tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30219983
Tiểu thuyết
30.07.2013
Lê Văn Thảo
Cơn giông


Ông Sáu Thiên ở lại đến giữa khuya, buổi gặp gỡ cuối cùng, thao thao chuyện xưa chuyện nay, chuyện chiếc đồng hồ, tranh cãi với tay thư ký, bắt qua chuyện cơn giông, đi dự đám cưới không có cô dâu, chú rể, chiếc ghe chở đôi tân hôn trôi tuột đâu mất. Điện tắt ông vẫn nói. Điện sáng ông ta biến mất. Bằng ngủ luôn, không qua phòng đứa con gái. Thật ra anh gần như không ngủ, chập chờn mộng mị, nghe vẳng tiếng rao đêm gánh hàng khuya, lẻng rẻng người đấm bóp, yên đi một lúc lại vang lên rộn rã tiếng cười nói của đám trai gái tan hát ra về. Sáng ra Bằng vẫn nằm. Thủy gõ cửa bước vào cùng với đứa nhỏ, đồ đạc gói to, gói nhỏ chuẩn bị xong cả. Bà già đi theo sau nói chở củi về rừng. Bằng trở dậy dọn đồ đạc xách túi đi xuống theo họ. Mọi người đứng ở bực thềm, chiếc xe du lịch đậu ở sân, người tài xế đứng tréo chân hút thuốc thờ ơ nghe người phiên dịch nói chuyện đi đứng giá cả. Người Mỹ đứng bên cạnh. Bỗng thấy ông Sáu Thiên tất tả đi vào lăng xăng cùng Thủy phụ đỡ đưa đứa con gái lên xe. Thủy cũng lên theo, hai cô cháu ngồi ở băng trước sau tài xế. Thủy đón đồ đạc ông Sáu Thiên đưa vào. Đứa nhỏ nhoài người ra ngoài hẳn để cho Bằng nhìn thấy. Bằng vẫn đứng yên. Ông Sáu Thiên bám lấy cửa xe nói mãi không thôi. Người phiên dịch nói gì với người Mỹ, ông ta đến chỗ Bằng nói lì xì một tràng dài. Người phiên dịch nói ông ta nói lời chia tay, có thể họ ở trên thành phố lâu, làm thủ tục giấy tờ, họ sẽ điện báo khi lên tới thành phố, liên lạc thường xuyên với anh, anh nhận điện ở đâu? Không đâu cả, Bằng đáp. Đứa nhỏ vẫn nhoài người ra ngoài. Người tài xế quăng tàn thuốc, lên xe nổ máy nhỏ, ôm tay lái chờ đợi. Người Mỹ vội vã nói luôn bằng tiếng Việt:

“Chúng tôi đi…”.


“Đi đi thôi”, ông Sáu Thiên bước tới nói chen vào. “Trời trưa nắng nôi mệt nhọc lắm”.


“Con tôi lên thành phố rồi trở về đây”, Bằng nói. “Không có chuyện đi Mỹ đi nước ngoài nào hết”.


“Đồng ý thôi”, người Mỹ nói qua người phiên dịch. “Mọi chuyện chúng tôi đều phải bàn với anh”.


Người Mỹ làm động tác như chìa tay ra, nhưng Bằng quay đi, đến bên chiếc xe. Đứa nhỏ vẫn đang thò đầu ra ngoài. Bằng nắm lấy tay nó:


“Chú đây! Con đi với cô Thủy ít bữa trở về, chú sửa chiếc ghe đợi con, hai chú cháu mình đi giáp vòng Cà Mau coi cây đước, cây mắm...”.


“Con sẽ về...”, đứa nhỏ nói.


Người Mỹ khom lưng chun vào xe, người phiên dịch lên theo kéo đóng cửa lại. Thủy kéo đứa nhỏ vào, rồi chính cô lại thò đầu ra. Chiếc xe chạy một vòng quanh sân, ra cổng, nổ máy ồn ào, loáng thoáng sau bờ rào rồi mất hút. Góc phố vắng lặng trở lại.


“Rồi cũng yên thôi mày à”, tiếng ông Sáu Thiên phía sau.


“Tôi trồng cây cả đời cho con nhỏ sáng mắt cũng được”, Bằng nói. “Nhưng con nhỏ đi xa tôi không yên chút nào”.


