tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27645123
Tiểu thuyết
05.07.2013
Nikolai Vasilyevich Gogol
Những linh hồn chết

Trong các việc người ta ủy thác cho y, có việc đi cầm mấy trăm nông nô cho Hội đồng Giám hộ -Hội đồng Giám hộ là một thứ cơ quan quản lý các công ty cho vay. Các nhà nuôi trẻ mồ côi; cũng nhận quản lý trang viên và nông nô mà người ta đem đến cầm; thành lập năm 1763 ở Mạc tư khoa và năm 1772 ở Pêterbua-. Một điền trang đang ở trong cảnh điêu tàn, đổ nát vì dịch gia súc, vì bọn quản lý ăn cắp, vì mất mùa, vì bệnh dịch làm chết nhiều thợ giỏi và sau cùng là vì cái ngu xuẩn của trang chủ đã lên Mạc tư khoa dựng một cái nhà theo đúng kiểu mới nhất; nó ngốn hết sạch gia sản tới đồng kôpêk cuối cùng, đến nỗi chẳng còn gì mà ăn nữa -Về đoạn này, Gôgôn có kể lại ý kiến của hội đồng kiểm duyệt cho Pletniôp nghe trong bức thư ngày 7 tháng bảy năm 1842 như sau: “Ủy viên Karsênôpxki bẻ: - Nhưng Hoàng đế cũng xây ở Mạc tư khoa cả một tòa cung điện thì sao! Nhân đấy, nổi lên giữa các nhà kiểm duyệt một cuộc thảo luận có một không hai trên thế giới:… Với những ý kiến đại khái như thế, họ cấm không cho Những linh hồn chết ra đời-. Rút cục phải cầm cái điền trang cuối cùng này đi. Bấy giờ cầm cố cho Nhà nước còn là việc mới lạ và làm cho người ta rất ngại. Với tư cách là đại quyền cho người đi cầm, Tsitsikôp đã làm cho mọi người đều sẵn sàng giúp đỡ (vì ai cũng rõ là không có sự chạy chọt trước như thế thì không tài nào được hay biết một chút tin tức gì, được sửa chữa một chữ, một con số nào; muốn được việc, cần phải rót vào mỗi cuống họng ít nhất là một chai vang Mađêrax); vậy là Tsitsikôp, sau khi đã làm mọi việc cần thiết, mới nói rõ, để tránh những sự lôi thôi về sau, là một nửa số dân ấp đã chết rồi.
Người thư ký hỏi: - Nhưng chúng vẫn còn tên trong sổ đinh chứ?
Tsitsikôp đáp: - Nhất định rồi.
- Vậy thì việc gì mà ngại? Đứa chết thì đứa đẻ ra; đâu lại vào đấy, chẳng hòa hay sao? -Nguyên văn là: ođin umer, đrugôi rôđitxia, a vxiô v đêlô gôđitxia. Nghĩa là một đứa chết đi, một đứa đẻ ra, mọi việc thỏa đáng cả; ở câu tiếng Nga, rôđixia vần với gôđitxia-
Người thư ký, như ta thấy, nói năng rất có vần. Nhưng lúc ấy, chính là lúc nhân vật của chúng ta bỗng nảy ra cái ý kiến hay nhất xưa nay, chưa bao giờ thấy trong óc một người.
