tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30125599
27.07.2013
Phan Văn Hoàng
Bi kịch Albert Peter Dewey, quân nhân Mỹ đầu tiên chết và mất tích tại Việt Nam

Cách nay tròn 68 năm, vào chiều ngày 26-9-1945, Albert Peter Dewey đã ngã xuống trên một con đường vắng ở ngoại ô Sài Gòn. Anh là quân nhân Mỹ đầu tiên chết và mất tích tại Việt Nam. Cái chết của Dewey là một bi kịch khi chính sách của Mỹ  đối với Việt Nam lúc đó ngược lại với lý tưởng của anh. Qua bài viết này, chúng tôi xin thắp một nén hương tưởng nhớ anh nhân ngày giỗ lần thứ 68.


Trong Chiến tranh thế giới lần thứ II, 214 quân nhân Mỹ bị phát xít Nhật giam giữ trong hai trại tù binh ở vùng Sài Gòn. Trong số đó, chỉ có 8 người là phi công bị bắn rơi trên bầu trời Đông Dương, số còn lại bị bắt ở Indonesia. Họ từng bị đưa sang Miến Điện (nay là Myanmar) để lập một đường xe lửa trên cây cầu bắc qua sông Kwai. Câu chuyện khổ sai của họ được nhiều người biết đến nhờ bộ phim và bản nhạc nổi tiếng “Cầu sông Kwai” (The Bridge on the River Kwai).


Vào lúc chiến tranh gần kết thúc, tổ chức tình báo Mỹ OSS ([1]) đề ra “Dự án Đường đê” (Project Embankment) nhằm tổ chức hồi hương tù binh Mỹ, tìm mồ mả những người đã chết, bảo vệ tài sản của kiều dân Mỹ, điều tra tội ác chiến tranh của Nhật, tìm hiểu tình hình chính trị ở Nam Bộ và cuối cùng là bí mật thu thập mọi tin tức tình báo cần thiết. Phân đội OSS số 404 (OSS Detachment 404), do thiếu tá Albert Peter Dewey cầm đầu, được giao nhiệm vụ thực hiện dự án nầy.


Ngày 1-9-1945, Phân đội rời căn cứ Kandy (trên đảo Tích Lan, nay là Sri Lanka). Dewey ghé lại Rangoon (Miến Điện) và Bangkok (Thái Lan), để toán hồi hương tù binh (Prisoner-of-War Evacuation Team), gồm 5 người do trung úy Emile R. Counasse làm trưởng toán, đi trước sang Sài Gòn.


Ngày 2-9, Counasse đi thăm các tù binh. Trên đường trở lại khách sạn Continental, Counasse chứng kiến những đoàn người Việt Nam diễu hành mừng độc lập dưới các biểu ngữ giăng ngang đường phố “Độc lập hay là chết”, “Chào mừng các nước Đồng minh”, “Đả đảo phát xít Pháp”… Gần đến khách sạn, Counasse bị những người Việt Nam có vũ trang chặn lại. Họ tưởng Counasse là lính Pháp. Khi Counasse giải thích “Chúng tôi là người Mỹ”, họ để cho Counasse đi.


Ngày hôm sau, trên đường đi Mỹ Tho, Counasse cũng bị chặn lại 3 lần vì bị hiểu lầm tương tự.Lúc đó, lính Pháp còn bị giam trong các trại tù binh của Nhật, còn lính Anh thì chưa qua. Do đó, người Việt Nam phải cảnh giác trước sự xuất hiện của lính da trắng.


23 NGÀY Ở SÀI GÒN


Ngày 4-9, Dewey và bốn thành viên còn lại của Phân đội 404 đến Sài Gòn. Trong hai ngày sau đó, Dewey tổ chức đưa 214 tù binh về nước trên 7 chiếc máy bay vận tải DC3.


