tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29841344
Tiểu thuyết
09.07.2013
Nikolai Vasilyevich Gogol
Những linh hồn chết

IV.
Phần thứ hai


Những linh hồn chết đã bị đốt, bởi vì nó phải bị đốt.
Muốn tái sinh thì trước hết phải chết đi đã. Cũng thật khổ tâm cho tôi khi phải đem đốt một công trình đã tốn của tôi năm năm làm việc không tiếc sức; trong đó mỗi dòng đều làm cho tôi bồi hồi xúc động; một tác phẩm trong đó tôi đã để lại tất cả những gì tốt đẹp nhất của mình. Nhưng tôi đã đốt hết, và làm thế vào một giờ phút trông thấy cái chết trước mắt và muốn để lại một kỷ niệm xứng đáng với vong hồn mình hơn.
Tôi cảm tạ Thượng đế đã cho tôi có đủ sức làm như vậy. Ngọn lửa vừa thiêu hủy những tờ cuối cùng của cuốn sách, thì nội dung của nó, một con phượng hoàng -Trong thần thoại, phượng hoàng là con chim sống nhiều thế kỷ giữa sa mạc Ả Rập rồi tự thiêu trên dàn hỏa và tái sinh từ đám tro tàn của mình- mới, bỗng hồi sinh dưới hình dáng tinh khiết, rực rỡ hơn; và tôi nhận ra rằng cái mà trước đây tôi tưởng là một sự hài hòa thật ra chỉ là một mớ hỗn mang. Đem xuất bản phần thứ hai dưới hình thức đó sẽ có hại cho tôi nhiều hơn là có lợi. Kể ra, cũng có thể làm vui lòng một vài người ham chuộng thứ sách như thế, nhưng điều đó có gì quan trọng đâu; người đáng cho tôi quan tâm không phải là họ, mà chính là quần chúng độc giả; tôi viết Những linh hồn chết là viết cho quần chúng độc giả. Miêu tả dăm ba tính cách đẹp đẽ, tiêu biểu cho những đức tính của giống nòi ta, sẽ chẳng đưa lại kết quả nào khác hơn là làm tăng tính khoe khoang và hợm hĩnh của chúng ta. Trong chúng ta, nhất là trong đám thanh niên, có nhiều người quá tâng bốc các đức tính Nga; lẽ ra phải làm cho những đức tính đó phát triển trong bản thân họ, thì họ lại chỉ lo phô trương nó ra và hò hét với châu Âu: “Hỡi những người nước ngoài, hãy nhìn mà xem: chúng tôi tốt hơn các anh đây này!” - Lối hợm mình này rất tai hại. Nó vừa làm cho người khác bực tức, vừa làm cho chính mình thiệt thòi. Tính khoe khoang làm cho những hành vi cao quý nhất cũng thành ra ti tiện. Thế mà giờ đây, dù chưa làm được chút gì, ta đã đi phô trương những kỳ công tương lai của ta! Riêng tôi, tôi thấy thà nhất thời nản chí còn hơn là tự túc, tự mãn. Quả nhiên, khi nản chí, con người ta đi tới chỗ thấy rõ sự ti tiện của mình, cái trống không của mình, và dù muốn, dù không, cũng phải nhớ đến Thượng đế là đấng sáng tạo ra mọi vật, từ chỗ hư vô; trái lại, nếu tự mãn, con người sẽ tự mình trốn tránh mình để hiến thân cho quỷ Xa tăng, cha đẻ của lòng kiêu ngạo, thường làm cho con người lóa mắt vì ánh hào quang giả dối của những đức tính mà họ tưởng là mình có. Có những thời mà người ta chỉ có thể hướng một xã hội hay cả một thế hệ về cái thiện bằng cách cho nó thấy hết sự bỉ ổi của nó; có những thời mà cách tốt nhất để nói đến cái mỹ, cái thiện là vạch rõ ngay ra một cách thật rõ ràng một con đường đưa mỗi người đến được cái mỹ, cái thiện. Có lẽ đúng ra việc đó phải làm thành cốt tủy của phần thứ hai Những linh hồn chết, nhưng trong phần này, cái đó lại quá mờ nhạt; chính vì thế mà tôi đã đốt nó đi… Anh đừng phê phán; anh đừng kết luận; anh sẽ nhầm như một số bạn tôi; vì muốn xem tôi là nhà văn lý tưởng đúng như họ quan niệm, nên đòi hỏi tôi phải đáp ứng cái lý tưởng đó. Khi sáng tạo ra tôi. Thượng đế chẳng hề giấu không cho tôi biết sứ mệnh của tôi. Tôi sinh ra không phải để mở đầu một thời đại trong văn học, mà để làm tròn một nhiệm vụ đơn giản hơn, quen thuộc hơn, một nhiệm vụ mà mỗi người trong chúng ta đều phải nghĩ đến, chứ không riêng gì tôi. Lĩnh vực của tôi là tâm hồn, là việc nghiên cứu cuộc đời một cách nghiêm túc. Cho nên tôi phải hành động thong thả và trù tính chuyện lâu dài. Người khác cứ việc mà vội vã; tôi thì tôi không cần. Khi cần, tôi đốt đi, và chắc hẳn tôi làm như vậy là phải; vì tôi không tiến hành một việc gì mà không cầu nguyện. Anh sợ sức khỏe của tôi kém quá không cho phép tôi viết phần thứ hai. Nói cho đúng, sức khỏe của tôi quả cũng đã khá suy rồi; đôi khi cơn bệnh làm tôi đau đớn đến nỗi, giá không có sự phù trợ của Chúa, thì tôi đã không tài nào chịu nổi. Tôi đã kiệt sức và ngoài ra, tôi nhát lạnh đến nỗi sưởi mấy cũng không thấy ấm; lẽ ra phải cử động nhiều, nhưng tôi không đủ sức. Chật vật lắm tôi mới làm việc được mỗi ngày một tiếng, mà công việc không phải bao giờ cũng có kết quả. Nhưng tôi không hề mất hy vọng. Đấng đã dùng sự phiền não, những bệnh tật, những trở ngại đủ thứ để thôi thúc sự nảy nở trong con người tôi những năng lực và những tư tưởng mà không có, thì tôi không thể nào soạn nổi tác phẩm này. Đấng đã giúp cho tôi viết xong hơn một nửa tác phẩm đó, chắc chắn sẽ cho tôi đủ sức hoàn thành đến cùng. Trong khi thể xác tôi suy vi, thì tinh thần tôi càng ngày càng vững mạnh; mà tinh thần mạnh thì rồi thể xác cũng sẽ mạnh theo. Tôi nghĩ rằng khi đã đến lúc thì chỉ trong vài tuần là tôi sẽ hoàn thành cái công trình đã tốn của tôi những năm năm đau khổ.
1846

PHẦN II - Chương thứ nhất
Hơi đâu mà cứ miêu tả mãi cảnh sinh hoạt nghèo nàn và thấp kém của dân ta, đào bới những nhân vật này nọ ra từ những xó xỉnh hẻo lánh, từ những nơi thâm sơn, cùng cốc? Biết làm thế nào được nếu bản tính tác giả vốn dĩ như vậy, và vì tác giả có ý thức bệnh hoạn về sự kém cỏi của mình, cho nên không dám miêu tả gì hơn là những khía cạnh đáng buồn của cuộc đời và những con người sống ở tỉnh xép như một cái hang? Và đây, chúng ta lại ghé vào một xó xỉnh hẻo lánh, chúng ta lại gặp một nơi thâm sơn, cùng cốc rồi. Nhưng xó này, nơi này cũng mới đáng chú ý làm sao!

Như bức trường thành đồ sộ của một đồn lũy khổng lồ có nhiều góc nhọn, có cửa để súng, một dãy đồi chạy ngoằn ngoèo kéo dài trên nghìn dặm. Nó oai nghiêm mọc lên, sừng sững trên những cánh đồng bao la, khi thì là một sườn núi thẳng đứng bằng đá vôi pha sét, chằng chịt những lỗ khoét và những hố đào; khi thì lại là một quả đồi cỏ xanh ngoạn mục, phủ những bụi cây rậm như một lớp lông cừu; lại có khi đó là những khu rừng sum suê do một sự may mắn kỳ dị nào đã thoát khỏi những nhát rìu của tiều phu. Đôi khi một dòng sông men theo chân dãy đồi, uốn khúc theo từng chặng lồi lõm, hoặc lảng xa ra phía các đồng cỏ, lượn quanh một lúc, rồi mất hút trong các khóm cây trăn, cây bạch dương, cây hoàn diệp liễu; đoạn đắc thắng thoát ra cùng với những cầu, những cối xay nước, những đập, có vẻ như cùng chạy trốn với sông qua những đoạn rẽ ngoặt.