“Nó lên thành phố thôi, mày cũng có đứa con trên đó”, ông Sáu Thiên nói. “Tao trả tiền sửa chiếc ghe rồi, mày đi liền không?”.


Bằng đến phòng tiếp tân lấy giấy tờ, cô gái nhìn hình anh trong tờ chứng minh, anh giật lấy quay đi mau. Ông Sáu Thiên quá giang một đoạn. Họ đi băng qua khu chợ đến xưởng đóng ghe, Bằng xuống ghe coi lại mọi thứ, ông Sáu Thiên nói láp giáp với đám thợ. Trời nắng lên, có chiếc ghe chạy ngang tiếng kêu hú ngoài xa.


Ghe ra đi giữa trời nắng chang chang…


***


Trong phòng trực trại cải tạo vẫn hai người đánh cờ, một người thổi bếp. Trời tối chạng vạng, Bằng bước vào vẫn không ai ngẩng lên. Lâu lắm người thổi bếp lên tiếng:


“Về tới đó à? Có lấy được chiếc ghe không? Bị giông bão đã đời phải không?”.


“Tôi lấy chiếc ghe đi vài công chuyện mới về đây”.


“Ông Già hỏi thăm dữ lắm đó. Nói thằng Bằng trốn đi tao còng đầu nó. Trốn đi làm sao mà còng? Thôi nghỉ chút đi rồi ăn cơm, có đồ ăn, giông bão cá ao tràn ra đầy đồng, của thiên trả địa vậy thôi”.


“Tôi ăn rồi”.


“Ăn thêm chút nữa, trong kia không còn cơm đâu. Kìa hai ông tiên có dẹp bàn cờ ăn cơm không?”.


Bằng không ăn cơm, ngồi uống trà hút thuốc rồi xuống ghe khóa xích, tháo máy gởi vào góc nhà, đi vào trong trại. Trời tối vẫn có thể nhìn thấy vết tích cơn giông, nhiều gian trại lợp lại lá mới, những mương nước sục bùn, không nghiêm trọng gì lắm với khu trại trống trải như thế này. Bằng đi thẳng vào gặp Ông Già.


“Anh đi lâu quá, nhưng đem chiếc ghe về là được rồi. Không có cách gì báo về được à?”.


“Dạ tôi không gặp ai quen”.


“Sao nghe nói anh gặp người trốn trại, tôi kiểm có ai trốn đâu?”.


“Dạ chắc tôi nhìn lộn”.


“Giông bão quá trời quá đất, cha sanh mẹ đẻ tới giờ tôi mới bị một trận như vầy. Nghe ầm ầm, nhào xuống ôm gốc cột chịu trận. Thôi anh về nghỉ đi, mai khỏi đi trồng rừng, có khi tôi có chuyện cần đi. Anh vừa cưới vợ phải không?”.


“Dạ không”.


“Tưởng có vợ mừng cho anh. Nhưng không có vợ cũng mừng. Chiếc ghe nghe nói hư hao sao đó hả? Anh về trại nghỉ mai coi lại chiếc ghe, làm lại mấy giàn rau, giông bão sập đổ hết rồi... Có đúng anh không cất giấu tiền bạc không?”.


“Dạ không”.


“Trên thành phố lại hỏi thăm anh, nhưng tôi nói tôi ngán chuyện tiền bạc lắm rồi. Anh chắc cũng vậy. Giàu có anh chun về xó xỉnh này làm gì?”.


Bằng về gian trại thấy mái được lợp mới, chiếc giường vẫn để trống, còn nguyên mùng màn. Chẳng còn Già Tư, Long Cụt để tán chuyện, gây sự, anh nằm xuống ngủ ngay, ngủ say như chưa từng được ngủ. Sáng ra mọi người đi làm, anh xuống nhà bếp ăn cơm. Người nấu bếp là một tù mãn hạn ngồi ngáp vặt. Anh không muốn về trại, ngồi kể lan man đủ thứ chuyện, anh vào chiếc đầm ngờ là quê xưa, gặp lại người cha nuôi đang hấp hối, bị cơn giông xuýt chết, bà mập bị á khẩu, ông ròm văng mất, anh ra chợ Cà Mau giao đứa con gái mù của Long Cụt cho tay người Mỹ đem lên thành phố mổ mắt. Người nấu bếp nghe không hiểu gì cả, anh vẫn nói, người nấu bếp ngáp dài nói anh có chiếc ghe đẹp quá, bữa nào cho quá giang đi chơi một chuyến.