Sau đó, Dewey cùng Phân đội rời khách sạn Continental đến ở trong biệt thự Ferrier tại rìa phía nam của một sân golf (nay là công viên Gia Định). Để nắm tình hình chính trị ở Nam Bộ, Dewey thường gặp gỡ trao đổi với các thành viên của Ủy ban Nhân dân Nam Bộ, đặc biệt là với chủ tịch - tiến sĩ luật khoa Phạm Văn Bạch và ủy trưởng ngoại giao - bác sĩ y khoa Phạm Ngọc Thạch. Ủy ban Nhân dân Nam Bộ “đề nghị OSS chuyển lời thỉnh cầu của họ đến tổng thống Harry Truman để có được sự ủng hộ tinh thần của Washington”([2]). Qua họ, Dewey biết được quá trình đấu tranh cam go của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và phát xít Nhật. Anh có cảm tình với công cuộc bảo vệ nền độc lập mà người Việt Nam mới giành được. Nhà nghiên cứu Arthur J. Dommen viết: “Theo như thuật lại, Dewey đã thảo luận với bác sĩ Phạm Ngọc Thạch về việc Mỹ ủng hộ sự nghiệp của Việt Minh. Một sĩ quan OSS – trở về Washington vào đầu tháng 12 [năm 1945]- nói rằng Dewey có kế hoạch đưa bác sĩ Thạch bí mật sang Washington… Các báo cáo khác nói đến việc Dewey hứa [cung cấp] vũ khí cho Việt Minh” (Dewey had reportedly been discussing with Dr Pham Ngoc Thach … American support for the Viet Minh cause. An OSS officer who returned to Washington in early December stated that Colonel Dewey had a plan to get Dr Thach to Washington incognito…Other reports speak of Dewey’s promises of arms to the Viet Minh) ([3]).


Theo nghị quyết của Hội nghị Potsdam, Anh và Trung Hoa dân quốc đưa quân vào phía nam và phía bắc vĩ tuyến 16 của Đông Dương để giải giới và hồi hương quân Nhật.


Đúng như nhận xét của thiếu tá Archimedes L.A. Patti, trưởng nhóm OSS ở Hà Nội, “trong Nam, người Anh lo đập tan chính quyền của Việt Minh và dọn đường cho Pháp tái chiếm [Việt Nam] hơn là theo đuổi sứ mệnh được tuyên bố” (the British in the south were doing more toward dismantling the Viet Minh government and paving the way for a French reoccupation than in pursuing their declared mission) ([4])


Ngày 6-9-1945, những người lính Anh đầu tiên đến Sài Gòn. Sáu ngày sau, Anh cho phép một đại đội lính Pháp (mặc quân phục của Anh) trà trộn trong một tiểu đoàn lính Anh - Ấn([5]) tới Sài Gòn.


Ngày 13-9, thiếu tướng Douglas D. Gracey cùng các sĩ quan trong Bộ tham mưu quân Anh ở nam Đông Dương, tới Sài Gòn.


Mặc dù sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, Ủy ban Nhân dân Nam Bộ là chính quyền duy nhất đang quản lý toàn thể Nam Bộ về mọi mặt, nhưng Gracey không công nhận thực tế đó. Lúc Gracey từ máy bay bước xuống, “các đại biểu Việt Minh bắt đầu tiến tới để nói chuyện [thì] Gracey lại hướng về phía các sĩ quan cao cấp Nhật”. Sau đó, “cả các sĩ quan lẫn binh lính Anh đều không muốn quan hệ với người Việt Nam”, họ chỉ “muốn bàn bạc với người Nhật”([6])


Gracey tạo mọi điều kiện thuận lợi để Pháp lật đổ chính quyền Việt Nam ở Nam Bộ.


“Chỉ vài giờ sau khi xuống máy bay, Gracey ra lệnh cho người Nhật tước vũ khí người Việt Nam, trục xuất Ủy ban Nhân dân Nam Bộ ra khỏi Dinh thống đốc [nay là Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh] ở Sài Gòn”(Within hours of his landing, Gracey ordered the Japanese to disarm the Vietnamese, dislodge the Provisional Executive Committee from the Governor General’s Palace in Saigon) ([7]).


Ngày 20-9, Gracey đóng cửa tất cả các tờ báo tiếng Việt, chỉ để báo chí tiếng Pháp và Đài phát thanh Sài Gòn (do Pháp quản lý) hoạt động.


Ngày 21-9, Gracey thiết quân luật ở Sài Gòn, ra lệnh giới nghiêm ban đêm, cấm người Việt Nam hội họp, biểu tình, mang vũ khí (kể cả gậy tầm vong), lập Tòa án quân sự để xét xử các vụ vi phạm trật tự an ninh, dọa xử tử hình bất cứ ai phạm tội phá hoại, cướp bóc v.v…


Ngày 22-9, Gracey thả 1400 tù binh Pháp (bị Nhật giam trong trại 11è RIC ở Sài Gòn từ ngày đảo chính 9-3-1945) và trang bị súng đạn cho chúng. Như bầy thú sổng chuồng, chúng “đổ về khu trung tâm Sài Gòn, tấn công những người Việt Nam vô tội mà chúng gặp trên đường” (the soldiers gravitated instead toward the center of Saigon, where they pounced on any harmless Vietnamese who happened to be within reach) ([8])


