tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24366303
Tiểu thuyết
18.08.2013
Ngũ Hà Miên
Bão

TỪ MỘT CON NGƯỜI


THẤY RÕ HƠN MỘT THỜI ĐẠI VÀ MỘT DÂN TỘC


Lời tựa của nhà văn Hà Văn Thùy


 


     Trên tay bạn là truyện dài Bão, kể về số phận một con người phiêu du tám phần mười thế kỷ trên cõi tạm. Đó là người có nhiều khuôn mặt. Từ một “thầy giáo hò lơ” ngày đầu chống Pháp ở miền quê Quảng Ngãi, trở thành giáo sư Trung học Sài Gòn, một nhà thơ có tên trong Văn bút quốc tế rồi dòng thời cuộc cuốn ông vào Nghị viện Sài Gòn và sau đó thành Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân cách mạng thành phố Hồ Chí Minh…


  Vì vậy, khi được viết trên giấy, cuộc đời ông gắn với quê hương xứ sở, thành một  biên niên sử, chân thực và sinh động của miền Nam hơn nửa thế kỷ... Những trang sách này cho ta biết rõ hơn về một thời đại và một dân tộc.


     Sau ba tháng làm việc với bản thảo, nhà văn Triệu Xuân nói với chúng tôi: “Đã lâu rồi tôi mới được đọc một tác phẩm văn xuôi đáng đọc như vậy. Điều đáng tiếc là thời gian quá ít để giúp tác giả nhiều hơn nhằm hoàn chỉnh bản thảo. Tác phẩm này ngồn ngộn chất liệu hiện thực mà nếu tác giả không dũng cảm dấn thân, nếm trải, thì không thể nào có được! Tác giả là người gắn bó sắt son, chung thủy trên từng bước đi của quê hương đầy khổ đau, tang tóc. Ông quá nhiều vốn sống, có bề dày tri thức, và… ông hơi bị lãng phí, chưa kịp chắt lọc, cứ để tuôn chảy vào tác phẩm! Lối hành văn của ông đôi khi khi quá tự nhiên, là văn nói, bộc trực... Nhưng nói chung, đây là tác phẩm có sức hấp dẫn, rất lương thiện, đáng trân trọng. Những hạn chế về nghệ thuật viết truyện dài của ông, tôi đã suy nghĩ nhiều. Rồi bạn đọc sẽ nhận ra trong quá trình thưởng thức. Tác giả ngoài tám chục tuổi rồi! Đây là dấu ấn cuối cùng của tác giả”.


     Đúng như nhà văn Triệu Xuân nhận xét, cuốn sách này rất lương thiện. Nó chuyển tải những điều sâu xa, phức tạp, nhức nhối, những vinh quang và cay đắng mà dân tộc ta đã trải để làm nên một đất nước hòa bình, thống nhất. Có thể tác phẩm chưa vừa lòng những ai đó… Nhưng nếu không có những tác phẩm như vậy thì văn học còn gì, kho báu tinh thần của dân tộc còn gì? Cuốn sách này in ra trước hết cho bạn bè tác giả cùng rất nhiều người khác, mà mỗi trang, mỗi đoạn đều là ánh phản một phần cuộc đời họ.


 


 


                                                                 Tết Dương lịch, 2013


                                                                        Hà Văn Thùy


 


Phần I


KARMA*


 


Xưa có một người nông dân mạnh khỏe, mặt mũi khôi ngô. Anh chăm sóc trâu bò, cày bừa thật giỏi, lại lọt vào đôi mắt xanh của người thôn nữ xinh đẹp trong làng. Câu chuyện như vầy:


Nhà anh ta cũng có dăm thửa ruộng, thuộc hàng trung nông. Anh được mẹ nuông chiều. Dù vậy, anh không ăn chơi đàng điếm, rượu chè bài bạc mà chỉ chí thú làm ăn, lại có cái giọng hát hay trời cho. Những đêm trăng tát nước bên bờ mương lạch, anh ngợi ca cuộc đời, bà con làng xóm và quang cảnh làng quê: mái nhà, bụi chuối, nương lúa, hàng tre, bằng những vần ca dao mộc mạc được truyền miệng từ bao thế hệ.


Anh không biết chữ, nhưng qua tiếng hát của anh, tất cả đều tràn trề sức sống, trĩu nặng tình người, yên tĩnh và khắc khoải, vất vả và thoải mái như thôn xóm, đồng quê bao bọc quanh anh, như thời niên thiếu lao nhọc như êm đềm của anh, như tính nghiêm khắc, lòng thương con và sự dịu hiền của mẹ anh, như giếng nước trong mát mà anh tắm những trưa hè, như hơi gió bấc lạnh cóng, thổi rụng lá tre những đêm thu hiu quạnh.


Hà hơi vào sự vật, tiếng hát anh lung linh trăng nước, mời gọi thần tiên nhập vào hơi gió đến với người đời, rủ rê ma quỷ kịp về với bóng đêm, vui chơi, đùa hát với con người.


