tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24366801
Tiểu thuyết
24.08.2013
Ngũ Hà Miên
Bão

7. TRƯỜNG TƯ TẠI GIA


Nhưng giữa năm Sơ đẳng, nó lại bị tai nạn trên bước đường học vấn. Không hiểu tại sao đang học Đệ Tam tại Quốc học Qui Nhơn, anh Bảy nó bị đuổi ngang xương. Có người nói anh ấy rất thông minh, thông minh nhất nhà, nhưng tính khí thì đúng như cái chữ xung mà cha đã đặt tên cho anh theo ngẫu nhiên của số phận, anh đã dám tay đôi cãi lại thầy Đốc. Thế là anh tạm thời ngồi chơi xơi nước cho qua ngày ở nhà. Dạo đó, cha đã mua lại được một ngôi trường ấp hoang phế ngay mép cầu Đập, sát quốc lộ. Cha vốn tự cho mình cái thiên chức phải giáo hóa đời, hối nhân bất quyện[1] như Khổng Tử. Ông từng dạy chữ Nho ở trường làng, sau khi nhà nước Bảo hộ bãi bỏ kỳ thi Hương[2], ông buồn rầu biết bao! Nay thì mấy giờ Hán tự ở lớp Sơ đẳng cũng bị xóa sổ luôn, ông nuốt hận chấp nhận sự chính thức suy tàn của cái học Thánh hiền[3], làm một bài thơ chia tay với đám học sinh vốn chẳng mấy nhiệt tâm với những gì ông cố công truyền đạt:                                


 Đạo học còn đâu ới các trò!


Thi thư lễ nghĩa tủi lòng lo


Sách vở dẹp rồi, thầy Khổng, Mạnh


              Cày bừa nay chỉ bạn Sào, Do[4]


Đây là những tiếng than của một thế hệ. Nhưng hoàn cảnh đã làm trỗi dậy nơi cha Hàm cái ước mơ lâu rồi đã bị dồn vào tâm thức. Sẵn có ông con Tây học đang dở dang rỗi việc, cha ra lệnh cho anh Bảy phải làm thầy giáo ngay trong cái túp nhà nầy: lớp học trường tư một phòng, một thầy. Hồi đó trường tư nhỏ, vài lớp, mấy trò khỏi cần xin phép ai.


Thầy thì tuổi mới đôi chín, mảnh khảnh. Lớp học thì rộng thênh, mỗi lần gió heo may thổi lộng, mái rạ lại xào xạc rên rỉ thở than át hẳn tiếng bước chân nhặt khoan của ông thầy đang đi đi lại lại, không hề ngước mặt nhìn ai, như muốn dồn hết nỗi bất đắc chí của mình xuống mặt đất.


Học trò chỉ có mấy mống: Hàm, thằng bé bị buộc phải rời bỏ lớp ba trường Thi Phổ mà nó học thật giỏi để ngồi đây. Còn hai người bà con họ xa xa với nó nữa, chắc là cha đã hứa là sẽ khỏi phải đóng học phí: thằng Thi, kêu Hàm bằng bác và Hường mà nó phải gọi bằng cô. Thi ốm đen, cao lòng nhòng so với tuổi và ăn nói rất có duyên. Hường thì da trắng nõn, mập mạp, môi má luôn hồng một màu trời cho. Không có ước lệ xã hội nào có thể ràng buộc, không có bóng dáng của bất kỳ thứ lễ nghĩa trí thức nào, Thi thầm mê Hường. Mỗi lần Thi bông đùa, Hường cười tít đuôi mắt lá răm. Mặt ửng hồng. Họ tự nhiên âm thầm nhen nhúm và nuôi nấng một mối tình bắt đầu là tình máu mủ dù rất xa xôi đó, rồi về sau hình thành và lớn lên dần là lòng yêu trai gái, dù còn rất trẻ con.


Mười năm sau, đến tuổi vợ chồng, họ đã thua cuộc trước những lời đàm tiếu bóng gió của chòm xóm và họ hàng. Thi buồn bã bỏ nhà đi bộ đội, chiến đấu và hi sinh tại chiến trường Kong Plong. Hường càng lớn càng đẹp, về làm dâu một gia đình giàu có, bà mẹ chồng cực kỳ khó tính. May cho Hường, năm 1953, bà mẹ chồng bị kết là địa chủ phải mang ra đấu tố, bà dồn hết oán thù của mình vào đám cán bộ thôn xã, nhờ đó Hường đỡ bị hành hạ. Trẻ chăn trâu thời đó thường hát: Có chồng bần cố là tiên. Có chồng địa chủ là duyên con bò.


Nghe nói là dâu của địa chủ ác ôn, cả tháng Hường chỉ ăn cháo tấm độn rau muống, nhưng nhan sắc của Hường chắc chắn là không có cái vai trò gì của giai cấp trong đó, đã kháng cự lại một cách không hề hay biết nhưng rất hiệu quả với thời gian và những thiếu thốn, nên vẫn tồn tại, rực rỡ là đằng khác, cho tới ngày đình chiến 1954.


