể. Sau đó tôi sửa mẹ thỏ thành anh trai. Lần  này tôi chưa kể hết, Lỗ Lỗ đã biết, kết thúc truyện là anh trai bị  cắn chết. Nước mắt lưng tròng, cậu đứng dạy đi, buồn bã nói:


Em không nghe nữa.


 


Sau khi nhìn thấy Phùng Ngọc Thanh, trước mắt tôi thường xuất hiện hai cảnh tượng kiên định như nhau, Phùng Ngọc Thanh đứng trên cầu gỗ ôm chặt Vương Việt Tiến và Lỗ Lỗ ôm chặt cậu bé hơn tuổi mình. Hai mẹ con giống nhau y hệt.


 


 Tôi luôn luôn không biết gì về quãng đời dài  dằng dặc của Phùng Ngọc Thanh sau khi mất bóng khỏi Cửa Nam trong một đêm sáng trăng cho đến khi chị xuất hiện trước mắt tôi một lần nữa. Tôi đã từng cẩn thận dò hỏi Lỗ Lỗ về tình hình bố mẹ cậu. Cậu thường nhìn đi chỗ khác, sau đó hớn hở chỉ  cho tôi xem những thứ khiến  người ta cảm thấy khô khan như  chim sẻ, hoặc con kiến. Tôi không thể phán đoán cậu không hề biết thật, hay là có ý né tránh. Để tìm bố Lỗ Lỗ, tôi đành phải trở về ký ức xa xôi, người đàn ông bốn mươi tuổi giọng nói địa phương khác, ngồi trên hè nhà Phùng Ngọc Thanh.


 


Về sau tôi nghe nói, Phùng Ngọc Thanh đã về quê bằng chiếc thuyền xi măng của một nông dân tỉnh ngoài. Một buổi chiều tối mặt trời sắp lặn, tay phải xách chiếc túi du lịch cũ rách, tay trái dắt một cậu bé năm tuổi, Phùng Ngọc Thanh rón rén đi trên tấm gỗ bác cầu bước lên bờ. Tôi có thể tưởng tượng cặp mắt của chị lúc bấy giờ u ám như bóng đêm sắp buông xuống, sự trớ trêu của số phận đối với chị, khiến chị thẫn thờ đứng bên sông ngó ngó ngiêng ngiêng.


 


Phùng Ngọc Thanh không về cư trú ở Cửa Nam. Chị tìm chỗ ở trong thành phố. Một người đàn ông năm mươi tuổi vừa chết vợ đã cho  hai mẹ con chị thuê một gian buồng. Ngay đêm đầu tiên, ông ta đã len lén mò sang giường chị. Phùng Ngọc Thanh không từ chối. Đến cuối tháng, ông ta đòi tiền thuê phòng, Phùng Ngọc Thanh đã trả lời:


Đêm đầu tiên tôi đã trả tiền ông.


 


Có lẽ đây là sự mở đầu cuộc sống bán trôn nuôi miệng của Phùng Ngọc Thanh. Cùng lúc đó, chị cũng đi lau rửa vải ni lông để kiếm sống.


 


Phùng Ngọc Thanh đã không còn nhận ra tôi, hay nói một cách khác, xưa nay chị không nhớ đến tôi. Một buổi chiều, khi Lỗ Lỗ chưa đi học về, tôi  đi một mình đến chỗ chị. Lúc đó Phùng Ngọc Thanh đang buộc dây phơi quần áo giữa mấy cây xanh trên bãi đất trống trước ngôi nhà gác. Chị thắt một chiếc tạp dề nhựa ngang lưng, ôm một gói to màng ni lông bẩn đi ra bệ giếng. Người đàn bà hình như sống bằng việc này, khi thả gầu xuống giếng, đã không còn tư thế bừng bừng sức sống ngày xưa. Tóc chị đã cắt ngắn. Mái tóc đuôi sam dài  thướt tha ngày xưa, mãi mãi để lại bên bệ giếng Cửa Nam. Chị bắt đầu rửa ni lông. Tiếng  máy kêu ầm ĩ rát tai vang lên không ngớt trong buổi chiều tràn ngợp ánh nắng. Phùng Ngọc Thanh chìm ngập trong tiếng máy lặp đi lặp lại. Chị tỏ ra thản nhiên, không để ý đến tôi đứng gần đó. Để phân biệt một thiếu nữ và một thiếu phụ khác nhau như thế nào, cùng một lúc tôi đã nhìn thấy cô Phùng Ngọc Thanh ngày xưa và  chị Phùng Ngọc Thanh hiện giờ.


 


Sau đó chị đứng dạy cầm một  tấm ni lông to bằng chiếc khăn trải giường đi lại gần  chỗ tôi, khi đến bên dây phơi, không hề kiêng kỵ, chị vẩy thật mạnh những giọt nước bám trên  tấm ni lông, giọt nước bắn tung toé lên người tôi. Hình như nhận ra điều này, chị liếc mắt nhìn tôi một cái, rồi phơi tấm ni lôn lên dây.


 


Giờ phút này, tôi nhìn rõ khuôn mặt chị đã bị thời gian tàn phá. Những nếp nhăn đã hằn rõ trên mặt chị. Khi ánh mắt đã mất vẻ say mê trẻ trung của chị nhìn vào tôi, giống như lớp bụi đen xám bay vào mình. Chị quay người đi về bệ giếng, cái mông sệ xuống và cái eo to khoẻ của chị đập vào mắt tôi một cách lạnh lùng. Lúc này tôi quay người  bỏ đi, trong lòng ập đến một  nỗi buồn, không phải vì Phùng Ngọc Thanh quên tôi, mà là lần đầu tiên tôi chứng kiến tận mắt sự tàn lụi tàn khốc của vẻ đẹp. Cô Phùng Ngọc Thanh đón nắng sớm mai, dơ hai cánh tay chải đầu trước cổng nhà, trong ký ức tôi từ nay về sau đã bị phủ lên một lớp bụi dầy.


 


Phùng Ngọc Thanh ban ngày và  ban đêm làm hai công việc tính chất khác nhau. Làm việc ban đêm, chị gặp phải kẻ thù nghề nghiệp và sự lùng sục của cảnh sát, đã buộc chị phải chọn lối sống khác.


 


Thời gian ấy tôi đã đi khỏi quê hương. Cuối cùng số phận đã  mỉm cười với mình khiến tôi cảm động. Đời sống hoàn toàn mới của tôi mở ra tại Bắc Kinh. Thời gian đầu tôi say mê những đường phố to rộng. Ban đêm tôi thường đứng một mình ở ngã tư rộng rãi. Nhà cao tầng ở chung quanh khiến tôi cảm thấy ngã tư bát ngát như một quảng trường, khó lòng bỏ đi, giống như cừu non say mê cỏ ngon ven sông quên lối về.


 


Giữa một đêm như thế, trong một  ngôi nhà gác cũ kỹ của thành phố quê hương, Phùng Ngọc Thanh loã lồ và một khách làng chơi tồng ngồng đã lộ ra trước mặt cảnh sát đột nhiên ập đến. Lỗ Lỗ đang ngủ say bị ánh đèn chói mắt và tiếng quát oang oang đánh thức. Không hiểu gì hết, cậu bé mở to cặp mắt đen láy, ngơ ngác nhìn tất cả những gì  đang diễn ra một cách bất ngờ.


 


Đã mặc quần áo tử tế, Phùng Ngọc Thanh quát con trai mình:


Nhắm mắt vào ngủ đi.


 


Thế là Lỗ Lỗ nằm ngay xuống, nhắm mắt lại. Điều duy nhất không theo ý mẹ là cậu cứ thức hoài. Cậu đã nghe thấy toàn bộ cuộc đối thoại của họ. Nghe thấy tiếng bước chân của họ đi xuống gác. Đột nhiên Lỗ Lỗ hoảng sợ  cảm thấy mẹ không về.


 


Sau khi Phùng Ngọc Thanh bị giải đến Cục công an, trước mặt kẻ xét hỏi, người đàn bà ít nói bắt đầu  bình tĩnh thao thao bất tuyệt. Chị nói với họ:


-  Quần áo trên người các ông, tiền của các ông đều do nhà nước cấp, các ông chỉ cần quản lý tốt việc của nhà nước là được. Cái thứ trên thân tôi là của tôi, không phải nhà nước cấp. Tôi ngủ với ai là việc của tôi. Tôi biết cai quản đồ của mình, không cần các ông phải lo.