Hồi còn bé, anh đã được nội anh ru bằng những bài hát đó, mười tuổi thì anh thuộc làu làu:


Con còn bay lả bay la


Bay về ruộng lúa, bay qua đồng vàng


Vậy mà thường thì anh không hay hát. Năm ấy, anh mười tám tuổi. Vào một hoàng hôn xuân mới chớm, anh đang cày nốt góc ruộng nhỏ còn dở dang, mải mê với công việc, cho tới khi con trăng mười sáu lên khỏi ngọn tre đen ở làng xa, anh mới tháo ách trâu, vỗ về hai con vật yêu mến đang phì phò thở mà vác cày ra về.


Gió chiều thổi lộng, sương muối tháng Giêng đã ướp lạnh hương cau nhà ai thoang thoảng. Trên con đường mòn hủng hiu về xóm, anh cảm thấy ngứa ngáy cổ họng, nghĩ về kiếp sống của mình, anh vụt cất tiếng hát:


Ở đâu mà chẳng biết ta,


Ta con ông Sấm, cháu bà Thiên Lôi.


Xưa kia ta ở trên trời,


Đứt dây té xuống làm người trần gian


Tiếng hát hồn nhiên tan đi theo hơi gió, nhưng bồn chồn khắc khoải, tra hỏi về kiếp người. Cái kiếp người nào của riêng anh, mà có cái cội nguồn chung từ vô thức, như tiếng sấm vọng về từ một phương trời xa. Bỗng anh nghe có một tiếng cười trong veo, tiếng một cô gái:


Hát hay lắm! Nhưng con nào ông Sấm? Cháu nào bà Thiên Lôi? Hỡi anh con trai cụ hương Khanh ở Phước Hội?


Lần đầu tiên trong đời, anh gặp người khác phái. May quá, bấy giờ trời đã sẩm tối, nàng không thấy được khuôn mặt anh đang đỏ rần lên.


Và anh cũng líu lưỡi, chẳng biết đối đáp ra sao: Tôi, tôi….


Anh lí nhí, rồi lầm lì đi luôn. Nhưng người con gái đó, đứng trong bóng tối dưới một tàn cây si già trước cổng một tòa gia viên rộng rãi và giàu có hơn nhà anh nhiều: cụ hương Chủ, họ Nguyễn Đức.


Anh nghe nói cụ có cô con gái đầu khá đẹp nhưng anh nào dám mơ màng tới. Cha anh mất rồi, mẹ anh ở vậy nuôi con và anh phải làm tất cả công việc đồng áng.


Tiếng người con gái lại đuổi theo như trêu chọc anh:


Mai đi cày về, lại hát nữa, nghen !


Thế là hôm sau anh về trễ hơn. Trên chòm ruộng chỉ còn trơ có đôi trâu và chính bóng anh chìm trong bóng đêm. Anh lại hát, tiếng hòa vào trong hơi gió, cùng lúc với tiếng gọi tình của giun dế cất lên từ bờ cỏ ướt. Trăng mọc, con trăng mười bảy khuyết hơn một chút, nhưng lại càng có vẻ mặn mà hơn. Anh nhìn đỉnh núi Dàng quê anh mờ dần trong bóng tối. Rồi cuối cùng đây đó chỉ có ánh trăng, trăng chảy mênh mông. Hình ảnh ngọn núi quê hương mà ban ngày anh thường thấy đã hiển hiện trong óc anh. Anh lại hát:


Vì mây cho núi lên cao,


Mây xanh mờ nhạt núi nhòa nhòa xanh


Cố gắng làm thâu đêm để kịp vụ cấy, nhưng cuối cùng thì anh cũng xong buổi cày và trở về nhà. Đến gần vườn cụ Chủ, anh mắc cỡ lặng thinh không hát nữa. Người con gái chiều hôm qua đã đứng khuất trong hàng giậu, như chờ anh từ bao kiếp:


Bây giờ thì không hát nữa, hử. Nhưng tui nghe rồi. Hồi chiều, đem cơm cho mấy người làm cỏ… có ngang qua chỗ ruộng nhà.


Nhà ai nhỉ, nói nghe dễ ghét chưa?


Anh vẫn nín lặng, cùng đôi trâu, những bước chân âm thầm. Cô gái đã trở thành vũ trụ của anh. Giọng cười trong trẻo của nàng, cái cổng có hai cánh cửa gỗ nhà nàng, con đường hủng hiu lỗ chân trâu, ồ, sao giờ đây tất cả đều thân thương với anh quá thế.


Thế rồi anh đánh bạo thưa với mẹ sang dạm hỏi nàng.


Mới đầu, mẹ nói nhà mình nghèo, đối làm sao được với người ta! Nhưng rốt cuộc, vì thương con, bà cũng nhờ người bác họ của anh đến thưa với cụ Chủ.


Thật chẳng hiểu sao, không một chút đắn đo, vợ chồng cụ nhận lời. Tất nhiên, người con gái rất lấy làm sung sướng.


Anh nghèo nhưng đẹp trai, chăm làm và có giọng hát trời cho. Và cũng từ ngày đó, nàng không dám đón anh ngoài ngõ nữa. Một lần anh sang làm rể, nàng cả thẹn trốn dưới bếp, hoặc chui vào buồng lánh mặt.


Anh chỉ thấy bóng dáng nàng nhanh nhẹn như một con bướm nhỏ mùa xuân mới nở, thấp thoáng qua lại, mái tóc dài phủ kín xuống sau vai. Thỉnh thoảng anh mới được nghe tiếng nói ấm áp của nàng từ đâu đó vẳng lại.