Hãy trở lại với cái trường tư chết yểu nầy. Anh Bảy quá buồn chán cho ba đứa học trò nửa người nửa ngợm của mình. Buổi sáng anh ra vài bài toán đố và chỉ cho chúng một bài trong cuốn Tập đọc tiếng Pháp lớp Ba, bắt phải học thuộc lòng rồi bỏ lớp lang thang đi thăm bạn bè. Ba đứa nhỏ tha hồ đùa giỡn, nói tục, dùng viết chì màu sơn hết những hình vẽ trong sách hoặc xé giấy trong tập xếp ghe mang ra bến sông Cầu Đập thả chơi. Sự nô đùa hào hứng đã cuốn phăng đi tất cả những gì Hạm học hỏi ở trường thầy giáo Trí. Hai tháng sau đó, anh Sáu vận động cho anh Bảy được ra Huế tiếp tục học Đệ Tứ trường Việt Anh. Lớp học tư của Hạm đương nhiên giải tán, cũng trong âm thầm, không kèn không trống.


Thế là Hạm trở lại với trường thầy giáo Trí, tính ra đã lêu lổng hết gần nửa niên khóa không sao còn theo kịp các bạn cùng lớp. Nên cuối năm đó nó trượt kỳ thi Yếu lược, thất bại đầu tiên nhưng cũng duy nhất trong cuộc đời khoa cử của nó. Trường thầy giáo Trí, như dân chúng trong vùng vẫn thường gọi, rêu phong xám xịt, với hai cây phượng trong sân và chiếc trống to bằng da trâu sáng chiều mời gọi và tiễn đưa các cậu học trò nhỏ, luôn luôn là hình ảnh dịu dàng nhất trong tâm khảm mọi thanh niên làng Thi Phổ suốt cuộc đời của họ.


Bấy giờ trước trường, ngay lối vào cổng, có một lỗ cống to. Cơn lũ tháng Mười bao giờ cũng tràn về làm thành một vùng nước xoáy. Hàm hay bứt những cọng cỏ non thả vào đấy cho cuốn quay mòng mòng trước khi bị kéo rút xuống đáy sâu. Có lần đang mê mải chơi, nó có cảm giác như đang bị ai đó nhìn mình. Nó ngước lên thì gặp ngay một luồng mắt tròn, ướt, tuyệt đẹp của một cô bé bầu bĩnh trạc tuổi nó đứng bên, như hút lấy hồn nó.


Thế rồi chiều nào nó cũng ra thả lá ở lỗ cống. Và chiều nào cô bé cũng nhìn nó vui chơi, chẳng nói với nhau lời nào, im vắng nhưng bền vững như bóng đêm. Vài tháng sau đó, cô bé không đến trường nữa. Nó hỏi bạn bè mới được biết nhỏ này tên là Thanh, lớp Tư, nhà ở xóm bên kia quốc lộ, đối diện với trường học, nơi những hàng cau nhô lên khỏi những bờ tre xanh tốt luôn luôn có màn sương trắng mỏng manh nhẹ nhàng bao phủ mỗi độ thu về. Thật là kỳ lạ. Cô bé chợt đến rồi chợt đi như cái bóng nắng hiếm hoi những sáng mùa đông âm u. Hàm đâm ra ngẩn ngơ, quên hẳn lỗ nước xoáy. Giờ ra chơi nó thừ người nhìn xa xăm về xóm nhà đó, tận cùng là hình ảnh đỉnh núi Dàng quê hương đang quấn khăn tang. Cả đời nó như lúc nào cũng bâng khuâng nhớ tiếc một cái gì, không rõ rệt, chẳng khác nào một cánh bướm lạ lạc về vườn nhà bao giờ nào ai có hay; rồi lại bay đi, mơ hồ như trong giấc mộng. Hỡi ngôi trường nhỏ, có còn không lim dim ngủ giữa vùng ruộng lúa của miền quê yên tĩnh ngày xưa?


Năm 1941, anh Sáu đậu Thành chung hạng xuất sắc, mơ ước được học lên ban Tú tài, nhưng tại quê nghèo, tiếng nước vo gạo thổi cơm sáng vẫn lon ron một khúc nhạc buồn, cái công thức khuya dậy sớm ra đồng của anh Cả, tài quán xuyến của mẹ và tiếng ngâm thơ của cha xem ra không cứu vãn được cảnh túng thiếu trong nhà. Vậy là anh phải thi vào trường Sư phạm Huế. Ra trường, anh được bổ về dạy lớp Nhất trường Chợ Chùa. Và anh đã đáo nhiệm.