Trước những việc làm sai trái của Gracey, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi công hàm cho Truman “phản đối mạnh mẽ” (lodges most emphatic protest) các biện pháp mà ông cho là “vi phạm rõ ràng đến những quyền tự nhiên của người Việt Nam” (these measures constitute obvious violation of Vietnamese natural rights) và đề nghị Tổng thống Mỹ “can thiệp để nhà chức trách Anh bãi bỏ các biện pháp đó”(requests through your intervention the British authorities concerned will cancel these measures)(11’). Ủy ban Nhân dân Nam Bộ cũng ra tuyên bố “lên án Anh đã từ chối không công nhận Ủy ban là chính quyền hợp pháp duy nhất ở Nam Bộ và phớt lờ đề nghị của Ủy ban thu xếp hợp tác để quản lý miền đất này” (accusing the British of refusing to recognize the only legal government in Cochinchina – the Provisional Executive Committee of the South – and ignoring its proposal for cooperative arrangements to administer the area). Ủy ban kêu gọi dân chúng tổ chức một cuộc tổng bãi công để “phản đối điều mà Ủy ban xem là một âm mưu của Pháp và Anh nhằm lật đổ chính quyền của người Việt Nam”(to protest what it considered a French British cabal to overthrow the Vietnamese government)([9]). Sáng 18-9, Ủy ban gửi cho Phái bộ Đồng minh ở Hà Nội một văn thư khẳng  định “nước Việt Nam đã hoàn toàn độc lập, người Việt Nam có quyền quyết định vận mệnh của mình”(Viet Nam completely independent. The Vietnamese have right to decide their own fate)([10]).


 Tối 18-9, Dewey gặp các thành viên chủ chốt của Ủy ban. Ngoài Phạm Văn Bạch và Phạm Ngọc Thạch, còn có Phó Chủ tịch kiêm Ủy trưởng quân sự Trần Văn Giàu, Tổng Thư ký kiêm Ủy trưởng Nội vụ Nguyễn Văn Tạo và Giám đốc Quốc gia tự vệ cuộc (tức Công an Nam Bộ) Dương Bạch Mai.


Gracey “coi việc Dewey gặp gỡ các nhóm người Việt là hành động ủng hộ ngầm cho các hành động của người Việt Nam và gây ra rắc rối”([11]). Ông ta yêu cầu Dewey “ngưng giao thiệp với bọn phiến loạn”(to stop consorting with the rebels)([12]). Dewey phải nhờ George Wickes thay mình đi gặp các nhà cách mạng Việt Nam.


Wickes lúc đó mới 22 tuổi, biết tiếng Pháp và một ít tiếng Việt, là nhân viên mật mã của Phân đội (sau này, làm giáo sư văn học Anh tại Đại học Oregon).


Wickes nhớ lại: “Dewey không thể gặp người Việt Nam mà không bị [người Anh và người Pháp] theo dõi. Vì vậy, nhiều lần anh nhờ tôi đi gặp họ vào buổi tối. Đường sá tối tăm, còn nhiều cựu tù binh lang thang đây đó và tôi ăn mặc giống như họ để tránh bị chú ý. Tôi đến một ngôi nhà nằm trên một con đường yên tĩnh. Ở đó, tôi gặp 3 hay 4 người trong chừng 2 tiếng đồng hồ. Rõ ràng họ là những người dấn thân vào công cuộc giải phóng đất nước… Tôi biết họ là những người lãnh tụ của phong trào độc lập. Họ muốn chúng tôi làm cho [chính phủ] Washington biết rằng nhân dân Việt Nam quyết tâm giành độc lập từ tay Pháp” (he could not very well meet with any Vietnamese without being observed. So he sent me several times to meet with them in the evening. The streets were dark, there were still many former prisons of war floating about, and I would dress as they did in order to escape notice. I would go to a house on a quiet street and there meet for perhaps tow hours with three or four men who were obviously deeply committed to the liberation of their country…I know that they were leaders in the independence movement and wanted us to let Washington know that the people of Vietnam were determined to gain their independence from France).