Các em trai của nàng đều đi học và có chữ nghĩa cả. Riêng anh, anh chỉ thuần phác là một nông phu. Coi tướng một con trâu anh biết nó đi tá hay đi ví[1] giỏi và cày có hay không. Ruộng rộc, ruộng gò trong làng anh đều thuộc như trong lòng bàn tay, rằng là chỗ nào sẽ được, nơi nào sẽ mất.


Nhưng chữ nghĩa thì tuyệt đối anh không biết một chút gì. Chúng thật xa lạ với anh, lí nhí một cách bí hiểm và lổm ngổm bò trên các trang sách.


Một kỳ về ăn giỗ nhà vợ chưa cưới, trong khi chờ đợi cỗ bàn hạ xuống, anh nhẩn nha ghé qua thư phong của nhạc gia. Tẩn mẩn, anh cầm một cuốn lịch Tàu bìa in màu lòe loẹt lên coi, thì có tiếng nói từ phía sau vai, tiếng của người em vợ:


Ôi! Dượng thì coi con bò con nghé, cái cày cái cuốc, chứ biết gì mà rờ tới sách vở làm chi? Cầm lộn đầu rồi đó.


Ác quá, cuốn sách chỉ có tấm hình bát quái với những cây quẻ Hà đồ Lạc thư, làm sao anh biết được đâu là đầu, đâu là đuôi? Anh thẹn đỏ mặt. Người em vợ anh, vốn không thích việc chị gái mình phải lòng tiếng hát và vẻ điển trai của anh, vẫn chưa tha:


Gối rơm trong phận gối rơm.[2]


Anh tức lắm nhưng đành lặng câm.


Tối hôm đó, anh không ngủ được. Sáng ra, anh bỏ buổi cày, lần khân ở nhà, rồi thưa với mẹ cho anh đi học… Mẹ ngạc nhiên lắm:


Lớn rồi. Con sẽ cưới vợ trong năm nay, cho mẹ chút cháu nội, coi hương khói tổ tông, chứ còn… học hành gì nữa.


Anh ngập ngừng:


Nhưng mà con không có chữ, người ta khi[3] lắm mẹ ạ!


Ai khi con. Làm rể nhà đầy chữ nghĩa như nhà cụ Chủ, ai mà dám khinh con?


Anh không dám kể lại cho mẹ nghe những lời của em vợ. Nhưng vẫn nằn nì mãi, mẹ đành chấp nhận. Vốn chí hiếu, biết cảnh nhà thanh bạch, đi học thì phải tốn tiền, nhất là nếu anh bỏ công việc đồng áng thì mẹ phải mướn người làm thay. Nhiều đêm anh trăn trở mãi.


Nhưng rồi anh cũng nghĩ ra một diệu kế, tự mỉm cười yên lòng và kéo một giấc cho tới khi mặt trời lên cao. Sáng đó, anh lén lựa trong đàn gà nhà, bắt con trống thiến to mà anh cưng nhất, cho vào cái sọt rồi xách ra ngõ sau, lựa lúc vắng người mà đến nhà bố vợ.


Bẩm thầy.


Anh thưa với cha vợ:


Mẹ con dạy đem kỉnh[4] thầy con gà.


Ấy, ấy, con trình với chị đừng làm vậy. Bên nhà còn phải dành dụm để cuối năm này lo đám cưới chứ!


Bẩm thầy, mẹ con nói có lẽ chưa kịp. Nhưng con muốn xin thầy làm ơn ban cho con một điều… Thầy có thuận, con mới dám thưa.


Ủa, chị muốn hoãn đám cưới sao? Rể thì cũng đã là con rồi. Con cần gì nào?


Thưa thầy, mẹ con nói nhà thầy văn học mà con thì mồ côi cha sớm, con dốt nát không biết chữ nghĩa gì, thật không xứng. Đã nhận làm con rể, xin thầy cho con được theo các cậu ra tỉnh lo việc cơm nước giặt giũ cho cậu Tư, cậu Sáu ở trường Đốc trong ít lâu, để mót một chút chữ nghĩa Thánh hiền, con có chết cũng đội ơn.


Cụ Chủ bằng lòng ngay. Cậu Tư, cậu Sáu là hai người em vợ cũng dễ dãi để cho anh theo. Việc chính của anh là bổ củi, gánh nước, nấu cơm, giặt giũ quần áo cho hai cậu em vợ. Nhưng anh quyết tâm cả những lúc chờ canh rau chín tới hay lúc rảnh rang, cũng cầm cục than nguệch ngoạc vẽ chữ trên nền đất và lẩm nhẩm tập đọc.


Siêng năng và sáng dạ, chỉ một năm sau, anh đọc được sách vở và lén đến trường Đốc nghe lóm cử Cung giảng Tứ thư, Ngũ kinh.


Kỳ thi Hương năm Ngọ tại Bình Định, anh lén nhà đi thi, kết quả cũng qua được hai kỳ Kinh nghĩa và Văn sách[5] trước sự ngạc nhiên và khen ngợi của mọi người.


Cô con gái của cụ Chủ là người hạnh phúc nhất. Đám cưới của họ đã có những câu đối của bạn bè anh ngâm vịnh cuộc Đại, Tiểu đăng khoa hãn hữu, bằng ý chí và niềm say mê học hỏi của con người vốn chỉ là một trai cày thuần phác không biết chữ này.


