tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30225898
Tiểu thuyết
24.07.2013
Nikolai Vasilyevich Gogol
Những linh hồn chết

Nhưng khách lại nói những chuyện có tính chất riêng tây nhiều hơn. Khách ví cuộc đời mình như một con thuyền mong manh, bềnh bồng trôi dạt dưới những ngọn gió bất trắc; khách cho biết mình đã nhiều lần thay đổi chức nghiệp, đã chịu nhiều nỗi bất công, đã bị những kẻ thù uy hiếp đến tính mệnh nhiều lần; khách còn kể nhiều chuyện nữa, tỏ ra rằng khách là một người rất thạo công việc. Để kết luận, khách xì mũi trong một chiếc khăn vải mịn, nghe như tiếng kèn đồng: Anđrêi Ivannôvits chưa bao giờ nghe thấy tiếng kèn nào to như thế. Đôi khi những nhạc cụ mất dạy hễ cử lên là người ta tưởng chừng như nó không phải nằm trong dàn nhạc mà nằm đâu trong lỗ tai mình. Giờ đây, trong những căn nhà đang yên giấc, cũng vang lên một âm thanh như thế, tiếp liền theo sau âm thanh đó là một mùi ô đơ Côlôn từ chiếc khăn mùi soa vải mịn bốc lên, trong khi chiếc khăn được khách mở ra một cách khéo léo.
Chắc độc giả đã đoán ra rằng khách chẳng phải ai xa lạ, mà chính là Paven Ivannôvits Tsitsikôp đáng kính, mà chúng ta đã bỏ rơi dọc đường. Y đã già đi một ít; có thể thấy trong thời gian qua, không khỏi có những cơn dông tố, những nỗi hiểm nghèo đe dọa y. Ngay chiếc frac của y cũng có vẻ hơi nhàu, và cỗ xe, anh xà ích, anh tùy bộc, mấy con ngựa, bộ đồ thắng đều có vẻ xộc xệch, sờn cũ. Đến như tài chính của y, hẳn cũng không lấy gì làm dồi dào nữa. Nhưng mà vẻ mặt, phong độ, dáng dấp thì không hề thay đổi. Thậm chí cách đi đứng, cử chỉ còn có vẻ phóng túng hơn nữa, và khi ngồi xuống, y bắt chéo chân lên một cách ung dung, đĩnh đạc hơn. Giọng nói của y ngọt ngào hơn, lời lẽ thận trọng hơn; trong mọi trường hợp, y tỏ ra nhã nhặn và lịch thiệp hơn. Cổ và vạt trước áo sơ mi của y đều trắng tinh; và tuy vừa đi một đoạn đường dài, trên y phục của y không dây lấy một hạt bụi; giá có ai mời y đi dự yến hội ngay lúc bấy giờ y cũng có thể đi tức khắc. Hai má và cằm y cạo nhẵn đến nỗi phải là người mù mới không biết thưởng thức những đường nét tròn trĩnh, phốp pháp, dễ chịu trên khuôn mặt y.
Trong nhà lập tức có sự thay đổi. Một nửa tòa nhà, lâu nay vẫn cửa đóng, then cài tối om, được trả lại với ánh sáng. Trong các phòng đã sáng sủa trở lại, mọi vật bắt đầu được xếp đặt đâu vào đấy và hiện ra với quang cảnh sau đây. Cái buồng để ngủ chứa những đồ dùng cần thiết cho việc rửa ráy ban đêm; cái buồng để làm văn phòng… Nhưng trước hết phải biết rằng phòng này có ba cái bàn: một bàn giấy đặt trước chiếc ghế dài; một bàn đánh bài giữa hai khung cửa sổ, trước một tấm gương; một chiếc bàn tròn một chân đặt trong góc, giữa cái cửa vào phòng ngủ và cái cửa vào một căn buồng chứa đồ cũ mà đã một năm nay chẳng có ai vào và nay được dùng làm tiền sảnh. Người ta đặt lên chiếc bàn con những quần áo vừa lấy ở hòm áo ra, gồm có: cái quần dài đi đôi với chiếc áo lễ; một cái quần mới; một cái quần màu ghi, hai chiếc gi lê nhung; hai chiếc gi lê xa tanh, và chiếc áo đuôi én. Tất cả những thứ đó được xếp lên nhau thành một chồng, trên nhỏ dưới to, và phủ một tấm khăn bằng lụa. Trong góc kia, giữa cửa lớn và cửa sổ, người ta xếp các thứ giày; đôi thì đã hơi cũ, đôi thì hãy còn mới nguyên, gồm có giày véc ni và giày vải đi trong nhà. Chúng cũng e lệ phủ kín dưới một tấm khăn lụa. Trên bàn giấy bày rất thứ tự một cái giá bút, một bình ô đơ Côlôn, một quyển niên lịch và hai cuốn sách, đều là tập thứ hai của những bộ tiểu thuyết. Áo quần lót được cất trong tủ ngăn; áo quần lót dành để giao cho chị thợ giặt thì được buộc thành gói nhét xuống gầm giường cùng với chiếc hòm áo đã lấy hết đồ đạc ra. Thanh kiếm dùng để nhát bọn cướp đường được móc lên một cái đinh, cạnh giường ngủ. Mọi vật đều có một vẻ sạch sẽ, tinh tươm khác thường; không một mảnh giấy, một chiếc lông, một sợi rác nào vương vãi. Đến không khí cũng như trong hẳn đi: nó phảng phất cái mùi dễ chịu của một người khỏe mạnh sảng khoái, thường thay áo quần lót luôn, hay tắm bồn và ngày chủ nhật thường xát mình bằng một tấm bọt biển tẩm nước. Mới đầu trong tiền sảnh còn có mùi anh tùy bộc Pêtruska; nhưng chẳng bao lâu anh được di chuyển xuống nhà bếp một cách hợp tình, hợp lý.
Những ngày đầu, Anđrêi Ivannôvits, vốn rất quý nếp sống độc lập của mình, cứ lo sẽ bị khách quấy rầy; e hắn ta sẽ phá ngang những thói quen, làm đảo lộn cách dùng thời gian đã được phân phối rất hợp lý của chàng chăng. Những mối lo sợ đó đều là hão huyền. Paven Ivannôvits chiều theo tất cả một cách mềm dẻo lạ lùng. Y tán thưởng cái nếp sống yên tĩnh, hiền triết của chủ nhân; nói rằng đó là cách tốt nhất để sống lâu trăm tuổi. Y dùng những lời lẽ rất thích hợp để khen ngợi cảnh cô liêu, môi trường nảy nở ra những tư tưởng lớn. Y liếc mắt qua tủ sách và ngỏ lời ca ngợi sách vở cái cứu người ta thoát khỏi cảnh ngồi không. Y nói ít, nhưng rất chững chạc. Trong cách sử xự y lại còn tỏ ra tế nhị hơn nữa. Y vào phòng khách rất đúng lúc, về phòng riêng cũng vậy, không làm cho chủ nhân mệt vì những câu trò chuyện của mình; khi chủ nhân không có hứng nói chuyện, y sẵn lòng làm thinh. Trong khi chủ rít tẩu thuốc, nhả ra những cuộn khói xanh lam; thì khách, vốn không hút thuốc, nghĩ ra một cách tiêu khiển thích hợp; chẳng hạn y rút trong túi ra một cái hộp đựng thuốc lá bằng bạc khảm men đen, giữ hai góc hộp bằng hai ngón tay trái, lấy một ngón tay phải búng cho quay tít như quả địa cầu quay quanh trục của nó; hoặc giả vừa gõ gõ mấy ngón tay lên hộp vừa huýt sáo mồm khe khẽ. Nói tóm lại, y không làm phiền chủ nhân.
“Lần đầu tiên mình gặp được một người mà có thể sống bên cạnh được, Tentietnikôp tự nhủ; đó là một nghệ thuật mà ở nước ta ít người có. Ta không thiếu những người phúc hậu, thông minh, có học; nhưng những người lúc nào cũng đằm tính, có thể sống với họ một thời gian dài mà không có chuyện gì xích mích; thì hẳn giữa chúng ta không được mấy. Đây là người đầu tiên mà mình được gặp”.
Đó là ý kiến của Tentietnikôp về ông khách của mình; về phần Tsitsikôp thì y lấy làm mừng cho mình đã đến trú ngụ ở nhà một con người hiền lành và điềm đạm như vậy. Y đã chán cuộc đời nay đây, mai đó. Được nghỉ ngơi, dù chỉ là một tháng thôi, giữa một chốn thôn dã tươi đẹp vào đầu mùa xuân; thật là một việc rất hay, ngay cả về phương diện vệ sinh cũng vậy.
Quả nhiên, khó lòng mà tìm được một chốn nghỉ ngơi nào tốt hơn nơi này. Mùa xuân, bị những cơn giá rét làm cho đến muộn, nay bắt đầu phô hết hương sắc; và khắp nơi sự sống lại nẩy mầm. Mới đó mà những khoảng rừng thưa đã phơn phớt màu lục; trên thảm cỏ non màu ngọc bích mát rượi, hoa bồ công anh đã nở và hoa bạch đầu ông nghiêng nghiêng mái đầu mỏng manh màu hồng phơn phớt tím. Từng đàn côn trùng bay tràn khắp các đầm lầy; những con nhện nước đuổi theo, và cùng với chúng là đủ các thứ chim từ khắp nơi bay về tụ tập trong đám lau khô. Những sông hồ ngập nước lũ, đông nghịt những bầy vịt nước và các loài thủy điểu khác.