Ở một nơi nào đấy, trên sườn đồi dốc đứng, cây cối xanh tươi lại càng thêm rậm rạp. Nhờ có tay người trồng trọt thêm và do sự chênh lệch về độ cao, các loài thực vật phương Bắc và phương Nam đã tập hợp lại cùng một chỗ. Cây sồi, cây thông, cây lê dại, cây bạch dương, cây anh đào, cây mận hoang, cây kim tước, cây thanh lương trà chéo cành với cây hốt bố, khi thì nâng đỡ nhau cùng lớn, khi thì lại lấn át lẫn nhau, mọc khắp sườn đồi từ trên xuống dưới. Trên đỉnh đồi, giữa các ngọn cây xanh um, hiện ra những công trình kiến trúc phía trên của một dinh cơ: những chiếc mái đỏ của nhà gia nhân, nóc của những izba lẫn ở đằng sau, tầng gác thượng được trang hoàng một cái bao lơn chạm trổ và một khung cửa sổ lớn phía trên xây hình bán nguyệt. Nổi hẳn lên trên đám cây cối và các mái nhà ấy là một ngôi nhà thờ cũ kỹ, mộc mạc và năm cái nóc củ hành thiếp vàng đều óng ánh lên. Trên mỗi nóc đều có một chiếc thập tự bằng vàng chạm thủng, buộc bằng những sợi xích vàng, đứng xa mà nhìn có thể ngỡ là những đồng tiền vàng lấp lánh treo lơ lửng trên không. Ngọn cây, mái nhà, thánh giá đều duyên dáng hắt ngược hình bóng xuống dòng sông; mấy cây thùy dương thân rỗng và quặt quẹo; cây thì mọc trên bờ, cây thì lẩn lá cành vào những đám bọt đá nhầy nhụa nổi lên lều bều giữa mấy khóm sen vàng, như đang chiêm ngưỡng bức tranh thần diệu ấy.

Đứng trên bao lơn mà ngắm, phong cảnh còn đẹp gấp bội và chẳng ai là người có thể dửng dưng được. Khách kinh ngạc đến nghẹn thở; họ chỉ có thể kêu lên: “Trời ơi, cảnh đẹp quá!” - Tầm mắt bao quát những khoảng không vô tận; bên kia các cánh đồng cỏ lác đác điểm những khóm cây và những cối xay, có mấy khu rừng phô màu xanh biếc; xa hơn nữa, qua làn không khí đã mờ hơi sương, thấp thoáng những dải cát vàng; rồi lại những khu rừng, nhưng lần này lại là màu lam mờ như màu biển hay như một làn sương mù xa xa, rồi lại đến những dải cát màu vàng nhạt. Tận cuối chân trời, dựng lên những đỉnh đồi đá vôi dù trời xấu vẫn giữ một màu trắng muốt, tưởng chừng vĩnh viễn tắm mình trong một ánh nắng không bao giờ tắt. Trên cái nền sáng loáng ấy, thấp thoáng những vết nho nhỏ màu lam tối. Đó là những khóm làng xa xa; nhưng mắt không còn trông thấy rõ được nữa. Chỉ thấy cái tháp mạ vàng của giáo đường đang lung linh trong nắng, cho hay rằng nơi ấy có một thị trấn khá lớn. Trên khắp cảnh vật ấy là một sự tĩnh mịch thâm ảo, mà ngay đến tiếng hót khe khẽ chỉ vừa đủ nghe của mấy con chim, gần như mất hút trong không gian, cũng không hề phá rối. Tóm lại là sau hai giờ ngắm cảnh trên bao lơn, khách chỉ còn biết thốt lên: “- Trời ơi, cảnh đẹp quá!”

Thế thì ai là kẻ cư trú trong cái dinh cơ tựa hồ một pháo đài kiên cố, chỉ có thể đi vào bằng phía đối diện với phía chúng ta vừa tả này? Phía ấy, những cây sồi rải rác, thân mật chào đón khách đến thăm, những cành lá sum xuê vươn ra như để ôm lấy khách; chúng đưa chân khách cho đến tận tòa nhà ở mà chúng ta vừa ngắm phần trên từ phía sau. Bấy giờ tòa nhà sừng sững trước mặt ta; một bên là dãy nhà gỗ của nông dân với những đầu hồi chạm trổ, bên kia là ngôi nhà thờ với những cây thánh giá và những sợi dây chuyền bằng vàng lấp lánh. Ai là kẻ có diễm phúc có được quyền sở hữu nơi cư trú này? Đó là một trang chủ ở huyện Trêmalkhan tên là Anđrêi Ivannôvits Tentietnikôp, ba mươi ba tuổi, chưa vợ. Nhân vật này ra sao, tính khí thế nào? Thưa các nữ độc giả, xin cứ hỏi các bạn láng giềng của chàng thì rõ.

Một trong những ông bạn láng giềng đó, thuộc cái hạng sĩ quan cao cấp về hưu, vui nhộn và láu lỉnh mà nay đã có chiều muốn tuyệt diệt; thường nói về chàng như sau: - Một thằng súc sinh thực sự!

Một viên tướng ở cách đấy mười dặm nói: - Cái anh chàng ấy không đến nỗi ngu, nhưng hắn lắm tham vọng quá. Giá hắn cậy tôi thì hơn, tôi không thiếu gì vây cánh ở Pêterbua, và ngay ở… - viên tướng không nói hết câu.

Viên đại úy quận trưởng cảnh sát thì trả lời như sau: - Cấp bậc của hắn xoàng xĩnh lắm; mai ta phải đến truy thu số thuế mới được!

Thật vô tư mà nói thì chàng ta chẳng phải là người ác, chỉ có điều là một người mộng tưởng viển vông. Trên đời này không thiếu gì những kẻ sống lay lắt như thế; vậy thì tại sao mà Tentietnikôp lại không sống như thế? Vả chăng, đây cứ xin kể hú họa một ngày của chàng làm dẫn chứng; như thế bạn đọc sẽ có thể đánh giá được tình hình chàng và đoán xem sinh hoạt của chàng có xứng với những quang cảnh mỹ lệ bao quanh chàng không.

Buổi sáng chàng thức giấc khá muộn. Chàng ngồi dậy và bắt đầu dụi mắt. Vì chẳng may mắt chàng nhỏ, cho nên thủ thuật này kéo dài khá lâu; trong khi đó, anh đày tớ Mikhailô đứng đợi ở ngoài cửa với một thùng nước và một chiếc khăn mặt. Cái anh Mikhailô tội nghiệp ấy đứng như thế một giờ, hai giờ, đi một vòng ra sau bếp; và khi anh trở lại, ông chủ vẫn còn ngồi dụi mắt như cũ. Mãi sau, Tentietnikôp mới đứng dậy, rửa mặt và mặc áo choàng ngủ ra phòng khách dùng trà, cà phê, ca cao và cả sữa tươi còn nóng nữa; chàng nhấm nháp mỗi thứ một tí, bẻ vụn bánh mỳ ra một cách không thương tiếc và làm tàn thuốc lá trong chiếc tẩu bắn tung tóe khắp nhà. Hai giờ trôi qua như thế. Chưa hài lòng, chàng rót cho mình một tách trà nguội nữa, đến ngồi ở khung cửa sổ trông ra sân mà uống; và ngày nào cũng chứng kiến cái cảnh sau đây.

Grigôri, anh người nhà giữ nhiệm vụ trông coi đồ gia dụng, quát bà quản gia Perfiliepna, lời lẽ đại khái như sau:
- Mụ có im đi không, đồ ăn cắp, đồ mặt dầy!
- Gớm chửa! “Đồ mặt dầy”; tức thị Perfiliepna, bĩu môi, quát lại. Bà ta là người cung cách thô lỗ; tuy rất ham nho khô, mứt quả và các thứ của ngọt khác mà bà cất trong buồng khóa kỹ.
- Mụ lại còn gây chuyện cả với bác quản lý nữa, đồ ăn hại! Grigôri hét lên.
- Lão quản lý cũng một phường trộm cắp như mày. Mày tưởng ông chủ không biết tỏng bụng dạ chúng mày phỏng? Ông kia kìa, ông nghe rõ hết.
- Ông ở đâu nào?
- Ông ngồi bên cửa sổ kia kìa, ông trông thấy hết.

Quả nhiên, ông chủ đang ngồi bên cửa sổ và trông thấy hết.

Để tăng thêm cảnh huyên náo, một thằng nhóc bị mẹ đét vào mông gân cổ lên gào; một con chó borzôi ngồi xổm dưới đất tru tréo lên vì bị anh đầu bếp hắt nước sôi phải. Nói tóm lại, thật là một cảnh ầm ĩ khủng khiếp, không sao chịu nổi. Ông chủ nghe và thấy hết. Và mãi cho đến khi tiếng ồn ào quấy rầy đến mức có thể xúc phạm đến phút rỗi rãi êm đềm của chàng, chàng mới cho người ra bảo họ chịu khó làm ồn in ít một chút.

Hai giờ trước bữa ăn trưa, chàng lui về phòng giấy để chăm chỉ tiếp tục một công trình nghiên cứu bao quát toàn thể nước Nga về mọi phương diện: công dân, chính trị, tôn giáo, triết học; xác định cái tương lai vĩ đại của nước Nga, giải quyết những vấn đề thời sự khó khăn; tất cả những việc ấy đều làm với cái cung cách và dưới cái hình thức mà những người sống cùng thời với chúng ta vẫn ưa chuộng. Vả chăng cái công trình vĩ đại này hãy còn ở tình trạng dự định mà thôi. Tentietnikôp gặm bút, vẽ hình này hình nọ lên giấy, rồi bút lẫn giấy đều bị gạt sang một bên, nhường chỗ cho một cuốn sách mà Tentietnikôp đọc mãi cho đến bữa ăn trưa, không rời tay. Chàng đọc trong khi người nhà dọn xúp, dọn món khai vị, món rô ti và ngay cả món tráng miệng cũng thế; thành thử có mấy món bị để nguội và có mấy món dọn ra thế nào thì khi bưng đi vẫn còn nguyên thế ấy. Rồi đến tách cà phê và chiếc tẩu, bàn cờ tướng đánh một mình. Sau đó chàng làm những gì trước khi ăn tối? Tôi cũng khó lòng mà nói được; nhưng tôi có cảm tưởng là chẳng làm gì sốt.