Nhưng bản chất anh là con người của dân dã, của lời hát ca dao mộc mạc. Anh yêu luống cày, bụi lúa, nương dâu, cuộc sống hồn nhiên trên ruộng đồng.


Anh đi qua đoạn đường mười năm đèn sách của mọi ông khóa thời bấy giờ chỉ với thời gian hai độ hoa hòe[6] nở vàng trên đường làng vào những ngày tháng mười một mưa ướt.


Anh đã đọc hết mấy hòm sách cổ thư của một thế gia là nhà cha vợ. Nhưng tất cả không làm mất đi vẻ trinh nguyên của tâm hồn anh. Luống cày luôn thơm mùi đất mới trở, hương lúa chín ngạt ngào. Không bao giờ đem mình đối lập với cảnh ngộ và đời người, lúc nào anh cũng cảm thấy thiên nhiên và sự việc hòa hợp với mình. Đối trước bất cứ vật gì, việc gì, anh đều luôn thấy được cái mặt tốt của chúng.


Với anh, ngày nắng gắt oi ả thì tốt dưa, ngày mưa lầy lội thì tốt lúa.


Cái bản tính hiền hòa truyền thống từ bao đời, cộng với những hiểu biết trong sách vở của Thánh hiền giúp anh tùy ngộ nhi an.


Mặc dù tài học có nhiều hứa hẹn, anh không chọn con đường khoa cử. Biết sống an phận[7], anh lại đi cày, tự lấy làm đủ với cái mình có và sống trong hạnh phúc. Bốn năm sau, hai vợ chồng đã có hai mặt con kháu khỉnh, một trai một gái cách nhau hai tuổi.


Một buổi sáng, anh đang bỏ cỏ cho trâu ăn thì có tiếng chân người bước vào cổng.


Anh ngoảnh nhìn lên: một nhà sư trọc đầu nhưng những chân tóc bạc đã lên lún phún, dừng lại trước sân. Sư bận một chiếc áo bá nạp[8], do nhiều mảnh vải đủ màu mà thập phương đã bố thí cho và được khâu chằm, chắp vá một cách vụng về. Anh tiến ra cổng, nghiêng mình đảnh lễ người du tăng khất sĩ và thò tay vào túi lấy một hào bạc, định bỏ vào cái bình bát.


Nhà sư lắc đầu. Anh chợt nhớ, vội chạy vào nhà. Sẵn có tô cơm nguội cùng mấy khoanh cà muối, anh vội mang ra cúng dường. Nhà sư lẳng lặng đón nhận, niệm A Di Đà Phật rồi đi ra ngõ, mồm lẩm bẩm:


Vắn số. Nhưng cháu chắt sẽ thừa được phước ấm.


Anh hỏi thăm người làng thì mới biết nhà sư từ đâu không rõ, mới vân du hoằng hóa đến đây và đang dừng chân tại ngôi chùa Thi Phổ, tranh tre vách đất quê anh, bên bờ sông Cầu Đập, dưới bóng cây sung cổ thụ và nương lúa bắp xanh tươi.


Ba năm sau, mới ngoài ba mươi tuổi, anh lâm trọng bệnh. Trong giấc mơ, anh thấy nhà sư ngày xưa hiện ra bảo:


Con cho mời thầy tụng kinh đi, ta độ cho.


Và anh đã ra đi một cách nhẹ nhàng, sau khi dặn vợ hãy cố nuôi dạy hai con và nếu khá giả, phải công quả xây dựng lại chùa làng bấy giờ còn là một chiếc am nhỏ.


Mới hai mươi tuổi, chồng mất. Người vợ giành tất cả thương yêu nửa chừng xuân của mình cho hai đứa con côi, một gái một trai, cả hai đều bụ bẫm xinh đẹp.


Những bài hát ca dao ngày xưa người chồng hay cất lên giữa cánh đồng gió mát trăng thanh, làm rung động cả cỏ cây, mây nước và mê say lòng mẹ, thì nay, mẹ dùng hát ru con, khi thì buồn tủi cho thân phận chính mình:


Âm dương từ thuở cách xa


Con thơ em mớm. Mẹ già em thương.


Khi thì nàng rót vào tai những đứa trẻ mới lên năm, lên ba, gợi nhớ về một tiền kiếp xa xôi, như trước đây chàng vẫn thường gọi hồn mọi thứ:


Ở đâu mà chẳng biết ta


Ta con ông Sấm, cháu bà Thiên lôi


Xưa kia ta ở trên trời


Đứt dây té xuống làm người trần gian.


Nàng nhớ lại thuở mới gặp nhau, chỉ bảy năm trước, ồ, mà sao như mới ngày hôm qua. Cần gì phải tới cái giấc mộng Nam Kha mà chàng đọc được trong sách vở Thánh hiền và từng kể lại cho nàng nghe những đêm khuya trăng sáng khi đã có chữ nghĩa; giải thích tại sao mình không tiếp tục nấu sử sôi kinh để bôn xu theo thời thế, như bao kẻ đương thời.