“Được thôi, bữa nào đi với tôi”, Bằng nói.


Bằng sang làm việc với bộ phận quản trị, cũng chẳng có chuyện gì, trại mướn chiếc ghe theo giá thỏa thuận, chở rau, cá mắm, anh chưa ra trại công lái không tính, thêm ít tiền thuốc men quần áo là được rồi.


“Tôi đâu có đòi hỏi gì”, Bằng nói.


Bằng lo tu sửa chiếc ghe, làm giá che mui tạm, mua can đựng xăng nhớt, bộ chèo, bốn cặp vỏ xe cũ treo hai bên thành ghe để chen lách. Không còn ghe du lịch nữa mà là ghe “chiến đấu”, anh nói đùa với mọi người. Ông Già chưa đi đâu, ban quản giáo cũng không ai đi, anh làm lại mấy giàn rau, bắt đầu lại từ đầu, cặm cụi từ sáng tới chiều.


Đôi khi anh cũng đi trồng rừng, cho vui với mọi người.


Chuyến đầu tiên Bằng đưa Ông Già lên huyện, nói làm việc gì đó, thật ra chỉ tán chuyện với mấy người ở quán cà phê, trở về chợ xã gặp một người nói là con nuôi. Ông đi thẳng vào nhà ngồi ngả người ở ghế giữa, kêu Bằng cùng ngồi. Chủ nhà là một gã đàn ông đầu trọc, mắt lồi, mặt đầy thẹo, tay chân đầy những hình xăm. Gã bắt ghế ngồi phía sau. Chút sau chị vợ tay bồng con nhỏ đến ngồi phía sau nữa. Đôi bên nói chuyện không ra khách chủ, mà như người quản tù nói với người tù.


“Có lần nó trốn trại bị tôi bắn què chân”, Ông Già chỉ người mặt thẹo giới thiệu với Bằng.


Gã mặt thẹo cười:


“Tôi trốn trại ba ngày Ông Già còn đuổi kịp, nổ một phát trúng ngay chân”.


“Tao nhắm vào đầu, không hiểu sao trúng chân”, Ông Già cười nói.


“Trúng đầu chết rồi”, gã mặt thẹo cười theo.


“Thằng này không nên thân gì hết”, Ong Già nói với Bằng. “Chỉ giỏi đâm chém, không nấu nổi nồi cơm, ra trại tôi phải cất nhà cưới vợ cho, lâu lâu ghé thăm còn phải cho tiền”.


Bằng lái ghe đưa Ông Già đi thăm nhiều con nuôi như vậy ở rải rác chung quanh, những người tù mãn hạn không có chỗ đi, ở lại kiếm miếng đất mần ăn. Một tháng vài lần Bằng đưa người ở tổ quản trị đi chợ mua hàng, ghé quán Hai Chất hỏi tin đứa con gái mù, tuy không nhớ có dặn Thủy liên hệ ở đó. Có cảm giác lâu lắm rồi, đó là một chuyện khác ở một thế giới khác anh không còn dính líu gì. Không nghe tin tức gì ông Sáu Thiên. Một lần Bằng đến trụ sở công an tìm ông cắt cỏ đãi ly cà phê, báo tin anh gần ra tù, đang lái ghe, ông ta báo sắp nghỉ việc, về hưu, đang rầu không biết đi đâu, trại cải tạo của Bằng có việc cho ông ta làm không công, ăn cơm tù thôi cũng được. Rồi hỏi Bằng có mượn tiền không, có người vừa trả tiền cả vốn lẫn lời chưa biết làm gì.


Ngày giờ trôi đi đằng đẵng. Anh như bị gạt ra ngoài, bị lấy mất đứa con gái, Thủy cũng không còn nhớ tới anh. Dần dà nhiều việc, anh lái ghe hằng ngày, bộ phận quản trị đi mua hàng, ban quản giáo đi họp, buổi tối về trại thức khuya tính toán sổ sách, ngủ dưới ghe để giữ ghe, tháng đôi lần lên trại ngủ, cười đùa chuyện vãn. Có bữa không đi đâu không trồng rau Bằng nhận đưa cơm cho những người đi trồng rừng, lái ghe không cực nhọc gì nhưng gánh cơm vào trong rừng sâu cũng toát mồ hôi.