Bỗng nhiên, mặt đất sinh động hẳn lên, các khu rừng bừng tỉnh, các đồng cỏ vang lên lanh lảnh. Trong làng, những đám khiêu vũ bắt đầu. Không thiếu gì chỗ để nô đùa! Trong đám lá xanh có bao nhiêu màu sắc rực rỡ! Không khí mới mát mẻ làm sao! Trong các mảnh vườn, tiếng chim ríu rít mới rộn ràng làm sao! Thật là một cõi thiên đường tràn ngập hân hoan: đồng quê rung lên và cất tiếng hát như mừng một cuộc hợp cẩn.
Tsitsikôp đi chơi rất nhiều. Ở đây có vô khối những nơi có thể đi chơi được. Khi thì y thăm khoảng cao nguyên ở trên đỉnh mấy quả đồi và ngắm cảnh các thung lũng ngập nước. Ở nhiều nơi, lác đác có những khu rừng còn trụi lá nổi lên như những hòn đảo sẫm mầu; hoặc giả y đi sâu vào những đám bụi rậm, vào những khe đất trong rừng, nơi có những đám cây mọc chi chít nặng trĩu những tổ chim, sào huyệt của lũ quạ đang lượn vòng từng đàn dầy đặc rợp cả một góc trời. Y có thể đi bộ ra bến, nơi những chuyến xà lan đầu tiên xuất phát, chở đầy đậu, đại mạch; trong khi nước đổ ầm ầm vào chiếc bánh xe của chiếc cối xay đã bắt đầu hoạt động. Y đi thăm các công việc đồng áng đầu mùa xuân, y ngắm dải đất đen đen mà những chuyến cày vừa qua mới vạch ra giữa đám lá xanh; trong khi người thợ gieo khéo léo vục tay vào túi thóc treo trên ngực, ném vung ra từng nắm rơi rất đều, bên phải cũng như bên trái.
Nơi nào Tsitsikôp cũng đến thăm. Y nói chuyện với lão quản lý, với người giữ cối xay, với nông dân. Cái gì y cũng muốn hỏi; tình hình tiến hành công việc, số thóc đã bán, số thóc thu vào mùa thu và mùa xuân để đem xay bột, tên từng nông dân, quan hệ họ hàng, việc tậu con bò cái, thức ăn của một con lợn. Y cũng hỏi dò cả số nông dân đã chết, số đó không được bao lăm. Là người có kinh nghiệm, chẳng mấy chốc y đã nhận thấy rằng điền trang của Anđrêi Ivannôvits được khai thác một cách thật kém cỏi: nơi nào cũng thấy rõ sự cẩu thả, bê trễ, nạn trộm cắp, rượu chè. Và y nghĩ thầm: “Cái thằng cha Tentietnikôp tồi thật! Một dinh cơ có thể thu hoạch đến năm vạn rúp hàng năm mà lại bỏ bê như thế này!”.
Đã nhiều lần, trong những chuyến đi dạo như vậy, y đã nẩy ra ý nghĩ là chính y, - không phải ngay bây giờ, cố nhiên, mà sau này kia, khi nào cuộc kinh doanh chính của y đã xong xuôi và y có được một số vốn - chính y sẽ trở thành vị chủ nhân yên ổn của một trại ấp như thế này. Lẽ dĩ nhiên y hình dung mình sẽ làm chồng một thiếu phụ có đôi má tươi hồng, con một thương gia hay một hạng nhà giàu nào khác, và biết cả nhạc nữa. Y còn tưởng tượng một lũ hậu sinh nối dõi họ Tsitsikôp, một đứa con trai nghịch ngợm và một đứa con gái xinh xắn, hoặc hai đứa con trai, hai hay ba đứa con gái; để cho mọi người có thể biết rằng y đã từng sống ở trên đời này thực sự, chứ không phải chỉ đi qua thế gian như một cái bóng. Đến đây y lại tự nhủ rằng giá được thăng quan tiến chức cũng hay; chẳng hạn lên chức tư vấn quốc gia, một chức đáng trọng và được mọi người kính nể… Ai biết được những ý nghĩ có thể nẩy ra trong óc một người đang đi dạo; những ước mơ đang làm cho người đó quên đi trong chốc lát cái thực tế buồn tẻ; đang chào mời trêu ghẹo y, kích thích trí tưởng tượng của y và được y nâng niu; dù y có biết chắc rằng những ước mơ đó sẽ chẳng bao giờ trở thành sự thật?
Chốn thôn quê đã chiếm được thiện cảm của các gia nhân của Paven Ivannôvits. Cũng như chủ họ, ở đây họ thấy khoan khoái lắm. Chẳng bao lâu Pêtruska đã kết bạn với anh coi kho Grigôri, tuy buổi đầu cả hai đều lên mặt bề trên với nhau. Pêtruska những muốn lòe Grigôri bằng cách kể ra những nơi mình đã đi qua; nhưng Grigôri liền đưa Pêterbua ra, khiến hắn phải cụt vòi, vì hắn chưa từng biết Pêterbua. Để vớt vát, Pêtruska khoe rằng những nơi mình đã đi cách xa như thế nào; nhưng Grigôri lại kể ra những nơi chẳng hề thấy có trên một bản đồ nào, cách đấy những hơn ba vạn verxta; thành thử anh đày tớ của Paven Ivannôvits chỉ còn biết há hốc mồm ra và lập tức bị đám gia nhân chế giễu. Tuy vậy, rốt cuộc hai bên kết bạn rất thân. Ở đầu làng có lão Pimen hói đầu, có họ hàng với khắp dân làng, mở một quán rượu lấy tên là Akumka; hai ông bạn nhà ta trở thành hai cột trụ của cái quán này; suốt ngày lúc nào cũng thấy họ ngồi đấy.
Xêlifan thì bị một sức cám dỗ khác. Trong làng, tối nào cũng có những đám tụ tập vừa hát, vừa nhảy những điệu vũ quay tròn mùa xuân. Những cô gái rất xinh, người cao dong dỏng; ngày nay trong các thị trấn lớn cũng khó tìm được những cô như thế; khiến cho hắn phải giương mắt tròn xoe ra hàng giờ. Thật khó mà nói rõ cô nào là cô đẹp nhất. Cô nào ngực và cổ cũng trắng nõn, đôi mắt cũng say đắm, dáng đi cũng kiêu hãnh, cô nào cũng có một bím tóc dài chấm thắt lưng.
Khi cầm những bàn tay trắng nõn của họ, quay vòng chầm chậm; khi cùng với mấy gã trai khác hắn tiến lên trước mặt những cô gái, giọng lanh lảnh đang mỉm cười hát:
Các boi-a ơi, hãy chỉ chàng tân lang… -Dân ca hát trong lễ cưới-
Trong khi chiều xuống nhè nhẹ ở xung quanh; và từ bên kia sông dội lại tiếng vọng của điệu hát lan đi buồn buồn; những khi ấy, hắn không biết mình ra làm sao nữa. Khi mơ cũng như khi tỉnh, buổi sáng sớm cũng như buổi chiều hôm, về sau hắn cứ ngỡ như vẫn còn nhảy múa vòng tròn và tay hắn vẫn đang cầm những bàn tay trắng nõn.
Mấy con ngựa của Tsitsikôp cũng thích chỗ ở mới. Con ngựa đầu càng, con Trợ tá và con Vằn thấy sống ở đây khá dễ chịu; thóc kiều mạch rất ngon và cách bố trí tàu ngựa lại rất tiện: mỗi con đều có ô riêng, nói cho đúng thì có vách chắn; nhưng qua vách có thể trông thấy những con khác, thành thử nếu một con nào nổi hứng lên hí dù đó là con đứng xa nhất, thì có thể trả lời ngay được.
Nói tóm lại, ai nấy đều cảm thấy như đang ở nhà mình. Còn về cái công việc mà Paven Ivannôvits Tsitsikôp đi khắp nước Nga để lo toan, tức là việc các nông phu chết; thì nay y đã trở nên rất dè dặt, ngay những khi tiếp xúc với những thằng ngốc thực thụ cũng vậy. Vả lại Tentietnikôp là người thường đọc sách, thường triết lý, cố tìm hiểu nguyên nhân và bản chất của sự vật thì “âu là thử tìm cách khác”; Tsitsikôp tự nhủ như vậy. Vì hay nói chuyện phiếm với tôi tớ trong nhà; y được biết rằng trước kia ông chủ hay lui tới nhà vị tướng ở điền trang bên cạnh, rằng vị tướng nọ có một cô con gái; ông chủ và cô tiểu thư ấy cũng có cảm tình với nhau; nhưng sau một chuyện bất hòa, họ không gặp nhau nữa. Bản thân y cũng có nhận thấy Anđrêi Ivannôvits thường vẽ, bằng bút chì và bằng bút lông ngỗng, những khuôn mặt bao giờ cũng giống nhau như đúc.
Một hôm, ăn sáng xong, tay vẫn búng hộp thuốc lá quay tít như thường lệ, y nói:
- Cái gì ông cũng đủ cả Anđrêi Ivannôvits ạ; ông chỉ thiếu có một thứ…
- Cái gì thế? - Chủ nhân vừa hỏi, vừa rít một hơi thuốc lá.
- Một người bạn đời, Tsitsikôp nói.
Anđrêi Ivannôvits lặng thinh. Câu chuyện đến đấy là hết.
Tsitsikôp không nao núng, y chọn một lúc khác, lần này vào lúc trước bữa ăn tối; đang nói chuyện này, chuyện nọ, y bỗng thốt lên:
- Thật đấy, Anđrêi Ivannôvits ạ, ông cưới vợ đi thì hơn.