Câu chuyện như vầy:


Chàng thư sinh nọ lai kinh ứng thí, đỗ Trạng nguyên (rất tiếc nhà Nguyễn đã bỏ học vị này), dự ngự yến trong hoa viên[9], được vua gả con gái, động phòng hoa chúc với nàng công chúa đẹp nhất trần gian. Dĩ nhiên, chàng được làm quan lớn, cầm trăm vạn hùng binh thảo tặc ở biên cương đại thắng. Uy danh chấn động Trào đình. Nhưng cái tất yếu do đời sống đặt ra là, dù làm phò mã, chàng vẫn bị các nịnh thần ghen ghét sàm tấu[10].


Phụ hoàng nghi phò mã sinh nhị tâm, bèn mật chiếu cho bề tôi tâm phúc lập kế, bắt giải về triều nghị tội, đưa ra pháp tràng…


Tùng bi ly… tùng bi ly… tiếng nhạc hành hình não ruột. Ôi cái bả vinh hoa, chưa chín một nồi kê…


Nhưng tại sao chàng lại sớm từ biệt cõi đời, tạo sao thiếp lại trở thành góa phụ khi tuổi mới ngoài hai mươi, tại sao hai đứa con, đứa gái đẹp như nữ thánh, đứa trai khôi ngô như một thiên thần còn thơm mùi sữa của thiếp lại sớm trở nên côi cút? Số phận, số phận là cái gì? Sao số phận lại khắc nghiệt đến thế.


Đêm xuân trăng sáng, nghe tiếng con chim cưu lạc đàn ròng rã kêu bạn tình tới gục chết trong lùm cây ngũ sắc[11] hoang dại sau nhà, nàng thổn thức, dằn vặt. Và nàng tìm đến chùa Hang, trong đồi núi đá Phú Thọ nhô ra biển, quì xuống Phật đài, đối diện với trùng dương mênh mông xanh thẳm liền tới chân trời, thì có tiếng vọng từ đâu vẳng lại. Nàng nhìn quanh tìm kiếm, bốn bên chẳng có một ai. Ơ kìa! Hình của một hốc đá giống mặt người, với hai hố mắt, gò mũi cao và một cái mồm đang mấp máy. Nàng nghe tiếng của đá:


Tín nữ, con không biết rằng, cho tới nay con đã trải qua vô lượng kiếp ư? Huân tập mãi trong lò cừ nung nấu sự đời. Kẻ thiện nam kia đã được độ, con là tín nữ mà Karma còn vướng, con sẽ phải trả cho xong.


Hãy chăm sóc hai đứa bé, hãy làm ăn chân chính và giàu có, để đủ phương tiện bố thí. Rồi con cũng sẽ ra đi nhẹ nhàng, sau khi ươm trồng được nhân lành. Chúng sanh vô biên phiền não đoạn. Tiếp theo là tiếng chuông ngân dài uông uông. Thốt nhiên, nàng hiểu.


Nàng, một cô gái quê dù là con một phú hào, nhưng như bao phụ nữ thời bấy giờ, chẳng hề được cắp sách đến trường. Vậy mà nàng vẫn tỏ ngộ, bằng một phần ngàn cái tỏ ngộ của Lục Tổ Huệ Năng, vì sư mù chữ bao năm chỉ được giao việc bửa củi, giã gạo trong Thanh Qui thiền viện của Hoàng Nhẫn. Bến Giác dành sự công bằng trọn vẹn cho chúng sanh, không phân biệt kẻ hàm chứa nơi mình rất nhiều cái biết của ký ức và lý trí thế gian với tâm hồn của kẻ chưa hề được biết đọc mà vẫn giữ nguyên vẹn trong lòng mình nét hoang sơ mông muội.


Từ đấy, nàng không đi chùa Ông Rau nữa và trở nên thanh thoát hơn trong lời ru của mình, những buổi trưa chang chang nắng hạ, đu đưa chiếc võng con nằm:


Cái ngủ, mày ngủ cho lâu


Cha mày bãi biển, ngàn dâu chưa về.


Hoặc tích cực hơn:


Trai thì trung hiếu làm đầu


Gái thì tiết hạnh làm câu trau mình.


Lòng đã thanh thoát thì mọi công việc trôi chảy. Nông vụ tấn thời như đã ngàn đời:


Tháng Chạp là tháng trồng khoai,


Tháng Giêng trồng đậu, tháng Hai trồng cà


Tháng Ba cày vỡ ruộng ra…


Thức khuya, dậy sớm điều khiển đám gia nhân siêng năng làm cỏ bón phân để bồi dưỡng lòng đất.


Và còn tần tảo xắt chuối cây, khuấy cám nuôi heo, tận dụng từng vùa nước vo gạo, từng miếng cơm thừa. Chẳng bao lâu, gà qué đầy chuồng, buổi sáng lợn kêu, vịt quạc nhốn nháo cả sân sau. Nhờ Trời, chân cứng đá mềm, góp gió thành bão, tậu thêm ruộng nương, hơn mươi năm sau, nhà trở nên giàu có.


Bấy giờ, có viên Lại mục ở huyện, vốn ấm sinh xuất thân chẳng may vợ mất sớm, vừa nghe danh tiếng mà cũng có lần được gặp người góa phụ, mê nét thanh lịch và cảm đức thùy mị đoan trang của nàng, bèn đem lòng thầm yêu trộm nhớ. Chẳng được đừng, vị Tri huyện tương lai này nhiều lần nhờ người mai mối, nhưng thẩy đều bị từ chối.