***


Một bữa Bằng ra chợ nhận được thư Thủy Tiên, không phải một bức thư mà nhiều bức thư nối tiếp nhau, địa chỉ ủy ban xã, ông cắt cỏ đưa lại.


Thư viết:


... Vậy đúng là ba có con nuôi, cô Thủy đến đây báo tin đã đưa em con lên thành phố mổ mắt, má không chịu tiếp, con mời cô ấy vào nhà ngồi ở xa-lông phòng khách rót nước nói chuyện, ông ngoại ngồi kế bên không biết gì chỉ lo bắt kiến. Cô Thủy nói ông người Mỹ nào đó chịu tiền mổ mắt cho em con, đến báo cho con biết chỗ ở hai cô cháu, con và em con nên gặp nhau, hai chị em chẳng ruột thịt gì cũng không phải người xa lạ. Ba bị một trận bão xuýt chết phải không? Con nghe đài lo lắm, nhưng cô Thủy nói ba không sao, chiếc ghe cũng bị hư chút đỉnh thôi. Cô Thủy lên thành phố đã lâu, giờ mới đến, nói không dám rời em con. Ông người Mỹ đã đưa em con đi khám nói có thể mổ nhưng phải theo dõi kỹ, chờ đoàn bác sĩ nhân đạo Mỹ sắp sang bảo đảm hơn, đỡ chi phí hơn. Cô Thủy đến nhờ con viết thư báo tin cho ba, chữ nghĩa cô Thủy lôi thôi lắm...


... Con vừa đi thăm em con, má nói mày đi đâu kệ mày. Gần đây má ít uống rượu, bớt quạu quọ, nhưng cũng không vui vẻ gì. Má ngồi một chút coi con sắp xếp đồ đạc rồi nói: “Ba mày không ở tù dám chắc con nhỏ này là con đẻ của ba mày lắm”. Rồi má nói với ngoại: “Con Thủy Tiên đi thăm con nuôi ba ghẻ nó, ba có nhắn gì không?”. Ngoại không nghe gì cả, đưa tay lên khoe bắt được con kiến “đầu đảng”, sẽ giam nó trong hộp quẹt ba ngày, coi đám “lâu la” biết chỗ tìm không. Hồi sáng con đi chợ mua đồ cho em con, không biết mua gì, không dám hỏi má, mua đại chục cam, ký đường, hộp sữa, chiếc khăn tắm, đôi dép đi trong nhà, bộ quần áo ngủ... Con đến một mình xách chiếc giỏ nặng, cô Thủy xuống nhà đón dẫn lên phòng, em con đang ngồi trên giường. Con không ngờ nó đẹp vậy, không có vẻ gì là mù cả, con nhỏ hoa hậu lớp con cũng không bằng. Ông người Mỹ cũng ở đó, cao lòng khòng mặt mày rầu rĩ, bận rộn đi tới lui sắp xếp dọn dẹp ra vẻ ân cần quán xuyến. Anh phiên dịch ăn diện đỏm dáng, cứ nhìn con làm con phải trừng mắt nhìn lại. Cô Thủy kêu hai chúng con nói chuyện với nhau, con không biết nói gì, em con cũng không nói, thành ra hai đứa cứ làm thinh. Ông người Mỹ nhìn hai đứa cười nói “tốt, tốt”. Sao ba không viết thư báo trước cho con để con nghĩ cách phải đối xử với em con như thế nào. Con sắp thành người lớn rồi, học xong đi làm. Má mua nhà cho con ở riêng, con sẽ đem em con về cùng ở...


...Có được đứa em con mừng lắm. Cô Thủy kêu con ở lại ăn cơm con nhận lời liền. Trong bữa ăn con nói chuyện học hành của con cho em con nghe, nghe chuyện con học dở ông người Mỹ chỉ mặt con cười nói: “A, học dở, học dở...”. Em con cũng cười rồi đột nhiên chảy nước mắt khóc.