 


Sáng sớm hôm sau, khi ông già gác cổng Cục công an mở cổng, nhìn thấy một cậu bé  xinh xinh nhỏ nhắn đứng tại đó buồn rầu nhìn mình. Mái tóc cậu ướt đẫm sương sớm. Lỗ Lỗ nói với ông già:


Cháu đến nhận mẹ về.


 


Cậu bé tự xưng lên chín tuổi, thực tế nhiều nhất chỉ bảy tuổi. Rõ ràng Phùng Ngọc Thanh hy vọng con trai sớm gánh vác trách nhiệm nuôi gia đình. Khi con mới sáu tuổi, chị đã khai liều lên tám, đưa vào trường tiểu học. Sáng nay cậu bé  nẩy sinh ý nghĩ hết sức kỳ cục định đi nhận mẹ về.


 


Chẳng mấy chốc, cậu đã biết nguyện vọng của mình không thể thực hiện được. Lúc đó cậu đứng trước năm người lớn mặc quần áo đồng phục cảnh sát. Họ dụ gĩỗ cậu bằng những lời đường mật, mong cậu nói ra  toàn bộ tình hình mãi dâm của Phùng Ngọc Thanh. Lỗ Lỗ thông minh lập tức bóc trần họ. Cậu nói với họ:


 - Các ông nói ngọt thế, định lừa cháu phải không, cháu nói để các ông biết – Giọng cậu rất mạnh mẽ - Cháu không nói với các ông bất cứ điều gì.


 


Khi Lỗ Lỗ biết mẹ không những không thể về nhà, mà còn phải đưa vào trại cải tạo lao động, cậu đã rưng rưng nước mắt. Nhưng lúc ấy, cậu vẫn tỏ ra bình tĩnh lạ lùng. Cậu lanh lảnh nói với cảnh sát:


Các ông không được đem mẹ cháu đi.


 


Sau đó nước mắt dàn dụa, cậu chờ đợi cảnh sát hỏi cậu tại sao, nhưng không người nào hỏi gì, cậu đành phải nói ra:


Các ông đem mẹ cháu đi, ai sẽ trông nom cháu?


 


Lỗ Lỗ lấy không ai chăm sóc mình làm lý do đe doạ cuối cùng. Khi vẫn còn đứng ngoài cổng, cậu đã nghĩ sẵn chiêu này. Cậu vô cùng tin tưởng nói như thế bọn họ sẽ không thể không trả mẹ cho mình. Nhưng có ai coi trọng lời doạ của trẻ con? Đe doạ của Lỗ Lỗ không thể cứu nổi mẹ, trái lại đã đưa mình vào trại phúc lợi.


 


Sau khi mẹ bị đưa đi, cậu không hay biết gì. Dường như ngày nào cậu cũng đến Cục công an đòi mẹ, khiến họ ngán tột đỉnh. Họ bảo cậu, Phùng Ngọc Thanh đã đi  nông trường cải tạo Thất Kiều, muốn đòi người, cứ đến Thất Kiều mà đòi. Lỗ Lỗ nhớ kỹ tên địa phương Thất Kiều. Đứng trong Cục công an, cậu đau đớn khóc hu hu. Khi họ chuẩn bị lôi cậu ra, cậu nói với họ:


Không khiến các ông phải lôi, cháu tự đi được.


           


Sau đó cậu quay người, đưa hai cánh tay chùi nước mắt đi ra. Cậu bé lần theo chân tường vừa khóc vừa đi. Tiếp đó chợt nhớ ra có một câu cậu chưa nói với họ. Quay lại Cục công an, cậu nghiến răng nghiến lợi nói với họ:


Chờ sau khi khôn lớn, tôi sẽ tống hết các người vào Thất Kiều.


 


Lỗ Lỗ chỉ sống một tuần ở trại phúc lợi. Cậu sống chung với một thằng mù hai mươi tuổi, một lão bét rượu sáu mươi tuổi và một người đàn bà khoảng năm mươi tuổi. Bốn kẻ mồ coi cô đơn ở trong một ngôi nhà dột nát phía tây thành phố. Lão bét rượu khó quên một người đàn bà tên là Phấn Phấn đã từng chung chăn chung gối thời còn trẻ, suốt ngày kể chuyện cũ với thằng mù cả hai mắt trẻ tuổi sôi nổi. Trong lời kể của ông ta đầy vẻ gợi tình. Người đàn bà có tên là Phấn Phấn có thể là một người xinh đẹp ngọc ngà. Khi lão bét rượu kể đến chỗ tay ông ta mân mê trên bộ giò trắng bóng của Phấn Phấn, liền há hốc mồm  kêu a a liên tục, khiến thằng mù nghe hồi hộp căng thẳng đến mức đứng ngồi không yên. Sau đó lão bét rượu hỏi thằng mù:


Cậu sờ vào bột mì bao giờ chưa?


 


Sau khi được trả lời đã sờ, lão bét rượu đắc ý nói:


Đùi Phấn Phấn nhẵn thín như bột mì.


 


Người đàn bà sắc mặt nhợt nhạt hầu như ngày nào cũng phải  nghe chuyện này, sống lâu dài trong môi trường như thế, bà đã mắc chứng sầu muộn và ngông cuồng. Bà luôn luôn cảm thấy lão bét rượu và thằng mù đang hùa nhau  định hại bà. Khi Lỗ Lỗ mới đến, thần sắc căng thẳng, bà gọi cậu bé đến bên cạnh, chỉ hai người đàn ông gian bên, khẽ bảo:


Chúng nó định cưỡng hiếp bà.


 


Người đàn bà năm mươi tuổi sáng nào cũng ra khỏi nhà đến bệnh viện. Bà lúc nào cũng hy vọng bác sĩ có thể khám ra bệnh trong người bà. Như thế bà có thể vào nằm viện điều trị, từ đó có thể thoát khỏi bị lão bét rượu và thằng mù tính kế cưỡng hiếp.  Nhưng ngày nào bà cũng buồn nản quay về trại phúc lợi.


 


Lỗ Lỗ đã sống đúng một tuần trong môi trường như thế. Hàng ngày cậu cắp sách đến trường. Khi về đến trại, thường là mặt mày thâm tím, người đầy bụi đất. Thời gian này cậu đã không còn là để bảo vệ anh trai trong bịa đặt, mà là để bảo vệ người mẹ thực tế. Sau khi được biết địa danh Thất Kiều ở Cục công an, cậu bé thông minh đã có ý định trong lòng. Cậu không nói kế hoạch của mình với bất cứ ai. Trong trại phúc lơị, cậu không hỏi nhiều bà già và lão bét rượu về vị trí Thất Kiều. Do đó, sáng sớm hôm ấy, Lỗ Lỗ len lén cuốn chiếu cói, buộc dây thừng khoác sau lưng, cầm cặp sách và chiếc túi du lịch to Phùng Ngọc Thanh đem theo khi trở về. Với lòng tin chắc chắn vào chuyến đi của mình, cậu đi ra bến ô tô. Cậu biết phải tiêu bao nhiêu tiền để mua một chiếc vé, hơn nữa còn biết Thất Kiều không có bến xe. Sau khi bỏ ra năm đồng mẹ để lại mua vé, cậu nắm chặt  ba đồng năm hào còn lại, đi vào một quán nhỏ cạnh nhà ga, chuẩn bị mua một điếu thuốc lá thơm Đại Tiền Môn đút lót lái xe. Nhưng thực tế, cậu đã nhìn thấy thuốc lá thơm Đại Tiền Môn phải hai xu một điếu, mà ba xu có thể mua được hai điếu. Cậu bạn nhỏ của tôi đứng do dự một lát, cuối cùng đã chọn mua ba hào hai điếu.


 


Một buổi chiều sắp sang mùa hè, ngồi trên chiếc ô tô chạy về hướng Thất Kiều, tay trái Lỗ Lỗ  nắm chặt hơn ba đồng tiền gói trong chiếc khăn tay mùi xoa, tay phải cầm chặt hai điếu thuốc lá. Đây là lần đầu tiên cậu đi  ô tô, nhưng không hề sung sướng, mà ngồi nghiêm túc, chăm chú nhìn ra ngoài cửa sổ xe. Cậu luôn luôn hỏi thăm người phụ nữ đứng tuổi ngồi bên cạnh còn cách Thất Kiều mấy cây số. Sau đó biết sắp đến Thất Kiều, cậu đứng lên, chuyển túi du lịch và cuộn chiếu ra cửa xe. Tiếp theo cậu quay sang chú lái xe, đưa cho chú một điếu thuốc đã bị  mồ hôi ướt sũng, giọng van xin:


Chú ơi, đến Thất Kiều chú đỗ lại một chút được không?