 


     8. DU HỌC CHỢ CHÙA


 


Một sáng đầu tháng Mười, cha ra lịnh cho Hàm tắm rửa sạch sẽ. Mẹ đã gói sẵn mấy cái quần áo cũ của nó vô tờ nhựt trình và đổ đầy cái ruột nghé chừng hơn một ang[5] gạo. Cha tuyên bố tối nay, ông sẽ dẫn nó đi học. Hàm thất kinh hồn vía. Hồi nào tới giờ, nó có bao giờ ngủ xa mẹ đâu? Vậy là lại như đi vào cõi chết. Nhưng tập quán của nhà này, lệnh cha là lệnh trời, khỏi cãi, khỏi năn nỉ, cũng khỏi có nước mắt. Cha đội khăn đóng đen, mặc áo lương dài màu thâm, kẹp ô vào nách, mấu dù treo đôi guốc đã mòn. Hàm đi chân đất, quần xà lỏn áo cộc đen, lếch thếch theo cha lên bến Bình. Trăng non vừa sáng, họ từ đó gióng ghe ra bến Thóc là ngã ba nơi sông Cầu Đập chia nguồn nước với sông Vệ. Lần đầu tiên trong đời, nó được chứng kiến một vùng trăng nước mênh mông.


Con đò dọc nhỏ bé cóc cách khua mái chèo lầm lũi trườn đi, có khi luồn dưới tàn lá rậm rạp của những cây sung cổ thụ. Dòng nước chỉ chừng vừa sải tay, chỗ nông chỗ sâu. Khoang thuyền quá hẹp, cha ngả mình xuống chiếc chiếu rách, kê đầu trên cái gối gỗ của người lái đò, cũng là tay sành rượu, chờ chuốc cho vài ly, đợi câu chuyện vãn. Hàm thấy có buồn rầu cũng không ích gì. Nó nằm ngửa nhìn nền trời thu trong vắt, trăng vừa lặn, ngàn sao lần lượt hiện ra lấp lánh. Nó nghe nước róc rách vỗ vào mạn thuyền. Nhìn đáy sông đêm đen sẫm, nó rùng mình nghĩ tới đám Hà bá, Ma da dữ dằn tinh quái trong cổ tích sẵn sàng kéo chân nó lôi xuống thủy phủ. May thay, chiếc ghe qua khỏi vùng cây cối um tùm thì giòng sông vào một cánh đồng thoáng mát, vô số tinh tú làm chủ cả bầu trời. Này là giải Ngân Hà mà chàng Ngưu mòn mỏi đợi nàng Chức Nữ dệt cửi ở bên kia sông, năm năm đến tháng Bảy, nước mắt nhớ thương của họ sùi sụt mưa Ngâu, lũ quạ thấy tội nghiệp đã bay về bắc cầu cho họ gặp nhau. Này là ông sao Bắc Đẩu to bằng nắm tay giữ sổ bộ của Thiên đình, người đời sống chết đều có số ghi sẵn. Mẹ nó cũng kể cho nó nghe rằng: chỉ những đêm không trăng, sao mới dám mọc ra, to bằng hột đậu, hột bắp, ngon và quý lắm, ăn một hột sống cả ngàn năm. Ngọc Hoàng có nuôi trong cõi trời vô biên đó một con chim đại bàng rất lớn, cánh của nó phủ kín cả mấy vạn dặm, vùn vụt bay qua lại khắp lục hư, đang ở chỗ này thì thoắt một cái đã tới chỗ khác. Nó đớp mổ những hạt sao ngọc lấp lánh sáng rực rỡ và nó ỉa thành một vệt sáng xẹt ngang vòm trời xanh yên tĩnh ban đêm phút chốc tan biến đi. Mặc dầu ở giữa hai vô cực, dưới lưng Hạm là đủ thứ ma quỷ, nhưng trên đầu nó, xa thẳm và quang minh, là bao nhiêu thần thánh đáng tin cậy hộ mạng cho con người. Nó yên trí, mắt líu lại, chìm sâu vào giấc ngủ huyễn hồ mãi tới khi tiếng gà eo óc gáy sương từ xa vọng lại.


Trời tảng sáng, ghe cập bến Đề An. Phong thổ ở đây khác hẳn Thi Phổ, không phải chỉ có lúa mà còn bạt ngàn những ruộng mía. Lần đầu tiên nó được thấy một cây đa cổ thụ thật to, cây đa Thẻ như sau này nó được biết tên, cao tới vài chục sải tay, đổ bóng mát rợp cả một xóm nhà dân. Trên cành cây có chiếc miếu cổ lợp ngói, rêu đen lâu ngày phủ kín. Hạm nghĩ là đêm tối các vị thần thánh thường vào ra tụ hội nơi đây, Ma da ở dưới sông lên gần gũi với thần Gò của đồi núi cạnh đấy, họ cùng nghị luận những chuyện trần gian địa phủ. Trong khi những cơn gió khuya không ngớt rì rầm nói chuyện với một lũ tre già và cũng trẻ con như cỡ Hạm, chúng ranh mãnh đùa nhau đuổi chạy ra đến vùng tha ma hoang lạnh. Dưới chân cây đa, tập hợp cả một làng nhốn nháo nào ông Táo, bình vôi lọ hoa, lư hương, nồi trà bằng đất cũ. Cây đa cao vòi vọi, hiện hữu bằng cả một quá khứ lâu dài như quê hương của Hạm.