Đó là cách tiêu dao ngày tháng của một thanh niên ba mươi ba tuổi, sống trong cảnh cô độc hoàn toàn. Không hề bước chân ra khỏi nhà, mình mặc áo choàng ngủ, không cà vạt. Chàng không đi dạo, cũng chẳng buồn lên gác hai, chẳng buồn mở cửa sổ cho thoáng; và cái phong cảnh tráng lệ vốn chẳng để ai có thể dửng dưng kia, dường như không hề tồn tại đối với chủ nhân. Như ta đều thấy, Ađrêi Ivannôvits Tentietnikôp thuộc một hạng người đang sắp tuyệt diệt ở Nga. Trước kia, người ta gọi họ là cốc đế, là cù lì; nhưng ngày nay thì tôi chẳng biết gọi là gì. Những tính cách ấy có phải thiên bẩm không, hay đã sinh ra do những hoàn cảnh đáng buồn thường đã nhào nặn con người một cách thật là phũ phàng. Thôi, hẵng khoan trả lời một cách thật là phũ phàng. Thôi, hẵng khoan trả lời câu hỏi đó đã; tốt hơn là hãy kể lại thời thơ ấu và quá trình ăn học của chàng -Gôgôn rất quan tâm đến vấn đề giáo dục và đã hai lần làm nghề dạy học: năm 1831 làm giáo sư sử học ở Học viện ái quốc cho nữ sinh, năm 1834 làm phụ giảng môn lịch sử Trung cổ thế giới ở trường Đại học Pêterbua-.

Hình như mọi việc đều góp sức làm cho chàng nên người. Hồi mới mười hai tuổi, chàng là một cậu bé nhanh trí, vừa mơ mộng, vừa ốm yếu, được gửi vào một trường học do một con người xuất chúng điều khiển. Là một thần tượng của giới thanh niên, là mẫu mực của các nhà mô phạm, ông Alexanđr Pêtrôvits vô giá ấy, vốn có cái tài thấu hiểu được bản chất con người. Ông ta am hiểu tính cách Nga và tâm hồn trẻ biết chừng nào! Ông ta biết khích lệ chúng tài tình làm sao! Không có một ông tướng nghịch nào mà sau khi làm điều dại dột là không đến thú hết tội với ông. Hơn nữa, gặp ông xong, chúng ra về lòng tràn đầy phấn khởi, chỉ mong lập công chuộc tội. Ngay đến những lời quở trách của Alexanđr Pêtrôvits cũng có một cái gì khích lệ lòng người; ông ta gọi tham vọng là động cơ của các năng khiếu, cho nên ông cố gắng kích thích nó. Với ông ta thì đừng nói chuyện hạnh kiểm làm gì, ông ta thường nói:
“- Tôi đòi hỏi trí thông minh, chứ không cần gì khác. Ai mơ ước làm người thông minh thì không có thì giờ làm điều ngu xuẩn; những việc ngu xuẩn phải tự mất đi”.
Quả đúng như thế. Đứa trẻ nào không cố gắng tự sửa chữa thì sẽ bị bạn bè khinh rẻ. Những đứa ngu dốt và đần độn phải chịu nhận những biệt hiệu hết sức nhục nhã mà các bạn ít tuổi nhất đặt cho, không dám động đến lỗ chân lông của chúng.
- Ông làm thế khí quá đấy! - Có nhiều người bắt bẻ - những đứa có thiên tư rồi trở nên láo xược mất.
- Không đâu, ông đáp; tôi không giữ lâu những đứa trẻ không có thiên tư, chúng chỉ cần theo một lớp là đủ; còn đối với bọn học trò giỏi, tôi có một lớp bổ túc.

Thật vậy, tất cả các trẻ có thiên tư đều theo lớp này. Mọi ý nghĩ của chúng, dù nhỏ nhặt đến đâu, ông cũng đều biết rõ; ông có vẻ như chẳng trông thấy gì hết; nhưng tựa hồ một pháp sư nấp trong một chỗ ẩn bí mật, ông quan sát những năng khiếu và thiên hướng của chúng. Có khá nhiều hành động láu táu không bị ông trấn áp, vì ông cho đó là mầm mống của những đức tính đang phát triển; nhưng ông nói rằng ông cần đến những hành động ấy cũng như người thầy thuốc cần đến một mụn lở, để biết đúng bên trong của con người.

Các học sinh mới quý ông làm sao! Không, thật không bao giờ trẻ lại quyến luyến cha mẹ chúng đến thế! Không, ngay trong những năm phóng đãng điên cuồng, cũng không thể có được một tình cảm bồng bột như tình cảm ông gây nên trong lòng học sinh! Cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, cứ hàng năm, người học trò sẽ nâng cốc tưởng niệm ngày giỗ của ông thầy vô song đó, con người đã từ lâu nằm dưới đáy mộ… họ sẽ nhắm mắt lại và nhớ tiếc hương hồn thầy… Mỗi lời khích lệ nhỏ nhặt nhất của thầy cũng khiến lòng họ vui mừng xúc động, những muốn vượt hết các bạn bè.

Ông ta cho rằng có rất nhiều tri thức vô ích và có thể cản trở sự phát triển nội tại của trí thông minh. Ngược lại, ông dành rất nhiều thì giờ cho những công việc tay chân ở ngoài trời, nhằm tôi luyện cho thân thể cường tráng.

Những trẻ ít năng khiếu không học với ông được bao lâu; ông có một khóa học tắt cho chúng; nhưng những đứa khác thì phải theo một chương trình nặng gấp đôi. Và khóa học cuối cùng dành cho học sinh ưu tú chẳng có chút gì giống với các tổ chức tương tự. Chỉ ở lớp này ông mới đòi hỏi ở học sinh tất cả những điều mà một số người khác vẫn nhất loạt đòi hỏi ở trẻ em, không hề suy xét; cái trí tuệ siêu quần không bao giờ thèm chế nhạo, nhưng lại biết chịu đựng những lời chế nhạo, biết tỏ ra khoan dung đối với bọn ngu ngốc. Không nổi cáu, không bao giờ trả thù, mà luôn giữ thái độ điềm tĩnh đầy tự hào của một tâm hồn bình thản, ông vận dụng tất cả những gì có thể làm cho học trò ông có được tính trượng phu, và không ngớt làm những cuộc thí nghiệm với họ. Chao ôi! Ông ta am hiểu khoa học và cuộc đời biết chừng nào!

Số giáo viên làm việc với ông rất ít, và phần nhiều các môn học đều do ông dạy lấy. Không dùng những từ ngữ cầu kỳ, không đưa ra những lời biện luận khoa trương; ông biết cách truyền đạt cái linh hồn của một ngành khoa học và làm cho các học viên, dù nhỏ tuổi cũng hiểu được sự bổ ích của nó. Vả chăng ông chỉ dạy những khoa học có thể đào tạo được những người công dân. Một phần lớn các buổi học của ông dành để kể cho học trò nghe những gì đang đợi họ khi họ rời ghế nhà trường; ông mô tả sự nghiệp tương lai của họ một cách hay ho đến nỗi chưa chi họ đã tưởng tượng thấy mình đang sống trong sự nghiệp đó. Ông không che giấu gì hết. Ông trình bày hết sức thẳng thắn những nỗi thất vọng, những trở ngại, những sự cám dỗ, những cạm bẫy đang mai phục họ. Ông biết rõ hết, và có thể tưởng chừng như ông đã trải qua đủ các nghề nghiệp, đủ các chức vụ. Không biết có phải vì một tham vọng sớm nẩy nở, hay vì ngay đôi mắt của nhà giáo dục vô song ấy cũng như đang nói với các thính giả: Tiến lên! Một câu nói quen thuộc đối với người Nga và có khả năng thực hiện những điều kỳ diệu trong cái tâm hồn nhạy cảm của họ? Dù thế nào chăng nữa, thì ngay từ những bước đầu trên con đường sự nghiệp, các môn đệ của ông đều chỉ xăm xăm tìm những sự khó khăn, nóng lòng muốn ra tay hành động ở nơi nào đầy những trở ngại, ở nơi nào cần tỏ rõ một chí khí phi thường. Học trò của ông đào tạo rất ít; nhưng toàn là những nhân cách có thể chịu đựng mọi thử thách. Ở những chức vụ bấp bênh nhất, họ cũng giữ vững được tiết tháo; trong khi những kẻ khác có tư chất hơn, lại nản chí, buông xuôi tất cả, vì những trở ngại vụn vặt, hoặc giả rơi vào trạng thái dửng dưng, lười biếng, trở thành mồi ngon của bọn bịp bợm và bọn ăn hối lộ. Còn như họ thì vẫn không hề nao núng; được những khó khăn tôi luyện, họ có ảnh hưởng mạnh mẽ ngay cả đối với những kẻ có tâm địa xấu xa nhất.

Ông thầy lỗi lạc ấy đã khiến Anđrêi Ivannôvits phải hân hoan, sùng mộ biết nhường nào! Chỉ nghĩ rằng mình có thể được theo học lớp cao nhất thôi, quả tim đầy nhiệt huyết của cậu bé giàu tham vọng đã đập rộn ràng; cho nên năm mười sáu tuổi, khi đã vượt qua chúng bạn và được xét là xứng đáng được nhận vào lớp này, Tentietnikôp không dám tin rằng mình lại có cái diễm phúc đó. Liệu có thể tìm đâu ra một người giáo dục hơn thế cho chàng thiếu niên của chúng ta? Thế nhưng đến khi chàng được thấy ước vọng tha thiết nhất của mình sắp thành sự thực, thì nhà giáo dục vô song kia - người mà chỉ cần khen một câu chàng cũng đã bồi hồi xúc động - lại lâm bệnh và ít lâu sau thì qua đời. Anđrêi Ivannôvits chết điếng đi được. Thật là một tổn thất kinh khủng, tổn thất đầu tiên trong đời Anđrêi Ivannôvits.