 


Sau khi nhận điếu thuốc lá thơm, người lái xe chỉ liếc cậu một cái, vứt luôn điếu thuốc lá ướt rượt ra ngoài cửa sổ xe, cậu bạn nhỏ của tôi tiu ngiủ nhìn  dáng vẻ người lái xe không thèm để ý đến mình, cúi đầu đau khổ. Cậu thầm tính toán xuống bến sau Thất Kiều, mình sẽ quay trở lại. Nhưng đến Thất Kiều, người lái xe đã dừng lại cho cậu xuống. Lúc bấy giờ đã gần trưa, Lỗ Lỗ nhìn thấy bức tường vây dài dài ở  gần đó. Dây thép gai trên tường vây, khiến cậu nhận định đó là nông trường cải tạo lao động. Cậu bé bảy tuổi khoác bó chiếu trên lưng, xách chiếc túi du lịch to bằng người, đi đến đó trong ánh nắng chói chang.


 


Đi đến cổng nông trường cải tạo lao động, cậu nhìn thấy một người lính cầm súng đứng gác, bước đến trước mặt, nhìn  điếu thuốc lá thơm trong lòng bàn tay, cậu nhớ đến cảnh tượng chú lái xe vừa nãy ném điếu thuốc lá thơm ra ngoài cửa sổ xe, cậu không dám lại đưa điếu thuốc, mà cười bẽn lẽn với người lính gác trẻ, rồi nói:


- Cháu muốn sống với mẹ cháu - Chỉ vào chiếu cói và túi du lịch nói tiếp - Cháu đã chuyển cả nhà đến.


 


Buổi chiều, Lỗ Lỗ mới được gặp mẹ. Cậu được người lính đứng gác  giao cho một người khác dẫn cậu đi một đoạn, trao cho một người râu sồm. Người râu sồm dẫn cậu đến một ngôi nhà nhỏ.


 


 Thế là Phùng Ngọc Thanh mặc bộ quần áo đen đã nhìn thấy con trai mình mặt mày thâm tím. Đứa con bé nhỏ đã đi một mình đến đây, khiến Phùng Ngọc Thanh không cầm nổi nước mắt.


 


             Cuối cùng đã gặp mẹ, Lỗ Lỗ vui sướng nói với me:


Con không đi học nữa, con phải tự học thành tài.


 


Lúc này Phùng Ngọc Thanh hai tay ôm mặt, khóc thành tiếng. Thế là Lỗ Lỗ cũng khóc. Cuộc gặp mặt của hai mẹ con hết sức ngắn ngủi, không bao lâu, một người đàn ông bước vào dẫn Phùng Ngọc Thanh đi. Lỗ Lỗ vội vàng xách túi du lịch và chiếu cói đi theo mẹ, nhưng bị ngăn lại, cậu hỏi gay gắt:


Tại sao?


 


Người đàn ông kia bảo cậu, hiện nay cậu nên trở về. Cậu lắc đầu quầy quậy. Cậu nói:


- Cháu không về, cháu phải sống với mẹ - Sau đó cậu giục mẹ -  Mẹ nói với ông ấy đi, con không về.


 


Nhưng người mẹ quay đầu lại, cũng khuyên cậu về. Cậu đau buồn khóc tướng lên, cậu nói với mẹ:


Con đem chiếu đến, con ngủ dưới gầm giường của mẹ, con không chiếm chỗ đâu.


 


Mấy ngày sau đó, Lỗ Lỗ bắt đầu cuộc sống màn trời chiếu đất. Cậu trải chiếu cói xuống dưới gốc cây mền kết, kê chiếc túi du lịch làm gối , nằm tại chỗ học bài. Đói bụng, cậu lấy tiền mẹ để lại ra quán cơm bình dân gần đó mua ăn. Đây là một cậu bé hết sức cảnh giác. Chỉ cần nghe thấy tiếng bước chân chỉnh tề, cậu liền vứt sách, chống người dạy, mở cặp mắt to đen láy. Khi có một đám phạm nhân mặc quần áo đen, vác cuốc xếp hàng đi qua gần đó, ánh mắt vui sướng của cậu có thể nhìn thấy mắt mẹ đang nhìn mình.    


           


 


Chương 3


 


Xa vời


Bố tôi nhận xét, ông nội tôi Tôn Hữu Nguyên là một con người nóng như lửa, lúc nào cũng bừng bừng nổi giận. Tôn Quảng Tài là người bố khéo đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. Khi ông đánh tôi nứt da rách thịt, thì ông cũng thở hổn hà hồn hển, bắt đầu xây dựng hình tượng ông nội. Ông nói:


Nếu là bố tao, ông ấy đã đánh chết mày từ lâu.


 


Ông nội tôi đã mất. Giống như mọi người vẫn sống thời đó, bố tôi quen thói đặt lên mộ người chết tội danh đáng sợ như một tên bạo chúa, còn bản thân thì văn minh và nho nhã. Lời bố ngày đó ít nhiều đã có hiệu quả đối với tôi. Giờ phút đau đớn không thiết sống trôi qua, tôi không thể không thầm cảm ơn bố. Xét cho cùng, nói như thế chứng tỏ bố còn coi trọng tính mạng tôi.


 


Khi trở thành người lớn bắt đầu xác lập  hình tượng chân thực của ông nội trong con mắt và trái tim của mình, tôi cảm thấy khó lòng tưởng tượng nổi ông nội tôi giống như một con  người  nóng như lửa, lúc nào cũng bừng bừng nổi giận. Có lẽ bố dùng bài học tuổi thơ của ông an ủi tôi. Hình như bố đã nói: So với hồi nhỏ tao bị đánh, mày đã ăn thua gì. Nếu hồi ấy tôi hiểu được ý này, khi thân thể bị đánh, lòng tự tôn của tôi vẫn sẽ còn nguyên vẹn. Nhưng đau đớn đã khiến tôi mất hết lý trí. Ngoài kêu oai oái như một con vật, tôi còn biết làm gì hơn?


 


Sự tôn trọng đối với đàn bà của ông tôi thời đó khiến người ta ngạc nhiên. Thật ra, trong vô tri vô giác, ông tôi đã cảm ơn số phận. Bà nội tôi từng là một người đàn bà được nuông chiều. Năm mười sáu tuổi, đi giầy nhỏ thêu hoa, ngồi trong kiệu, bà trở thành vợ người khác. Nhưng hai năm sau, bà lại bị buộc dời khỏi ngôi nhà kín cổng cao tường, nằm trên lưng một người đàn ông độc thân nghèo ngủ li bì. Ông tôi nghèo rớt mồng tơi đã đưa bà đến Cửa Nam cỏ mọc um tùm. Sự xuất thân đáng khoe khoang của bà nội khiến ôngTôn Hữu Nguyên cả một đời u ám.


 


Bà nội qua đời năm tôi lên ba, luôn luôn giữ thói quen rất không hoà nhập với không khí thời bấy giờ trong gia đình chúng tôi. Bà lấy đó chứng minh mình đã từng sống giầu sang và chưa mất hẳn. Trong mùa đông giá lạnh, gia đình tôi vốn nghèo lại có than đốt sưởi. Bà  tôi suốt ngày ngồi bên chậu than hồng, hai mắt lim dim có vẻ nhàn rỗi. Cả đời, bà đều rửa chân bằng nước nóng trước khi đi ngủ. Đôi chân bó nhỏ, hình thù quái gở ngâm trong nước, đỏ dần lên phơn phớt hồng. Trong ký ức tôi ghi sâu mãi ấn tượng này.Tuy ngủ chung với một người làm ruộng hơn ba mươi năm, nhưng đôi chân nhỏ của bà chưa bao giờ lội ruộng. Thói quen quý tộc khảng khái của bà đã không bị cản trở và kéo dài mấy chục năm trong gia đình nghèo xơ nghèo xác của chúng tôi. Trong mắt bố tôi, ông tôi là một người nóng tính, lúc nào cũng  bừng bừng phẫn nộ. Nhưng trong mắt tôi, ông tôi là một người khiêm nhường, đứng buông thõng hai tay trước chậu rửa chân của bà nội.