Wickes cho biết: “Ba tháng sau, tôi biết rằng người Pháp ra giá cho cái đầu của tôi, mặc dù trong thực tế họ gán tên tôi vào cái đầu của Dewey. Theo mô tả, đó là một người bắt đầu hói, có râu mép, thấp hơn tôi 6 inches [khoảng 1 tấc rưỡi]. Rõ ràng đó là Petre Dewey và lý do duy nhất khiến tên tôi bị dính dáng vào là vì một người nào đó đã nghe nói tới những buổi họp giữa tôi và các người Việt Nam trong phong trào độc lập” (Three months later I learned that the French had put a price on my head, though in reality they had attached my name to Dewey’s head. The description was for a balding man with a mustache who was six inches shorter than me. Obviously this was Peter Dewey, and the only reason my name was involved was that someone must have learned of my meetings with members of the Vietnamese independence movement) ([13])


Không hiểu nhằm dụng ý gì, Gracey cấm Dewey và các cộng sự của anh cắm cờ Mỹ trên xe. Theo ông ta, chỉ sĩ quan cấp tướng mới được quyền treo cờ. Dewey phản đối, lấy lý do “công việc của mình rất cần cắm cờ Mỹ”, nhưng Gracey trả lời: “công việc của anh không buộc anh tới những nơi mà anh thấy cần thiết phải tìm kiếm sự bảo vệ dưới lá cờ Mỹ”([14]). Chúng ta sẽ thấy lệnh cấm này của Gracey dẫn tới hậu quả tàn khốc như thế nào!


Với sự đồng lõa của tướng Gracey, trong đêm 22 rạng 23-9, đại tá Jean Cédile, Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Nam Bộ, đã điều động quân Pháp ngay trong giờ giới nghiêm để bất ngờ đánh chiếm trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ (nay là trụ sở UBND thành phố Hồ Chí Minh), Quốc gia Tự vệ cuộc, Bưu điện, Kho bạc v.v…


Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ chủ trương “ngoài vây, trong đánh”: đưa lực lượng vũ trang ra giữ ngoại thành và không cho quân Pháp đánh nống, đêm đêm đột nhập vào nội thành để tổ chức các cuộc tập kích bất ngờ; chợ búa, nhà máy… đều đóng cửa, bao vây quân địch trong một thành phố “3 không”: không điện – không nước máy – không lương thực thực phẩm.


Một sĩ quan OSS tường thuật: Người Pháp hành động “như một bọn người dã man đang trong cơn giận dữ. Chúng tụ tập thành nhóm 3, 4, 6 người hay nhiều hơn nữa, đi lang thang trên đường phố Sài Gòn tìm người Việt Nam. Chúng gặp nhiều người Việt Nam còn chưa hay biết vụ tấn công [trong đêm 22 rạng 23-9] và đánh đập họ một cách dã man bằng tay hay bằng gậy gộc… Chúng không miễn trừ một ai: đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ, ngay cả trẻ em cũng bị đấm, đá. Phần lớn những nạn nhân này đều bị đánh một cách dữ dội, một số bị thương tật suốt đời. Thường thường, sau khi bị đánh, các nạn nhân này bị tống lên xe và chở tới nhà tù gần nhất chỉ vì họ là người Việt Nam. Một số bị các vết thương sâu và chảy máu, bị bỏ nằm ngoài đường. Ước tính một cách thận trọng, con số nạn nhân lên tới nhiều trăm và có thể tới cả hàng nghìn người”(they reacted as one savage mob on the rampage. Banding in gangs of three, four, six, and even more. French men and women roamed the streets of Saigon in search of Vietnamese. They found many still unaware of the French coup and set upon them savagely with sticks and fists…No one they found was spared --  men, and women, young and old, even children were slapped around, spanked, and shaken. For most victims the beatings were severe; some were maimed for life. In general, after the beatings, the victims were pushed and shoved into cars or trucks and sent off to the nearest jail for the crime of being Vietnamese. Some with deep gashes and bleeding wounds were just left lying in the streets…The number of victims was reckoned, even conservatively, in the high hundreds and probably reached into the thousands)  ([15]).


Lấy tư cách là người Mỹ có cấp bậc cao nhất ở Sài Gòn, Dewey đến gặp tướng Gracey “để phản đối cách cư xử của người Pháp và sự thông đồng của người Anh” (to protest the French behavior and British collusion)([16]), nhưng Gracey từ chối tiếp anh. Anh trút hết sự phẫn nộ lên các sĩ quan cao cấp trong Bộ tham mưu của Gracey. Anh cũng đi gặp Cédile. Cédile trả lời một cách ngang bướng rằng “đây không phải là việc của anh và rõ ràng người Mỹ đáng bị khiển trách về tình trạng này” (that it was none of his business and that without doubt the Americans were to blame for the state of affairs)([17])


Trong báo cáo gửi lên cấp trên ngày 24-9, Dewey nhận định: “Nam Bộ đang bùng cháy. Người Pháp và người Anh sẽ bị kết liễu nơi đây và chúng ta [người Mỹ] cũng sẽ phải rời khỏi Đông Nam Á” (Cochinchina is burning, the French and British are finished here, and we [the Americans] ought toclear out of Southeast Asia) ([18]). Nhận định mang tính dự báo này của Dewey đã được chứng minh trong mấy thập niên sau đó.