Trong trường mọi sự đều thay đổi. Kẻ kế tục Alexanđr Pêtrôvits là một ông Fiôđô Ivannôvits nào đấy, một người phúc hậu và nhiệt thành, nhưng đầu óc đầy những tư tưởng khác hẳn. Thoạt tiên ông ta ấn định ra những quy tắc bề ngoài, bắt các học sinh tuyệt đối im lặng và lúc nào cũng phải đi từng đôi một; ông ta thân hành đo khoảng cách giữa từng đôi. Khi ngồi ăn, ông ta xếp học sinh ngồi theo vóc người cao thấp, chứ không phải theo mức độ thông minh; thành thử những miếng ngon, miếng bổ đều được dành cho bọn dốt đặc; còn các học sinh ưu tú thì chỉ được gặm xương. Những việc đó gây nên những tiếng xì xào bất mãn, nhất là khi ông giám đốc mới, như để thách thức người cũ, tuyên bố rằng dưới ánh mắt ông ta thì trí thông minh và những bước tiến trong học tập không đáng kể, rằng ông ta chỉ coi trọng hạnh kiểm mà thôi, rằng nếu có một học sinh nào học dốt nhưng hạnh kiểm tốt, thì ông còn thích hơn là một học sinh có thiên tư xuất chúng. Nhưng Fiôđô Ivannôvits không làm cho học sinh có hạnh kiểm tốt được. Bọn trẻ bắt đầu nghịch ngầm. Ban ngày thì nề nếp đâu đấy, nhưng đêm đến là nghịch vỡ trời.

Trong lớp cao nhất, mọi thứ cũng đều bị ông ta đảo lộn lên cả. Với những ý định rất tốt, ông ta đưa vào một mớ những cải cách tai hại. Ông ta mời thêm thầy giáo có những tư tưởng và quan niệm mới. Họ trút tới tấp lên đầu thính giả cả một mớ danh từ lạ tai, họ tỏ ra thông hiểu những học thuyết mới mẻ nhất, trình bày những học thuyết ấy một cách rất minh xác và nhiệt thành; nhưng hỡi ôi! Khoa học của họ thiếu hẳn sự sống và vẫn chỉ là một mớ từ ngữ chết. Nói tóm lại, mọi việc đều rối tung lên. Lòng tôn kính không còn nữa; người ta bắt đầu giễu cợt các giáo sư, gọi ông giám đốc là ma bùn. Sự lăng loàn vượt ra ngoài phạm vi trẻ con; đã xảy ra những chuyện xấu xa khiến người ta phải đuổi một số học sinh rất đông. Hai năm sau, không còn nhận ra nhà trường được nữa.

Anđrêi Ivannôvits tính vốn hiền lành. Chàng không bị thu hút vào những cuộc truy hoan ban đêm của các bạn, đã từng gạ gẫm một thiếu phụ ngay dưới cửa sổ của ông giám đốc; cũng không bị lôi cuốn theo những lời báng bổ mà họ dùng để giễu cợt tôn giáo, chỉ vì ông linh mục thường đến làm lễ không được thông minh cho lắm. Không, linh hồn Anđrêi Ivannôvits, dù chưa được thức tỉnh, cũng cảm biết được cái cội nguồn thiên giới của nó. Duy có điều là chàng nản chí. Tham vọng của chàng đã được kích thích, nhưng không tìm được lối thoát trong một sự nghiệp nào; giá đừng có thức tỉnh cái tham vọng ấy còn hơn. Chàng nghe các giáo sư hăng hái thuyết lý trên bục và hồi tưởng đến ông thầy cũ vốn không hề mất sự điều độ, mà biết nói năng một cách dễ hiểu. Chàng phải hấp thụ bao nhiêu môn học! Y học, hóa học, triết học, luật học và môn sử thế giới được giảng với một quy mô rộng lớn đến nỗi trong ba năm mà giáo sư chỉ mới giảng xong phần dẫn luận, và trình bày quá trình phát triển của các công xã trong một số thành phố Đức -Gôgôn rất thiết tha với sử học; đầu những năm 30, Gôgôn dự định viết một bộ lịch sử thế giới, vì theo lời nhà văn “Không những ở Nga, mà ngay cả ở châu Âu nữa, cũng chưa có một hình thức lịch sử thế giới nào chân chính”. Dạy lịch sử thế giới ở trường Đại học Pêterbua, Gôgôn gặp ban giám đốc trường không cùng quan điểm với mình; nên mới một năm đã từ giã ngành sử học cũng như nghề dạy học-.
Có trời biết được chàng đã phải ngốn những gì! Nhưng tất cả những thứ đó có còn lại trong đầu chàng cũng chỉ là những mảnh vụn chẳng thành hình dạng gì cả. Nhờ có tư chất thông minh, chàng cảm thấy rằng lẽ ra không nên giảng dạy như thế; nhưng chàng cũng không hiểu rõ cho lắm thế nào mới là phương pháp giảng dạy tốt. Chàng thường hay nhớ lại Anđrêi Ivannôvits và thấy lòng buồn rười rượi, đến nỗi không biết trốn vào đâu cho khuây khỏa. Nhưng tương lai thuộc về chàng, và chỉ riêng điều đó thôi cũng đủ đem lại hạnh phúc cho tuổi thanh xuân của chàng rồi. Càng gần đến ngày mãn khóa, lòng Anđrêi Ivannôvits càng xao xuyến. Chàng tự nhủ: “- Đây chưa phải là cuộc đời, đây chỉ là bước chuẩn bị; cuộc đời thực sự sẽ bắt đầu từ khi nào ta phụng sự Quốc gia; và đến lúc ấy ta sẽ có dịp tỏ ra xuất sắc”.

Anđrêi Ivannôvits không buồn đoái nhìn đến cái phong cảnh vẫn khiến cho khách đến đây đều phải bàng hoàng, ngây ngất; thậm chí chàng cũng không nghiêng mình trước mộ hai cụ thân sinh. Cũng như tất cả những kẻ giầu tham vọng khác, chàng lập tức đi Pêterbua, nơi mà, như ai nấy đều biết, giới thanh niên đầy nhiệt huyết của chúng ta, từ khắp các nơi trên nước Nga, đổ xô về để phụng sự, để tìm công danh, để xô đẩy, chen lấn nhau, hay chẳng qua chỉ để có được một lớp sơn hào nhoáng của cái vốn lịch duyệt kia, cái thứ lịch duyệt nhạt nhẽo, dối trá, lạnh lùng như băng giá. Nhưng ngay từ đầu, khát vọng nhiệt thành của Anđrêi Ivannôvits đã bị ông chú là Ônufri Ivannôvits, tư vấn quốc gia thực thụ -Chức quan văn bậc thứ tư, ngang hàng với chức thiếu tướng- dội cho một gáo nước lạnh. Ông chú nọ tuyên bố rằng cái chính là chữ phải viết cho tốt, bằng không thì đừng hòng làm bộ trưởng hay chính khách gì cả. Chật vật lắm, nhờ có sự che chở của ông chú, rốt cục chàng thanh niên mới kiếm được chỗ làm trong một bộ. Người ta đưa Anđrêi Ivannôvits vào một gian phòng lộng lẫy sàn gỗ đánh xi, bàn giấy sơn bóng lộ, chắc là nơi các vị đại thần trong triều ngồi tham nghị; nhưng liền lúc ấy Anđrêi Ivannôvits trông thấy một đoàn người ăn mặc trang nhã đang nghiêng đầu viết hí hoáy, bút lông ngỗng kêu xoèn xoẹt; và khi người ta đưa người mới nhận việc đến một cái bàn, bảo chép - cứ như là cố ý vậy - một tờ giấy chẳng có chút gì quan trọng (một tờ công văn về một khoản tiền ba rúp, trao đi gửi lại đã sáu tháng rồi), thì một cảm giác lạ lùng tràn vào lòng người công chức trẻ tuổi. Chàng ngỡ mình đang ngồi trong một nhà trường, tiếp tục học lại; vì một lỗi lầm gì đấy, người ta đã bắt chàng tụt một lớp. Những nhân vật ngồi xung quanh, Anđrêi Ivannôvits thấy giống như những cậu học trò! Để cho sự giống nhau được trọn vẹn, có một vài người đút một quyển tiểu thuyết dịch ngu xuẩn nào đó vào giữa các tờ công văn để đọc trộm, bề ngoài làm ra vẻ như đang mải mê làm việc; và hễ ông thủ trưởng xuất hiện, lại giật mình đánh thót một cái. Tất cả những cái đó gây nên trong lòng Anđrêi Ivannôvits một ấn tượng thật là kỳ quặc, chàng cảm thấy những việc làm trước kia của mình nghiêm túc hơn thế, và công việc chuẩn bị cho cuộc đời công chức còn thú vị hơn chính cuộc đời công chức -Đây có lẽ là cảm tưởng thực sự của Gôgôn, thuở đi làm công chức ở bộ Thái ấp-. Chàng đâm ra tiếc trường học. Hình ảnh Anđrêi Ivannôvits bỗng hiện lên trước mặt chàng, như lúc sinh thời; và chàng chật vật lắm mới nén nổi nước mắt. Căn phòng, lũ công chức, bàn ghế, mọi vật đều quay cuồng trước mắt chàng; chàng suýt ngất đi - “Không, - chàng nghĩ thầm khi đã trấn tĩnh lại - ta sẽ bắt tay vào làm việc, mặc dầu lúc đầu công việc có vẻ vụn vặt đến đâu cũng mặc!”. Chàng bèn thu hết nghị lực, quyết làm nhiệm vụ như mọi người.
Nơi nào mà chẳng có những cái thú riêng? Ngay ở Pêterbua cũng có thể tìm thấy, mặc dầu cái vẻ khắc khổ và tù mù của thành phố này. Trời băng giá đến nứt nẻ cả mặt đường ra; bão tuyết, nàng con gái thực sự của phương Bắc, đang hoành hành dữ dội, quất vào lề đường, làm cho khách qua đường tối tăm mặt mũi, rắc bột lên cổ áo bông, lên các bộ ria của người, lên những cái mõm xù lông của vật. Nhưng qua những bông tuyết quay cuồng, vẫn có một ánh đèn niềm nở chiếu sáng trên một gác tư nào đấy, trong một căn buồng ấm cũng thắp mấy ngọn nến giản dị. Trong khi xamôva sôi khe khẽ, một câu chuyện rôm rả làm ấm lòng người; người ta đem đọc một đoạn ưu tú nào đấy của một trong những nhà thơ giàu cảm hứng mà Thượng đế ban cho nước Nga; và tâm hồn trẻ trung của người thiếu niên cũng rung lên với một niềm hân hoan chẳng khác gì dưới ánh nắng tươi vui của miền Nam ấm áp -Đây là một kỷ niệm của những ngày Gôgôn mới đến Pêterbua.