 


Một buổi sớm mùa đông, đáng lẽ nên thức dạy, bà nội tôi đã không thức. Bà ra đi đột ngột không hề có triệu chứng báo trước. Ông tôi đau buồn, đành chịu bó tay. Gặp bất cứ ai trong thôn, ông đều cười thèn thẹn, làm như trong nhà có chuyện gì xấu, chứ không phải vợ chết.


 


Hình như tôi đã chứng kiến cảnh tượng: Ông nội Tôn Hữu Nguyên đứng trong mưa tuyết bay lả tả, mặc chiếc áo bông đen không có cúc, vết bẩn loang lổ, bên trong không áo lót, ông buộc áo bông bằng một sợi dây cói, da ngực phơi trong giá lạnh mùa đông, lưng ông gù, hai tay xỏ trong ống tay áo, để mặc hoa tuyết rơi và tan trên da ngực. Trong nụ cười, mắt ông tấy đỏ, rôì ông khóc. Ông muốn truyền sang trái tim đứa cháu chưa hề biết gì nỗi đau của mình Tôi láng máng nghe thấy ông bảo:


Bà cháu đã mất.


 


Bố bà nội chắc chắn là một người giầu tầm thường nhất thời đó. Với lòng thành kính của kẻ nghèo hèn, ông nội tôi luôn luôn ngưỡng mộ người bố vợ đã từng may mắn được gặp.


 


Những năm cuối đời, với giọng nói hoang lạnh, ôngTôn Hữu Nguyên kể cho chúng tôi  nghe cuộc sống giầu sang phú quý của bà nội ngày xưa, nhưng tai chúng tôi chìm đắm nhiều hơn trong tiếng thở dài không hề có ý nghĩa của ông.


 


Lúc còn bé, tôi luôn không hiểu, tại sao bố vợ ông nội thường cầm cái thước kẻ trong tay, chứ không phải  nên cầm quyển sách đóng buộc chỉ như tôi tưởng tượng.ÔngTôn Hữu Tài cũng đã làm được điều này, chỉ khác ở chỗ bố tôi tay cầm cán chổi. Nhưng công cụ khác nhau, biểu đạt mục đích giống nhau. Vong linh đáng sợ này có sự khắc nghiệt của thời đại cũ.Bằng sự tầm thường của bản thân, ông giáo dục hai đứa con trai tầm thường như ông, hơn nữa còn có ý nghĩ hết sức kỳ cục, mong chúng làm rạng rỡ tổ tông. Đối với con gái, tức bà nội tôi, ông cũng phớt lờ. Hầu như ông biến mỗi khoảnh khắc đời sống của bà nội tôi thành nghi thức. Bà nội đáng thương của tôi không nhận thấy tuân theo ý cha khiến bà mất đi tự do tối thiểu. Với niềm hạnh phúc mù quáng, bà nghiêm chỉnh tuân theo quy định của bố, lúc nào thức dạy, lúc nào thêu hoa, tư thế đi đứng vân vân. Sau này bà lại truyền cho ông tôi sự uy nghiêm của bố đẻ. Bà vừa lòng thoả ý thưởng thức sự ưu việt của bản thân trong ánh mắt sợ hãi của ông tôi. Cả cuộc đời ông tôi đều bị sự giầu sang chốc lát như hoa quỳnh của bà bao phủ. Mà cử chỉ khiêm tốn duy nhất của bà là xưa nay bà đều ngồi nghiêng trước mặt ông tôi. Lời răn dậy của bố bà mạnh mẽ biết chừng nào, sau khi đã sớm xa bố trên thực tế, bà vẫn ngoan ngoãn ghép mình trong khuôn phép.


 


Khi chọn gia đình chồng cho con gái, với ánh mắt sắc sảo của một người đàn ông lấy nghiêm túc cẩn thận làm vinh quang, vừa nhìn một cái, ông đã ưng người đàn ông tương tự mình. Lúc người chồng đầu tiên của bà tôi đi đến trước mặt ông trong tư thế cứng đờ, số phận của con gái ông đã được xác định. Chàng trai ấy, dù nói một câu bình thường nhất cũng phải suy nghĩ kỹ càng, với tôi hiện nay mà nói, xem ra rất khó coi là loại dốt, so với ông tôi, một chàng trai nghèo, tràn đầy sức sống, quả thực anh chàng kia không là cái gì hết. Nhưng anh ta đã được bố bà nội tôi hài lòng cảm mến. Sự cảm mến của bố đã ảnh hưởng trực tiếp đến bà nội tôi. Mỗi lần nhắc đến anh ta với  ông tôi, nét mặt bà cũng tỏ vẻ khoe khoang. Ông nội tôi là nạn nhân thứ hai. Sự cung kính chú ý lắng nghe của Tôn Hữu Nguyên đã  khiến anh chàng mặc áo chùng kia, trở thành tấm gương để ông nội tôi suốt đời tự ty.


 


 Anh chàng đần độn mặc áo lụa ấy, đi vào cổng màu đỏ tươi nhà bà nội tôi có vẻ mất tự nhiên. Mái tóc anh ta chải sáp ong óng mượt. Tay phải anh ta khẽ nâng vạt áo chùng, đi xuyên qua sân vào phòng khách, vòng qua mép bàn bát tiên, bước đến trước mặt bố đẻ bà nội tôi. Chỉ đơn giản có thế, anh ta đã lấy được bà nội tôi. Khi ông nội kể chuyện này, tôi mới lên sáu, hay nói một cách khác, khi tôi sắp sửa bị  bố Tôn Quảng Tài  đem cho người khác. Chuyện kể của ông nội, khó lòng khiến tôi thích thú, chỉ gây tí chút ngạc nhiên. Chỉ cần đi qua một cánh cổng đã mở, lại đi vòng qua một cái bàn, là lấy được một người đàn bà. Tôi nghĩ, việc ấy dễ ợt, mình cũng làm được.


 


Do hơn ba mươi năm sau đó sống trong nghèo khó, bị thổi phồng qua tưởng tượng của bà, về sau lại thông qua cái mồm rất không đáng tin cậy của ông nội, vẻ hào hoa khi đi lấy chồng của bà nội, đã đến tai tôi. Thế là trong đầu tôi ầm ĩ tiếng chiêng trống, trong đó có chiếc kèn xô na kêu réo rắt, dòng người khiêng đồ cưới dài tít tắp. Ông nội tôi cứ nhấn đi nhấn lại cái kiệu to tám người khiêng, nhưng tôi làm sao có thể hiểu nổi phong thái  của chiếc kiệu lớn tám người khiêng. Xét đến cùng, tôi mới lên sáu tuổi. Ông nội kể quá ư xúc động, lễ cưới của bà nội rối tung rối mù trong đầu tôi, khiếp nhất là cái kèn xô - na, tiếng kèn xô - na ông nội tôi thổi lên, cứ y như chó sủa đêm khuya, khiến tôi sợ hãi.


 


Bà nội tôi mới mười sáu tuổi. Khuôn mặt bà giống như một quả táo chín sắp rụng, mặc dù vậy, bà vẫn bị bôi một lớp phấn dầy. Chiều hôm ấy ngồi trong kiệu được đón về nhà chồng, dưới ánh nắng, khuôn mặt bà lấp lánh như một thứ đồ gốm.


 


Chàng rể người cứng đơ, khiến bà hết sức ngạc nhiên. Toàn bộ lễ cưới, nét mặt anh ta lúc nào cũng cười mỉm. Nụ cười y như vẽ, không hề động đậy, được nhận xét là trang trọng. Xem ra, anh ta giả vờ cười, không giữ được tư thế quân tử cho đến khi lên giường. Đến giờ thắp nến hoa trong buồng cưới, động tác của anh ta bỗng trở nên nhanh nhậy lạ lùng. Sau giây lát ngạc nhiên, bà đã thấy thân thể mình loã lồ. Khí thế hùng hục, không nói một câu, chàng rể đã làm mọi việc cần làm. Sớm hôm sau thức dạy, thấy cô dâu đã biến mất như truyền thuyết, anh ta hốt hoảng kiếm tìm, mãi đến lúc mở cánh cửa tủ, trông thấy bà loã lồ đang run cầm cập trong tủ quần áo. 