Đây là báo cáo cuối cùng của Dewey vì cùng ngày hôm đó, Gracey tuyên bố Dewey là “người không được chấp nhận” (persona non grata) và viên tướng Anh yêu cầu anh rời khỏi Sài Gòn càng sớm càng tốt. Wickes nhận xét: “Rõ ràng Dewey bị xem là người không được chấp nhận vì anh có cảm tình với chính nghĩa của người Việt Nam” (Clearly Dewey was persona non grata on account of his sympathy with the Vietnamese cause)([19]).


 CÁI CHẾT TRỞ THÀNH BI KỊCH


Sáng 26-9, từ biệt thự Ferrier, Dewey lái xe ra sân bay Tân Sơn Nhất để đáp chuyến bay 9 giờ rưỡi đi Kandy. Đi tiễn Dewey có đại úy Herbert J. Bluechel. Đến nơi, họ được biết chuyến bay bị hoãn tới xế chiều. Theo Wickes, lý do là vì đêm hôm trước, viên phi công say xỉn đến độ không thể làm việc theo giờ giấc đã định.


11 giờ, Dewey và Bluechel vào Bệnh viện dã chiến số 75 để thăm đại úy Joseph R. Coolidge, một thành viên của Phân đội. Hôm qua, trên đường từ Đà Lạt về lại Sài Gòn, Coolidge và những người cùng đi với anh gặp một hàng rào chắn ngang đường mà du kích Việt Nam lập ra để không cho quân Pháp qua lại. Họ xuống xe để tháo dỡ rào chắn. Theo Coolidge kể lại, “tất cả đều nói tiếng Pháp” khiến “du kích Việt Nam tưởng nhầm họ là người Pháp”([20]). Coolidge bị thương ở cổ khá nặng nhưng không đến nỗi nguy hiểm tới tính mạng. Đây là một kinh nghiệm quan trọng, nhưng lúc đó Dewey không để ý.


12 giờ 15, Dewey và Bluechel ra lại sân bay. Máy bay từ Kandy vẫn chưa tới nên chuyến đi lại tiếp tục hoãn đến chiều. Hai người đành trở về biệt thự Ferrier để ăn trưa.


Dewey qua lại con đường này nhiều lần (lần gần nhất là sáng nay) nên anh cảm thấy cảnh vật hai bên đường rất thân quen.


Khi còn cách biệt thự Ferrier khoảng 500m, Dewey thấy 3 thân cây đặt chắn ngang đường. Anh lái xe chậm lại. Anh thoáng thấy bóng người núp cách đường không xa. Anh đưa nắm tay lên chào họ và nói lớn bằng tiếng Pháp “Je suis Américan” (Tôi là người Mỹ) ([21]). Anh quên câu chuyện mà Coolidge vừa kể trưa nay. Thật tai hại. “Có thể vì anh nói tiếng Pháp nên bị nhận lầm là người Pháp”(Upon hearing him speak French, it is probable to assume that he was mistaken for a Frenchman) ([22]). Một viên đạn trúng đầu, Dewey gục chết trên tay lái. Chiếc xe tiếp tục chạy, đụng phải lề đường và lật nghiêng. Bluechel chỉ bị thương nhẹ, cố về tới biệt thự Ferrier.


Ai đã bắn Dewey? Với bối cảnh cực kỳ rối ren ở Sài Gòn lúc đó, thật không dễ tìm ra câu trả lời.


Một số người Mỹ cho rằng Anh và Pháp là thủ phạm. George Wickes đã cho biết người Pháp từng ra giá cho cái đầu của Dewey. Còn người Anh thì đã trục xuất Dewey khỏi Sài Gòn. Khi hay tin Dewey chết, Gracey buột miệng nói ra một suy nghĩ thầm kín: “Thật đáng đời cho Dewey” (Dewey got what he deserved) ([23]). Theo Patti, cái chết của Dewey khiến “một ít người Mỹ nghi rằng tổ chức tình báo SOE của Anh âm mưu loại trừ sự cạnh tranh của OSS ở Đông Nam Á” (A few Americans even suspected the British SOE of plotting the elimination of their OSS competition in Southeast Asia) ([24]).