Y nghĩ thầm: “- Mình ngu thật! Đi tìm bao tay, hóa ra bao tay đeo ở thắt lưng. Giá mình mua tất cả những đứa chết, trước khi người ta gửi về những bản điều tra dân số mới; và nếu chẳng hạn mình mua được một nghìn mà Hội đồng Giám hộ cầm cho, đúng hai trăm rúp mỗi nông phu; thì rõ ràng là được cái vốn hai chục vạn rúp rồi còn gì! Bây giờ đang là lúc tốt nhất; nhờ ơn Chúa, một trận dịch vừa giết chết bao nhiêu người. Bọn trang chủ nướng hết tiền vào bài bạc, tiệc tùng, nhiều tay phải đi làm công chức ở Pêterbua; điền trang bỏ mặc, quản lý thế nào thì quản; mỗi năm càng mỗi chật vật thêm mới nộp đủ thuế; đến nỗi anh nào cũng sẽ rất sung sướng để lại cho mình những nông phu chết, dù chỉ là để khỏi phải đóng thuế thân; và có thể nhân dịp này; mình kiếm được ít nhiều kôpêk gì chăng. Tất nhiên, việc cũng khó đấy, gay đấy; mình có thể lại bị tóm và gặp nhiều rắc rối. Nhưng trí thông minh trời cho là để sử dụng cơ mà. May mà cái mẹo này xem có vẻ huyền hoặc, nói ra cũng chẳng ai tin. Thật ra, không có đất thì không thể mua nông phu, cũng không thể cầm được. Nhưng mình sẽ mua nông phu để đưa đi đinh điền, đi đinh điền cơ mà; hiện ở các tỉnh Tavriz và Kherxon, có thể xin được đất mà chẳng mất gì, chỉ với điều kiện là di dân đến ở. Mình sẽ di chuyển tất cả chúng nó đến đấy! Chúng cứ việc mà đến sinh cơ lập nghiệp ở Kherxon! Việc di chuyển có thể tiến hành bằng con đường hợp pháp. Nếu người ta đòi một chứng thư về các nông phu thì cũng chẳng sao; mình có thấy gì trở ngại đâu. Mình sẽ đưa ra một giấy chứng nhận do đại úy - quận trưởng cảnh sát ký. Có thể gọi trại đinh điền là ấp Tsitsikôvô hay là làng Paplôpxkôê, theo tên thánh của mình cũng được”.
Cái kế hoạch lạ lùng nảy ra trong óc nhân vật của chúng ta như thế đấy; đối với kế hoạch ấy, bạn đọc mà không biết ơn chăng nữa thì tác giả cũng phải cảm bội, một lòng cảm bội khó mà tả xiết; vì cái ý kiến ấy mà không đến với Tsitsikôp thì thiên trường ca này đã không ra đời được.
Sau khi đã làm dấu thánh giá, theo tục lệ Nga, y bắt tay vào việc. Lấy nhiều cớ khác nhau, chẳng hạn như tìm một nơi ở; y đi dò xét nhiều miền trong nước ta, nhất là những miền bị thiên tai, mất mùa, chết chóc, tàn phá nhiều hơn cả; tóm lại là những nơi có thể mua những nông phu mà y cần, dễ dàng và giá hời hơn cả. Không phải bất cứ trang chủ nào y cũng hỏi cầu may; mà y chọn người hợp ý mình, hay là người có thể điều đình những việc mua bán như thế không khó khăn gì; y cố làm quen người ta trước; khiến người ta sẵn có thiện cảm với mình, để có thể, thì người ta biếu không, vì tình bạn, chẳng phải mất tiền bạc gì. Vậy thì bạn đọc cũng không nên tức giận tác giả, nếu những nhân vật xuất hiện từ trước tới nay, bạn đều không ưa: đó chỉ là lỗi Tsitsikôp thôi; về mặt ấy thì y là kẻ toàn quyền quyết định, mà chúng ta phải đi theo y đến bất kỳ nơi nào y muốn. Còn ai mà trách chúng ta về vẻ nhạt nhẽo và bộ mặt xấu xa của các nhân vật và các tính cách; thì chúng ta chỉ cần nói rằng mới đọc một tác phẩm, không bao giờ có thể thấy ngay tất cả vẻ rộng lớn của nó được. Mới đến một thành phố, dù là một chốn đế đô, thì bao giờ mà chẳng thất vọng; thoạt tiên, mọi vật đều tẻ nhạt, đơn điệu; nhà máy, xưởng thợ đều ám khói đen sì, chạy dài mãi không hết; rồi trong ánh sáng rực rỡ, trong tiếng ồn ào, náo nhiệt, mới hiện ra những nhà sáu tầng, cửa hàng, tên hiệu, những đường phố thênh thang, thẳng tắp với gác chuông, hàng cột, với tượng, tháp, tất cả cái gì mà bàn tay với thiên tài của con người đã tạo ra để làm cho đôi mắt phải kinh ngạc. Bạn đọc đã chứng kiến những cuộc mua người đầu tiên; những gì xảy ra về sau: những thành công và thất bại của nhân vật; những trở ngại gay go hơn mà y phải vượt qua; những con người lớn lao sẽ xuất hiện; những động cơ bí mật của tấn kịch sắp tác động; chân trời sẽ mở rộng; chủ nghĩa trữ tình sẽ đạt đến mức uy nghi, lộng lẫy; tất cả những cái ấy rồi sẽ đến đúng lúc. Hiện giờ thì còn một đoạn đường dài nữa phải đi nốt, đối với cái cỗ xe lưu động gồm một ông đã quá niên, một chiếc britska thông dụng của những kẻ độc thân, anh tòng bọc Pêtruska, anh xà ích Xêlifan và ba con ngựa mà bạn đọc đã biết tên, từ con Trợ tá đến cái con Vằn xỏ lá ấy.