 


Anh ấy rất tốt. Bà nhận xét người chồng trước của mình như thế. Tôi không tưởng tượng nổi, trong đêm tân hôn, sau khi làm cho cô dâu khiếp vía, bằng biện pháp dễ chịu thoải mái, chàng rể lại an ủi vợ một cách có hiệu quả. Trong hai năm sau đó, bà nội tôi đều có thể yên tâm và cảm thấy không hổ thẹn mỗi khi màn đêm buông xuống. Ông nội tôi Tôn Hữu Nguyên gọi chồng trước của bà là người đàn ông biết thương đàn bà. Tôi nghi, đây là hình tượng bà nội xây dựng lại trong hồi ức lâu dài. Bà nội không quên quá khứ, làm cho sự khiêm nhường va ngoan ngoãn của ông tôi hơn ba mươi năm qua trở nên có cũng được, không có cũng chẳng sao.


 


Mẹ chồng của bà mặc chiếc áo lụa đen, ngồi trong phòng khách mùa hè, bên cạnh là một cô hầu áo vải đứng quạt. Khi nói đến bệnh tật đầy người của mình, bà tỏ ra nghiêm túc. Bà không chấp nhận trong nhà có tiếng kêu rên, kể cả bản thân. Đối với bà, tiếng kêu rên làm hư hỏng lề thói gia đình, giống như tiếng cười sặc sụa. Thế là tiếng kêu rên của bà chuyển hoá thành giọng điệu lạnh nhạt, hình như nói đến một người khác đang chịu đựng nỗi dày vò  của bệnh tật. Chìm đắm lâu dài trong các kiểu miêu tả có liên quan đến bệnh tật, có thể biết được không khí âm thầm của bà nội tôi. Nhưng bà nội tôi không bị ảnh hưởng bao nhiêu về  mặt tâm lý. Trên thực tế, bố bà đã sớm giáo dục cho bà những điều tương tự. Chỉ có vào ban đêm, khi chồng bà với những cử chỉ hoạt bát chốc lát trên giường, trong gia đình như chết này, mới có chút ít sức sống. Nhưng bà nội tôi lại thấy là lẽ đương nhiên và vô cùng thân thiết. Trước khi nằm trên lưng ông nội tôi, rất khó tưởng tượng bà còn có một gia đình khác. Giống như  bà luôn luôn không biết khuôn mặt mình rất đẹp. Mãi cho đến sau này, ông nội tôi vững tâm động viên và ca ngợi chân thành, bà mới coi như biết mình đẹp. Còn bố bà, chồng bà và mẹ chồng bà miệng kín như bưng, không bao giờ hé răng khen nửa lời.


 


Tôi không biết được nhiều hơn chuyện bà nội mình trong gia đình ấy. Cuộc sống trước kia của họ đã bị chôn vùi từ lâu cùng với họ. Trong mấy năm đầu vợ mới chết, nối hiu quạnh và buồn thương, đã khiến ông nội tôi say sưa với chuyện cũ của bà nội. Khi cặp mắt u buồn của ông sáng lấp lánh, bà nội tôi đã sống lại trong lời kể của ông.


 


Một buổi sớm trong sáng, số phận của bà nội tôi đã chuyển sang một bước ngoặt. Bà nội tôi trẻ đẹp, không phải là một bà lão nhăn nheo tôi nhìn thấy sau này. Tuy trên người bà có những nét cứng nhắc đồng điệu với gia đình kia, nhưng xét cho cùng bà mới mười tám tuổi. Sống ở nơi thâm nghiêm kín cổng cao tường, con gái trẻ rất dễ bị tiếng chim hót ở bên ngoài cuốn hút. Bà nội tôi mặc chiếc áo đỏ tươi, chân đi giầy thêu, đứng trên thềm đá, ánh nắng sớm mai chiếu lên khuôn mặt hồng hào của bà, đôi tay thon nhỏ của bà buông thõng, mới hấp dẫn làm sao. Trên cành cây trước sân, hai con chim sẻ ríu rít bên nhau, nhảy nhót kêu lích chích. Chúng đã thể hiện một loạt những động tác nho nhỏ, vui nhộn mê hồn trước mặt bà. Bà nôị tôi son trẻ vô tri đâu có biết chúng đang tỏ tình với nhau. Bà bị cảm hoá sâu sắc bởi tình cảm quấn quýt và mê say của chúng, đến nỗi  bà không hề nhận ra bước chân nặng trịch của mẹ chồng đi đến sau lưng. Bà hoàn toàn chìm đắm trong tình điệu mê hồn của buổi sớm trong sáng. Chẳng bao lâu, khi hai con chim sẻ vẫn  ghé đầu chúc mỏ, say sưa tỏ tình trên cành cây, bà mẹ chồng nghiêm khắc đã không thể chấp nhận hành vi vượt ra ngoài khuôn khổ của con dâu tiếp tục kéo dài. Và thế là bà nghe thấy một giọng nói đáng sợ đột nhiên vang bên tai. Mẹ chồng bà bệnh tật đầy người lạnh lùng nói: 


Vào trong nhà.


 


Nỗi hoảng sợ lúc ấy, bà nội tôi suốt đời khó quên. Sau khi quay vào nhà, bà nội tôi nhìn thấy mặt mẹ chồng không phảỉ nghiêm khắc như thường ngày. Trông vẻ mặt phức tạp và sắc lạnh của mẹ chồng, bà cảm thấy lo lắng cho tiền đồ của mình. Là một người đàn bà thông minh, bà nội tôi lúc ấy biết ngay, biểu hiện vui nhộn của hai con chim sẻ, thật ra là một trò đê tiện. Vào đến buồng ngủ, bà dự đoán mình đã mắc tai hoạ lớn. Trong giờ phút không đoán trước được tiền đồ, trái tim bà bối rối. Bà nghe thấy bước chân mẹ chồng lệt bệt đi vào gian buồng khác. Một lát sau, có tiếng bước chân nhanh nhẹ đang đến gần, đó là cô hầu. Cô hầu đến  thư phòng, gọi anh chồng đang ngủ li bì của bà đi.


 


Sau đó là cảnh tượng yên tĩnh như không có việc gì sảy ra. Nhưng nỗi lo lắng trong lòng bà lại tăng dần. Cuối cùng có thêm phần chờ đợi trong sự lo lắng. Bà đột nhiên mong đợi sự trừng phạt của mẹ chồng đối với mình đến sớm hơn. Cái án treo chỉ có thể làm cho bà càng nơm nớp lo âu. 


 


Lúc ăn cơm tối, bà nội tôi dự cảm chuyện bất hạnh sắp sảy ra. Mẹ chồng bà tỏ ra thân thiết một cách bất ngờ. Mấy lần, vành mắt bà tấy đỏ, còn chồng bà thì buồn thỉu buồn thiu. ăn cơm xong, bà bị giữ lại, bắt đầu nghe mẹ chồng kể lể con cà con kê. Mẹ chồng nói với bà về lịch sử gia đình không bắt bẻ vào đâu được của họ, dù về mặt học vấn, hay lĩnh vực làm quan, đều đáng để thế hệ sau hãnh diện, hơn nữa tổ tiên họ từng có một liệt nữ trinh tiết, do một Hoàng đế đa tình, thương hương tiếc ngọc đời nhà Thanh phong tặng. Kể đến đây, bà tỏ ra lưu luyến say sưa. Cuối cùng bà giục con dâu đi sắp xếp đồ đạc. Chuyện đến đây đã rõ ràng, bà nội tôi có trong tay một tờ giấy ly hôn.


 


Đêm cuối cùng bà nội tôi khó lòng quên. Anh chồng cứng nhắc kia bắt đầu tỏ ra dịu ngọt như một con người. Tuy vẫn im lặng, nhưng anh ta đưa tay vuốt ve bà lâu lắm ( bà nội tôi sau này kể lại với ông nội). Không biết tại sao ông nội tôi không nói đến nước mắt. Cũng chính  trong đêm đó bà nội tôi suốt đời không quên anh ta. Sau này, khi từ mồm ông nội tôi nói ra, anh chàng hủ bại kia đã trở thành một gã  đàn ông biết thương đàn bà.


 


Xét cho cùng, mẹ chồng bà nội tôi là một người đàn bà ở vào cuối thời đại cũ. Bà không có cái chuyên quyền độc đoán của tổ tiên, đối với con trai bà không nói mày phải thế này thế kia, mà cho con một cơ hội lựa chọn, tuy sự lựa chọn của con, từ lâu đã nằm trong dự định của bà.