Chẳng bao lâu Tentietnikôp đã làm quen được với chức vụ; nhưng trái với những dự tính ban đầu của chàng, nhiệm vụ đó cũng không trở thành mục đích chủ yếu của đời chàng. Cái chức vụ đó giúp chàng phân phối thì giờ và làm cho chàng thưởng thức những giờ phút rỗi rãi được trọn vẹn hơn. Ông tư vấn quốc gia đã bắt đầu tự nhủ rằng thằng cháu mình có thớ làm nên đây, thì Anđrêi Ivannôvits bỗng phạm sai lầm. Trong số các bạn bè của Anđrêi Ivannôvits - số đó cũng khá đông - có hai kẻ thuộc các hạng mà người ta thường gọi là những đầu óc cay cú. Những con người bất an một cách kỳ quặc ấy không sao thản nhiên trước những cảnh bất công đã đành, mà ngay trước những gì họ thấy có vẻ bất công cũng vậy; tính vốn trung hậu, nhưng hành động thì lại lộn xộn, họ đòi hỏi người ta phải khoan dung với mình, trong khi họ xét đoán người khác thì chẳng khoan dung chút nào. Những lời lẽ kịch liệt và lòng công phẫn cao quý của họ đối với xã hội đã có ảnh hưởng rất mạnh đối với Tentietnikôp. Họ làm cho chàng đâm ra dễ xúc động, dễ cáu bẳn, họ làm cho chàng để ý đến tất cả những chi tiết mà trước kia chàng không hề chú ý đến chút nào. Fiôđô Fiôđôrôvits Lênitxưn, thủ trưởng của một bộ phận văn phòng đặt trụ sở trong những gian phòng lộng lẫy kia, bỗng dưng mất hẳn thiện cảm của chàng. Chàng bắt đầu tìm thấy ở Lênitxưn cả một mớ tính xấu. Chàng thấy rằng Lênitxưn khi tiếp chuyện cấp trên thì toàn những lời đường mật, mà khi tiếp xúc với cấp dưới thì lại chua như dấm; rằng giống như những kẻ ti tiện, hắn bắt lỗi những ai không đến thăm hắn vào những ngày lễ và để bụng thù những người không thấy ghi tên trong cuốn sổ của người gác cổng. Cuối cùng, con người ấy gây nên trong lòng chàng một cảm giác ghê tởm, bệnh hoạn. Dường như có một hung thần thôi thúc chàng gây ra một việc gì khó chịu cho Fiôđô Fiôđôrôvits. Chàng chờ cơ hội với một cảm giác gần như khoái lạc và cuối cùng cơ hội đã đến. Một hôm, chàng nói với Fiôđô Fiôđôrôvits bằng một giọng gay gắt đến nỗi người ta buộc chàng một là phải xin lỗi, hai là phải từ chức. Chàng liền từ chức. Ông chú chạy lại, hoảng hốt van lơn.
- Trời ơi, Anđrêi Ivannôvits, anh làm gì thế? Từ bỏ một sự nghiệp đã bắt đầu một cách ổn thỏa như thế, chỉ vì ác cảm với người trên? Lạy Chúa! Anh nghĩ thế nào mà lại làm như vậy? Nếu cứ cố chấp như thế thì còn ai có thể giữ chức được nữa! Anh nghĩ lại đi; hãy gác sang một bên cái tính sĩ diện, tự ái; đến phân trần với ông ta đi!
- Vấn đề không phải ở chỗ ấy, chú ạ; Anđrêi Ivannôvits đáp. Tôi mà đến xin lỗi ông ta thì cũng dễ thôi; tôi trái; ông ta là thủ trưởng của tôi, lẽ ra tôi không nên ăn nói với ông ta như thế. Nhưng chú ạ, một công việc khác đang chờ tôi; ba trăm nông dân, một điền trang đang sa sút, một lão quản lý đần độn. Thôi để cho một người làm thuê khác cạo giấy thay tôi. Nhà nước chẳng thiệt thòi gì; nhưng nếu ba trăm đinh mà không nộp thuế thì công quỹ sẽ hao hụt nhiều lắm. Tôi chả là trang chủ mà… nếu tôi dành đời tôi để lo cho những người được giao cho tôi coi sóc, làm cho họ sống khá hơn; nếu tôi hiến được quốc gia ba trăm thần dân gương mẫu, điều độ, cần cù; thì công lao của tôi có thấp kém hơn công thủ trưởng một bộ phận văn phòng như Lênitxưn?
Ông tư vấn quốc gia chỉ còn biết há hốc mồm. Ông ta không ngờ được nghe một tràng lý lẽ thao thao bất tuyệt như thế. Nghĩ một lát, ông nói đại khái như sau:
- Thế nhưng… ai lại về nằm lì ở nhà quê thế? Tìm đâu ra bạn bè giữa những kẻ…? Ở đây, ít nhất người ta cũng được gặp những vị tướng quân, những bậc vương công ở ngoài phố. Người ta cũng thường được đi qua bên cạnh một… Rồi lại có đèn hơi, có công nghệ kiểu Âu châu; chứ ở đấy thì toàn bọn quê mùa, thô lỗ. Thế thì việc gì lại chôn vùi cả đời mình trong cảnh tối tăm như vậy?
Nhưng ông cháu vẫn một mực không lay chuyển trước những lời phân trần của ông chú. Chàng đã chán phòng giấy, chán chốn kinh đô lắm rồi. Chàng bắt đầu thấy thôn quê là một nơi ẩn dật chắc chắn, thuận lợi cho việc suy tưởng, và là môi trường hoạt động duy nhất hữu ích. Chàng đã tìm mua được những cuốn sách mới nhất về nông nghiệp. Nói tóm lại, mười lăm ngày sau khi diễn ra cuộc nói chuyện ấy, chàng đã về đến gần những nơi mà thời thơ ấu của chàng đã trôi qua; không còn xa mấy cái khoảng đất kỳ diệu ngắm mãi không hề biết chán ấy. Một cảm xúc mới mẻ khiến tâm hồn chàng xao xuyến. Trong lòng chàng dần dần bừng tỉnh những ấn tượng xưa kia, đã từ lâu vùi kín. Chàng đã quên hẳn nhiều nơi; và như một người khách mới đến, chàng tò mò ngắm những cảnh đẹp. Bỗng nhiên, không hiểu tại sao, tim chàng bắt đầu đập mạnh. Con đường men theo một khe đất hẹp đi sâu vào một khu rừng mênh mông; ở trên đầu và ở dưới chân, chàng thấy những cây sồi cổ thụ ba người ôm không xuể, xen với những cây tùng cây bách, cây du, cây phong. “- Khu rừng này của ai? Chàng hỏi thăm. - Của ông Tentietnikôp” người ta trả lời như vậy. Rồi con đường lại men theo những cánh đồng cỏ có những rặng cây hoàn liễu, miên liễu, thùy liễu; trông rõ những dãy đồi chạy dài ở phía xa; rồi vượt qua con sông ở hai nơi khác nhau, lần trước để nó lại ở mé bên phải, lần sau ở mé bên trái; Anđrêi Ivannôvits hỏi thăm xem ai là người may mắn được làm chủ nhân những cánh đồng cỏ này và được biết rằng người đó là ông Tentietnikôp. Đến đây con đường leo lên dốc và chạy men theo một cao nguyên, một bên là những cánh đồng tiểu mạch, lõa mạch, đại mạch; còn bên kia là tất cả những nơi đã vượt qua, giờ bỗng thu nhỏ hẳn lại; rồi tối dần đi từng chặng; con đường chạy dài dưới bóng những cây cối um tùm mọc rải rác trên những tấm thảm xanh cho đến tận đầu làng. Khi những ngôi nhà gỗ chạm trổ của mujik và những mái ngói đỏ của ấp đã hiện ra rõ nét, khi chiếc mái thiếp vàng của ngôi nhà thờ đã ánh lên lấp lánh, và khi trái tim đang đập rộn rã của Tentietnikôp đã đoán ra được đây là nơi nào, thì bao nhiêu cảm giác tích lũy bấy lâu đều phát ra thành lời nói.
- Vừa qua mình có ngốc không kia chứ! Số phận đã cho mình làm chủ nhân một thiên đường trần gian, thế mà mình lại tự đày đọa tấm thân đi làm nghề cạo giấy! Sau khi được dạy dỗ chu đáo như vậy, được trang bị đủ những tri thức cần thiết để truyền bá phúc lợi cho kẻ tùy thuộc, để cải thiện cả vùng này, để làm tròn những bổn phận vốn rất nhiều của người trang chủ - vừa là quan tòa, vừa là người ra lệnh, vừa là kẻ giữ trật tự - thế mà lại giao chức vụ ấy cho một tên quản lý dốt đặc cán mai! Tự dưng lại đi chọn lấy cái nghề làm trung gian cho những kẻ mà mình chưa bao giờ gặp, chẳng biết tính tình và nhân phẩm ra sao; nói tóm lại, bỏ một công việc cai quản thực sự để chọn lấy công việc cai quản trên giấy tờ những tỉnh cách xa hàng nghìn verxta chưa bao giờ đặt chân đến, mà có đến cũng chỉ làm được những việc ngu xuẩn!