Đấy nhân vật của chúng ta vẽ đúng chân tướng là như thế! Nhưng để đánh giá tổng kết, chắc người ta sẽ đòi phải vẽ rõ ra một nét dứt khoát: về mặt đạo đức y là người như thế nào? Y không phải là một nhân vật đức hạnh, toàn diện, toàn mỹ; điều đó đã rõ rồi. Vậy y là cái gì? Y là một kẻ vô lại chăng: Tại sao lại là một kẻ vô lại? Tại sao lại nghiêm khắc với người ta quá như thế? Ngày nay chẳng còn ai là vô lại nữa; chỉ toàn những người tử tế, đáng mến cả. Còn những kẻ có thể bị cái nhục ăn bạt tai trước công chúng, thì may ra chỉ tìm được hai hay ba người là cùng; mà chính những người ấy nay cũng đều nói đạo đức cả rồi. Tên gọi đúng nhất cho nhân vật chúng ta phải là: ông chủ - thu mua -Trong bản thảo thứ hai, từ đây cho đến hết đoạn này, Gôgôn đã viết lại những dòng cụ thể và có vẻ trữ tình hơn như sau: Tên gọi đúng nhất là kẻ mưu đồ… Mỗi người chúng ta đều có mưu đồ cả. Có những bạn đọc mếch lòng vì đó là đặc điểm nổi bật của nhân vật của tôi. Nhưng có ai mà chẳng để cho tâm hồn bị một dục vọng chủ yếu xâm chiếm? Như một bạo quân lạnh lùng, lòng lim dạ sắt; dục vọng ấy dần dần giết chết hết mọi khát vọng của người ta. Trong nhiều người, dục vọng rộng lớn hay hẹp hòi, đã phát triển lên, làm cho họ quên những bổn phận lớn lao và thần thánh, để chạy theo những việc nhỏ nhặt không ra gì. Tuân theo một dục vọng nào đấy là chúng ta điên cuồng, mù quáng hy sinh cho nó tất cả; nhưng trong sự lôi cuốn ấy có một thứ say sưa cuồng nhiệt. Tác giả những dòng này cũng có dục vọng của mình; cái dục vọng thu vào những hình tượng rực rỡ, cái ước mơ và ảo tưởng thường đến với nó trong những giây phút kỳ thú mà đôi mắt đăm đăm hướng về một thế giới khác, nó cảm thấy được đưa đi xa khỏi quả đất này. Những phút giây kỳ thú đến với nó trong căn buồng tồi tàn sát mái nhà; ấy là tất cả cuộc đời của nó; cái của đặc hữu trời cho ấy làm cho nó phải nhỏ những giọt lệ cảm niệm. Nó chẳng thèm muốn gì ở thế gian này; nó yêu cảnh nghèo nàn của nó, yêu nhiệt liệt, say đắm như một người yêu. Nhưng mà bạn đọc sẽ không tin đâu, và thế là đúng. Mỗi người đều có quyền tin hay không tin. Người bạn đọc tự để cho một dục vọng thống trị lôi cuốn, mà không hay rằng đó chỉ là một thời thượng độc đoán; người bạn đọc ấy lại luôn khinh bỉ cái dục vọng thu góp của cải, dĩ nhiên là khi anh ta thấy dục vọng ấy ở một nhân vật trường ca; vì trong đời thì anh ta vẫn thích ứng với nó khá tốt… Nhân vật của chúng ta sẽ làm cho lắm bạn đọc chán ghét. Tác giả cũng khá bị thương tổn về điểm ấy. Nhưng mà việc đâu phải thế…-. Cái khao khát thu nhặt là nguyên nhân của mọi sự; chính nó đẩy người ta đến những hành động mà người đời gọi là không sạch sẽ lắm. Thật ra, một cái tính cách loại ấy thì tự nó đã có gì ghê tởm rồi; và có bạn đọc, trong đời thật thì giao du với một con người như thế, tiếp đãi nó trong nhà và sống với nó những lúc rất thích thú; nhưng giá nó thành ra nhân vật của một vở bi kịch hay một thiên trường ca, thì lại nhìn nó với vẻ giận dữ. Nhưng người khôn là kẻ, không những không khinh thường một tính cách, mà lại quan sát nó với cái nhìn sâu sắc và dò xét đến tận nguyên lý của nó. Trong con