Tentietnikôp không đáp lấy một câu; hẳn là vấn đề này làm chàng khó chịu.
Tsitsikôp vẫn không chịu thua. Lần thứ ba y lại tấn công, lần này thì sau bữa ăn tối.
- Ấy thế nhưng cứ suy xét tình cảnh của ông cho đủ mọi mặt, tôi vẫn thấy rằng ông cần cưới vợ; nếu không, chứng ưu uất đang rình ông đấy.
Không biết vì lần này lời lẽ của Tsitsikôp có sức thuyết phục hơn, hay vì Tentietnikôp đang lúc sẵn sàng cởi mở tâm tình hơn thường lệ mà chỉ thấy chàng thở dài và nói sau khi rít một hơi thuốc lá:
- Muốn gì cũng phải tốt số mới được, Paven Ivannôvits ạ.
Rồi chàng kể cho Tsitsikôp nghe cặn kẽ câu chuyện chàng đoạn tuyệt với vị tướng.
Sau khi nghe kể từ đầu chí cuối và nhận định rằng chung quy chỉ vì tiếng “anh” mà xảy ra xích mích, Tsitsikôp ngẩn người ra. Trong khoảng một phút, y nhìn chằm chằm vào tận mặt Tentietnikôp, không biết nên nghĩ thế nào về chàng cả: đó có phải là một thằng ngốc thực thụ không hay chỉ là một gã dở hơi?
- Anđrêi Ivannôvits! Y cầm lấy hai tay Tentietnikôp nói: - Ông thử nghĩ xem, như thế mà gọi là một sự lăng mạ à? Trong tiếng “anh” phỏng có gì là láo xược?
- Nguyên tiếng ấy thì không có gì láo xược, Tentietnikôp nói; nhưng cái ý nghĩa mà người ta gán cho nó, cái giọng của người ta khi nói nó lên là một lối lăng mạ. “Anh” ở đây có nghĩa là “Anh hãy nhớ rằng anh chẳng đáng giá bao nhiêu; ta sở dĩ tiếp anh chỉ vì không có ai hơn; nhưng khi có một công tước phu nhân Yuziakina đến, anh hãy biết thân, biết phận; đừng có bước qua ngưỡng cửa”. Đấy, ý nghĩa của nó là như thế đấy!
Trong khi nói mấy câu ấy, mắt của chàng Anđrêi Ivannôvits hiền lành ấy sáng quắc lên; giọng nói chứa chất nỗi uất ức của lòng tự ái bị tổn thương.
- Nhưng dù có ngụ ấy thì đã sao! Tsitsikôp nói.
- Sao! Ông muốn nói rằng sau một hành vi như thế mà tôi vẫn cứ lui tới nhà ông ta à?
- Nhưng nào có phải hành vi gì đâu, Tsitsikôp điềm nhiên đáp.
- Sao lại thế? Tentietnikôp ngạc nhiên hỏi.
- Đó không phải là một hành vi mà chỉ là một thói quen của con nhà tướng; các vị tướng ấy thì ai họ cũng gọi bằng anh. Vả lại tại sao lại không cho phép một người đáng kính, có công với Tổ quốc, được có một thói quen như vậy?
- Cái đó có khác, Tentietnikôp nói. Nếu đó không phải là một ông tướng hống hách, mà là một ông già tội nghiệp thì tôi đã để cho ông ta gọi tôi bằng anh một cách dễ dàng; tôi còn nhận lối xưng hô đó một cách kính cẩn nữa là khác.
“Cái thằng cha ngốc thật! Tsitsikôp nghĩ bụng. Một lão khố rách gọi bằng anh thì được, còn một vị tướng thì lại không!” - Được! Y lại nói to lên. Thì cứ cho rằng ông ta đã lăng mạ ông; nhưng ông đã ăn miếng trả miếng rồi còn gì; thế là xong cả, xúy xóa rồi. Đằng này lại chỉ vì một chuyện vặt ấy mà xích mích với nhau, tuyệt giao với nhau, quên cả mối lợi của mình; ấy xin lỗi, thế thì thật là… Đã vạch ra cho mình một mục đích thì phải trèo đèo, lội suối mà đạt cho kỳ được chứ. Tại sao lại cứ đinh ninh là người ta trịch thượng với mình. Bao giờ mà chả thế: con người bản tính vốn như vậy. Bây giờ ở trên đời ông không thể tìm đâu một con người không trịch thượng.
“Cái lão Tsitsikôp này khác đời thật!” Tentietnikôp nghĩ thầm; trong lòng thấy băn khoăn, khó nghĩ trước những lời lẽ đó.
“Cái lão Tentietnikôp này khác đời thật!” Ivannôvits tự nhủ.
- Anđrêi Ivannôvits ạ, tôi xin lấy tình anh em nói với ông. Ông thiếu kinh nghiệm lắm, xin ông để cho tôi dàn xếp việc này. Mai tôi sẽ đến gặp Tướng công; tôi sẽ giãi bày cho ngài rõ rằng thái độ của ông là do một sự hiểu lầm mà ra, là do ông còn thiếu lịch duyệt và không hiểu biết gì mấy về con người và việc đời.
- Tôi không có ý định lê gối trước mặt ông ta, Tentietnikôp chạnh lòng nói, và tôi không thể để ông làm như vậy được.
- Tôi không có thể lê gối trước mặt ai cả, Tsitsikôp cũng phật lòng đáp lại. Tôi có thể phạm một lỗi lầm, bản tính con người vốn dĩ như thế; nhưng làm một việc hèn hạ thì không đời nào… Ông thứ lỗi cho cái thiện ý của tôi, Anđrêi Ivannôvits ạ; tôi không ngờ những lời tôi nói lại bị hiểu theo một nghĩa nhục nhã như vậy.
Những câu vừa rồi được nói lên với một giọng khá chững chạc.
- Ông thứ lỗi cho tôi! Tentietnikôp vội cầm lấy tay Tsitsikôp nói. Tôi không ngờ lại làm ông phật ý; thiện ý của ông làm tôi rất cảm động, tôi xin thề với ông như thế. Nhưng ta hãy gác chuyện này lại. Ta sẽ không bao giờ nhắc đến chuyện này nữa.
- Nếu thế, tôi vẫn cứ đến nhà tướng quân.
- Để làm gì? Tentietnikôp hỏi, băn khoăn nhìn vào mặt khách.
- Để chào ngài.
- “Cái lão Tsitsikôp này khác đời thật!” Tentietnikôp nghĩ thầm.
- “Cái lão Tentietnikôp này khác đời thật!” Tsitsikôp cũng nghĩ thầm.
- Ngày mai, mười giờ tôi sẽ sang bên tướng quân, Anđrêi Ivannôvits ạ. Theo tôi thì đến hỏi thăm càng sớm càng hay. Vì chiếc briska của tôi chữa chưa xong, xin ông vui lòng cho phép tôi được dùng chiếc xe tứ mã của ông.
- Tại sao ông lại phải hỏi mượn? Ông là chủ nhân ở đây; cái gì ở đây cũng thuộc quyền ông sử dụng, cả cỗ xe cũng vậy.
Sau buổi nói chuyện, họ chúc nhau ngủ ngon giấc và trở về buồng riêng; người này không khỏi ngẫm nghĩ về những cái kỳ quặc của người kia.
Song kể cũng lạ thật! Sáng hôm sau, khi người nhà đã thắng ngựa và Tsitsikôp mình mặc áo đuôi én, cổ thắt cà vạt trắng, đã leo lên xe một cách nhanh nhẹn, gần như dáng quân nhân, để sang thăm vị tướng; thì Tentietnikôp thấy lòng xao xuyến khác thường, vì một cảm giác mà đã từ lâu chàng không hề có. Dòng tư tưởng thường ngày trôi uể oải, nay đã nhường chỗ cho một sức hoạt động bồng bột. Những cảm xúc rối loạn như trong cơn sốt bỗng tràn vào tâm hồn con người trước đây vẫn lười biếng, dửng dưng ấy. Chàng ngồi lên một chiếc ghế dài, bước ra cửa sổ, với lấy một quyển sách, rồi bỏ xuống để thử suy nghĩ. Vô ích; những ý nghĩ không chịu đến cho. Hoặc giả chàng cố gắng đừng nghĩ gì hết. Cũng không ăn thua: những mảng ý nghĩa, những hồi ức mơ hồ không biết từ đâu cứ hiện ra, len lỏi vào óc chàng!
- Thật là những cảm giác lạ lùng! Chàng vừa nói vừa đi ra cửa sổ để nhìn con đường chạy qua khóm rừng sồi; một đám bụi chưa kịp tan hết còn lơ lửng ở ven rừng.
Nhưng ta hãy từ giã Tentietnikôp để đi theo Tsitsikôp.