 


 Sáng hôm sau bà nội tôi dậy rất sớm. Mẹ chồng bà còn dậy sớm hơn. Khi ra phòng khách, chồng bà đã trở lại dáng vẻ trước kia. Bà nội tôi rất khó tìm thấy vẻ đau thương trong đêm trên mặt anh ta. Hai người cùng ăn cơm sáng. Tâm trạng bà nội tôi lúc ấy như thế nào? Người con gái còn quá trẻ đã tỏ ra hoang mang lo sợ. Không còn nghi ngờ gì nữa,vận hạn sắp ập đến, nhưng trước khi đến, bà nội tôi vẫn mê muội đầu óc. Trước mắt bà tất cả đều chao đảo mờ nhoà.


 


Sau đó ba người đi ra khỏi nhà. Bà nội tôi mặc áo đen được mẹ chồng dẫn ra một con đường cái. Mẹ chồng chỉ thị bà nội tôi đi về hướng hướng tây, còn bản thân bà đi về hướng đông. Lúc bấy giờ tiếng vó ngựa của người Nhật Bản đang đến gần. Dòng người chạy loạn gồng gánh  dắt díu nhau, đi cách quãng trên đường lúc sáng sớm. Người đàn bà bảo vệ sự trong trắng của gia tộc đi về hướng mặt trời mọc, còn bà nội tôi đành phải quay lưng về hướng mặt trời. Nhìn bóng sau lưng vợ, với nỗi đau buồn không thể miêu tả, nhưng khỏi phải suy nghĩ gì thêm, cuối cùng chồng bà đã chọn đi về hướng đông theo mẹ.


 


Cứ thế, bà nội tôi cõng cái túi nặng trên lưng, bên trong là quần áo, đồ trang sức và một số đồng bạc. Sắc mặt bà nhợt nhạt đáng sợ. Hơn ba mươi năm sau đó, nét mặt bà không còn có lúc nào ửng đỏ nữa. Gió sớm thổi rối tung mái tóc bà. Nhưng bà không hề nhận ra mình đang đi trong dòng người chạy loạn. Có lẽ điều này an ủi được bà chút ít, bởi vì xem ra bà không giống một người đàn bà bị ly hôn. Nỗi đau buồn không biết làm thế nào trên mặt bà, cũng có ở người đi bên cạnh. Bà nội tôi y như chiếc lá trôi theo dòng nước. Nỗi đau buồn của bà đã hoà trong cảnh chạy loạn của đám đông. Rõ ràng bà không còn mặt mũi nào quay về chỗ người bố nghiêm  khắc. Đi lẫn trong đám đông, đã giúp bà  giảm bớt  những suy nghĩ cấp thiết đối với tiền đồ.


 


 Trong một cuộc chiến tranh đã bùng nổ, quen sống trong nuông chiều, bà nội đã bắt đầu cuộc sống gối đất nằm sương, mà nguyên nhân mắc nạn của bà lại không hề liên quan đến chiến tranh. Giữa lúc đang xúi quẩy thật sự, bà đã gặp một tên đồ tể không rõ nguồn gốc. Từ mùi hôi và mỡ lợn trên người hắn, bà nội tôi phán đoán gã là tên đồ tể.Trong hơn ba mươi năm sau đó, hễ ngửi thấy mùi thịt lợn sống, bà nội tôi lại run run. Tên đồ tể hùng hùng hổ hổ đã chà đạp thân thể bà nội tôi một cách vô cùng nhanh gọn như xẻo thịt.


 


Lúc nhập nhoạng tối, lửa đạn chiến tranh bay vèo vèo, hết sức sơ xuất, bà nội tôi đã dời đám người chạy loạn, ra bờ sông rửa mặt bám bụi đất đã dần dần trở nên sần sùi. Khi trên con đường cái vắng teo không còn một bóng người, bà nội tôi vẫn còn ngồi ở bờ sông than thân trách phận. Thế là bà phải một mình đối mặt với tên đồ tể. Khi bóng đêm sắp buông xuống, bà nội tôi quỳ bên chân hắn. Tiếng van xin và thân thể bà cùng run rẩy trong gió chiều. Bà mở gói hành lý bằng lòng cho hắn mọi thứ bên trong, lấy đó đổi lại sự trong trắng của mình. Tên đồ tể phá lên cười, một giọng cười mẹ chồng bà hết sức ớn ghét Hắn nói:


Ta có hiếp cô, những thứ này cũng không chạy nổi.


 


Khi bà nội tôi ngồi trong kiệu trở thành vợ người khác, ông nội tôi Tôn Hữu Nguyên hai mươi ba tuổi đi theo bố đẻ là một thợ đá nổi tiếng gần xa, cùng với một kíp thợ đến một địa phương có tên là Bắc Đãng Kiều, chuẩn bị xây một cây cầu lớn ba vòm đá. Vào một buổi sớm đầu xuân, cụ tôi thuê một chiếc thuyền gỗ chở mình và kíp thợ đi xuôi theo chiều gió trên dòng sông to rộng. Cụ ngồi ở cuối thuyền, hút thuốc lào, hồ hởi phấn khởi nhìn con trai mình. Tôn Hữu Nguyên phanh ngực đứng ở đầu thuyền. Gió lạnh đầu xuân thổi đỏ ửng một  mảng ngực chàng trai. Đầu thuyền khẽ nhấp nhô, nước sông rẽ thành hình mũi dao găm sắc nhọn lùi nhanh về phía sau.


 


Mùa đông năm nay, một quan chức Trung Hoa Dân Quốc chuẩn bị về nhà thăm gia đình. Trước kia anh ta đốt nhà một tài chủ, khi chạy trốn đã bơi qua con sông to rộng, về sau bắt đầu phát tích trở nên giầu có. Nhiều năm sau, anh ta muốn áo gấm về làng bái tổ vinh quy. Quan chức trong huyện không thể để anh ta lại bơi sông về nhà. Thế là cụ tôi đã nhận tiền bạc của chính quyền. Đối với cụ việc này có ý nghĩa trọng đại, cụ căn dặn học trò dưới quyền:


Xây cầu lần này là cầu nhà quan, chúng ta phải làm hết sức cẩn thận.


 


Họ đã đến một địa phương chưa có cầu, nhưng có tên là Bắc Đãng Kiều. Lúc bấy giờ cụ tôi tuy đã năm mươi tuổi, nhưng ông già gầy còm có giọng nói sang sảng. Cụ đi đi lại lại bên sông, bắt đầu công việc của mình với tư thế của kẻ chơi bời lêu lổng. Bám theo cụ là ông nội tôi tràn đầy sức sống. Khi cụ tôi thăm dò khảo sát địa hình, luôn luôn quay lại gọi đám học trò, giống như bà cụ tôi gọi gà trong nhà. Ông nội tôi lúc nào cũng cầm cục đất trên tay nắm bóp, lại còn thè lưỡi nếm thử. Cứ thế, họ thăm dò khảo sát địa hình hai bên bờ sông. Vẽ xong bản vẽ, cụ tôi phân công đám thợ dựng lều khai thác đá. Còn cụ cùng ông nội tôi đeo lương khô và đồ dùng đi vào rừng.


 


Hai bố con vào rừng đục đá long môn. Như con mèo hoang, cụ và ông nội tôi ra ra vào vào trong núi. Trên một trái núi không cao, hai người cứ đốp chát đục đẽo suốt ba tháng trời. Thời bấy giờ tài năng công sức của thợ đá, thể hiện toàn bộ trên hòn đá long môn. Đó là một hòn đá lớn chuẩn bị đặt ở giữa cầu, mà phải đặt vào lúc hợp long khánh thành cầu lớn, vừa không được to hơn một tấc, vừa không được nhỏ hơn một phân.


 


Cụ tôi là một đàn ông nghèo thông minh nhất thời đó, so với bố bà nội tôi, cụ rất tháo vát và  giầu chí tiến thủ.  Trên thân ông già luôn luôn phiêu dạt giang hồ có sự lãng mạn của nhà nghệ sĩ và ích lợi thực tế của người nông dân. Ông nội tôi do cụ đẻ ra và lớn khôn trong sự hun đúc rèn luyện của cụ cũng xuất chúng như bố. Hai bố con cụ đã đục ở trong núi một tảng đá long môn hình vuông, mặt chính là bức chạm nổi hai con rồng vờn viên ngọc quý, hai con rồng vàng cùng vọt lên cao, tranh nhau viên ngọc lăn tròn ở giữa. Họ không phải loại thợ bắc một tấm đá qua rãnh nước. Họ tạo ra một cây cầu làm một tác phẩm nghệ thuật quý báu kiêu hãnh nhìn các thế hệ kế tiếp.