người ta, cái gì cũng biến đổi rất chóng; chỉ trong một nháy mắt là một con sâu ghê gớm lớn lên trong bản thân chúng ta và hút hết mọi sinh chất của ta. Và nhiều lần, cái dục vọng, rộng lớn hay hẹp hòi, phát triển lên trong một con người, vốn sinh ra để xây dựng một sự nghiệp tốt đẹp, đã làm cho nó quên những bổn phận lớn lao và thần thánh để chạy theo những việc nhỏ nhặt không ra gì. Dục vọng của người ta nhiều vô số; chẳng khác nào cát biển; và có cái nào giống cái nào đâu; nhưng tất cả, dù đê tiện hay cao quý thì khi mới sinh ra, cũng đều lệ thuộc vào người ta, rồi sau đều thành ra bạo chúa đối với người ta cả. Sung sướng thay kẻ chọn được dục vọng cao quý nhất: hạnh phúc vô biên của họ lớn lên, tăng thêm từng giờ, từng phút và càng ngày họ càng vào sâu hơn trong thiên đường vô tận của linh hồn. Nhưng có những dục vọng mà quyền lựa chọn không phải ở con người. Chúng sinh ra cùng một lúc với người và người không đủ sức để tách mình ra khỏi chúng; chúng có một sức thu hút người ta liên miên, trọn đời. Vận số đã định cho chúng đóng một vai trò quan trọng ở thế gian này; dù là dưới một hình thức tối tăm hay như những sự biểu hiện rực rỡ, thế nào chúng cũng chỉ có mục đích: vì một lợi ích mà loài người chưa biết được. Và có lẽ cả cái dục vọng lôi cuốn Tsitsikôp nữa, cũng không phải từ y mà ra; có lẽ cuộc đời ủ ê của y đã mang một cái gì sau này sẽ làm cho mọi người sửng sốt và quỳ gối trước đức hiền minh của thượng đế -Ý Gôgôn định kết thúc Những linh hồn chết bằng việc cải tà quy chính của Tsitsikôp; câu này lộ rõ cái ý ấy-. Vả chăng, việc xuất hiện của con người ấy trong thiên trường ca này đây, bản thân việc ấy cũng đã là một niềm bí ẩn rồi.
Nhưng mà cái nặng nề không phải là việc nhân vật làm cho người ta không ưa; mà là điều chắc chắn tuyệt đối rằng chính nhân vật ấy, chính cái thằng cha Tsitsikôp ấy, lại có thể làm hài lòng các bạn đọc. Giá mà tác giả không dò vào tận những uẩn khúc của tâm hồn y, xáo trộn những cái gì trốn tránh ánh sáng ở tận chốn sâu thẳm, phát giác ra những tư tưởng thầm kín nhất mà người ta không bao giờ ngỏ với ai; giá tác giả chỉ giới thiệu y như y đã ra mắt Manilôp và bà con trong thành phố; thì mọi người đã say mê và cho y là một con người lý thú. Chẳng cần gì đó là bộ mặt, một con người cứ chấp chới như một ảo ảnh không chút sinh khí; chỉ biết là đọc xong cuốn sách, tâm thần không bị hoang mang, người ta yên tĩnh trở lại với cái bàn đánh bài, rất thân thiết với toàn thể nước Nga. Vâng, bạn đọc thân mến ạ, bạn không muốn thấy nỗi thống khổ của nhân loại bóc trần ra. Bạn bảo: “- Ích gì? Tự chúng tôi, há chúng tôi không biết rằng trong đời có nhiều cái đáng khinh và vô lý lắm hay sao? Cơ hội được nhìn thấy những cảnh nặng nề nào có thiếu đâu. Hãy trình bày cho chúng tôi xem những bức tranh đẹp đẽ, hấp dẫn có hơn không? Để chúng tôi vui chơi cho khuây khỏa có hơn không?” .
Một trang chủ bảo người quản lý rằng: “- Này chú, sao lại đem chuyện điền trang làm ăn không ra gì mà nói với tôi? Tôi biết rõ rồi, chú ạ; chú không có gì khác nói với tôi nữa sao? Chú để cho tôi quên đi, đừng biết đến nữa; thế là tôi được sung sướng”.