Chương thứ hai
Mấy con ngựa thật là tốt. Chỉ già nửa tiếng đồng hồ một tí, Tsitsikôp đã qua hết cái khoảng mười verxta ngăn cách hai điền trang. Sau khi vượt qua khu rừng sồi, băng qua những cánh đồng lúa đã bắt đầu xanh tốt, cỗ xe men theo con đường chênh vênh bên sườn núi - từ đấy luôn luôn thấy hiện ra những chân trời mới - rồi qua một con đường rộng hai bên trồng hai cây bồ đề lá còn thưa thớt, và đi thẳng vào trung tâm trang ấp của vị tướng. Tiếp theo hai dãy bồ đề là những cây phong ở phía dưới thân quây một vòng rào đan bằng miên liễu. Con đường vòng sang phải, dẫn đến một cái cổng sắt; qua cánh cổng có thể trông thấy cái mặt hiên hình tam giác của tòa nhà chạm trổ rất đẹp, dựng trên tám cái cột kiểu Kôrintiakôx -Cột thuộc kiểu kiến trúc cổ Hy Lạp lộng lẫy nhất, đầu cột trang trí-. Mùi sơn phảng phất tỏ ra rằng ở đây người ta không để cho một vật gì cũ đi cả. Cái sân sạch bóng như một sàn gỗ. Tsitsikôp kính cẩn xuống xe, cho người vào báo và được đưa vào phòng làm việc của vị tướng. Vẻ uy nghiêm của gian phòng khiến y phải sửng sốt. Tướng quân Bêtrisep mặc một chiếc áo trong nhà bằng xa tanh chần màu huyết dụ rất đẹp. Cái nhìn thẳng thắn, vẻ mặt quắc thước, bộ ria mép và bộ râu má rậm đã hoa râm, cái gáy cạo nhẵn dưới bộ tóc húi bàn chải, cái cổ phốp pháp, ở phía sau da dày cộm lên ba ngấn, có một nếp gấp ở quãng giữa: nói tóm lại, đó là một trong những viên tướng mà người ta gặp nhan nhản hồi năm 1812 bất hủ. Cũng như rất nhiều người trong chúng ta, tướng Bêtrisep có rất nhiều đức tính tốt bên cạnh một mớ tính xấu; cả hai thứ đó kết hợp, pha trộn lẫn nhau trong người ông ta thành một mớ hỗn mang rất thú vị. Vào những giờ phút quyết liệt, có thể thấy rõ tính đại lượng, lòng dũng cảm một lòng hào hiệp không bờ bến, một trí thông minh sâu sắc; bên cạnh đấy lại có những cơn dở chứng bất kỳ, tính tự ái và dễ mếch lòng mà không một người Nga nào thoát khỏi khi sống trong cảnh ăn không ngồi rồi. Ông không ưa tất cả những ai vượt qua mặt ông trên con đường thăng quan tiến chức, và khi nói đến họ ông dùng một giọng cay cú và đưa ra những lời châm chọc chua chát. Ông đặc biệt thù ghét một người bạn cũ mà ông cho là thua kém mình cả về tài lẫn trí; nhưng lại đã bỏ xa ông và nay đã lên đến chức tổng trấn hai tỉnh, mà lại đúng là hai tỉnh trong đó có những điền trang của ông, thành thử có thể nói là ông đang ở dưới quyền cai trị của hắn. Để trả đũa, bạ có dịp là ông công kích hắn ta, lên án những mệnh lệnh của hắn ta, và trong bất cứ hành động nào của hắn, ông cũng đều thấy thể hiện một sự phi lý đến cùng cực. Ở ông ta cái gì cũng kỳ cục, bắt đầu từ học vấn trở đi, tuy ông ta là một người bênh vực nền học vấn rất nhiệt thành. Ông thích nghi lễ hào nhoáng; ông cũng thích biết những điều mà người khác chẳng hề hay, và không ưa những kẻ nào biết được những điều mà ông không biết. Nói tóm lại, ông rất sẵn sàng phô trương trí thông minh của mình. Được hấp thụ một nền giáo dục mà một phần nửa là ngoại lai, đồng thời ông lại muốn đóng vai một đại lãnh chúa Nga. Với một tính khí thất thường như vậy, với những nét tương phản rõ ràng như vậy; dĩ nhiên trên bước đường sự nghiệp, ông phải gặp nhiều trắc trở. Ông bèn từ chức, đổ hết tội nợ cho một bè phái thù địch với ông; vì không có đủ tính cương trực để buộc tội mình bất cứ một điểm nào. Trong nhà, ông vẫn giữ nguyên tư thái lúc nào cũng uy nghi, dù khi mặc áo đuôi én, áo dài rộng hay áo ngủ. Từ giọng nói cho chí những cử chỉ nhỏ nhặt nhất của ông cũng đều oai vệ, hách dịch, khiến người dưới nếu không kính nể thì cũng phải e dè.

Tsitsikôp có cả hai cảm giác đó. Đầu kính cẩn cúi xuống, hai cánh tay dang ra như sắp sửa nâng một cái khay xếp đầy chén tách; y cúi gập mình xuống một cách rất đẹp mắt và nói:
- Lòng đầy niềm tôn kính đối với những tranh anh hùng đã cứu quốc trên các chiến trường, chúng tôi tự thấy có bổn phận đến trình diện Tướng công.
Mấy lời mở đầu này hình như không khỏi làm cho vị tướng hài lòng. Sau một cái nghiêng đầu đầy thiện cảm, ông ta nói:
- Rất sung sướng được làm quen với ông. Mời ông ngồi. Ông đã tòng ngũ ở đâu?
- Chúng tôi đã bắt đầu hoạn lộ trong ngành tài chính - Tsitsikôp vừa trả lời vừa ngồi xuống ghế bành; không phải ở chính giữa ghế, mà ngồi lệch sang bên mép, cánh tay tựa vào tay ghế - sau đó chúng tôi chuyển qua nhiều nơi: tòa án, thuế quan, lại cả một ủy ban xây dựng nữa. Bẩm Tướng công, đời chúng tôi có thể ví như một con thuyền bềnh bồng trên sóng. Chúng tôi được bao bọc trong tính kiên nhẫn, được khoác một bộ giáp kiên nhẫn; có thể nói chúng tôi là hiện thân của tính kiên nhẫn. Còn như những kẻ thù đã mưu hại chúng tôi thì dù là lời nói, dù là thuốc vẽ hay bút lông, cũng đều không thể nào gợi lên một hình ảnh đứng đắn được; thành thử trong buổi xế chiều của cuộc đời, chúng tôi chỉ tìm một nơi thanh vắng để sống nốt những ngày tàn. Hiện nay chúng tôi trú ngụ ở nhà một người láng giềng của Tướng công.
- Ai thế?
- Thưa, Tentietnikôp ạ.
Mặt vị tướng sa sầm lại.
- Ông ta rất hối tiếc đã không bày tỏ được lòng tôn kính xứng đáng với…
- Với gì?
- Với phẩm giá của Tướng công. Ông ta không tìm được lời lẽ… “Giá tôi có được cách gì… ông ta nói thế, vì tôi biết tôn quý những bậc anh hùng đã cứu quốc.”
- Xin phép ông, tôi không giận đâu; vị tướng nói, trong bụng đã nguôi nguôi. Trong thâm tâm, tôi vẫn thành thật mến ông ta và tôi tin chắc rằng rồi đây ông ta sẽ trở nên một người rất hữu ích.
- Thưa Tướng công, ngài dạy rất phải: một người tối ư hữu ích; ông ta có khiếu hùng biện và là người biết cầm bút.
- Chắc ông ta viết những chuyện phiếm, làm thơ làm thiếc chứ gì?
- Thưa Tướng công, không phải ạ… ông ta viết đúng đắn. Ông ta viết… sử.
- Sử gì?
- Sử…, Tsitsikôp ngừng một lát; rồi không biết vì đang đứng trước mặt một vị tướng, hay vì muốn cho câu chuyện có vẻ quan trọng hơn, y nói thêm:
- Thưa Tướng công, lịch sử các tướng lĩnh ạ.
- Tướng lĩnh nào?
- Dạ, các tướng lĩnh nói chung ạ… Nghĩa là, nói cho đúng ra là lịch sử các tướng lĩnh của ta ạ.
Tsitsikôp líu lưỡi lại, bực quá suýt nhổ toẹt một bãi và nghĩ thầm: “Chà, mình nói nhảm gì thế này…”
- Xin lỗi ông, tôi chưa hiểu rõ… Đây là lịch sử một thời đại hay là lịch sử một số nhân vật riêng rẽ? Có phải là thân thế tất cả các tướng Nga hay chỉ là những vị tướng đã tham gia chiến dịch 1812?
- Chính thế, thưa Tướng công, chính là các tướng hồi 1812 đấy ạ! Trong khi nói như vậy, y nghĩ thầm “Có giết chết, tớ cũng chẳng hiểu đầu đuôi ra sao!”.
- Thế sao ông ta không đến gặp tôi? Tôi cũng có thể cung cấp cho ông ta những tài liệu khá lý thú.
- Bẩm Tướng công, ông ta không dám ạ.
- Thật là vớ vẩn! Chỉ vì một câu nói vô nghĩa mà đâm ra thế… Nhưng tôi có phải hạng người như thế đâu. Tôi sẵn sàng đến thăm ông ta nữa là khác.
- Ông ấy sẽ không để Tướng công nhọc lòng đâu, Tsitsikôp nói; bây giờ y đã lấy lại được lòng tự tin. Y nghĩ thầm: “Chà! Chà! Các vị tướng lĩnh của ta đến đúng lúc thật! Thế mà mình cứ tưởng là lỡ lời nói nhảm!”.