Nhưng theo Bluechel – người có mặt tại chỗ - thì Dewey “bị phục kích và chết vì bị nhận lầm thuộc một quốc tịch không phải là Mỹ” (was ambushed and killed through being mistaken of a nationality other than American) ([25]). Patti đồng ý với nhận định đó: “Dựa trên những báo cáo của các nhân chứng đáng tin cậy, bằng cớ cho thấy đây là một trường hợp nhầm lẫn gây ra một phần do có thiếu sót trong việc nhận biết về quốc tịch” (The evidence, largely based on reliable eyewitness reports, pointed to a case of mistaken identity due partially to insufficient national identification) ([26]).


Nguyên nhân sâu xa của sự nhận nhầm này là lệnh cấm treo cờ Mỹ của Gracey. Wickes viết: “Dewey muốn treo cờ Mỹ trên xe Jeep nhưng tướng Gracey cấm việc đó, nói rằng chỉ ông ta – với tư cách là tư lệnh – mới có quyền treo cờ. Vì thế người Việt Nam không thể biết đâu là xe jeep của người Mỹ, đâu là sĩ quan Mỹ. Không còn nghi ngờ gì nữa, họ đã nhận lầm Dewey là người Pháp” (Dewey had wanted to fly the American flag on the jeep, but General Gracey had forbidden it, saying that only he as commanding officer had the right to fly his flag. Thus there was no way for the Vietnamese to know that this was an American jeep or that these were American officers. No doubt they took Dewey to be a Frenchman) ([27]). Bluechel đi xa hơn khi nêu ra giả thuyết: “Nếu lúc sự cố xảy ra, xe jeep của Dewey có cắm cờ Mỹ thì tôi tin chắc rằng người ta đã không bắn. Cờ đã không được treo, theo chỉ thị bằng miệng của tướng Gracey”(If the jeep in which he was riding at the time of the incident had been displaying an American flag, I  feel positive that the shot would not have been fired. A flag was not being displayed in accordance with verbal instructions issued by General Gracey) ([28]). Người viết bài này xin nêu thêm giả thuyết thứ hai: nếu lúc đó Dewey nói lớn, không phải bằng tiếng Pháp, mà bằng tiếng Việt: “Tôi là người Mỹ” thì sẽ không có sự hiểu lầm nào.


Cái chết của Dewey mang lại nỗi buồn sâu sắc cho các thành viên Phân đội OSS số 404, nhưng không vì thế mà ảnh hưởng đến tình cảm của họ đối với người Việt Nam. Wickes viết: “Mặc dầu việc Dewey bị bắn có làm cho chúng tôi buồn bực, song tất cả chúng tôi ngày càng có cảm tình với người Việt Nam hơn. Chúng tôi không còn tiếp xúc với những người đại diện của phong trào độc lập [vì Ủy ban Nhân dân Nam Bộ đã rút ra ngoại thành] nhưng bọn thực dân Pháp mà chúng tôi gặp đã khiến chúng tôi ngày càng ủng hộ người Việt Nam hơn” (Though all this shooting made us somewhat nervous, we all grew daily more sympathetic with the Vietnamese. We no longer had any contact with representatives of the independence movement, but the French colonials we met made us increasingly pro-Vietnamese) ([29])


Sau khi sự cố xảy ra, hai đại đội lính Anh - Ấn đến, nã đạn về phía các du kích. Họ rút lui trên xe jeep, mang theo thi thể của Dewey.


Ngay chiều hôm ấy, đại úy Frank M. White cùng một số người khác (trong đó có hai nhà báo William Downs và James McClincy) đến gặp một nhóm du kích Việt Nam để tìm xác của Dewey. Viên chỉ huy nhóm du kích, một thanh niên khoảng 30 tuổi, nói bằng tiếng Pháp rằng “nếu biết nạn nhân là người Mỹ thì anh sẽ không bao giờ cho phép những phát súng kia được bắn ra” ([30]). Anh hứa sẽ giúp tìm thi thể của Dewey.


Giữa lúc hai bên đang đối thoại một cách thân thiện thì hai trung đội lính Anh - Ấn (do một thiếu tá Anh chỉ huy) “xuất hiện và nã đạn khiến nhiều dân thường Việt Nam chạy tán loạn phía trước họ…Hai phóng viên cố ngăn đội quân hùng hổ kia để họ tha cho dân thường Việt Nam vô tội bị kẹt giữa hai làn đạn” nhưng “viên thiếu tá từ chối”([31]). Cuộc trao đổi giữa hai bên phải ngưng.