Và thế là số tiền có thể vãn hồi được tình thế, lại hoang phí vào nhiều cách mua vui, giải phiền cho ông chủ. Một cái trí tuệ, có thể dồi dào phương sách ứng biến với thời cơ lại ngủ lì; trong lúc ấy thì điền trang phải đem bán đấu giá; rồi thì trang chủ đi khắp thế gian để tìm cách khuây khỏa, nhưng tâm hồn đầy oán hận và sẵn sàng làm những việc đê tiện mà trước đây hắn vẫn ghê tởm.
Tác giả lại còn vấp phải những lời buộc tội của những người tự xưng là yêu nước nữa. Những kẻ ấy ngồi yên trong cái xó của họ, chỉ quan tâm đến những việc vụn vặt của họ, lo cóp nhặt vốn liếng, kiếm cho nhiều tiền trên lưng người khác; nhưng hễ xảy ra một việc gì mà họ cho là xúc phạm tới Tổ quốc, hễ ra đời một cuốn sách có nói đến những sự thật nhiều khi cay đắng; là họ tức tốc xồ đến, như con nhện thấy một con ruồi mắc vào cái mạng của nó, và kêu lên: “- Tất cả những gì tả trong ấy đều quan hệ đến chúng tôi; đem phơi bày cả ra chốn thanh thiên bạch nhật như thế có đúng không? Ngoại quốc người ta sẽ nói thế nào? Được nghe một dư luận xấu về mình, dễ chịu lắm hay sao? Thế mà không phiền lòng à? Hay chúng ta không phải là những người yêu nước?”
Đối với những lời nhận xét hiền minh như thế, nhất là về việc dư luận nước ngoài, thì tác giả xin thú thực là không có gì trả lời cả -Những lối nhận xét như thế tuy Gôgôn đoán trước, nhưng sau này sẽ có thật; lúc Những linh hồn chết đưa ra kiểm duyệt. Trong thư ngày 7 tháng giêng năm 1842 viết cho Pletniôp. Gôgôn kể lại rằng: “Bây giờ, đây là ý kiến của các nhà kiểm duyệt Âu châu, những người trẻ tuổi, từ nước ngoài về: “- Dù sao (một người trong bọn tên là Krưlôp nói) giá tiền mà Tsitsikôp trả - hai rúp rưỡi một đầu người - cũng làm cho linh hồn chúng ta phẫn nộ. Dĩ nhiên giá tiền ấy chỉ để mua một cái tên ghi trên giấy; nhưng cái tên ấy là một linh hồn, một linh hồn người; nó đã sống và có tồn tại. Ở Pháp, cũng như ở Anh, sẽ không ai chấp nhận được điều ấy. Rồi đây không một người ngoại quốc nào muốn đến nước ta nữa đâu”. Vì những ý kiến đại khái như thế, hội đồng kiểm duyệt không cho Những linh hồn chết ra đời-. Phải chăng ngoài cái này ra. Có hai người chính trực sống ở một góc hẻo lánh trên đất Nga. Một người, tên là Kifa Môkiêvits; tính tình hiền lành, sống uể oải, thờ ơ; không ngó gì đến gia đình; cuộc đời chỉ hướng về việc suy cứu, tư biện; và bận rộn về vấn đề sau này, mà ông ta gọi một cách trịnh trọng, là một vấn đề triết học:
“- Đấy, những ác thú chẳng hạn, - vừa nói ông ta vừa đi đi, lại lại trong phòng, - ác thú ra đời đều trần trụi cả. Tại sao lại trần trụi như thế? Tại sao không như loài chim, tại sao lại không từ một quả trứng mà nở ra? Thật ra, thật ra, càng đi sâu vào thiên nhiên, càng không nắm được gì hết”.
Kifa Môkiêvits nghĩ như vậy. Nhưng đó không phải là cái cốt yếu. Người chính trực là Môkii Kifôvits, con ông ta -Gôgôn thích đặt cho nhân vật những cái tên oái oăm như vậy-; đúng như thường nói ở nước Nga thì anh ta là một bôgatưa -Bôgatưa là người tráng sĩ trong văn học dân gian Nga-; và trong khi ông bố mải suy nghĩ đến việc đời của các ác thú, thì bản chất dồi dào sinh lực của tuổi hai mươi kia cứ nóng nảy đòi phô trương ra. Anh ta chẳng biết làm cái gì nhẹ nhàng cả; lúc nào cũng do anh ta mà, hoặc có người sái tay, hoặc có người dập mũi. Trong nhà cũng như quanh vùng, ai thấy anh ta cũng phải chạy trốn, từ chị hầu buồng cho chí con chó giữ nhà; anh ta đập nát cả giường của anh ta ra. Môkii Kifôvits như thế, nhưng thật ra lại là một tâm hồn phúc hậu. Nhưng nó chưa phải là cái cốt yếu. Cái cốt yếu là như thế này:
Tôi tớ trong nhà và quanh vùng thường kêu với ông bố rằng: - Thưa cha, thưa chủ, Kifa Môkiêvits ạ, ngài làm phúc cho, chao ôi là cậu cả Môkii Kifôvits! Chẳng còn ai có thể yên ổn được với cậu ta nữa.