 


Ba tháng sau, các học trò đã khai thác đủ đá, vào rừng đón hai bậc tiền bối của tôi. Thế là một buổi trưa hè oi bức, cụ tôi ngồi xếp bằng trên hòn đá long môn do tám cậu học trò khiêng xuống núi. Cụ cởi trần, hút thuốc lào sòng sọc, hai mắt lim dim có thể làm cho ai nấy  cũng có cảm giác hài lòng vừa ý. Nhưng cụ không hề tỏ ra dương dương tự đắc. Cụ đã quen cách làm này. Ông nội tôi Tôn Hữu Nguyên mặt đỏ hồng hào, sải bước chắc khoẻ đi bên cạnh. Cứ đi được mười bước, giọng ông nội lại sang sảng cất lên:


Đá long môn đã đến.


 


 Đây chưa phải là giờ phút huy hoàng. Giờ phút huy hoàng nhất là ngày hợp long khánh  thành cầu lớn vào cuối thu trong năm. Hôm đó, hai đầu cầu dựng lầu cổng chào, những dải  giấy ngũ sắc rực rỡ như lá cây bay phần phật trong gió. Lúc đó chiêng trống rầm trời, khoí thuốc nghi ngút. Trong vòng trăm dặm vuông, dân chúng nô nức đổ đến xem, tiếng người sôi động. Không có một con chim sẻ nào bay đến. Tiếng động rung chuyển đã khiến chúng hốt hoảng bối rối trên cành cây xa xa. Ông nội tôi Tôn Hữu Nguyên luôn luôn từng trải cảnh tượng huy hoàng này, những năm cuối đời lại tỏ ra kinh ngạc trước lễ cười của bà nội tôi. So với cảnh tượng này, lễ cưới của bà nội tôi chẳng qua chỉ là nước trong cốc.


 


Cụ tôi hoàn toàn không ngờ, trong giờ phút ấy đã bị gục hẳn, không gượng dậy được nữa. Dựa vào thông minh tài cán của mình, suốt đời rèn luyện và trưởng thành trong thực tế, nhưng  cụ đã bị thất bại cay đắng ở Bắc Đãng Kiều. Trên thực tế, cụ tôi đã phát giác từ lâu chất đất ở đây xốp, cầu đang lún. Nhưng cụ đã quá tin vào tính toán của mình. Căn cứ kinh nghiệm trước kia, cụ cảm thấy cầu thường hay lún một chút. Đi đôi với thời gian làm xong cầu càng ngày càng đến gần, tốc độ lún cũng càng ngày càng nhanh. Cụ tôi sơ xuất ở điểm này, đã dẫn đến cảnh thê lương của cụ trong những năm cuối đời.


 


Mặc dù sau đó bị thất bại thảm hại, nhưng khi tám người học trò khiêng hòn đá long môn lên vẫn náo nức xúc động lòng người.Với tinh thần hăng hái, họ lên đến đình cầu. Tiếng dô ta nào, dô ta, bỗng im bặt. Khi họ hết sức cẩn thận đặt hòn đá long môn vào chỗ lỗ thủng,  Tiếng chiêng trống im hẳn. Đám đông vây xem cũng lập tức yên lặng. Giữa lúc ấy, cụ tôi nghe thấy một tiếng “cạch”, chứ không phải tiếng “rắc” như trong dự kiến của cụ. Thế là cụ biết trước tất cả những người đang có mặt tại chỗ tai nạn đã sảy ra. Lúc bấy giờ cụ tôi đang ở trên lầu cổng chào, sự việc đột ngột, cụ chưa kịp tắt nụ cười, khuôn mặt bỗng thuỗn ra. Sau tiếng “cạch”chết người ấy, cụ tôi vụt đứng dạy. Về sau ông nội bảo chúng tôi, giây phút đó cụ giống như con cá sắp chết, mắt trợn ngược. Nhưng xét đến cùng, cụ là con người đã từng phiêu bạt giang hồ, trong khi mọi người chưa ai biết đã sảy ra chuyện gì, cụ đã xuống lầu cổng, để tẩu hút thuốc ra sau lưng, giống như đi ra khỏi khách sạn. Cụ đi thẳng vào trong rừng, để mặc con trai và đám học trò gánh chịu tủi nhục.


 


Hòn đá long môn lúc này bị kẹt chặt ở miệng lỗ. Tám chàng trai cường tráng như trâu mặt đỏ bừng bừng nín thở định nhấc lại hòn đá khổng lồ, nhưng nó nằm chết dí không hề nhúc nhích. Trong tiếng thở hổn hển như sóng lúa dập dờn, tám khuôn mặt như tám bộ gan lợn lấp loá trong nắng hè chói chang. Hòn đá long môn nằm xiên xiên tại chỗ, y như tấm bập bênh, đẩy không vào kéo không ra.


 


Tôi không biết Tôn Hữu Nguyên sống như thế nào trong ngày nguy hiểm đó. Cụ tôi trốn chạy lúc đó, giống như một kẻ cắp. Tôn Hữu Nguyên lúc đó chịu hai lần xỉ nhục. Ngoài cúi đầu buồn bã như anh em thợ đá, ông nội tôi còn hết sức xấu hổ mang tiếng là con trai cụ. Cảnh tượng lúc bấy giờ thật tồi tệ. Ông nội tôi kể chẳng khác gì đổ nhà. Tình hình bản thân ông càng tồi tệ hơn. Ông chính là một trong tám người khiêng hòn đá long môn lên cầu. Tôn Hữu Nguyên tì lên lan can cầu, không bước nổi chân, đau đớn như có người bóp dái.


 


Sau khi trời tối, cụ tôi mới về nhà. Tuy cụ không còn mặt mũi nào đứng trước bà con xúm lại xem, nhưng đối với con trai và đám học trò cụ vẫn có thể tự cho mình hơn người. Ông già cực kỳ hoang mang bối rối trong lòng, bằng giọng nói khô khan, đã mắng tối tăm mặt mũi đám học trò bất lực:


- Việc gì phải nhăn nhó như đưa ma thế, ta đã chết đâu, tất cả đều có thể làm lại từ đầu. Nghĩ đến ngày xưa….


 


Với giọng khảng khái xúc động, cụ tôi nhìn lại quá khứ oanh liệt một thời, lại vẽ ra một viễn cảnh tốt đẹp hơn với  đám học trò, sau đó đột nhiên tuyên bố:


Giải thể.


 


Giữa lúc đám học trò trố mắt ra nhìn, cụ quay người đi luôn. Khi say sưa với ý tưởng bất ngờ đi đến cửa lều bạt, cụ tôi lại nhanh chóng quay người, giọng đầy niềm tin, nói với đám học trò:


Hãy ghi nhớ lời ta, chỉ cần có tiền không sợ không có đàn bà.


 


Cụ già thời đại cũ cực kỳ dễ xúc động. Khi quyết định đi đến huyện lỵ ngay trong đêm, quỳ gai nhận tội trước quan chức Nhà nước, cụ lại cảm thấy mình rất sáng suốt nghĩa cả như anh hùng trong truyền thuyết. Cụ nói với ông nội tôi mình làm mình chịu. Giọng cụ run run hoàn toàn xuất phát từ xúc động. Đứng trước ông bố sẽ chuyển thất bại thành vinh quang, Tôn Hữu Nguyên cũng ngờ nghệch xúc động theo bố.


 Nhưng sau khi đi được chục bước, khí thế tráng sĩ của cụ tôi đã tan biến. Sai lầm của cụ là ở chỗ quay lại nhìn cầu đá. Quay lại nhìn hoàn toàn do vô tình, hòn đá long môn vểnh lên lấp lánh dưới sáng trăng, giống như con sói hoang trong mơ  đang nhe răng đáng sợ với cụ tôi. Cái bóng sau lưng của cụ đang đi  đột nhiên run rẩy trong mắt ông nội tôi. Đêm trăng vắng lạnh ấy, cụ tôi đi trên con đường mòn dài tít tắp, chịu sự giày vò của thất bại càng lâu dài hơn. Cụ hoàn toàn không hiên ngang bước vào nhà tù lớn trong thành phố như ông nội Tôn Hữu Nguyên kể với con cháu sau này. Dáng vẻ lúc bấy giờ của cụ còn thảm hại hơn một người bệnh đang thoi thóp được khiêng đến trạm xá.