Trong khi đó, một cảnh tượng khác đang chờ đợi chàng. Nghe tin trang chủ về, nông dân đã kéo đến tụ tập bên thềm. Những chiếc áo chùng, những chiếc mũ chụp, mũ trùm, những bộ áp caftan và những bộ râu xồm xoàm trông rất thú vị đã vây quanh chàng. Khi chàng nghe họ thốt lên: “- Ân nhân đã về đây rồi!...” khi các ông già bà cả vừa khóc vừa nhớ lại tổ phụ chàng, thì chính chàng cũng không sao cầm được nước mắt. Chàng nghĩ bụng: “Họ quý mình biết bao! Thế mà nào mình đã gặp họ bao giờ, mình có bao giờ quan tâm đến họ đâu!”. Chàng liền tâm tâm niệm niệm rằng từ nay sẽ chia sẻ công việc làm ăn với họ, để cho thật xứng đáng được họ yêu quý và gọi là ân nhân. Chàng bắt tay vào điều khiển công việc. Chàng giảm bớt lực dịch để cho nông dân được nhàn hơn. Viên quản lý đần độn kia bị thải hồi. Việc gì chàng cũng muốn nhúng tay vào; chàng ra đồng, ra sân đập lúa, ra sân phơi thóc, ra cối xay, trông nom những chuyến bốc hàng lên thuyền, lên xà lan.
- Chà! Chà! Việc gì ngài cũng ngó đến, nông dân bảo nhau như vậy; và chính những kẻ chây lười cũng bắt đầu gãi tai, gãi gáy.
Nhưng tình hình này chẳng được bao lâu. Con người mujik họ rất tinh khôn; chẳng bao lâu họ đã biết rằng tuy ông chủ nhanh nhẹn và xốc vác thật, nhưng vẫn chưa biết việc và ăn nói như trong cuốn sách. Thành thử, tuy chưa đến nỗi hoàn toàn không hiểu gì nhau, nông nô và trang chủ vẫn không sao hòa hợp được với nhau.
Tentietnikôp có dịp nhận thấy rằng trên đất mình, hoa màu mọc kém nhiều so với đất của nông dân. Gieo thì gieo trước mà mọc thì lại mọc sau; ấy thế mà người ta làm lụng có vẻ chăm chỉ lắm đấy. Tuy thế, chàng vẫn thân hành coi những buổi lực dịch và phát vôtka thưởng cho những người làm hăng. Lõa mạch, kiều mạch, kê của nông dân đã trổ bông từ lâu, mà của chàng thì chỉ mới lên cây, chưa có đòng. Nói tóm lại, vị trang chủ bắt đầu thấy rằng tuy ân huệ ban xuống đã nhiều mà nông dân của chàng vẫn gian dối. Chàng thử trách họ, nhưng họ trả lời:
“- Thưa chủ nhân, sao chúng tôi lại không quan tâm đến quyền lợi của chủ. Ngài đã trông thấy tận mắt chúng tôi cày, gieo hạt chăm chỉ như thế nào; ngài còn sai thưởng cho chúng tôi cả một suất vôtka.”
Thế thì còn biết trả lời làm sao nữa!
“- Nhưng tại sao lúa mọc xấu thế? Tentietnikôp hỏi.
- Biết làm thế nào được? Chắc là sâu cắn rễ. Với lại mùa hè mà thế này thì lúa xấu có gì là lạ? Không mưa được lấy một cơn.”
Nhưng Anđrêi Ivannôvits thấy rõ rằng trên những khoảng đất của nông dân, sâu chẳng dám cắn rễ; còn như mưa thì chắc chỉ đổ xuống từng nơi, làm lợi cho mujik mà để thiệt cho trang chủ.
Đàn bà thì lại còn lắm chuyện rắc rối hơn nữa. Họ xin miễn làm đồng, than phiền là lực dịch quá nặng. Lạ thay! Chàng đã bãi bỏ tất cả các khoản nộp vải, trái cây, nấm, hạt dẻ và giảm các công việc khác, chỉ còn lại một nửa, nghĩ rằng đàn bà sẽ dành thì giờ làm việc nội trợ, khâu áo cho chồng, trồng thêm vườn rau. Nhưng chẳng hề có như thế. Thói lười biếng, thói đánh nhau, thói ngồi lê đôi mách, những vụ cãi cọ đủ thứ bắt đầu phát triển trong phái đẹp; đến nỗi các ông chồng cứ luôn luôn than phiền với chàng:
- Thưa ông chủ, ngài làm phúc dạy bảo cho con quỷ cái nhà tôi nó biết điều một chút! Chẳng làm thế nào mà sống nổi với nó nữa?
Bất đắc dĩ, chàng cũng định dùng đến cách quở mắng thật nghiêm; nhưng nghiêm làm sao được? Một nữ nông dân rên rỉ dẫn xác đến, ốm yếu đứng không vững, mình quấn những mảnh giẻ rách đến là tởm, không biết nhặt được ở đâu.
- Thôi đi đi cho khuất mắt! Chúa phù hộ cho mụ! Vị trang chủ đáng thương nói. Chỉ một lát sau, vừa bước khỏi cổng đã thấy mụ túm lấy một mụ hàng xóm, làm om sòm lên vì một củ su hào, và nện vào sườn mụ kia những quả đấm nên thân, khỏe hơn tay tráng đinh lực lưỡng nhất.
Chàng đã nghĩ đến việc mở một thứ trường học, nhưng việc đó gây nên một cảnh rối ren hỗn loạn đến nỗi chẳng bao lâu chàng phải từ bỏ ý định ấy. Trong những vụ xung đột và kiện cáo, tất cả những kiến thức tư pháp tinh vi mà các thầy giáo kiêm triết gia ngày trước đã dạy cho chàng, đều tỏ ra hoàn toàn vô dụng. Cả bên bị lẫn bên nguyên đều thi nhau nói dối, không sao lần ra được chút gì. Chàng nhận thấy rằng chỉ riêng việc hiểu biết con người thôi còn quan trọng hơn những lời biện luận tinh vi trong các sách luật học và triết học; chàng thấy mình thiếu một cái gì đấy, nhưng không biết là cụ thể mình thiếu cái gì. Và cái việc rất hay xảy ra đã xảy ra: nông dân và trang chủ đã hiểu lầm nhau, hai bên đều chỉ lộ mặt xấu ra cho nhau. Tất cả những cái đó làm cho nhiệt tình của nhà trang chủ nguội lạnh đi rất nhiều.
Từ đấy chàng vẫn trông coi công việc, nhưng không hề quan tâm đến nữa. Dù khi đang gặt lúa, bó lúa hay chất lúa vào kho; nếu công việc làm gần ngay cạnh, mắt chàng cứ thẫn thờ nhìn mãi tận đâu đâu; nếu công việc làm ở xa, thì mắt chàng lại tìm những vật gần hơn hay ngắm một khúc sông, nơi có con bói cá mỏ đỏ, chân đỏ bước dọc bờ. Chàng tò mò nhìn con chim, mỏ cắn ngang một con cá vừa bắt được, vẻ như đang tự hỏi xem mình có nên nuốt con cá hay không, đồng thời lại nhìn một con bói cá khác đứng ở xa xa, chưa bắt được con cá nào, nhưng cũng đang nhìn kẻ đồng loại may mắn hơn.
Hoặc giả hai mắt nhắm nghiền, đầu ngẩng lên phía trời xanh, chàng thở hương vị của đồng quê, lắng nghe tiếng chim hót; những khi từ khắp mọi hướng, từ không trung cũng như từ mặt đất, tiếng hót quyện lại thành một bản hợp xướng hài hòa. Con cuốc gióng giả trong đám lõa mạch; con gà nước rên rỉ trong đám cỏ; ở phía trên, một đàn chim khuyên bay qua kêu chiêm chiếp và gọi nhau ríu rít; con chim dẽ gà vừa bay lên vừa cất tiếng the thé; con chim sơn ca hót líu lo, thân hình hòa tan trong ánh sáng; trong khi tiếng gọi đàn của bầy sếu bay thành chữ nhân cao ngất trên nền trời vang dội như một tiếng kèn. Cảnh vật xung quanh chỉ còn là một cuộc hòa nhạc. Hỡi Tạo hóa! Nơi đây, giữa lòng thiên nhiên, xa các đường thiên lý và các thành thị lớn, những tạo vật của Người còn đẹp đẽ biết bao! Nhưng ngay đến quang cảnh ấy cuối cùng cũng làm cho Anđrêi Ivannôvits chán ngấy; chàng không ra đồng nữa, nằm lì ở nhà, thậm chí cũng không buồn nghe những lời bẩm báo của lão quản lý nữa.