- Vâng, nó nóng nảy, nóng nảy lắm, ông bố thường đáp lại thế; nhưng làm thế nào được? Nó lớn rồi, đánh nó sao được nữa; vả lại mọi người sẽ bảo tôi là ác; mà nó thì tự ái. Mắng nó trước mặt người khác tất nhiên nó làm thinh; nhưng không may mà người ngoài biết được, cả thành phố sẽ biết và cho nó là đồ chó. Người ta mà cho là như thế thì không khổ cho tôi hay sao? Tôi chẳng phải bố nó là gì? Vì tôi bận triết học và nhiều khi không có thì giờ, nên không phải là bố nó nữa hay sao? Quỷ bắt họ đi, tôi vẫn là bố nó, là bố nó, là bố nó chứ! Chính đây, vâng, chính quả tim này là nơi tôi đặt Môkii Kifôvits!
Rồi Kifa Môkiêvits nắm tay đấm ngực bình bịch và nổi khùng lên quát: “- Nếu con trai tôi là đồ chó thì nó cứ là đồ chó; nhưng ít ra cũng không phải tôi đi nói ra cho thiên hạ biết; không phải tôi đi tố cáo nó!”
Sau khi đã biểu lộ tình phụ tử như thế rồi; ông ta để cho Môkii Kifôvits tiếp tục những hành vi hảo hán của người bôgatưa; và trở về với đề tài ưa thích của mình, ông ta tự đặt cho mình những câu hỏi đại khái thế này;
“- Nếu con voi mà từ một quả trứng nở ra, thì vỏ trứng sẽ dày một cách phi thường; đại bác bắn không vỡ được và phải sáng chế ra một thứ súng mới vậy!”
Hai cư dân ở cái xó yên tĩnh ấy sống như thế; họ bỗng như hiện ra ở một khung cửa sổ vào cuối thiên trường ca của chúng ta, để khiêm tốn đáp lại lời buộc tội của những người yêu nước nhiệt thành, từ trước đến bây giờ chỉ yên thân nói triết lý hay làm giàu bằng cách đục khoét Tổ quốc thân yêu của họ; và đối với họ, cái cần không phải là không làm việc ác, mà chỉ đừng có ai nói rằng họ làm việc ác. Nhưng, không phải thế; những lời buộc tội ấy không phải vì lòng yêu nước, cũng không phải vì tình cảm bột phát nào; mà che giấu một cái gì đấy. Tại sao không nói ra? Ai là người phải công bố chân lý thần thánh, nếu không phải là tác giả? Các anh sợ một cái nhìn sắc sảo; chính các anh sợ phải thám sát sự vật sâu sắc; các anh thích đi lướt qua tất cả mọi vật với đôi mắt trống rỗng chẳng có chút tư tưởng nào. Các anh cũng thật bụng chê cười Tsitsikôp đấy; và có lẽ các anh còn khen cả tác giả nữa; các anh nói:
- Tuy vậy, hắn cũng quan sát kỹ được một số nét nào đấy! Chắc hắn phải là một thằng cha vui tính lắm!
Sau đấy, lòng tự phụ tăng lên gấp bội và một nụ cười tự mãn nở trên môi, các anh nói thêm:
- Phải thú thật rằng ở một số tỉnh, người ta kỳ quái đến lố bịch; hơn nữa còn là những tên vô lại chính tông!
Nhưng mà, ai là một người trong các anh, giữa cảnh yên tĩnh, tịch liêu của những phen tự vấn lương tâm, với lòng khiêm tốn cơ đốc giáo, sẽ nghĩ kỹ đến câu hỏi nặng nề này: “- Ở tôi cũng có một phần nào của Tsitsikôp chăng?”. Chắc là không có ai như vậy! Nhưng giữa lúc ấy mà có một người quen biết nào, phẩm hàm không cao mà cũng không thấp, đi qua gần chỗ anh; thì anh liền thúc khuỷu tay vào người bên cạnh và vừa kêu, vừa cười ầm lên:
- Nhìn kìa, nhìn kìa; Tsitsikôp, Tsitsikôp đi qua kia kìa!