Một lúc sau em con thôi khóc nắm tay rờ mặt con nói: “Chị đến chơi với em nữa nghen?”. Đó là câu đầu tiên em con nói với con. Dễ thương quá chừng! Sau đó ngày nào con cũng đến, có bữa phải trốn học, gặp bữa cơm ngồi vào ăn, giành ngồi gần em con để bới cơm gắp thức ăn cho nó, nói đủ thứ chuyện cho nó vui ăn ngon miệng. Ăn cơm rồi chúng con lên phòng tiếp tục nói chuyện, con kể chuyện thành phố, em con kể chuyện sông nước rừng đước rừng mắm. Không hiểu sao nó mù vậy biết được rất nhiều chuyện, nước lớn, nước ròng, cá ăn móng, con thòi lòi chạy rột rẹt trên bãi bùn, giăng câu, chài lưới, đáy sông, đáy hàng khơi nó đều biết...


...Có chuyện này của em con chắc ba không biết: mấy năm trước, một hôm vào giữa khuya ở căn nhà bên bờ sông, bà già ngủ say, em con thức dậy lần đi ra sàn nước thả mình xuống nước... Nó muốn chết, sống không làm gì làm cực lòng mọi người... Nhưng rồi nó không chết, nước lạnh làm nó tỉnh người lội trở lên, nghĩ bụng nó sống vì nó cũng vì mọi người. Căn nhà cheo leo bên bờ sông từ lâu đã thành “nhà của con nhỏ mù” xuồng ghe qua lại đều biết, niềm vui chung của giới thương hồ...


Bằng hối người quản trị đem hàng xuống ghe để về kịp con nước xuôi, về quán Hai Chất nhắn gặp ông Sáu Thiên. Anh xuống ghe nổ máy lớn, giữa đêm về tới trại.


Trại ngủ im lìm. Bằng chun vào giường ngủ một giấc dài, sáng ra mọi người đi làm cả, thấy có một đống lù lù bên cạnh, giở ra là gã tù gặp ở chợ xã hôm trước cơn giông.


“Mày không trốn hả?”, Bằng hỏi.


“Trốn hay không là việc của tao”, gã đáp.


“Sao không đi trồng rừng?”.


“Mày là đại bàng ở đây hả?”.


Bằng bỏ đi xuống bếp kiếm cơm ăn, trở lên thấy gã tù vẫn nằm. Hôm sau, rồi hôm sau nữa cũng vậy. Không đáng gì, nhưng cũng thấy ngứa ngáy chân tay. Nhưng chính gã tù ra tay trước. Giữa khuya chợt nghe tiếng gọi: “Dậy tao nói chuyện này”. Bằng lồm cồm ngồi dậy chưa kịp ngó quanh bị một cú đấm ngay giữa mặt. Rồi một cú nữa. Cú thứ ba Bằng tránh được, bắt đầu đấm trả lại, hai đứa xô ngã hai chiếc giường, làm bung cả một mảng vách, ôm dính đeo nhau tuôn ra ngoài sân. Bằng lại bị một cú đấm nữa máu chảy đầy mặt, nhưng anh cũng đấm trả được mấy cái khiến gã tù quờ quạng bò lê dưới mặt đất. Vừa lúc đó mọi người thức dậy chạy ra lôi hai đứa ra.


Sáng ra Bằng mang bộ mặt sưng vù lên gặp Ông Già.


“Lại anh nữa”, Ông Già nói. “Không yên tay chân được hả?”.


“Nó đánh tôi trước”, Bằng nói.


“Không trước sau gì cả, đây không phải sân bóng”, Ong Già vẫn không một chút lên giọng. “Có vẻ anh muốn ở đây luôn. Hay muốn đi trại khác, ở nhà tường cấm cố không phải lái ghe thảnh thơi như thế này?”.


“Tôi kêu nó đi trồng rừng thôi”.


“Chúng tôi bắt nó ở nhà đó”, Ông Già nói. “Ở đây không có ai trốn trại như anh nói, nhưng chúng tôi được tin có thằng tìm cách vô đây để thanh toán một thằng trong này. Hay chính anh?”.


“Tôi không có chuyện gì đâu”.


“Anh xuống trạm y tế coi lại mặt mày”, Ông Già nói để chấm dứt câu chuyện. “Anh muốn ở đây lâu chúng tôi sẽ tính, chúng tôi có cách đối xử với tất cả mọi người. Anh đi đi”.


Bằng vẫn chưa chịu đứng lên:


“Tôi trồng rừng bao lâu cũng được, nhưng cho tôi lái ghe kiếm ít tiền, tôi còn có đứa con gái mù của Long Cụt phải nuôi”.