Có tiếng sột soạt nhè nhẹ trong phòng làm việc. Cánh cửa bằng gỗ hồ đào của một chiếc tủ chạm mở ra; và bàn tay đặt trên quả đấm bằng đồng, một dáng người hiện ra trong khung cửa. Giả sử trong căn phòng tối mờ mờ này mà có một bức tranh sáng rực hiện ra, thì sự hiển hiện đột ngột ấy hẳn không làm cho người ta sửng sốt bằng người vừa vào. Có thể thấy rằng người ấy định đến nói điều gì, nhưng vì thấy có khách lạ nên lại thôi. Tưởng chừng như cùng vào với người đó, có cả một tia nắng tươi vui tràn ngập căn phòng làm việc khắc khổ của vị tướng. Không thể nào đoán ra xứ sở quê hương của nàng; không thể tìm thấy ở một nơi nào, họa chăng là ở những bức phù điêu cổ chạm trên ngọc thạch, những nét mặt thuần khiết, cao quý đến như vậy. Vóc thẳng và nhẹ như một mũi tên, nàng có vẻ như vượt lên cao hơn hẳn mọi người; sự cân xứng hoàn thiện của mọi bộ phận trên thân thể nàng khiến người ta có ảo giác như vậy. Chiếc áo dài nàng mặc vừa vặn ăn nhịp với vẻ đẹp của nàng đến nỗi có thể tưởng như tất cả các bà thợ khâu khéo léo nhất đã cùng góp sức lại bàn cách ăn mặc cho nàng. Lại một ảo giác nữa: dường như ở vài ba nơi nào đó, mũi kim đã kết lại một tấm hàng nguyên vẹn, và tấm hàng đã tự nó rập khuôn lên thân hình nàng một cách trang nhã; đến nỗi, giá có ai vẽ nàng đứng cạnh những tiểu thư ăn mặc theo thời trang mới nhất, thì so với nàng những tiểu thư ấy sẽ có vẻ những hình nhân buộc vải. Và giá có ai tạc hình nàng vào cẩm thạch với tất cả những nếp gấp của chiếc áo vừa vặn như đúc khuôn lên mình nàng, người ta sẽ có ngay một kiệt tác… Một khuyết điểm duy nhất là nàng quá mảnh và gầy.
- Xin giới thiệu cô con gái rượu của tôi, vị tướng nói với Tsitsikôp. Xin lỗi, tôi vẫn chưa được biết tên thánh và phụ danh của ông.
- Có cần gì phải biết tên của một kẻ chưa chút gì tỏ ra tài đức? Tsitsikôp khiêm nhường đáp.
- Thế nhưng cũng phải biết chứ.
- Thưa Tướng công, Paven Ivannôvits ạ; Tsitsikôp vừa nói vừa nghiêng mình một cách nhanh nhẹn, thoải mái, gần như một quân nhân và vụt ngẩng lên một cách nhẹ nhàng như một quả bóng cao su.
- Ulinka ạ, vị tướng nói, Paven Ivannôvits vừa cho cha biết một tin khá thú vị. Ông Tentietnikôp, láng giềng của chúng ta, tuyệt nhiên không phải ngốc như chúng ta tưởng. Ông ta đang viết một bộ sách khá lớn: lịch sử các tướng lĩnh năm 1812.
- Ai bảo ông ta ngốc? Người con gái nói nhanh. Ngốc thì họa chăng chỉ có Visnepôkrômôp, con người vô nghĩa và đê tiện mà cha vẫn tin cậy ấy.
- Vô nghĩa thì được, nhưng đê tiện thì không phải đâu; vị tướng nói.
- Không những vô nghĩa, mà còn hèn hạ và khả ố nữa. Một người mà đã làm hại các em trai và đuổi em gái ra khỏi nhà cha mẹ là một con người khả ố.
- Toàn những chuyện đồn nhảm!
- Không phải vô cớ mà người ta lại đồn như thế. Cha ạ, con không hiểu tại sao một người có tấm lòng trung hậu và tâm hồn cao cả như cha mà lại đi tiếp một kẻ thấp kém hơn cha đến như vậy, một người mà cha đã biết là tâm địa xấu xa.
- Ông thấy chưa, vị tướng mỉm cười nói với Tsitsikôp; cha con chúng tôi vẫn cãi nhau như thế đấy. Rồi quay về phía con gái, ông nói tiếp:
- Nhưng con ạ, chả lẽ cha lại tống cổ hắn ra khỏi nhà?
- Thôi được. Nhưng tại sao lại tỏ ra ân cần với hắn như vậy. Sao lại yêu mến hắn?
Đến đây, Tsitsikôp thấy cần chêm vào một câu.
- Mọi sinh vật trên đời đều muốn được yêu mến, tiểu thư ạ. Ngay như con vật cũng thích được vuốt ve; qua các chấn song của chuồng bò, nó chìa mõm ra để cho người ta vuốt ve nó.
Vị tướng cười lớn:
- Đúng thế đấy; nó chìa mõm ra cho người ta vuốt ve!... Ha, ha, ha! Khắp mõm, khắp mình mẩy nó đều lấm bùn, nhưng nó cũng đòi hỏi một cử chỉ khuyến khích, như người ta thường nói… Ha! Ha! Ha!
Một trận cười như phá làm rung cả nửa người trên của vị tướng. Hai vai của ông, trước kia đã từng đeo một đôi ngù vai nặng trĩu, rung lên như thể nay vẫn còn đeo đôi ngù vai đó.
Tsitsikôp cũng bật cười theo; nhưng vì kính nể vị tướng, cho nên không mở to thành tiếng “a”, mà chỉ mở hé miệng thành tiếng “ê”: Hê! hê! hê! Nửa người trên của y cũng rung lên vì trận cười, nhưng hai vai y xưa nay chưa từng đeo ngù vai nặng cho nên không rung.
- Ha! Ha! Con vật ấy ăn cắp, nó vục cả hai tay vào Ngân khố để ăn cắp, thế mà lại còn đòi hỏi một phần thưởng! “- Tôi cần được khuyến khích, hắn nói thế, công lao khó nhọc thì phải được đền bù”… Ha! Ha! Ha!
- Thưa Tướng công, Tướng công đã có bao giờ nghe nói đến câu: “Hãy yêu quý chúng tôi khi cằm chúng tôi còn râu ria bờm xờm, đến khi cằm chúng tôi nhẵn rồi thì thiếu gì người yêu” chưa ạ? Tsitsikôp nói với vị tướng, môi nở một nụ cười tinh quái.
- Không, tôi không biết chuyện ấy.
- Một mẩu giai thoại rất lý thú, thưa Tướng công ạ. Trong điền trang của công tước Gukzôpxki, mà Tướng công chắc có biết…
- Không, không biết.
- Thưa Tướng công, xin Tướng công thử tưởng tượng là quản lý điền trang này là một anh chàng người Đức trẻ tuổi, nhân dịp tuyển binh và nhân một số việc khác, lên tỉnh gặp một số người có vai vế, và tất nhiên là có chút vi thiềng cho họ (Tsitsikôp nháy mắt, làm một điệu bộ ngụ rất nhiều ý nghĩa)… vả lại họ cũng thết đãi hắn ta, thành thử có một hôm đang ăn tiệc với bọn họ, hắn nói: “Ấy, thưa các ngài, sau này thế nào cũng xin mời các ngài đến chơi tôi, ở nhà công tước!”. Họ trả lời: “Được lắm!”. Ít lâu sau, tòa án phải điều tra tại chỗ, nhân một vụ lôi thôi xảy ra trên địa phận bá tước Triôkhmêtiep mà Tướng công chắc có biết.
- Không biết.
- Đáng lẽ đi điều tra thì họ lại kéo thẳng vào nhà lão quản gia và suốt ba ngày, ba đêm đánh bài liên miên. Ấm xamôva và liễn rượu pơns không rời khỏi mặt bàn. Lão quản gia của bá tước phát điên lên với họ. Lão nói: “- Thưa các ngài, xin các ngài sang thăm ông quản lý của công tước một chút; anh ta ở gần ngay đây thôi, và đang mong các ngài. - Phải đấy, anh ta có mời chúng mình nữa là khác!”. Lập tức cả bọn, mặt ngái ngủ, râu ria không cạo, lên xe têlêga đến nhà anh chàng người Đức. Thưa Tướng công, anh này lại vừa mới cưới vợ. Anh ta lấy được một cô thiếu nữ mới ở trường có nội trú ra, hết sức xinh xắn và tế nhị vô cùng (Tsitsikôp làm ra một vẻ mặt tế nhị). Bấy giờ có thể nói là họ đang giữa tuần trăng mật. Họ đang ngồi uống trà như hai con cừu non, thì cánh cửa vụt mở, và cả bọn ập vào.
- Chắc bọn họ trông hay đáo để nhỉ! Vị tướng vừa cười vừa nói.
- Thưa Tướng công, anh chàng người Đức ngạc nhiên quá, mất cả trí khôn. Anh ta bước tới, nói với họ: “Các ông cần gì?” - À ra thế đấy. Họ lập tức thay đổi thái độ: đã thế thì cho biết tay. - “Ta vào việc thôi. Trong điền trang này cất bao nhiêu rượu? Sổ sách đâu đưa xem!”. Anh kia muốn trì hoãn, nhưng lập tức bị trói gô lại, bắt giải lên tỉnh ngồi tù mười tám tháng.
- Ái chà! - Vị tướng nói.
Ulinka chắp hai tay lại.
- Vợ anh ta cố chạy chọt, nhưng thưa Tướng công, một người thiếu phụ chưa có kinh nghiệm, có thể nói là chưa được thử thách ở trường đời như vậy, thì phỏng làm gì được? May thay có những người phúc hậu, người ta khuyên nhủ cách dàn xếp cho ổn thỏa. Anh chàng người Đức được tha sau khi đút lót hai nghìn rúp, và phải mở tiệc hậu tạ. Trong bữa tiệc, khi mọi người, kể cả khổ chủ, đều đã chếnh choáng hơi men, họ bảo anh ta: “Anh thấy chưa! Dạo ấy anh kinh tởm chúng tôi! Giá chúng tôi cạo râu tử tế thì anh thích hơn. Không được, hãy yêu quý chúng tôi khi cằm chúng tôi còn râu ria bờm xờm; đến khi cằm chúng tôi nhẵn rồi thì thiếu gì người yêu”.