Hai đứa con, đứa con gái đầu lòng, lớn lên càng trắng trẻo tinh anh, việc nhà chỉ cần nói qua là biết, đảm đang giúp mẹ trông coi điền sản, rất mực nết na, về sau được rước về làm dâu nhà thế gia họ Trần ở Đồng Cát cùng huyện Mộ Đức, môn đăng hộ đối.


Người con trai sinh ra nhằm năm Triều đình kí hòa ước Nhâm Tuất (1862) chịu mất cho Pháp ba tỉnh miền đông Nam kỳ.


Ông húy là Hoành, tự Phước Xuân, từ bé, đã theo đòi nghiên bút và nổi tiếng hay chữ.


Sống trong cảnh giàu có tại một miền quê yên tĩnh, có con đường cái quan băng qua làng, thỉnh thoảng mới có người phu trạm với chiếc nón dấu ngù bạc phi ngựa hỏa tốc chạy qua, cuốn lên một mớ bụi mù dưới chân; hay họa hoằn lắm mới có một vị quan triều hay một tiểu thư kín mít trong những chiếc võng điều, lọng tía diễu qua. Có khi là những chiếc tán xanh nghiêng nghiêng cho phải phép đi qua cùng với tiếng trống cơm tung… tung… tung ba tiếng một. Đoàn tùy tùy thì khiêng gánh lễ mễ, mệt lả và mong mỏi từng bước sao cho mau tới chỗ nghỉ ngơi và biết rằng phải mất nửa buổi nữa mới đi được vài trạm.


Gia Định đang mịt mù trong lửa khói. Chốn Đế đô, vị vua già sắp chết, giữa một triều đình từ hai mươi năm nay thường trực hoảng loạn bởi những biến cố liên tiếp xảy ra. Đất Việt dài xọc, hình giống cái đòn gánh với hai cái thúng thóc ở hai đầu, đã từ ngàn đời yên ngủ trong nền nông nghiệp lúa nước và luôn phải triều cống Hoàng đế Trung Quốc, cũng như tuân phục nghiêm ngặt các giáo điều Khổng Mạnh.


Năm 1883, nghĩa là suốt thời gian anh trải qua tuổi nằm nôi và thời thơ ấu để trở thành một thanh niên, người Pháp đã đánh chiếm và đặt nền cai trị ở Nam kỳ và Bắc kỳ. Bấy giờ họ đang chuẩn bị nuốt nốt dải đất nhỏ bé khô cằn còn lại nằm ép giữa Trường Sơn và biển Đông của Đức Kim Thượng, Đức Dực Tôn Anh Hoàng đế (Tự Đức).


Súng thần công, tàu chiến Tây phương, gót giày đinh, những người lính Lê dương râu quai nón dữ dằn, lưỡi lê sáng loáng, đám cháy, những người dân quê gồng gánh con cái chạy loạn…


Nguyễn Tri Phương tử nạn ở Gia Định. Hoàng Diệu uống thuốc độc tự vẫn ở Thăng Long. An Nam cuối thế kỉ mười chín chưa đủ trình độ khoa học và truyền thông để những biến cố sấm sét, tang thương và đầy nước mắt đó, vang vọng đến tận những người dân hèn Thi Phổ miền quê, cách tỉnh lỵ Quảng Ngãi độ tới vài chục cây số.


Núi Dàng vẫn im lìm trầm tư trong khói sương mờ. Những cây lúa hồn nhiên trên ruộng đồng vẫn vô tư đùa giỡn với gió chiều.


Cũng như thế, người con trai lớn lên, mang tất cả nguồn gen thông minh, nhưng lãng mạn của người cha. Đã không nhập thế hành động thì con ưu thời mẫn thế làm gì. Bản tính hào sảng, anh mê lời thơ điệu hát, cung cầm dưới nguyệt, nước cờ bên hoa, hơn là cái văn chương cử nghiệp dẫn tới khoa danh, hoạn lộ. Cho nên dù kinh sử làu thông, chữ nghĩa rồng bay phượng múa, nhưng một cách Karma, anh theo con đường của cha, chỉ vui thú điền viên, quyến luyến chốn đình vi, một lòng chí hiếu, phụng dưỡng mẹ già.


Một đêm anh nằm mơ thấy một nhà sư, vẫn vầng tráng cao và đôi mắt sáng, vẫn chiếc lưng dài tựa lên cây thiền trượng có khắc đầu một con cá kình, vẫn chiếc áo bá nạp bằng nhiều mảnh vải thô cũ, đủ màu, khâu ráp một cách vụng về như mẹ từng kể lại. Lại nhà sư ấy hiện ra, vẫy anh đến phủ phục trước mặt:


Con đã đến tuổi thành gia thất. Ta biết con vẫn hằng mong ước một người đẹp tài sắc nâng khăn sửa túi. Nhưng không! Con hãy đi về phương Nam mười dặm để trả hết món nợ tóc tơ của tiền kiếp. Vậy mà ngày sau con cháu chắt chít đầy đàn. Chúng sẽ như đàn chim tung bay đi khắp năm châu bốn bể.