Chủ tịch Hồ Chí Minh xúc động khi hay tin Dewey chết. Ngày 29-9, ông gửi cho tổng thống Truman một thông điệp phân ưu ([32]). “Ông cũng chỉ thị việc đi tìm thi thể của Dewey” (Ho Chi Minh ordered a search for Dewey’s body) ([33]).


Trong bối cảnh chiến tranh cài răng lược ở Sài Gòn lúc đó, nỗ lực tìm xác Dewey của các bên liên quan đều không đem lại kết quả.


Anh của Dewey, Charles Dewey Jr., được gia đình cử sang Sài Gòn đi tìm xác em trai. Tuy không thành công nhưng gia đình Dewey rất cảm kích khi nhận được thư của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch. Ông nhắc lại kỷ niệm của người quá cố với tình cảm quý mến: “Một nụ cười thân thiết sáng ngời luôn hiện trên khuôn mặt của trung tá Dewey. Đó là ánh sáng sáng ngời trong tâm hồn một người hào hoa. Và từ sâu thẳm trái tim, anh ấy đã cố gắng để hiểu chúng tôi bằng trí thông minh và thái độ hết sức cảm thông đối với sự nghiệp của chúng tôi” ([34]). Vị bộ trưởng Bộ y tế của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lấy làm tiếc không gặp được Charles Dewey Jr. để trực tiếp nói lời chia buồn cùng gia đình Dewey.


Cha của Dewey viết thư cảm ơn bác sĩ Thạch, nhờ tướng John Magruder chuyển, nhưng viên tướng này không nhận lời, vì sợ Anh và Pháp “hiểu lầm”(37’).


Mùa hè năm 1946, hay tin Chủ tịch Hồ Chí Minh đang ở thăm nước Pháp, ông bà Charles Dewey Sr. sang Paris và được Chủ tịch tiếp ngày 5-7-1946.  


 GS. Trần Văn Giàu tiếp bà Nancy, con gái của Peter Dewey


 Tháng 3-2005, con gái của Peter Dewey, Nancy Dewey Hoppin, cùng chồng là Charles sang Việt Nam. Ngày 24-3, họ được ông Trần Văn Giàu, nguyên chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, nay là giáo sư sử học, tiếp. Trong số 5 người mà Dewey gặp đêm 18-9 sáu mươi năm về trước, ông là người duy nhất còn sống. Tuy đã ngót 95 tuổi, ông vẫn minh mẫn, còn nhớ khá kỹ nội dung một báo cáo mà ông nhận được 3 ngày sau khi Pháp gây hấn ở Sài Gòn. Lúc đó, du kích tổ chức chặn một con đường ở ngã ba Chú Ía, khoảng giữa công viên Gia Định và bệnh viện 175 hiện nay, để không cho quân Pháp đánh nống ra ngoại thành. Tình cờ xe jeep của Dewey đi tới. Gặp du kích, anh lại nói tiếng Pháp khiến du kích nhầm tưởng anh là sĩ quan người Pháp. Một sự nhầm lẫn chết người.


Trước khi rời Việt Nam, trả lời câu hỏi “Bà có giận những người đã gây ra cái chết của cha bà?”, bà Nancy trả lời với một tâm hồn thanh thản: “Không, đó chỉ là một sự hiểu lầm trong chiến tranh. Ai tham gia chiến tranh cũng có mất mát. Tôi không buộc tội ai cả… Cha tôi chỉ ở Sài Gòn vỏn vẹn 22 ngày và sau đó bị bắn, nhưng bức thư của bác sĩ Thạch đã khiến tôi tin rằng cha tôi đã để lại những tình cảm thật sự ấm áp” trong ký ức của những người Việt Nam ([35]).


Cái chết của Dewey trở thành một bi kịch.


Cảm thông với khát vọng độc lập tự do của dân tộc Việt Nam, anh và các cộng sự của anh phẫn nộ trước ý đồ tái chiếm Đông Dương (trong đó có Việt Nam) của người Pháp (với sự đồng lõa của người Anh). George Wickes viết: “Những bức điện của chúng tôi gửi tới Washington báo trước chính xác những gì rốt cục sẽ xảy ra nếu Pháp cố phủ nhận nền độc lập đối với Việt Nam”([36]).