Vị tướng cười phá lên.
Khuôn mặt đẹp đẽ và cao quý của người thiếu nữ đượm vẻ đau thương.
- Ồ! Cha kìa! Con không hiểu tại sao cha lại có thể cười được! Những hành động bất lương ấy chỉ làm cho con buồn thôi. Khi con thấy sự gian dối diễn ra công khai trước mắt mọi người như vậy, mà những kẻ như thế lại không bị mọi người phỉ nhổ, con không còn biết trong lòng con ra sao nữa; con đâm ra cáu gắt và thậm chí trở thành độc ác…
Nàng suýt khóc.
- Nhưng xin con đừng giận cha và ông bạn đây, vị tướng nói. Chúng ta biết làm thế nào được, phải không ông? ông ta nói với Tsitsikôp. Hôn cha rồi về phòng đi con ạ. Cha sẽ đi mặc áo để ăn chiều đây. Anh ăn chiều với tôi chứ? Ông ta vừa nói vừa nhìn vào tận mắt Tsitsikôp.
- Thưa Tướng công, con thật không biết…
- Thôi đừng có khách khí nữa. Nhờ trời, tôi còn có đủ súp và thịt bò để thết khách.
Hai tay dang ra, Tsitsikôp nghiêng đầu kính cẩn tỏ lòng biết ơn, thành thử trong giây lát y không còn trông thấy những đồ đạc ở trong phòng nữa, chỉ thấy có đôi mũi giày của mình. Sau khi giữ cái tư thế kính cẩn ấy một lát, y ngẩng đầu dậy thì không thấy Ulinka đâu nữa. Ở chỗ nàng đứng lúc nãy chỉ có một người hầu phòng to lớn, để râu má và ria mép rất rậm, tay bưng một cái chậu bạc và một bình nước.
- Anh cho phép tôi mặc áo trước mặt anh chứ?
- Thưa, Tướng công không những có thể mặc áo, mà còn có thể làm bất cứ việc gì trước mặt chúng tôi, cũng xin tùy ý ạ.
Vị tướng dùng một tay hất chiếc áo mặc trong nhà xuống, xắn hai ống áo sơ mi trên đôi cánh tay lực lưỡng, rồi bắt đầu rửa mặt, vừa rửa vừa rung đầu lia lịa như con vịt, làm nước và xà phòng bắn ra tung tóe.
- Thế nào ấy nhỉ? - ông ta vừa kì cổ vừa nói… Hãy yêu quý chúng tôi khi cằm chúng tôi nhẵn…
- Thưa Tướng công, khi cằm chúng tôi hãy còn râu ria bờm xờm ạ.
- Hãy yêu quý chúng tôi khi cằm chúng tôi còn râu ria bờm xờm đến khi cằm chúng tôi nhẵn rồi thì thiếu gì người yêu. Hay lắm! Quả tình, người ta thích được khuyến khích lắm. Người ta thích được khuyến khích lắm. Người ta thích được vuốt ve, vì không có ai khuyến khích thì người ta không ăn cắp được… Ha! Ha! Ha!
Tâm trạng Tsitsikôp lúc này thật khó tả. Bỗng y nảy ra một ý: “- Vị tướng này vui tính đây, hay ta thử xem sao”, y tự nhủ, và khi thấy người hầu phòng đã bưng chậu ra ngoài rồi, y nói: - Thưa Tướng công, con thấy Tướng công đối với ai cũng nhân hậu, cho nên con dám mạo muội xin Tướng công giúp con một việc lớn.
- Việc gì thế?
- Con có một ông bác già nua lụ khụ. Ông ta có ba trăm nông nô và hai nghìn héc ta đất… Con là kẻ thừa kế duy nhất của ông ta; thế nhưng mặc dầu đã quá già yếu không cai quản được ấp nữa, ông ta vẫn không chịu giao lại cho con. Tướng công thử tưởng tượng, ông ta viện ra một cớ thật lạ lùng: “- Tôi không biết cháu tôi là người thế nào, ông ta bảo thế; có thể là đồ phá gia chi tử cũng nên. Hắn phải chứng tỏ rằng hắn là người chí thú bằng cách tự kiếm lấy ba trăm nông nô đã; đến lúc ấy, tôi sẽ cho ba trăm nông nô của tôi.”
- Thế thì ông ta là một lão ngốc thực thụ rồi còn gì? vị tướng nói.
- Nếu thế cũng chưa đến nỗi nào, nhưng khốn nỗi lại còn thế này nữa. Tướng công thử xét tình cảnh của con mà xem! Ông lão có một cô gia sư, cô này lại có mấy đứa con; con sợ rằng chúng nó sẽ được hưởng hết.
- Lão già ngốc ấy mất trí rồi còn gì. Nhưng tôi không biết có thể giúp được gì cho ông; viên tướng vừa nói vừa nhìn Tsitsikôp, vẻ ngạc nhiên.
- Đây, con nghĩ thế này ạ. Giá Tướng công để lại cho con tất cả các nông nô chết trong điền trang của Tướng công, làm như thể chúng đang còn sống, có làm văn khế hợp lệ; con sẽ đưa văn khế cho ông lão và ông ta sẽ cho con hưởng gia tài.
Vị tướng cười phá lên; có lẽ trước ông ta chưa có ai cười to đến thế. Ông ta cứ thế ngả người ra ghế bành, đầu hất ngược ra phía sau và suýt ngạt thở. Cả nhà náo động lên. Người hầu phòng bước vào. Cô con gái hoảng hốt chạy đến.
- Cha ơi, có việc gì thế? Nàng nhìn vào mặt cha, vẻ lo sợ.
Hồi lâu, vị tướng không nói ra được một câu nào.
- Không có gì đâu, cô bạn ạ. Con ra đi, lát nữa ta sẽ tới ăn chiều. Con cứ yên tâm. Ha! Ha! Ha!
Và tiếng cười của vị tướng, bị nén mấy bận, lại bùng lên mạnh mẽ hơn, vang dội suốt từ tiền sảnh cho đến gian phòng trong cùng.
Tsitsikôp thấy lo lo.
- Cái ông bác ấy được một món bở nhé. Ha! Ha! Ha! Ông ta muốn nông nô, thì sẽ được một lũ xác chết. Ha! Ha!
- Lại cười nữa rồi, Tsitsikôp nghĩ thầm. Ông ta mau cười thật. Miễn sao đừng có mệnh hệ nào!
Vị tướng già càng cười.
- Thật ngu như con lừa! Ai lại đòi hỏi như vậy bao giờ? “Hắn phải tự kiếm lấy ba trăm nông nô đã rồi ta sẽ cho hắn ba trăm nữa!”. Thật là một con lừa chứ còn gì nữa!
- Thưa Tướng công, quả là một con lừa ạ.
- Lại còn cái mẹo đem cống nông nô chết cho lão già của anh nữa! Ha! Ha! Ha! Nếu được chứng kiến lúc anh trình tờ văn khế cho lão già, thì mất gì tôi cũng chịu. Lão ta có già lắm không?
- Tám mươi tuổi ạ.
- Chắc là còn sung sức lắm, nên mới nuôi một cô gia sư trong nhà chứ.
- Thưa Tướng công, không đâu ạ, cứ mủn ra như cám ấy.
- Ngốc thật! Vì, lão là một thằng ngốc, phải không nào?
- Thưa Tướng công, quả là một thằng ngốc!
- Nhưng lão ta còn đi lại được không?... Lão vẫn lui tới các bạn bè chứ?... Đứng còn vững chứ?
- Vâng ạ, nhưng chật vật lắm.
- Ngu thật! Nhưng tuy thế hãy còn khỏe chứ? Răng có còn không?
- Chỉ còn có hai chiếc thôi ạ.
- Thật là con lừa! Đừng giận, anh bạn nhé… Tuy lão ta là bác anh, lão vẫn là con lừa như thường.
- Thưa Tướng công, quả là một con lừa ạ. Là người có họ, con thật lấy làm khổ tâm khi phải nhận như thế, nhưng dù sao cũng phải tôn trọng sự thật trước đã.
Tsitsikôp nói dối: y chẳng khổ tâm chút nào khi phải nhận như thế, hơn nữa có lẽ xưa nay y chưa hề có ông bác nào cả.
- Thế thì xin Tướng công để lại cho con…
- Nông nô chết ấy à? Để thưởng một sáng kiến như thế, tôi sẵn sàng cho cả đất, cả nhà nữa ấy chứ! Anh cứ lấy hết cả nghĩa địa đi cho tôi! Ha! Ha! Ha! Lão già! Ha! Ha! Ha! Ông bác được một vố ra trò nhé! Ha! Ha! Ha!