Rồi, như một đứa trẻ, quên hết sự tôn trọng đối với địa vị và tuổi tác, anh chạy theo y, gọi mãi để chòng ghẹo:
- Tsitsikôp! Tsitsikôp! Tsitsikôp!
Nhưng mà chúng ta đã nói khá to, không nhớ rằng nhân vật của chúng ta, ngủ quên trong khi ta kể chuyện y, đã tỉnh dậy rồi và có thể nghe thấy tên y được nhắc đi nhắc lại. Bạn đọc thì có cần gì cái việc Tsitsikôp giận mình hay không giận; nhưng còn tác giả thì trong bất cứ trường hợp nào, cũng không nên sinh sự với nhân vật của mình: cả hai chúng tôi còn không ít dặm trường nữa phải cùng đi với nhau, tay khoác tay; trước mắt còn hai phần lớn của cuốn sách, đâu phải là việc nhỏ.
- Này, này! Mày nghĩ gì thế? Tsitsikôp quát Xêlifan.
- Cái gì ạ? Xêlifan dài cái giọng ra hỏi lại.
- Sao, cái gì à? Đồ con vịt! Đi cái lối gì thế? Nhanh lên chứ!
Sự thật là Xêlifan đã nhắm đôi mắt lại để ngủ gà, ngủ gật từ lâu; trong cơn mơ màng chỉ thỉnh thoảng lắm mới giật giật dây cương, khẽ chạm vào sườn các con ngựa cũng đã thiu thiu ngủ; còn Pêtruska thì cái mũ bay mất từ lâu, cũng ngả người ra đằng sau, tựa đầu vào gối Tsitsikôp mà ngủ, khiến cho Tsitsikôp phải đẩy ra. Xêlifan tỉnh dậy và vụt lấy, vụt để lên lưng con Vằn, làm cho nó phải chạy nước kiệu; rồi hoa cây roi trên đầu cả ba con, hắn nói giọng nho nhỏ, ê a như hát: “- Có gì mà sợ!”
Ba con ngựa rùng mình và kéo vun vút chiếc britska, nhẹ nhàng như một cái lông. Xêlifan chỉ cần hoa roi, và kêu: “- Hê, hê, hê”; hắn nhảy chồm chồm trên ghế, mỗi khi chiếc trôika lên hay xuống những cái dốc, nhiều vô số trên đường trường; nhưng con đường cũng nghiêng và thấp dần xuống. Người Tsitsikôp cũng nẩy nhè nhẹ trên chiếc đệm da, y mỉm cười vì y thích đi nhanh.
Vả lại người Nga nào mà chẳng thích đi nhanh? Họ không thích thế nào được, khi mà tâm hồn họ khát khao vui chơi, bay lượn và thỉnh thoảng lại nói: “- Quỷ bắt hết cả đi!”. Người ta không thích thế nào được khi người ta cảm thấy một mối nhiệt thành kỳ diệu? Có thể nói là một sức mạnh huyền bí đã mang anh đi trên cánh. Ta bay và tất cả mọi vật cũng bay như ta; các cột chỉ verxta đều bay, những gã lái buôn ta gặp, ngồi trên thành xe kibitka -Kibitka là xe chở hàng có mui- cũng bay; rừng hai bên đường cũng bay với những hàng cây tùng, cây bách âm u với những tiếng rìu bổ và tiếng quạ kêu; tất cả những gì trên đường trường đều bay và mất hút vào nơi xa xăm. Có cái gì ghê rợn trong những sự hiển hiện ngắn ngủi ấy mà sự vật đều thoáng qua không kịp dừng lại; chỉ có bầu trời, những đám mây nhẹ và mảnh trăng đi qua những đám mây ấy là trông còn đứng yên mà thôi. “- Ôi! Trôika! Con chim - trôika: ai đã phát minh ra ngươi?” Ngươi chỉ có thể sinh ra giữa một dân tộc dũng cảm; trên đất nước không làm cái gì nửa vời này, mà đã lan ra như một vết dầu trên một nửa thế giới, chưa kịp đếm hết trên bao nhiêu verxta, là đã mỏi mắt rồi!... Chiếc xe không có gì phức tạp, người ta sẽ nói như thế: nó không được đóng bằng đinh ốc sắt, mà chỉ dựng lên và lắp vào một cách đại khái, bằng rìu và dao gọt; do bàn tay khéo léo của người mujik ở Iarôxlap. Người đánh xe không đi ủng to kiểu Đức; với bộ râu và đôi bao tay, hắn ngồi lên xe, có quỷ biết là như thế nào; nhưng khi hắn vừa khẽ nhướn người lên, hoa cây roi và cất tiếng hát, thì mấy con ngựa hùng dũng lồng lên: các nan hoa chỉ còn là một mặt phẳng liền; dặm trường phải rung chuyển, khách bộ hành hoảng hốt thốt lên một tiếng kêu; và chiếc trôika vút lên, vút lên, vút lên… Và, từ xa, chỉ còn thấy như một vật lao xuyên qua không khí.