Lại Karma…


Hình ảnh vị sư lùi xa và nhòa dần. Anh tỉnh giấc. Hôm sau, anh đem chuyện kể cho hai vợ chồng người anh rể duy nhất của mình. Anh rể nói:


Phải rồi, cậu cũng đã đến tuổi phải lấy vợ. Lại là thõng mắm treo đầu giàn nữa.


Ở quê Quảng Ngãi người ta quí mắm lắm. Đến mùa cá cơm, cá nục, nhà nào cũng mang gạo ra chợ đổi lấy từng rổ lớn đem về, cứ một muối ba cá, trộn thật đều, chứa trong ghè, tĩnh[12]. Sau ba tháng thì đem giăng dưới ánh nắng mặt trời chói chang nhiều ngày. Khi giở ra xem, những con mắm đỏ au, mặn mà một cách dịu dàng, đầy chất đạm, ngon chẳng khác nào ăn cá tươi. Rồi người ta san sẻ vào những hũ nhỏ, địa phương gọi là cái thõng. Gia tỏi ớt, cả trái thơm và đu đủ già xắt phơi khô nữa.


Thõng mắm, thực phẩm duy nhất của dân quê trong bữa ăn quý vậy đó, lại là thõng mắm duy nhất của gia đình mà treo ở đầu giàn bằng sợi dây mỏng manh, thách đố cả những bất cẩn nhỏ nhất cũng có thể làm rơi xuống bể tan, nên nó phải được nâng niu cẩn thận tới đâu. Thõng mắm treo đầu giàn là hình ảnh của các cậu quý tử, con một, con nhà giàu, được cưng chiều ở thôn quê An Nam thời bấy giờ. Nguyễn trầm tư hồi lâu, chậm rãi:


Phải, tóc mẹ đã hoa râm rồi. Thôi, anh cứ đi về phía Thạch Trụ giùm tôi, xem vùng đó có đám nào không lời thần mộng của vị thiền sư tôi như còn văng vẳng bên tai.


Được dịp lập công với bên vợ, người anh rể vui vẻ nhận lời. Mười ngày sau, anh rể từ Đồng Cát hớn hở thắng ngựa[13] ra Thi Phổ báo tin cho nhạc mẫu và cậu em vợ.


Cột con Ô Quắm lông hung hung đen và bờm xoắn lên như râu Trương Phi vào bụi tre trước nhà, anh rể như viên tướng thắng trận trở về, triều thiên vào trước cung đình dâng công[14]


Bẩm mẹ, Thạch Trụ là đất linh, đã phát tích Tướng công Nguyễn Tấn, từng bình được giặc mọi Đá Vách bằng mưu trí. Về phía Tây vùng này non vài dặm thì phong cảnh cực kỳ hùng vĩ và thanh nhã, đất rộng người thưa, có trang trại của một hào phú họ Trần, từ đâu đến đây lập nghiệp đã ba đời. Trần Công tinh thông võ nghệ lại thích văn chương, điền tốt trong nhà có tới hàng trăm, được chủ nhân huấn luyện thập bát ban khí giới, ghép thành đội ngũ, tiến thoái qui củ, vừa tuần phòng giúp dân giữ trộm cướp, đẩy lui người Thượng từ sơn cước xuống quấy phá. Quan huyện Mộ Đức cũng phải nể vì, hay lui tới kết giao, khi luận kiếm, khi kèo rượu bình văn, thật là một đại thế gia vinh hiển.


Trần Công, biệt hiệu là Tùy Vĩnh, có cô con gái tuổi vừa đôi tám, nhan sắc mặn mà. Con thưa để mẹ nhờ người làm mai, xin cô ấy về làm dâu hầu mẹ. Phước Xuân không nói gì. Ý chàng muốn thử xem Karma nhiệm màu tới đâu, nên mặc cho cuộc đời đẩy đưa.


Mẹ hiểu như thế là chàng bằng lòng nên ủy thác cho con rể tùy nghi chọn người mai mối, miễn sao kết quả được cuộc lương duyên. Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, không ngờ tiếng tăm của gia đình Phước Xuân cũng đã đến tai Trần phú hộ. Nên khi được đánh tiếng, ông không ngần ngại, chấp thuận cho cô gái rượu chọn khách đồng sàng. Nhắp một chung rượu, ông ngâm Kinh Thi:


Đào chi yêu yêu, chước chước kỳ hoa


Chi tử vu quy, nghi kỳ thất gia[15].


Rồi tiếp đến, đám cưới linh đình, toàn võng điều lọng xanh đi rợp cả quãng đường rước dâu dài tới hơn một dặm[16].


Đồng Lâm họ Phạm, ở cùng xã và là bạn nối khố của Phước Xuân, nổi tiếng văn hay chữ tốt khắp vùng Nam Ngãi, cũng từ trường Đốc ở tỉnh[17] về dự. Long phụng duyên ưa. Chồng trẻ vợ hiền, mẹ chồng từ hòa, nàng dâu hiếu thảo gặp nhau tương đắc như đã hẹn nhau từ tiền định.