Và tiếng cười của vị tướng lại vang dội khắp nhà…

Bản thảo của Gôgôn, đến đây thì mất. L.J. Arnônđi kể lại nội dung phần sau chương thứ hai và các chương tiếp theo như sau:
“…Nếu tôi nhớ không sai thì chương thứ hai của phần hai Những linh hồn chết mở đầu có khác và lời văn trau chuốt hơn, tuy nhìn chung thì nội dung vẫn là một. Một trận cười của Bêtrisep kết thúc chương này. Chương sau miêu tả một ngày sinh hoạt trong nhà vị tướng. Tsitsikôp ở lại ăn bữa cơm chiều. Đến bữa ăn, xuất hiện hai nhân vật mới: một nữ gia sư người Anh dạy học cho Ulinka,và một người Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha gì đấy, trú ngụ trên lãnh thổ của Bêtrisep từ đời nảo đời nào, chẳng ai hiểu tại sao. Nữ gia sư là một người đàn bà độc thân đứng tuổi, một con người tẻ nhạt, bề ngoài chẳng có chút gì hấp dẫn, mũi nhỏ và dài, hai mắt linh hoạt lạ thường. Bà ta ngồi thẳng đưỡn, im lặng suốt buổi, và chỉ luôn luôn nhìn khắp bốn phía với đôi mắt dò hỏi và ngơ ngác. Người Bồ Đào Nha tên là Ekxpantôn, Xitenđôn hay một cái gì đại loại như thế; nhưng tôi nhớ rằng các gia nhân gọi ông ta là Exkađrôn -Có nghĩa là đội kỵ binh-. Ông ta cũng im thin thít; chức vụ của ông ta là đánh cờ với vị tướng sau bữa ăn chiều. Trong bữa ăn không có gì đặc biệt xảy ra cả. Tướng Bêtrisep khá vui vẻ, luôn đùa cợt với Tsitsikôp. Tsitsikôp ăn rất ngon lành, và ăn rất nhiều. Ulinka thì đăm chiêu tư lự, và gương mặt nàng chỉ linh hoạt lên khi nào câu chuyện đả động đến Tentietnikôp. Sau bữa ăn, vị tướng đánh cờ với người Tây Ban Nha. Vừa nhấc quân cờ, ông ta vừa nói đi, nói lại luôn mồm: “Hãy yêu quý chúng tôi khi cằm chúng tôi nhẵn…” và mỗi lần như thế, Tsitsikôp lại nhắc: “Thưa Tướng công, khi cằm chúng tôi hãy còn râu ria bờm xờm ạ”. Viên tướng lặp lại: “À phải, hãy yêu quý chúng tôi khi cằm chúng tôi hãy còn râu ria bờm xờm, chứ đến khi cằm chúng tôi nhẵn rồi thì đã có đích thân Đức Chúa Trời yêu quý chúng tôi.” Năm phút sau, ông ta lại nói nhầm trở lại như cũ: “Hãy yêu quý chúng tôi khi cằm chúng tôi nhẵn…”. Tsitsikôp lại chữa, và vị tướng lại cười lớn, nhắc lại: “Hãy yêu quý chúng tôi khi chúng tôi hãy còn râu ria bờm xờm, chứ đến khi cằm chúng tôi nhẵn rồi thì đã có đích thân Đức Chúa Trời yêu quý chúng tôi.” Sau mấy ván cờ đánh với người Tây Ban Nha, vị tướng rủ Tsitsikôp đánh với ông ta một vài ván. Trong lĩnh vực này Tsitsikôp cũng tỏ ra điêu luyện. Y đánh rất cao làm cho đối thủ phải lúng túng với cái chiến lược của y, và cuối cùng y thua cuộc. Hởi lòng, hởi dạ vì đã thắng được một đối thủ cao tay như vậy, vị tướng càng mê Tsitsikôp; khi chia tay, ông ta khẩn khoản mời y sớm ghé lại chơi và đưa cả Tentietnikôp đến.
Về đến nhà Tentietnikôp, Tsitsikôp kể cho chàng nghe nỗi buồn của Ulinka, nỗi nhớ tiếc của vị tướng lâu nay không được gặp chàng, lòng hối hận của ông ta, ý định của ông ta là chấm dứt câu chuyện hiểu lầm bằng cách thân hành đến thăm Tentietnikôp trước và xin lỗi Tentietnikôp. Dĩ nhiên đó là những chuyện do Tsitsikôp dựng đứng lên mà thôi. Nhưng Tentietnikôp vốn yêu Ulinka tha thiết nên lẽ đương nhiên là rất mừng khi nghe những tin đó. Chàng tuyên bố rằng đã vậy, thì chàng sẵn sàng đến nhà vị tướng ngay hôm sau, để vị tướng khỏi phải nhọc lòng đến thăm mình. Tsitsikôp tán thành quyết định đó; họ thỏa thuận với nhau là ngày hôm sau sẽ cùng đến nhà Bêtrisep. Cũng tối hôm ấy, Tsitsikôp đánh bạo thú thật rằng y đã làm cho vị tướng tưởng là Tentietnikôp đang viết một bộ sử về các tướng lĩnh. Tentietnikôp chẳng hiểu đầu đuôi câu chuyện ra sao; chàng sợ sẽ bối rối khi vị tướng nói đến việc này. Tsitsikôp đáp là chính y cũng không hiểu tại sao lại buột mồm nói ra như thế, nhưng dù sao thì cũng đã trót nói ra rồi; cho nên y van nài Tentietnikôp ít nhất phải hứa im lặng và đừng cải chính việc này, để y khỏi mất tín nhiệm của vị tướng.
Sau đó là chuyến đi đến điền trang vị tướng, cuộc gặp gỡ giữa Tentietnikôp với Bêtrisep và Ulinka, và cuối cùng là bữa ăn chiều. Theo tôi thì đoạn miêu tả bữa ăn này là đoạn hay nhất trong tập hai. Vị tướng ngồi ở giữa, bên phải là Tentietnikôp và người Tây Ban Nha, bên trái là Tsitsikôp và Ulinka; bà gia sư người Anh ngồi giữa Ulinka và người Tây Ban Nha; ai nấy đều vui vẻ và hài lòng. Vị tướng rất sung sướng vì đã giảng hòa với Tentietnikôp và vì được dịp nói chuyện với một người đang soạn một bộ lịch sử các tướng lĩnh; Tentietnikôp thì rất sung sướng vì được ngồi gần ngay trước mặt Ulinka; hai người thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn nhau; cô thiếu nữ thì rất sung sướng vì người mình yêu đã trở lại với gia đình và đã giảng hòa với cha mình. Tsitsikôp cũng thỏa lòng vì được đóng vai trò người hòa giải trong các gia đình giàu sang và đài các này. Bà gia sư người Anh đưa mắt nhìn quanh một cách sỗ sàng; người Tây Ban Nha thì chăm chú nhìn vào đĩa ăn và chỉ ngước mắt lên khi người nhà dọn lên một món mới: ông ta lập tức nhận ra miếng nào ngon nhất và đưa mắt dõi theo miếng ấy, trong lúc nó đi quanh bàn tiệc, mãi cho đến khi nó được trút sang đĩa ăn của một người nào đấy. Sau món thứ hai, vị tướng nói chuyện với Tentietnikôp về cuốn sách mà chàng đang soạn, và nhắc đến năm 1812. Tsitsikôp đâm hoảng và lo sợ chờ đợi câu trả lời. Nhưng Tentietnikôp đã khéo léo thoát ra khỏi tình trạng khó xử; chàng phân trần rằng việc soạn lịch sử chiến dịch và lịch sử những nhân vật đã tham gia chiến dịch không phải là việc của mình; vì đã có nhiều sử gia viết về thời đó. Nhưng năm 1812 không phải chỉ đáng ghi nhớ vì những chiến công oanh liệt; phải xét giai đoạn này theo một quan điểm khác kia. Theo ý chàng thì điều quan trọng hơn cả là lúc bấy giờ toàn dân đã nhất tề đứng dậy, muôn người như một, để bảo vệ tổ quốc; là mọi sự suy tính, mọi thủ đoạn bon chen, mọi dục vọng đều phải im hơi lặng tiếng; là tất cả các giai cấp đều ra sức thi thố lòng yêu nước, mỗi tầng lớp đều nô nức dốc hết tài sản cuối cùng và hy sinh tất cả để cứu nước. Đó chính là điều quan trọng nhất trong cuộc chiến tranh này, và cũng là điều mà chàng có ý định miêu tả; cố sức đưa ra ánh sáng mọi chi tiết trong những chiến công vô danh đó, trong những sự hy sinh cao cả nhưng tối tăm đó! Tentietnikôp nói khá dài, và rất nhiệt thành. Bêtrisep hân hoan nghe chàng nói; đây là lần đầu ông được nghe những lời lẽ nồng nhiệt như vậy; một giọt lệ long lanh như một viên kim cương vô giá đọng trên bộ ria mép hoa râm của vị tướng. Ulinka đắm đuối nhìn Tentietnikôp; bao nhiêu tâm trí của nàng dồn hết vào những lời lẽ của chàng; nàng nghe say sưa, ngây ngất như nghe nhạc; nàng yêu Tentietnikôp; nàng tự hào về chàng! Người Tây Ban Nha càng chúi đầu vào đĩa ăn; bà gia sư người Anh đưa mắt ngơ ngác nhìn khắp mọi người, không hiểu lấy được một chữ. Tentietnikôp dứt lời, ai nấy trầm ngâm, xúc động… Tsitsikôp cũng muốn góp chuyện. Y là người đầu tiên lên tiếng phá tan sự im lặng, y nói: “Phải, năm 1812 lạnh ghê người! - Vấn đề không phải ở chỗ lạnh hay ấm”, vị tướng vừa đáp vừa đưa mắt nghiêm nghị nhìn Tsitsikôp, khiến y luống cuống. Vị tướng giơ tay cho Tentietnikôp và ôn tồn cảm ơn chàng; nhưng sự đồng tình mà Tentietnikôp đọc được trong đôi mắt Ulinka cũng đủ cho chàng thấy mình là người có diễm phúc. Câu chuyện các tướng lĩnh bị quên đi. Suốt ngày hôm ấy, mọi người đều thấy vui thích.