 


Trong một thời gian rất dài, Tôn Hữu Nguyên đều bị khích lệ bởi khí phách anh hùng giả tạo của bố. Ông không chuyển sang làm nghề khác như lời giặn của bố trước khi đi. Sau khi nhiều anh em  thợ khoác túi về nhà, ông nội tôi và bảy người khác khiêng hòn đá long môn tiếp tục ở lại. Tôn Hữu Nguyên thề phải cứu cây cầu đá. Sau khi bố bỏ đi, thông minh tài trí của ông nội tôi được phát huy triệt để. Ông dẫn bảy anh em thợ, đục mười sáu lỗ nhỏ dưới thân cầu, sau đó đẽo mười sáu cái cọc gỗ. Sau khi đút cọc gỗ vào lỗ nhỏ, tám chàng trai như hổ như sói vung mười sáu cái vồ  đóng mạnh vào cọc gỗ. Tám chàng trai, người qua đường ai cũng bảo là thằng điên, đóng suốt hai tiếng đồng hồ liên tục. Trước sức mạnh nhỏ bé của họ, khung cầu khổng lồ đã nhích cao lên. Sau đó ông nội tôi nghe thấy tiếng “rắc rắc” xúc động lòng người, tiếp theo sau là một tiếng uỳnh,thoả mãn ý nguyện của ông nội tôi. Hòn đá long môn nằm êm ru trong miệng lỗ.


 


Vô cùng xúc động, ông nội tôi co cẳng chạy trên con đường mòn. Ông chạy một mạch hơn bốn mươi dặm vào huyện lỵ. Khi cụ tôi đầu óc u mê đi ra khỏi nhà tù đã nhìn thấy con trai mình toàn thân ướt đẫm như tắm trong mưa. Nhưng lúc bấy giờ trời đang tạnh ráo, nắng vàng chiếu rọi muôn phương. Lượng nước trong người ông nội tôi gần như đã khô hết. Tôn Hữu Nguyên  chỉ  gọi được một tiếng:


Bố…


 


Sau đó gục xuống, ngất xỉu.


 Cụ tôi có sự yếu đuối đặc biệt của thời đại đó. Thất bại ở Bắc Đãng Kiều mặc dù được con trai cứu vớt, đem lại cho cụ niềm an ủi, nhưng bản thân cụ từ đó mất hết lòng hăng hái. Nản lòng thoái chí, cụ tôi lê từng bước chậm chạp của người nông dân già, về sống với bà cụ xinh đẹp thời con gái. Trong những năm cuối đời, hai ông bà già bắt đầu chung sống sớm chiều bên nhau xưa nay chưa từng có.


 


Còn ông nội tôi Tôn Hữu Phương thì dương dương tự đắc, thoả mãn với bản thân, giống như bố trước kia, dẫn dắt kíp thợ đá tiếp tục sự nghiệp cụ tôi dóng dựng. Nhưng giờ phút huy hoàng của ông nội tôi chỉ ngắn ngủi như hoa quỳnh. Là thế hệ thợ đá cổ xưa cuối cùng, họ đã nếm đủ sự lạnh nhạt của thời đại đối với mình. Hơn nữa trong vòng mấy trăm dặm vuông, đã có nhiều cây cầu vòm đá sừng sững bác qua mặt sông. Tay nghề quá ư tinh thông của tổ tiên khiến họ không thể trông mong tất cả cầu đá đều sập hết trong một đêm. Tốp thợ đói ăn mang theo một lý tưởng ấu trĩ, đi qua đi lại khắp quê hương sông nước Giang Nam. Một cơ hội duy nhất có được, khiến họ xây được một cây cầu nho nhỏ lát đá tấm, mà lại một chiếc cầu bị  chênh chếch. Lần đó Tôn Hữu Nguyên có may mắn nhìn tận mắt phong thái nho nhã của bố vợ.


 


Lần ấy, có một đám nông dân góp tiền mời tốp thợ đá đến làm cầu. Lúc bấy giờ đói bụng, ông nội tôi đã không chọn ăn. Gia đình họ Tôn xưa nay luôn xây cầu lớn vòm đá, đến lượt Tôn Hữu Nguyên đành phải làm cầu nhỏ lát đá tấm. Họ đã chọn ngã ba đường cái làm móng cầu. Nhưng một cây long não to vừa vặn ngáng móng cầu. Ông nội tôi vung tay bảo chặt cây long não. Lúc ấy ông đâu biết, cây gỗ cần phải chặt là của nhà bố vợ.


 


Lưu Hân Chi, bố vợ sau này của Tôn Hữu Nguyên là một tài chủ lớn nức tiếng gần xa. Đương nhiên, cả cuộc đời nhà tài chủ đâu có biết con rể sau này của mình lại là một chàng trai nghèo kiết xác. Vị tú tài lúc nào cũng bô bô lo trước thiên hạ sướng sau thiên hạ, vừa nghe nói sẽ chặt cây long não lớn nhà mình, đã nổi giận lôi đình như bị đào mả tổ. Quên hết đầu óc kinh luân, trước mấy người đến thương lượng, ông đã buột mồm chửi ầm ĩ bằng những lời thô tục của nông dân.


 


Không biết làm cách nào, Tôn Hữu Nguyên đành phải xây móng cầu chếch đi một  chút. Ba tháng sau, họ xây xong cây cầu. Những người nông dân góp tiền xây cầu đã mời ngài Lưu Hân Chi đặt tên cho cầu đá.


 


Chính sáng hôm đó, ông nội tôi đã gặp bố vợ mình. Khi Lưu Hân Chi mặc áo lụa thong thả bước đến, khiến ông nội tôi trố mắt nhìn. Trong con mắt của Tôn Hữu Nguyên, vị tú tài cố làm ra vẻ thâm trầm dưới trời nắng, còn tỏ ra oai phong hơn viên quan chức Trung Hoa dân quốc. Vài năm sau, khi ông ngủ chung với bà nội tôi, nhớ lại cảnh tượng Lưu Hân Chi hủ bại lúc bấy giờ, Tôn Hữu Nguyên dồi dào sức sống cứ than thở mãi.


 


Với tư thế của người có học, sau khi đến cạnh chiếc cầu, Lưu Hân Chi lập tức tỏ thái độ khinh bỉ. Làm như mình bị xỉ nhục, ông nghiêm giọng nói:


Chiếc cầu vênh vẹo thế này, lại còn nhờ ta đặt tên.


 


 Nói rồi ông phẩy tay áo bỏ đi.


 


Ông nội tôi vẫn lên bắc xuống nam. Họ lặn lội đường dài trong tiếng súng giữa Quốc dân đảng với Đảng cộng sản và trong cảnh mất mùa đói kém, xác chết đầy đường. Những năm tháng ấy, ai còn bụng dạ nào bỏ tiền ra để những người thợ đá trổ tay nghề? Giống như lũ ăn mày, họ tìm việc khắp nơi. Với quyết tâm cao, chí khí lớn xây cầu, nhưng thật trớ trêu, ông nội tôi sống trong thời đại người ta say sưa với phá hoại. Rút cuộc kíp thợ không thể không đánh mất niềm tin trong trắng ban đầu. Họ làm đủ mọi việc, ngay đến lau rửa  những xác chết cứng đơ và đào hố chôn người, họ cũng không từ. Chỉ có như vậy, họ mới không đến nỗi phơi xác ngoài cánh đồng. Trong những giờ phút cực kỳ gian nan, Tôn Hữu Nguyên vẫn dẫn dắt đồng nghiệp đi lung tung, không hề có hy vọng. Tôi không biết ông đã dùng những lời đường mật như thế nào thuyết phục họ theo mình. Mãi cho đến một đêm sau này, khi bị coi là đám du kích của Đảng cộng sản, bị quân đội Quốc dân đảng tấn công, kíp thợ đá tràn đầy lý tưởng lỗi thời, mới không thể không sinh ly tử biệt.


(còn tiếp)


Nguồn: Gào thét trong mưa bụi. Tiểu thuyết của Dư Hoa. Vũ Công Hoan dịch, gửi cho www.trieuxuan.info.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 18.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 18.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
xem thêm »