Họ cùng nhau đi lễ chùa và sau mỗi vụ mùa còn dành một số thóc bán đi mà tu tạo ngôi cổ tự bên sông Cầu Đập. Chiếc am xưa đã mang màu ngói đỏ lẫn vào đám lúa bắp xanh tươi. Họ không bao giờ quên hình ảnh vị sư già khoác chiếc áo bá nạp hằn lên trong tâm khảm, mà đã hai thế hệ, hết cha rồi con, cùng nối tiếp được gặp. Cha trong hiện thực đời sống, còn con, trong mộng thơ. Nhưng thực mơ nào có khác gì nhau, tất cả chỉ là hồn bướm Trang Chu mà thôi.


Trang Sinh hiểu mộng mê hồ điệp


Thục Đế xuân tâm khốc đỗ quyên[18].


Tạm dịch:


Trang Chu tỉnh mộng mơ hồn bướm


Vua Thục lòng xuân, khóc đỗ quyên[19].


Thoắt đó, con dâu đã có thai. Mẹ chồng mừng rỡ khôn xiết. Theo phong tục nhà quê, con so về nhà mẹ, anh vợ thừa lệnh thân mẫu đưa kiệu ra rước em gái về trước một tháng, để chuẩn bị lâm bồn.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info








* Nghĩa là Nghiệp: Hành động được phát sinh từ tâm. Theo Đức Phật: Con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng mà từ đó con người được sinh ra; nghiệp là quyền thuộc, là nơi nương tựa (Owners of their karma are the beings, heir of the karma. The karmar is their womb from which they are born, their karma is their friend, their refuge). Như thế, sự hiện hữu của mỗi con người đồng thời là sự hiện hữu của nghiệp thiện và bất thiện từ (vô lượng kiếp) quá khứ. Mỗi con người cá thể là điểm trung tâm của nghiệp; ngoài mỗi cá thể ấy sẽ không có bất kỳ một cái nghiệp nào được bàn đến. Thông thường, nói đến nghiệp là nói đến vấn đề thiện, ác trong vòng sinh diệt và tương tục của đời sống con người. Thông qua việc tạo nghiệp (thiện hay ác) mà con người tự dựng cho mình một định nghiệp - một đời sống khổ đau hay hạnh phúc. Cơ sở của nghiệp là tâm (ý), nghiệp chính là cội nguồn của tâm (Chú thích của nhà văn Triệu Xuân).


 




[1] Tá: bên trái; ví: bên phải (tiếng Quảng Ngãi).


 




[2] Thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu




[3] Khi: khinh (tiếng địa phương).




[4] Kỉnh: kính biếu (tiếng địa phương).




[5] Thi Hương ngày xưa, làm bài bằng chữ Hán, có 4 kỳ theo thứ tự: kinh nghĩa, văn sách, thi phú và tứ lục. Đỗ kỳ trước mới được dự thi kỳ sau, đỗ Tam trường (trường 3) là Tú tài, Tứ trường là Cử nhân.




[6] Thi Hương 3 năm 1 lần (Tí - Mẹo - Ngọ - Mùi) bắt đầu khoảng tháng Mười âm, dạo ấy hoa hòe nở. Nên có câu: Hòe hoa hoàng tử mang, nghĩa là Hoa hòe nở vàng là lúc lòng người học trò đi thi lo lắng.




[7] An phận: Tùy theo cảnh ngộ mà an lòng.




[8] Bá: trăm; nạp: đưa vào, áo bằng trăm mảnh vải (do nhiều người bố thí cho) kết lại thành áo.




[9] Hồi xưa ba năm mới thi Hội một lần. Thí sinh là những vị đã đỗ Cử nhân. Nhà vua rất trọng những vị Tiến sĩ, thết tiệc đãi (ngự yến), cho đi thăm vườn hoa của ngài, và thường chọn những vị tài giỏi làm phò mã gả công chúa cho.




[10] Tâu lên vua những điều bậy: vu cáo, nói xấu, v.v…




[11] Một loại cây hoa, bông có năm sắc, mọc hoang trên các gò, bãi miền Trung.




[12] Còn gọi là tĩn, một loại hủ nhỏ bằng đất.




[13] Thơ Chinh Phụ Ngâm.




[14] Tức cha của cần Chánh điện Đại học sĩ Nguyễn Thân. Giặc mọi Đá Vách luôn năm quấy phá, quan quân mệt mỏi đánh dẹp không yên. Nguyễn Tấn mang đường phèn trộn vào những cục đá trắng trong kêu tù trưởng mọi tới thách ăn đá. Tù trưởng đụng vô là gãy răng. Nguyễn Tấn bốc đường phèn nhai rau ráu. Mọi trông thấy, cho ông là tướng Trời, sợ hãi không còn dám quấy nhiễu nữa.




[15] Thơ trong Kinh Thi mà bấy giờ thí sinh phải học. Nghĩa: Hoa đào xinh xinh. Rộn rực nở hoa. Cô gái về nhà chồng. Để thành gia thất.




[16] Đơn vị đo độ dài thời xưa khoảng 700m.




[17] Trường học duy nhất của tỉnh do một vị khoa bảng gọi là Đốc học trông coi.




[18] Thơ của Lý Thương Ẩn.




[19] Đỗ quyên: con chim cuốc.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trả giá - Triệu Xuân 23.10.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 18.10.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 18.10.2018
Bụi đời - Triệu Xuân 13.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 09.10.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 09.10.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 05.10.2018
Sừng rượu thề - Nghiêm Đa Văn 05.10.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
xem thêm »