Tôi không nhớ các chương sau kế tục nhau theo thứ tự nào; nhưng tôi nhớ rằng sau ngày hôm ấy Ulinka đã quyết định nói chuyện nghiêm trang với bố về Tentietnikôp. Trước cuộc nói chuyện có tính chất quyết định này, một buổi chiều Ulinka ra viếng mộ mẹ, cầu nguyện để củng cố thêm quyết tâm. Rồi nàng đến quỳ xuống dưới chân bố, van xin bố cho phép nàng lấy Tentietnikôp. Sau một thời gian do dự, rốt cục vị tướng cũng thuận. Việc này xảy ra sau cuộc giảng hòa mấy ngày. Thấy việc trăm năm đã quyết định xong, Tentietnikôp lòng đầy hạnh phúc, rời Ulinka một lát và chạy ra vườn. Chàng cần đứng riêng một mình. Hạnh phúc làm cho chàng nghẹt thở… Ở đây Gôgôn có được hai trang trữ tình tuyệt tác. Vào một buổi trưa hè nồng nực, Tentietnikôp đứng trong một khu vườn um tùm râm mát, chìm sâu trong im lặng. Bằng một bút pháp điêu luyện, Gôgôn gợi lên từng cành cây, làn không khí nóng hầm hập như lò lửa, những con dế và những côn trùng khác bò trong đám cỏ, và cuối cùng là những cảm xúc của Tentietnikôp, kẻ đang yêu và được yêu. Đoạn miêu tả này đẹp đẽ, nhiều màu sắc, nên thơ đến nỗi - bây giờ tôi vẫn còn nhớ - tôi nghẹt thở khi nghe Gôgôn đọc; Gôgôn đọc rất hay -Gôgôn nổi tiếng về đọc tác phẩm văn học một cách diễn tình: nguyên thời thanh niên Gôgôn đóng kịch rất giỏi, được các bạn bè công nhận là có “một tài hoa đặc biệt lớn lao” nhất là đóng vai nữ; có người cho là không có một nữ diễn viên nào, dù là ở Mạc-tư-khoa hay Pêterbua, đã đóng được vai Prôxtakôva trong hài kịch Thanh niên quý tộc của Fônvizin đạt như Gôgôn hồi mười sáu tuổi-.
Lòng tràn đầy hạnh phúc, Tentietnikôp khóc, nguyện sẽ hiến cả cuộc đời mình cho người yêu. Vừa lúc ấy Tsitsikôp hiện ra ở cuối lối đi trong vườn. Tentietnikôp ôm chầm lấy y, cảm ơn y. “Ông là ân nhân của tôi. Tôi có được hạnh phúc cũng là nhờ ông; tôi biết làm thế nào để bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với ông?... Cả cuộc đời của tôi cũng chưa chắc đã báo đền được…” Tsitsikôp lập tức nảy ra một ý tài tình: “- Ồ không phải, y đáp, toàn là do tình cờ mà nên cả; và tôi rất lấy làm mừng; nhưng nếu ông muốn trả ơn cho tôi thì dễ lắm. - Thế nào? Trả ơn ông bằng cách nào? Xin ông mau mau cho tôi biết?”. Tsitsikôp liền đưa chuyện ông bác tưởng tượng của y ra, và nói rằng mình cần phải có ba trăm nông phu, ít nhất là trên giấy tờ. “Nhưng tại sao ông lại cần những nông phu đã chết làm gì?” Tentietnikôp chưa hiểu rõ Tsitsikôp muốn gì, nên hỏi lại; đoạn nói tiếp: “Tôi có ba trăm nông phu: tôi sẽ làm giấy bán cho ông cả ba trăm, ông sẽ đưa tờ giao kèo cho ông bác xem, và khi ông ta đã để lại điền trang cho ông, thì chúng ta sẽ hủy nó đi.” Tsitsikôp ngẩn cả người ra. “- Ô kìa! thế ông không sợ tôi lừa… lạm dụng lòng tin cậy của ông hay sao?” Nhưng Tentietnikôp không để cho y nói hết đã kêu lên: “Sao? Tôi mà lại đi ngờ ông, ngờ một người đã đem lại cho tôi một cái còn quý giá hơn cả đời sống!”. Hai người ôm choàng lấy nhau, và công việc giữa đôi bên như vậy là đã thỏa thuận.

Tối hôm ấy, Tsitsikôp đi ngủ với một cõi lòng thanh thản. Hôm sau, vị tướng mở một cuộc hội nghị gia đình. Cần phải báo cho họ hàng biết lễ đính hôn của Ulinka như thế nào đây? Nên gửi thư, phái người nhà đi báo tin, hay thân hành đi lấy? Bêtrisep có vẻ băn khoăn lo lắng về thái độ của công tước phu nhân Yuziakina và những người bà con tai to, mặt lớn khác khi biết tin này. Một lần nữa Tsitsikôp lại tỏ ra mình là một người rất quý; y tình nguyện đi thăm tất cả bà con của vị tướng để báo cho họ biết tin. Lẽ dĩ nhiên, thâm ý của Tsitsikôp vẫn là tìm cơ hội thực hiện âm mưu mua nông phu chết. Đề nghị của y được chấp nhận với những lời cảm ơn nhiệt thành. Vị tướng nghĩ thầm: “- Còn gì hơn nữa? Anh chàng này thông minh, lịch thiệp; mọi người sẽ phải hài lòng”. Để thực hiện chuyến đi này, vị tướng giao cho Tsitsikôp một chiếc xe kiệu hai chỗ ngồi và Tentietnikôp cho y mượn thêm một con ngựa cho đủ bốn. Vài ngày sau Tsitsikôp sẽ lên đường. Từ đấy y được coi như một người bạn của gia đình, một người thân thuộc trong nhà Bêtrisep.

Trở về nhà Tentietnikôp, y lập tức gọi Xêlifan và Pêtruska đến bảo chuẩn bị lên đường. Trong thời gian vừa qua, sống ở nông thôn, Xêlifan đã thay đổi rất nhiều; hắn xoay ra rượu chè và chẳng còn cung cách gì của một anh xà ích nữa; mấy con ngựa bị thả lỏng, không ai trông coi. Còn Pêtruska thì tỏ ra rất trai lơ đối với các thiếu phụ nông dân. Trong khi đó, bên nhà tướng Bêtrisep đã đưa sang một chiếc xe kiệu nhẹ gần như mới tinh… Thấy mình sẽ được ngồi chễm chệ trên một chiếc ghế rộng như chiếc ngai, đánh bốn con ngựa thắng ngang, Xêlifan cảm thấy cái tâm hồn xà ích của mình sống dậy: hắn xem xét tỉ mỉ cỗ xe ra vẻ thành thạo, và đòi người nhà của vị tướng giao những thứ đinh vít dự trữ và những thứ lặc lè gì gì chưa từng thấy đâu có cả. Tsitsikôp cũng khoái trá nghĩ đến chuyến đi: y đã tưởng tượng mình ngồi trên đống đệm êm ru, trong cỗ xe nhẹ mà bốn con ngựa sẽ kéo dễ dàng như kéo một chiếc lông.

Đó là nội dung những đoạn mà tôi đã được nghe Gôgôn đọc trong tập hai của Những linh hồn chết. Theo chỗ tôi biết thì hình như Gôgôn có đọc chín chương cho chị tôi nghe…”


Về phía mình, Xmirvnôva phu nhân có kể lại cho L.J. Arnônđi em trai bà, rằng:
“Trong một chương sau có một nhân vật được miêu tả rất thần tình; đó là một giai nhân sống phúng túng, được xã hội nuông chiều, một người đàn bà ưa làm dáng, suốt thời niên thiếu đã sống ở cung đình và ở nước ngoài. Đến năm ba mươi lăm tuổi, số phận đã dun dủi đưa nàng về thôn quê; nàng buồn chán, đời sống trở thành một gánh nặng. Vừa lúc ấy nàng gặp Platônôp, con người lúc nào cũng buồn chán không nguôi, cũng đã từng phung phí tuổi trẻ trong những phòng khách thời thượng. Gặp nhau ở một nơi hẻo lánh, giữa những con người nhạt nhẽo, vô nghĩa ở xung quanh; hai người cảm thấy cuộc hội ngộ này là một hạnh phúc vô biên. Họ bắt đầu quyến luyến nhau; đây là một cảm xúc mới mẻ đối với cả hai người, nó làm cho họ hồi sinh. Họ say sưa buông mình vào cuộc tình duyên mới. Nhưng một tháng sau khi họ thổ lộ tâm tình lần đầu, cả hai đều nhận thấy rằng đây chỉ là một ngọn lửa rơm, một ý thích nông nổi nhất thời, và họ là những kẻ đã mất khả năng có được một tình yêu thực sự. Rồi sau đó hai người dần dần nhạt tình đối với nhau, và nỗi buồn chán bất tuyệt lại đến với họ; dĩ nhiên là một nỗi buồn chán còn tệ hơn trước kia”.

Theo chú thích trong bản dịch của Mônggô thì hình như qua nhân vật này - "nàng giai nhân phóng túng” - Gôgôn có ý định miêu tả chính Xmirnôva phu nhân.”


 (còn tiếp)


Nguồn: Những linh hồn chết. Tiểu thuyết của Nicolas Vassilievitch Gogol. Hoàng Thiếu Sơn dịch. NXB Văn học in lần đầu 1965, lần 2 năm 1993. Bản điện tử do Soccon nhập liệu/ Chân trời tím.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 18.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 18.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
xem thêm »