Cha Hạm dắt nó lên bờ. Ông tra đôi guốc vào chân, khoác vội chiếc áo dài đen và chụp cái khăn đóng lên đầu. Trời đã sang thu, gió sớm gây gấy lạnh, gợi hứng cho ông ứng khẩu một bài thơ Đường mà sau này Hạm còn nhớ được hai câu: Mỹ tửu tam bôi, kiềm tức thóa/ Giai ngâm sổ thủ lạc vong hàn. Cha tạm dịch: Ba chén rượu ngon, say đánh giấc/ Thơ hay vài đoạn, lạnh quên ngay.


Quang cảnh bên đường làng xuôi xóm ngược mái rạ như nhau, lúa ôm những con đường đất hủng hiu. Trâu bò an lành gặm cỏ trên những gò núi hoang, con cò trắng điểm một màu tuyết bạc là nét di động duy nhất, thong thả trên cánh đồng xanh mướt. Những người làm cỏ dừng tay nhìn hai cha con, một ông sồn sồn khăn áo nghiêm túc đang dắt một thằng bé chân đất, cả hai đều khẳng kheo hối hả như một sĩ tử thời xưa cùng tiểu đồng lúp xúp theo chân cho kịp một kỳ thi đại khoa.


Anh Sáu là thầy giáo trẻ dạy lớp Nhất, trọ nhà ông quản Mười, lính khố xanh đã về hưu. Xã Phú Vinh, huyện Nghĩa Hành đầu những năm 40 thế kỷ trước, quang cảnh gần như miền Trung du, Bắc bộ. Vườn ông Quản rất rộng có tới mấy mẫu cây cối um tùm: những cây đào hoa đỏ hồng vào cuối tháng mười một, những cây mít, cây ổi xum xuê đầy trái. Nhưng cái làm cho Hạm nguôi ngoai nhanh chóng lòng nhớ mẹ là ông Quản có đứa con cùng tuổi với nó là thằng Tư, da đen thui, cực kỳ mạnh khỏe và xông xáo. Tư trèo cây, đi rừng như một gã đàn ông, có tài bắn chim bằng ná cao su bách phát bách trúng. Con vật đang bay, Tư tài nghệ có thể nhằm đúng vào một bên cánh, con chim rơi xuống, bị thương chứ không chết, có thể đem về nhai củ riềng phun bóp cho lành lặn như thường mà nuôi, thành một kẻ thân thiện. Thế là mấy cái lồng chim của hai đứa đầy những con cu đất, cu lửa, sáo sậu, nhồng, két. Hạm bắt đầu khinh thường lũ trẻ con ở quê nó chỉ biết nuôi dưỡng những con vớ vẩn như se sẻ, chim ri v.v...


Hạm ngồi học lớp nhì đệ nhất. Cô giáo nó cũng vừa mới ra trường, trẻ măng nhưng có cái vóc dáng quá khổ: cô Lê Thị Bồng, cũng con một ông quản. Cô rất mập, hơn một tạ. Hồi đó ngay tiểu học, học trò học toàn bằng tiếng Pháp, cả các môn toán, sử, địa và khoa học thường thức. Hạm và một đứa bạn học của nó tên Thùy bao giờ cũng đứng đầu lớp, nhất là giờ Từ vựng, luôn luôn nó được điểm mười. Ngoài bài vở ở trường, nó mê man đọc gần hết hai tủ sách nhà anh Phát ở xóm Xiếc gồm hàng trăm cuốn sách hồng[6] và truyện cho trẻ con, viết bằng tiếng Pháp dễ hiểu của hai nhà xuất bản nổi tiếng đang cạnh tranh nhau bấy giờ. Nó đã nhiều đêm gục mặt trên những trang sách bằng giấy Đáp Cầu nhám đen và thô sơ đó mà đầm đìa nước mắt khóc cho những mối tình Roméo và Juliette, những mối tình Paul và Virginie, Tristan và Iseult...[7]


Người Nhật đã hoàn toàn làm chủ Đông Dương, Pháp chỉ còn quản lý hành chánh các cấp. Để thu hút sự chú ý của tầng lớp thanh thiếu niên, một quan chức Pháp, Ducoroy được giao cho việc phát động phong trào thể thao rộng lớn, lập các trung tâm huấn luyện và các đội bóng chuyền bóng tròn. Thế là tới các trường Tiểu học ở huyện cũng có những đội túc cầu. Bọn học trò cỡ tuổi Hạm thì xài loại banh tennis phế thải nhỏ bằng trái cam mua những hai hào một chiếc.


Với năng khiếu chuyền trái kiện[8] bằng cả hai chân trái và mặt hàng giờ không rớt từ nhỏ, Hạm trở thành một cầu thủ hậu vệ nổi tiếng và nó đam mê kỳ lạ sân cỏ. Anh nó rất nghiêm khắc. Trưa nào, sau buổi học sáng, cơm nước xong, anh đều bắt nó đi ngủ. Ở trần, quần cụt, nó nằm yên không được nhúc nhích trên tấm phản gỗ, chiếc roi mây dạy học của anh để ngay ngắn trên bụng và lệnh của anh là chỉ được thức giấc khi anh cùng dậy sửa soạn đến trường.