Trước kia có mấy người láng giềng thỉnh thoảng đến thăm chàng: một viên trung úy khinh kỵ về hưu, người sặc mùi thuốc lá tẩu; một anh sinh viên học hành dở dang, mang những tư tưởng tiên tiến và xem sách báo đương thời như lời thánh truyền. Nhưng cả những hạng người đó nữa cũng làm cho chàng chán ngấy. Chàng bắt đầu thấy những câu chuyện của họ nông cạn; cái lối tự nhiên theo kiểu Âu châu của họ - vỗ đùi, vỗ vế và các cử chỉ sỗ sàng khác - thì chàng cho là quá tự do. Chàng quyết định tuyệt giao với cả bọn họ và thậm chí đã tuyệt giao một cách khá thô bạo. Quả có thế, một hôm Varvar Nikôlaiêvits Visnêpôkrômôp - con người có duyên nhất trong số những kẻ nói chuyện hời hợt, một nhân vật điển hình cho loại đại tá vui nhộn ngày nay đang sắp tuyệt diệt, và đồng thời là kẻ hâm mộ các tư tưởng mới - đã đến thăm chàng để có thể tha hồ thuyết lý về chính trị, triết học, văn học, luân lý, và thậm chí cả về tài chính nước Anh nữa; nhưng Tentietnikôp cho người ra nói là mình đi vắng, đồng thời lại vô ý ló mặt ra cửa sổ. Mắt khách và mắt chủ gặp nhau. Dĩ nhiên là khách phải làu bàu: “Rõ đồ súc sinh”; còn chủ thì bực mình quá cũng tặng khách một tính từ không kém phần khiếm nhã. Quan hệ giữa đôi bên đến đấy là hết. Từ đấy chẳng ai đến thăm chàng nữa.
Chàng lấy thế làm mừng và bắt đầu suy nghĩ về một trước tác lớn về nước Nga. Độc giả đã thấy chàng tiến hành như thế nào. Một tình trạng mất trật tự có hệ thống phát sinh. Nhưng cũng đôi lúc, chàng có vẻ như thoát khỏi trạng thái hôn mê. Những khi bưu vụ mang báo chí đến, những khi chàng thấy trên báo nhắc đến cái tên quen thuộc của một người bạn cũ đang tiến nhanh trên con đường phụng sự nhà nước, hoặc đã có tên tuổi trong khoa học hay trong công cuộc duy tân, chàng thấy lòng tràn ngập một nỗi buồn âm ỉ và bất giác buột ra một lời than thở chua chát và thầm lặng về cảnh vô công rồi nghề của mình. Chàng nhớ lại rõ mồn một thời gian sống ở nhà trường; hình ảnh Alêxanđr Pêtrôvits hiện lên, như bằng xương bằng thịt; và nước mắt chàng lại chảy ròng ròng…
Nhưng tiếng khóc ấy có ý nghĩa gì? Phải chăng đó là tâm hồn đau khổ của chàng đang thổ lộ điều bí ẩn đáng buồn về bệnh tình của nó? Phải chăng là cái nhân cách cao cả đang nẩy mầm trong chàng chưa có đủ thì giờ thành hình và củng cố; phải chăng là vì từ thuở niên thiếu chưa học được cách vật lộn với những trắc trở, cho nên chàng không đạt đến được cái mức mà những khó khăn và trở ngại càng làm cho người ta cao cả và mạnh mẽ hơn lên; phải chăng là được đưa qua lò luyện như một chất kim loại nóng chảy, cái vốn phong phú những ấn tượng cao quý của chàng chưa được tôi lại nước cuối cùng; phải chăng là ông thầy vô giá của chàng đã mất đi quá sớm và giờ đây trên đời không có ai đủ khả năng cổ vũ những sức lực đã lung lay và cái ý chí đã suy nhược, thiếu hẳn năng động của chàng; phải chăng là không có ai để cất tiếng rắn rỏi thét lên cho tâm hồn chàng nghe hai tiếng Tiến lên đầy sức khích lệ, hai tiếng mà người Nga - dù ở đâu, thân phận ra sao, đứng ở bậc thang nào của xã hội - cũng đều đang mong chờ?
Người ấy ở đâu, con người đủ sức nói với chúng ta hai tiếng Tiến lên vạn năng ấy! Ở đâu con người biết rõ tất cả những sức mạnh, những đức tính, thấu hết được chiều sâu của bản tính chúng ta và có thể ra một hiệu lệnh thần kỳ hướng ta tới một đời sống cao cả hơn? Người Nga sẽ nhỏ những giọt lệ thân yêu, nồng nàn biết chừng nào để tỏ lòng biết ơn; giá được một con người như thế! Nhưng hết thế kỷ này đến thế kỷ khác, nước Nga vẫn làm cái mồi cho thói lười biếng đáng hổ thẹn, hoặc cho hoạt động điên rồ của một lớp thanh niên không chút kinh nghiệm; thế mà Thượng đế vẫn không ban xuống cái con người có sức nói lên hai tiếng hằng chờ mong ấy.
Một biến cố suýt thức tỉnh Tentietnikôp, một sự thay đổi suýt diễn ra trong tính tình chàng; chàng đã thể nghiệm một cái gì như thể tình yêu. Nhưng ngay ở đây nữa, cơ sự cũng chẳng đưa kết quả gì. Cách nhà Tentietnikôp mười verxta có một vị tướng mà, như ta đã biết, thường nói về chàng một cách thiếu thiện ý. Vị tướng ấy có lối sống theo đúng cấp bậc của mình, rất hay thết khách, rất thích láng giềng đến thăm hỏi, không bao giờ thăm lại ai, nói giọng khàn khàn, thường hay đọc sách, và có một cô con gái là Ulinka, một con người kỳ dị. Đôi khi nằm mơ người ta thấy một cái gì tương tự như vậy; thế rồi từ đấy, suốt đời người ta chỉ còn biết mơ tưởng đến hình ảnh đã hiện lên trong giấc chiêm bao; thực tế không đáng kể nữa; người ta trở thành hoàn toàn vô dụng. Mất mẹ từ hồi còn nhỏ, người thiếu nữ ấy được giáo dục một cách kỳ quặc. Bà gia sư của nàng là một người Anh, một chữ Nga cắn đôi cũng chẳng biết. Cha nàng không có thì giờ trông nom đến con; vả chăng ông ta quý con như điên như dại, thành thử có trông nom đi nữa thì cũng chỉ tổ làm nàng hư đi thôi. Như ở một đứa trẻ đã lớn lên trong cảnh tự do phóng túng, ở nàng cái gì cũng kỳ quái, ngông cuồng; có thể nói nàng là hiện thân của sự sống. Nếu có ai trông thấy những nét yêu kiều trên mặt nàng nhăn lại vì một cơn giận dữ đột ngột và vẻ hăng say của nàng khi tranh luận với bố, người đó sẽ tưởng nàng là người có tính khí bất thường nhất trên đời. Nhưng nàng chỉ nổi giận khi nghe nói đến một việc bất công hay một thủ đoạn gian trá; không bao giờ nàng tranh cãi để tự bênh vực hay thanh minh. Cơn giận đó sẽ nguôi ngay, nếu nàng thấy người bị nàng giận phải khổ tâm. Bất kỳ ai cũng vậy, chỉ cần mở miệng xin một câu là nàng sẵn sàng vứt cả túi tiền của mình cho họ; không hề nghĩ rằng đó là một cử chỉ khó coi. Trong con người nàng có một cái gì thật là cuồng nhiệt. Khi nàng nói, toàn thân nàng cái gì cũng như phản ánh ý nghĩ đang được tỏ bày; vẻ mặt, giọng nói, cử chỉ, cả đến các nếp áo cũng dường như thích nghi với ý nghĩa đó; có thể tưởng chừng như nàng sắp bay bổng lên theo những lời nói của chính mình. Nàng không hề có gì giữ kín, nàng không sợ bày tỏ ý nghĩ mình ra, dù trước mắt ai cũng vậy. Khi nàng đã muốn nói thì không có sức mạnh nào buộc nàng làm thinh được. Dáng đi đẹp đẽ và mang rõ bản sắc riêng của nàng, có một vẻ chững chạc, tự tin đến nỗi ai gặp cũng phải bất giác nhường lối cho nàng. Trước mặt nàng, người ác đâm ra bối rối và không dám hé môi; dù là người vô tư lự và bạo mồm, bạo miệng mấy cũng không biết nói gì với nàng và đâm ra luống cuống; còn người nhút nhát thì lại có thể nói chuyện với nàng tự nhiên hơn với bất cứ ai. Từ những phút đầu trò chuyện, người đó có ngay cảm giác như đã quen biết nàng từ ngày xưa, hồi còn bé tí tẹo, trong một gia đình thân thuộc, nhân một tối hoan hỉ giữa cảnh chơi đùa vui vẻ của lũ trẻ con; và sau đó rất lâu còn thấy cái tuổi lớn khôn là vô vị.
Đó chính là cảm giác của Anđrêi Ivannôvits. Một cảm xúc không sao giải thích nổi, xâm chiếm lòng chàng; cuộc đời tẻ nhạt của chàng bỗng sáng rực lên.