Nhưng họ hoàn toàn không biết rằng Tổng thống của họ đã bật đèn xanh cho Pháp trở lại Đông Dương. Gặp tướng De Gaulle ngày 24-8-1945 tại Washington, D.C., Truman hứa: “Trong mọi trường hợp, đối với Đông Dương, chính phủ của tôi không chống lại việc chính quyền và quân đội Pháp quay trở lại xứ ấy” (En tout cas, pour ce qui est de l’Indochine, mon gouvernement ne fait pas opposition au retour de l’autorité et de l’armée françaises dans ce pays) ([37]). Vì vậy, “Washington chẳng để ý gì tới các báo cáo của Dewey”(Washington simply ignored his reports)([38]). Và chỉ một tháng sau khi Dewey nằm xuống, ngày 25-10-1945, John Carter Vincent, vụ trưởng thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ, chính thức tuyên bố: “Mỹ tôn trọng chủ quyền của Pháp ở Đông Dương”(The United States will respect French sovereignty in Indochina)([39]). Từ đó, “các quan chức Mỹ ở Đông Dương nhận được chỉ thị không được chống đối việc người Pháp trở lại khu vực này”([40]).


Rõ ràng chính sách ấy của Mỹ đi ngược lại lý tưởng mà Dewey hằng theo đuổi và vì nó mà anh đã sớm vĩnh viễn ra đi khi mới 29 tuổi.


PVH.


____


(1) OSS (viết tắt của Office of Strategic Services, Cục phục vụ chiến lược) thành lập năm 1942, là tổ chức tình báo tiền thân của CIA (Central Intelligence Agency, Cơ quan tình báo trung ương) hiện nay.


(2), (4), (9), (14), (17), (23), (33), (34), (37), (37’) Dixee R. Bartholomew – Feis, OSS và Hồ Chí Minh (bản dịch của Lương Lê Giang), NXB Thế Giới, Hà Nội, 2007, tr. 427, 426, 419, 429, 439, 433, 435, 436, 441,441.


(3) Arthur J. Dommen, The Indochinese Experience of the French and the Americans, Indiana University Press xuất bản, Bloomington, 2001, tr. 129.


(5) Charles de Gaulle, Mémoires de guerre, NXBPlon, Paris, 1959, tập III, tr. 249-250


(6), (7), (10), (11), (11’), (12), (13), (15), (18), (19), (20), (21), (27), (28), (29), (31) Archimedes L.A. Patti, Why Viet Nam ?, University of California Press xuất bản, Berkeley – Los Angeles – London, 1980, tr. 311, 297, 309, 316, 350, 311, 312, 310, 317, 317, 317, 320, 322, 322, 322, 322.


(8) Vào năm 1945, Ấn Độ còn là thuộc địa của Anh.


(16), (22), (30), (32) http:// arlingtoncemetery.net.


(24) Ellen J. Hammer, The Struggle for Indochina, Stanford University Press xuất bản, California, 1954, tr. 118.


(25)  http://vietnamgear.com


(26) James S. Olson và Randy Roberts, Where the Domino Fell, NXBBrandywine Press, New York, tr. 27.


(35) Theo http:// vietbao.vn, bức thông điệp này cũng như thư của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch hiện được bảo quản tại Trung tâm lưu trữ quốc gia ở bang New Jersey, Mỹ.


(36) http:// osssociety.org.


(38) http:// vietbao.vn.


(39) Jean Lacouture, Ho Chi Minh – A Political Biography, NXBVintage Books, New York, 1968, tr. 272.


(40) Peter A. Poole, Nước Mỹ và Đông Dương từ Roosevelt đến Nixon (bản dịch của Vũ Bách Hợp), NXBThông tin lý luận, Hà Nội, 1986, tr.26.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ba Bình, đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa - Tư liệu 08.11.2019
Vì sao Trung Quốc nên từ bỏ Đường 9 Đoạn? - Trương Quang Nhuệ 08.11.2019
Cuộc xung đột âm thầm - Tư liệu sưu tầm 07.11.2019
Thần thoại Hy Lạp (45) - Nguyễn Văn Khỏa 07.11.2019
Về chiếc bàn làm việc của Tổng thống Mỹ - Nhiều tác giả 07.11.2019
Charlie Chaplin và đàn bà… - Tư liệu sưu tầm 05.11.2019
Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc: Cần tổ chức việc Di dân! - Antonio Guterres 05.11.2019
Thần thoại Hy Lạp (44) - Nguyễn Văn Khỏa 01.11.2019
Tập Cận Bình sẽ bị hạ bệ? - Tư liệu sưu tầm 31.10.2019
Seoul Hàn Quốc - Tư liệu 29.10.2019
xem thêm »