Nó nhắm mắt nhưng trong óc luôn luôn bồn chồn tưởng tượng ra cái cảnh náo nhiệt ở sân vận động huyện cách đấy chỉ mấy khoảnh vườn và tiếng reo hò của đám bạn nó chắc là đang quần thảo nhau một cách loạn xạ dưới ánh nắng nồng cháy gay gắt của trưa hè.


Hạm giả vờ thở thật đều, thậm chí nó còn tạo ra những tiếng ngáy nho nhỏ, êm dịu, cho anh nó nằm phía bên kia yên chí.


Rình ở ngoài, khi biết đích là thầy giáo đã ngủ say, thằng Tư huýt gió một cái vừa đủ nghe. Hạm nhè nhẹ, chầm chậm, cẩn thận, rón rén trườn mình xuống đất nhón chân thật khéo, không gây một chút tiếng động nhỏ nào để lẻn ra cửa. Thế là hai đứa vụt chạy đến sân banh giữa tiếng reo hò hoan nghênh rầm rĩ của lũ bạn. Chúng nó vào trận ngay, không thể để mất một giây, huỳnh huỵch đuổi theo quả bóng, sút những cú thật mạnh như chớp vào khung gỗ. Thằng Thùy, bạn nó lại được dịp trổ tài giữ gôn, bắt bóng như keo. Đứa nào cũng đen như tượng đồng, mồ hôi nhễ nhại như tắm, những đôi vai rám nắng, chân tay khẳng kheo dường như chỉ có xương nhưng cứng như sắt. Một chặp, nhắm chừng đã đến lúc anh nó thức giấc nó nháy mắt cho Tư, hai đứa luyến tiếc giã từ sân cỏ, lại băng vườn chạy thật nhanh về nhà. Hạm lấy khăn lau sạch mồ hôi và lại rón rén như một con mèo, hay như một bóng ma, theo ngõ sau lẻn vào nhà. Nằm xuống phản, nó lại để chiếc roi ngay ngắn lên bụng và lần này nó ngáy thật dù chỉ trong mươi phút trước khi anh nó trở giấc, kêu nó dậy với tất cả tự hào là mệnh lệnh của mình đã được thằng em tuân thủ một cách ngoan ngoãn và nghiêm túc.


Bằng một sự tự huấn luyện lén lút như thế nhưng vốn là một kẻ cả đời luôn mê đắm, Hạm đã trở thành một cầu thủ có hạng của đội banh trường Tiểu học Nghĩa Hành từ những ngày còn nhỏ. Chủ nhật nào không được về thăm mẹ, nó công khai xin phép anh để được cùng Tư chỉ huy đội bóng của mình đi thi đấu ở các làng bên. Lần nào chúng cũng giật cúp, bấy giờ có khi chỉ là một trái mít chín hay một con cu đất trong chiếc lồng sập bằng kẽm cài kín lá ngâu tươi. Con chim gù một cách ngọt ngào kêu gọi rừng xanh, hứa hẹn những ngày nghỉ hào hứng khiến lũ trẻ rất toại lòng, càng chuyên chú hơn vào những cú phát bóng thật xa, chống cản hiệu quả và sút chính xác hơn. Tuổi thơ của Hạm vậy đó, với những bài tập đọc tiếng Pháp sang sảng trong lớp, có đàn chim sẻ bay ngang và nắng vàng thiu thiu ngủ trên mái trường. Những giờ đọc truyện ngấu nghiến, thậm chí tranh thủ cả với bóng tối những hoàng hôn mùa đông đến vội. Những cuộc tình trong sách lãng mạn và đầy nước mắt chen lẫn với những phút giây náo nhiệt lùng sục trong vườn, những trái xoài trái ổi. Hay những buổi rong chơi trên đồi sim chín bạt ngàn, tràn ngập một màu hoa tím hoang dã. Hay thảnh thơi lắng nghe tiếng một con chim gáy xù lông đậu trên cành cao đang ngơ ngác nhìn từng ngọn gió vi vu.