Thoạt tiên, vị tướng tiếp Tentietnikôp khá thân mật; nhưng mãi họ vẫn không sao hợp nhau được. Những buổi chuyện trò của họ đều kết thúc bằng những cuộc cãi vã; và hai bên đều thấy khó chịu, vì vị tướng vốn không thích ai nói trái ý hoặc bác lại mình. Tentietnikôp thì lại giàu lòng tự ái. Dĩ nhiên chàng đã vì người con gái mà bỏ qua rất nhiều cho người cha, và giữa hai người không khí vẫn hòa thuận, cho đến khi hai bà mệnh phụ có họ với vị tướng về đây. Bá tước phu nhân Borđưriôva và công tước phu nhân Yuziakina đều là ngự tiền phu nhân của triều vua trước, nay vẫn còn có thần thế ở Pêterbua; nên vị tướng sẵn sàng khúm núm trước mặt họ. Họ vừa đến một cái là Anđrêi Ivannôvits đã có cảm giác rằng chủ nhân có ý lạnh nhạt hơn, không quan tâm đến chàng, hoặc giả cư xử với chàng như với một kẻ đần độn; vị tướng nói với chàng, vẻ khinh khỉnh: - này, ông bạn, nghe chưa; và thậm chí còn gọi chàng bằng “anh” nữa.
Điều đó rốt cục làm cho Tentietnikôp cáu tiết. Chàng nghiến răng nén giận, nhưng cũng đủ nhanh trí để nói với một giọng khá lễ độ, trong khi máu dồn lên mặt đỏ bừng và trong lòng sôi sục lên.
- Thưa tướng quân, tôi xin cám ơn tướng quân đã có lòng hạ cố xưng hô như vậy; tướng quân cho phép tôi xác lập với tướng quân một tình bằng hữu thân mật, buộc tôi cũng phải xưng hô với tướng quân như thế. Nhưng sự chênh lệch về tuổi tác không cho phép chúng ta xác lập những quan hệ thân mật đến như thế.
Vị tướng đâm bối rối. Chật vật lắm mới trấn tĩnh lại được, ông ta tuyên bố rằng mình gọi khách bằng “anh” không phải với nghĩa đó; mà người già cả đôi khi cũng có thể gọi một người thanh niên bằng “anh” (ông ta không hề nhắc nhở đến cấp bậc của mình).
Từ đấy, quan hệ giao du của họ chấm dứt và cuộc tình duyên cũng đứt đoạn ngay từ đầu. Tia sáng vừa lóe ra trong chốc lát trước mắt Tentietnikôp vụt tắt, làm cho bóng hoàng hôn tiếp theo càng thêm ảm đạm. Thế là từ đấy Tentietnikôp bắt đầu cuộc sống đã tả ở đầu chương này: giờ này qua giờ khác nằm dài trên đi văng, không làm gì cả. Cảnh bẩn thỉu và lộn xộn đã len lỏi vào nhà này. Cái chổi nằm suốt một ngày giữa nhà với các thứ rác rưởi. Thậm chí còn có cả một cái quần dài vứt bừa bãi trong phòng khách; một đôi dải đeo quần cáu ghét vắt trên một chiếc bàn trang nhã cạnh đi văng, như một món quà bày ra biếu các tân khách. Anđrêi Ivannôvits quay ra sống cẩu thả đến nỗi không những người nhà chẳng còn kính nể chàng nữa, mà ngay đến lũ gà mái cũng gần như muốn mổ luôn cả chàng. Tay cầm bút, chàng ngồi vẽ hàng giờ như một cái máy, nào những cái cây quăn queo, những ngôi nhà nhỏ, những túp lều gỗ, những chiếc xe giàn, xe tam mã. Nhưng đôi khi cây bút cứ tự nó đưa đi và mạn phép chủ nhân vẽ lên giấy một khuôn mặt nho nhỏ có những đường nét thanh tú, đôi mắt tinh anh, cái miệng bướng bỉnh; và chủ nhân ngạc nhiên thấy hiện lên bức chân dung của người con gái mà chắc hẳn không có một họa sĩ nào vẽ nổi. Đến đây, tin chắc rằng hạnh phúc không thể có được ở thế gian này, chàng lại càng ủ ê, đờ đẫn hơn.
Tâm trạng của Anđrêi Ivannôvits Tentietnikôp là như vậy.
Một hôm theo thường lệ, chàng đang ngồi thờ thẫn bên cửa sổ thì rất đỗi ngạc nhiên vì chẳng nghe thấy tiếng Grigôri và Perfiliepna cãi nhau; trái lại, ngoài sân thấy có xôn xao lên ít nhiều. Anh đầu bếp và chị lau sàn nhà chạy ra mở cổng. Cánh cổng mở ra, nhường lối cho một cỗ ngựa giống hệt như những cỗ chạm trên các khải hoàn môn; ba cái đầu ngựa trông thẳng: một cái bên phải, một cái bên trái, một ở giữa. Trên ghế xà ích có một người đánh xe và một người tùy bộc mặc áo ngoài rộng, lưng thắt chiếc khăn vuông. Ngồi ở phía sau là một ông đội mũ lưỡi trai, mình khoác áo măng tô, cổ quấn một chiếc khăn quàng sặc sỡ. Khi chiếc xe quay ngang trước thềm thì có thể nhận ra đó là một chiếc briska nhẹ có ổ díp. Người khách ngồi trên xe, vẻ rất chững chạc, nhảy xuống đất một cách nhanh nhẹn và ung dung; dáng dấp gần như của một quân nhân.
Anđrêi Ivannôvits đâm lo, tưởng khách là một viên chức nào. Cần phải nói rằng hồi còn trẻ, chàng đã dính líu vào một việc dại dột. Hai anh khinh binh triết gia, đầu óc đầy sách vở, một nhà mỹ học nửa mùa và một tay cờ bạc phá sản, đã lập ra một hội từ thiện dưới sự chỉ đạo tối cao của một lão bợm già, hội viên thợ nề tự do, cũng là một con bạc nhưng nói năng khá hùng biện. Hội tự đề ra một mục đích to tát: bảo đảm hạnh phúc cho loài người từ sông Thêmx đến bán đảo Kamtsatka -Nghĩa là từ nước Anh đến nước Nga, từ Tây Âu sang Đông Á-. Hội cần những số tiền khá lớn; các hội viên giàu lòng từ thiện đã cúng những món rất to. Những món tiền ấy đi đâu? Chỉ có vị chỉ đạo tối cao của hội biết. Tentietnikôp đã bị hai người bạn thuộc hạng người có đầu óc cay cú, lôi cuốn vào hội. Đó là những anh chàng tốt bụng; nhưng vì có cái thói quen nâng cốc chúc khoa học, chúc học vấn, chúc tiến bộ quá nhiều; nên đã trở thành những con ma men thực thụ. Chẳng bao lâu Tentietnikôp đã trấn tĩnh lại và đoạn tuyệt với môi trường ấy. Nhưng hội nọ đã có tai tiếng vì một số hành vi ít có phần xứng đáng với những người thượng lưu; cho nên về sau cảnh sát đã phải can thiệp… Vì vậy, dù đã đoạn hẳn với bọn họ. Tentietnikôp cũng vẫn chưa lấy làm yên tâm; điều đó cũng không có gì là lạ. Cho nên khi thấy cổng mở, chàng không khỏi có ý lo sợ.
Tuy vậy, nỗi lo sợ của chàng tiêu tan, khi người khách khẽ nghiêng đầu chào một cách ung dung rất mực, và vẫn giữ một thái độ kính cẩn, dùng những lời lẽ vắn tắt nhưng chính xác, phân trần rằng mình lâu nay đi khắp nước Nga, vừa để giải quyết công việc tư vừa để mở mang kiến thức. Nước ta vốn nhan nhản những vật lạ, lại có rất nhiều ngành công nghệ và đất đai mỗi nơi một khác; cảnh trí ngoạn mục của dinh cơ này đã làm cho khách mê mẩn tâm thần; tuy vậy lẽ ra khách cũng không dám đến quấy quá vị chủ nhân diễm phúc, nếu xe không bị hỏng vì những cơn nước lũ mùa xuân và đường sá gập ghềnh, cần phải nhờ đến tay thợ rèn và các thứ thợ khác chạy chữa cho; vả chăng dù chiếc briska không hỏng chút nào đi nữa, khách cũng không thể bỏ qua cái thú được đến bày tỏ niềm tôn kính với chủ nhân.
Nói xong, người khách, chân đi một đôi giày cổ đánh bóng cài cúc xà cừ, cúi mình một cách duyên dáng; và tuy người to béo đẫy đà, vẫn ngẩng lên một cách nhẹ nhàng như một quả bóng cao su.
Anđrêi Ivannôvits yên tâm. Chàng nghĩ bụng người này là một giáo sư uyên bác nào đây, hẳn là đi khắp nước Nga để thu thập hoa cỏ hay hóa thạch. Chàng bèn lập tức tỏ ý sẵn lòng giúp đỡ khách về mọi mặt, gọi thợ rèn, thợ đóng xe đến cho khách sai bảo; xin khách cứ xem đây như là nhà mình; mời khách ngồi một chiếc ghế bành kiểu Vonte và sẵn sàng nghe khách thuyết lý về vạn vật học.


 (còn tiếp)


Nguồn: Những linh hồn chết. Tiểu thuyết của Nicolas Vassilievitch Gogol. Hoàng Thiếu Sơn dịch. NXB Văn học in lần đầu 1965, lần 2 năm 1993. Bản điện tử do Soccon nhập liệu/ Chân trời tím.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
xem thêm »