“Nuôi con là một chuyện, gây rối quậy phá là chuyện khác”, Ông Già đứng dậy nói. “Anh sống không yên còn nuôi được ai?”.


Bằng về trại, gã tù tốc chăn dậy:


“Mày tâu chuyện gì với ban quản giáo? Tao không giết ai đâu, nhưng nếu cần tao giết mày cũng được”.


“Thôi ngủ đi”, Bằng nói, ngạc nhiên thấy giọng mình thật bình thản.


Sáng hôm sau Bằng theo mọi người đi trồng rừng, suốt ngày cúi gập người cắm những cây đước con, anh muốn được như thế mãi...


***


Bằng chạy ghe suốt đêm, sáng dừng lại nấu cơm ăn, chạy tiếp đến giữa trưa tới nơi. Một vùng đất phát quang rộng lớn, xa xa những dãy nhà, những bờ bao. Trời trưa nắng lớn, nước sông tràn bờ, mặt sông rộng mênh mang, nắng chói chang nhảy múa xôn xao, ghe lườn, ghe tam bản, xuồng ba lá bơi chèo, chạy máy đuôi tôm ngược xuôi. Một chiếc ghe chài khẳm đừ chạy giữa dòng.


Một căn nhà sàn gie ra sông, một ông già ngồi chồm hổm che tay nhìn ra. Bằng cho ghe cặp sát vào, cột khóa xích bước lên sàn nhà:


“Chào…”.


“Chào…”, ông già đáp lại, hấp háy mắt dè chừng.


“Ngồi hóng mát hả?”.


“Tôi gác ở đây”.


“Phải ông già bảy chục tuổi bị vợ ghen đây không?”


“Không phải đâu”.


“Cô chủ đâu?”.


“Cô Thủy đưa cháu gái lên thành phố tái khám... Ông ở đâu tới?”.


“Tôi ở tù ra”.


“… ”.


“Không sao đâu. Không có bình trà đãi khách à?”.


“Uống nước mưa thôi”.


“Nấu nước đi, tôi xuống ghe lấy trà, mình uống trà nói chuyện chơi chút rồi tôi đi thôi”.


Ông già nấu nước, Bằng châm trà uống, ông vẫn chưa hết e dè ngồi đằng xa nhìn lại.


“Ông gác gì ở đây?”, Bằng hỏi.


“Đủ chuyện hết”, ông già đáp. “Một con tôm cũng phải giữ, phá rừng nuôi tôm để hư hao mất mát có tội với trời đất. Vậy có lần cũng bị mất sạch”.


“Sao mất?”.


“Bọn tôm lẻn trốn đi, nhất loạt trong đêm, sắp thành hàng cắn đuôi nhau leo dựng đứng lên mặt lưới, ra hết bên ngoài”.


“Tôi đi coi một vòng được không?”.


“Được thôi, của ông mà”.


Bằng đi giáp vòng khu trại nuôi tôm. Cơ ngơi thật rộng, có máy sục khí, nhiều chỗ nước trong nhìn thấy tôm con lội đan qua lại. Nhưng anh thờ ơ, không một chút tình cảm, đầu óc vương vấn hình ảnh đứa con gái, không biết nó nhìn thấy anh như thế nào. Nó chưa từng nhìn thấy Long Cụt, giờ đây anh như người cha thật sự của nó, anh muốn như thế và cũng tin như thế.


Ông già gác trại vẫn cứ e dè, biết anh là “ông chủ”, vừa mới ra tù, phân vân không biết phải đối xử như thế nào. Nhưng anh không màng, không muốn nói chuyện gì nữa, ngồi một chút đi gặp Hai Chất tìm mối chở hàng. Anh cần tiền và cũng cần đi đây đó, chiếc ghe cần rong ruổi xuôi ngược trên sông nước, qua những khu rừng đước, rừng mắm. Anh có chỗ để yêu thương là hai đứa con gái, chỗ để trở về là trại tôm…


2001 – 2005.


Nguồn: Cơn giông. Tiểu thuyết của Lê Văn Thảo. Rút từ Tuyển tập Lê Văn Thảo. Nhà văn Triệu Xuân tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.


www.trieuxuan.info


 


 


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 18.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 18.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
xem thêm »