 


9. TRỞ LẠI HUYỆN NHÀ


 


Hết năm học 42-43, anh nó đổi về dạy lớp Nhất trường Tiểu học Mộ Đức chỉ cách nhà chừng một giờ đi bộ, nó theo về và lên lớp nhì Đệ nhị. Trường do thầy Đốc Nguyễn Quang Cự làm hiệu trưởng. Nước da thầy ngăm ngăm đen, miệng hô nhưng trán cao và đôi mắt thật sáng. Cha Hạm kể là hồi còn trẻ, cùng đi học chữ Nho ở tỉnh, thầy thuộc lớp nhỏ hơn nhưng là một thư sinh đặc biệt thông minh, kinh sử làu thông, văn bài lưu loát. Năm nhà nước Bảo hộ bỏ kỳ thi Hương, thay cái học Ngũ kinh, Tứ thư[9] bằng chữ Pháp, thì từ một Nho sinh chỉ biết chữ Hán, vậy mà thầy đốc Cự chỉ hai năm đèn sách đã lấy được bằng thành chung. Giải thích hiện tượng nầy, cha Hạm cho rằng cái học cử nghiệp cũ bắt buộc phải học thuộc lòng tất cả, thường xuyên mỗi ngày, giúp luyện trí nhớ thật tốt. Tiếp theo thầy Cự đi học Sư phạm. Ra trường, thầy được bổ đi dạy, đầu tiên là ở Quảng Trị. Vợ thầy quê ở miền sông Hương núi Ngự, dưới con mắt của người dân xứ Quảng, phải thuộc hạng quan quyền sang cả.


Dù là cháu họ của một vị tứ trụ đại thần triều Nguyễn, Cần chánh điện đại học sĩ Nguyễn Thân, thầy Cự đã phải bầm dập rất nhiều trong cái nghề gõ đầu trẻ của ông và không lên được chức học quan Huấn đạo, Giáo thọ như các đồng liêu vì sự thông minh và tính ngang tàng của mình. Đi dạy học mà ông cự cãi suốt với quan trên, đúng như cái tên của ông, nên cái ghế ông ngồi không chỗ nào được nóng đít. Cứ năm bảy tháng một năm là phải đổi, từ Triệu Phong cho tới Cam Lộ, Đồng Hới. Ở mỗi nơi, ông đánh dấu cái kỉ niệm không mấy vui của cảnh một ông giáo miền quê hẻo lánh bằng cách cho ra đời một vài chú nhóc (lạ thay, ông không có con gái) và đặt tên cho các cậu ấm theo địa danh sinh quán: nào Quảng Trị, Triệu Phong, Cam Lộ... Khi về làm hiệu trưởng trường Mộ Đức, thầy đã gần năm mươi và có đến mười mấy người con, rặt con trai.


Thông minh nhưng lại ma chiết, phải lăn lóc trong cuộc sống, thầy đâm ra ngán ngẩm cuộc đời. Đêm đêm thầy giải sầu trên các chiếu bạc cùng với những ông Câu quản, Lại mục, Thừa phái của cái chính phủ Nam triều chỉ còn hư vị ở cái huyện lỵ nhỏ bé dựa vào sườn đồi chỉ có sỏi đá, xưa kia là một mỏ sắt nay hoang phế đã lâu, mang cái tên hoài cổ: xã Thiết Trường, huyện Mộ Đức.


 


10. QUAN ĐỐC GIÁO NGỦ TRONG LỚP HỌC


 


Để có những học trò đã đậu sơ học yếu lược, và lên trường Huyện một năm rồi; và để khỏi phải phụ trách lớp thi, thầy Cự lãnh lớp nhì đệ nhị, lớp của Hạm năm đó. Tối phải thức đêm theo cuộc đen đỏ, sáng dậy thầy ngáp lên ngáp xuống, xỏ áo lương đen, tra đôi guốc mộc vào chân, bệ vệ thả bộ tới trường. Sau ba tiếng trống, học trò xếp hàng ngay ngắn ở trước mỗi lớp, tóc tai đủ kiểu, thằng húi cua, đứa chải rẽ, đứa đầu trọc lóc, áo quần đủ màu, tươm tất có, vá chằng vá đụp có, đứa đã có vợ, đứa còn thò thò mũi xanh. Để chứng tỏ sự cần mẫn và niềm tôn kính đối với mẫu quốc Pháp, thầy lấy giọng thật dõng dạc, hô:


Attention au couleurs, salut! (Nghiêm! Chào cờ, chào!).


Hai anh học trò lớn lớp nhất chầm chậm kéo một lá cờ ba màu xanh, trắng, đỏ lúc nào cũng như mới nhuộm lồng lộng tung bay trong gió sớm trong khi lũ Hạm cất giọng hát bài ca ngợi thống chế Pétain, quốc trưởng Pháp, lúc bấy giờ đã đầu hàng Đức:


Maréchal! Maréchal! Nous voilà! (Thưa thống chế, có chúng tôi đây!).


Không biết đám nhãi con như cái lũ Hạm thí ích lãi gì cho cái nước Pháp xa xôi và nghe nói là đang lâm nguy thê thảm đó, nhưng tiếng ca của tụi nó vẫn vang lên hùng dũng. Lại tiếng thầy Cự ra lệnh:


Entrez! (Cho vào lớp!).


Tụi nhỏ huých tay nhau, nhốn nháo chạy vào lớp, lại đứng nghiêm tại chỗ chờ thầy.


Thầy lại ung dung từng bước một đến đứng trên bục, đảo mắt nhìn từ trên xuống dưới, như dò xét thật kỹ từng đứa một rồi chậm rãi:


Asseizez! (Ngồi xuống!).


Đám học trò như cái máy đồng thanh đáp lại, vừa đặt đít xuống ghế:


Nous nous asseizons.


Tiếp theo là tiếng nói chuyện rì rầm, tiếng lục lọi sách vở, tiếng khua cặp, thước nổi lên. Thầy nhắp cây roi, đánh gió vài cái vút vào không khí:


Taisez vous, taisez vous! (Im đi!).


Thầy tiếp:


Lecture et récitation! (Tập đọc và học thuộc lòng!).


Một đứa bạn của Hạm, thằng Sơn được thầy tin cẩn giao cho sổ sách. Nó đọc tên từng đứa điểm diện, mỗi học sinh có mặt phải tự đáp: present[10]. Sang phần kiểm tra bài cũ, thầy bắt học thuộc lòng tuốt tuột, từ những bài thơ, những đoạn văn trích trong các tác phẩm văn chương Pháp cho chí Sử địa, Khoa học thường thức... Thầy bảo ban đồng nghiệp: Như kinh nghiệm của tôi hồi đi học chữ Nho, cứ thuộc lòng tất, là cái gì cũng mau giỏi.


Thầy gọi: Trần Văn Hà!


Thằng bé đứng dậy, nó đọc: Le savon - Le savon est fabriqué... (xà bông... xà bông được chế tạo...).


Thế rồi cứ được vài dòng trong sách thì nó cũng như những đứa khác, bỏ bớt một đoạn cho chóng hết bài. Tội nghiệp, tối qua thầy mải thức đánh bài, bây giờ thầy đang lim dim ngủ, tiếng trẻ con đọc bài lại như ru, thầy nghe trong mơ màng. Để chứng tỏ mình vẫn tỉnh táo, thỉnh thoảng thầy cố gắng chống chọi với cơn ngủ gà ngủ gật, thầy gào to lên:


Très bien, huit points! Suivent! (Giỏi lắm, tám điểm! Đứa tiếp theo!)


Thế là Hạm đọc láo bài Thường thức cũng được tám điểm. Và đứa tiếp theo nó đọc bài là con Hương, có tên xếp liền sau nó trong sổ theo thứ tự a, b, c.


Nhìn tình hình dao động hay im ắng nơi đôi kính râm và chiếc roi của thầy, lũ nhóc có thể tự lượng định mức độ quấy phá. Cũng có khi thầy bỗng nhiên tỉnh ngủ và bắt tại trận sự ranh ma hoặc lười biếng của đám học trò. Hình phạt có khi rất nặng, những hàng chục roi mà có khi quá nhẹ chỉ là phải uống hết bát nước chè tươi đặc sánh, đắng tới tận cổ mà con thầy không quên đều đặn đem tới bên bàn thầy dạy học trong lớp mỗi buổi. Các tên tội phạm nhỏ bé thường nhăn mặt lấy sức tu một hơi, xem ra còn dễ chịu hơn là căng đít mà thụ hình roi vọt. Chúng nghiêng mặt, nháy mắt, che một nụ cười mỉm, vừa tự hào, vừa e lệ, nhất là trong lớp luôn có một vài trò gái.


Lớp học kỳ quặc này có một cậu trai và một cô gái. Cậu tên là Liêm, con một ông đánh xe ngựa. Cô tên là Hồng, con thầy giáo Xướng. Cả hai đều đã mười bảy, mười tám tuổi, địa vị xã hội hai gia đình chênh lệch nhau. Nhưng Hồng mắt đen lánh, da ửng hồng, tóc xõa bờ vai. Liêm cao ráo, đi Hướng đạo, sơ mi trắng, quần soọc tây màu xanh nước biển, đúng mốt một trang nam tử thời bấy giờ. Họ tình trong như đã, mặt ngoài còn e, nói như lời cụ Nguyễn Du.


Cha Liêm làm xà ích chở khách, phần lớn là các bà nhà quê đi chợ từ Thi Phổ vô Thạch Trụ, trên tuyến đường hơn mười cây số ngang qua trường Huyện. Lẽ dĩ nhiên Liêm được ngồi xe, không phải lon ton chạy tới trường như những đứa khác. Bên cạnh cha, Liêm phụ giúp việc thu tiền, những bà hàng xén quang gánh lòng thòng, những ông khách trú, mại võ Sơn Đông bán thuốc Đông y cao đơn hoàn tán gia truyền dỏm; những ông hương, lý khăn đen áo dài nhấp nhổm hồi hộp với trát quan huyện đòi trong bọc... Liêm ăn bớt mỗi ngày năm bảy xu, tích tiểu thành đa, lâu ngày cũng thành lập được một ngân quỹ bí mật để huênh hoang chi mua một trái banh cho cả lớp, hay cả một gói Cotab[11] lén rủ nhau ra chỗ vắng phì phà (hồi đó chưa ai bán thuốc lá lẻ).


Hôm nọ, nổi hứng, lên máu anh hùng muốn trở thành nhân vật anh chị gan lỳ dưới ánh mắt ý trung nhân Hồng, Liêm tuyên bố:


Ngay trong giờ học, đứa nào can đảm dám cởi quần ở truồng đi từ bàn cuối lên bảng đen, tao thưởng năm hào.


Nói xong, nó móc trong túi ra năm đồng hào mới tinh, khua leng keng. Mặc cho Hồng ngúng nguẩy đỏ mặt phản đối. Liêm khuyến khích:


Tao dám cá với bây là thầy Cự còn ngủ gục, không thấy đâu.


Mấy đứa lớn vừa muốn ta đây, vừa mê giải thưởng, toan đứng dậy nhưng còn e ngại, lấm lét nhìn đấng sư phụ đang an giấc nồng trong tư thế ngồi. Nhưng nhân vật can đảm đã xuất hiện. Nó tên là Có, nhà rất nghèo. Buổi sáng, trên đường đi học, nó phải gánh hàng xén cho mẹ nó từ chợ chiều Thi Phổ vô Đông Cát, mẹ nó lúp xúp chạy theo. Tới nơi, nó trao quang mủng cho mẹ và ôm sách vở chạy tới trường. Nhận lời thách thức, Có tụt quần, cất vào hộc bàn rồi để nguyên cu dái lòng thòng, nhắm mắt đi lên. Tới bảng đen, nó mở mắt ra, đứng oai vệ như tượng thần Apollo trong một giây rồi giơ tay chào cả lớp theo kiểu thống chế Pétain, xong chạy nhanh về chỗ giữa những tiếng hoan hô (bravo) la như vỡ chợ. Mấy cô gái đấm lưng nhau thùi thụi, quay mặt đi ré lên the thé, nhưng cũng cố liếc nhanh một cái để coi thử sự thật cái đó ra sao.


Trên bàn, thầy Đốc tỉnh giấc:


Qu'est ce que c'est? Qu'est ce que c'est? (Gì vậy? Gì vậy?)


Thầy liên tiếp hỏi. Cả lớp im bặt. Không khí căng thẳng, nhưng tiếng trống bãi trường đã đổ dồn đúng lúc, tạm thời cứu nguy cho lũ trẻ. Thầy uể oải ngáp và cho học trò ra về.


Trong lớp có Lộ, con thầy, mười một tuổi. Nó trông thấy tất cả nhưng cũng nín khe. Mấy hôm sau, chẳng biết có đứa nào khai, thầy đuổi học cả Liêm và Có. Bỏ trường, chúng trở thành đứa là xà ích, đứa buôn trà đều chuyên nghiệp. Sau khởi nghĩa cả hai đều làm lớn và đi tập kết.


Riêng lớp học hơn bốn chục đứa hồi đó, thầy Cự phạt mỗi thằng mười roi, trừ con thầy và lũ con gái. Nhưng thầy lại làm biếng, không đánh từng đứa một, ngại mỏi tay. Thầy ra lệnh cho từng bàn một năm đứa lên nằm ở nền xi măng sát bục gỗ và ngồi trên ghế dựa, thầy giáng roi tới tấp xuống. Hạm láu lỉnh ra mặt tích cực lên thọ hình trước để được nằm sát bục gỗ, ngọn roi không động tới làn da nó mảy may nào. Tuy vậy nó cũng la khóc to nhất, để chứng tỏ sự góp phần chịu trừng phạt đồng cam cộng khổ với anh em.


Cả năm học trôi qua như thế, chẳng những không được thêm gì mà cả cái vốn liếng tiếng Pháp mà cô Bồng cố công dạy dỗ nó năm ngoái cũng đi đoong.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info







[1] Dạy người không biết mệt.




[2] Vào năm 1917 ở Trung kỳ.




[3] Đây chỉ cái học của thánh Khổng Tử và hiền nhân Mạnh Tử.




[4] Tức hai ông Sào Phủ và Hứa Do thời Nghiêu Thuấn, khinh chức tước, vui ở nhà làm ruộng.


 




[5] 1 ang, bằng 20 lon sữa bò.


 




[6] Những truyện viết bằng tiếng Pháp cho trẻ con của nhóm Tự Lực, bìa màu hồng gọi là livre rose.




[7] Tên những truyện tình lãng mạn của văn chương Pháp.




[8] Quả cầu làm bằng 2 đồng kẽm và giấy bổi, đá bằng chân, gọi là đá kiện.


 




[9] Hồi xưa, người học chữ Hán, phải thuộc lòng 5 cuốn kinh (Kinh Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân thu) gọi là Ngũ kinh và 4 cuốn sách gọi là Tứ thư gồm: Luận ngữ, Mạnh Tử, Trung Dung và Đại học.


 




[10] Có mặt.




[11] Thuốc điếu thơm, loại sang trước 1945.


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trả giá - Triệu Xuân 23.10.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 18.10.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 18.10.2018
Bụi đời - Triệu Xuân 13.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 09.10.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 09.10.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 05.10.2018
Sừng rượu thề - Nghiêm Đa Văn 05.10.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
xem thêm »