“Và ngươi, nước Nga, chẳng phải ngươi cũng bay vút lên như một chiếc trôika mãnh liệt, không ai có thể vượt được? Ngươi đi qua, dặm trường bụi cuốn mịt mù; những chiếc cầu kêu răng rắc; mọi vật bị bỏ lại, nằm lại đằng sau ngươi! Kẻ nhìn ngươi phải dừng chân, sửng sốt vì sự thần diệu phi thường ấy. Phải chăng là sét trên trời giáng xuống? Cuộc chạy không gì kìm hãm nổi, làm cho người ta khiếp sợ ấy có ý nghĩa gì? Có cái sức bí ẩn nào tiềm tàng trong các con ngựa mà thế gian chưa từng thấy bao giờ ấy? Ôi, tuấn mã, tuấn mã, tuấn mã, tuyệt vời! Những cơn gió lốc nào thổi tung bay bờm của các ngươi? Cái tai rất thính nào ẩn trong mỗi một mạch máu li ti của các ngươi; vừa nghe trên đầu cất lên bài hát quen thuộc, các tuấn mã ưỡn đều bộ ngực đồng đen cùng một lúc; và móng chân chỉ hơi lướt qua mặt đất, chúng vươn mình thành một đường căng thẳng duy nhất, lao vút qua không khí, được cuốn theo một linh cảm thánh thần… Nước Nga, ngươi bay đi đâu? Hãy trả lời ta.” - Không hề có câu trả lời. Tiếng nhạc ngựa nghe vẫn du dương; không khí bị xé tan, ầm ầm như tiếng sấm, và chuyển thành gió; tất cả những gì ở trên trần thế đều bị bỏ lại sau; và với một cái nhìn thèm thuồng, các dân tộc rẽ ra, nhường lối cho nước Nga.


BỐN BỨC THƯ CỦA TÁC GIẢ
nói về Những linh hồn chết.

Phần thứ nhất
Bốn bức thư này in trong chương XVII của cuốn Trích thư từ gửi các bạn tôi xuất bản cuối năm 1846; nhưng những thư này chỉ là những lời thanh minh của tác giả, không phải là những thư gửi đi cho ai cả.

I.
Anh có tỏ ý phẫn nộ vì cái giọng quá quắt của một số lời chỉ trích Những linh hồn chết. Tôi thấy như thế không được đúng: việc đó cũng có mặt tốt: đôi khi cũng cần có người phỉ báng mình. Người nào đã mê say với những cái đẹp rồi thì không thấy được những cái xấu, cho nên cái gì cũng dung thứ cả; ngược lại người nào đã muốn dèm pha thì cố tìm cho ra những cái xấu của anh và nêu rõ cái xấu đó lên đến nỗi buộc lòng anh phải thấy. Người ta ít khi có dịp nghe sự thật lắm; cho nên chỉ cần được một phần nhỏ sự thật thôi, người ta cũng đã có thể dung thứ cái giọng phỉ báng của kẻ lên tiếng nói sự thật. Những lời phê phán của Bungarin Xenlôpxki, Pôlêvôi có nhiều cái đúng, kể cả lời họ khuyên tôi nên học tiếng Nga trước khi có tham vọng viết lách -Những linh hồn chết phần thứ nhất, ra đời năm 1842, bị những nhà phê bình lạc hậu và phản động ghen ghét la ó. Trong tờ Tín sứ Nga, nhà phê bình lãng mạn chủ nghĩa N.A Pôlêvôi cho rằng Những linh hồn chết chỉ là một bức biếm họa, không thể xem là nghệ thuật được và tác giả chưa biết viết văn, còn mắc nhiều lỗi ngữ pháp; Pôlêvôi viết: “- Hãy gác sang một bên những cảm hứng bồng bột của anh mà đi học tiếng Nga đi!”. Có người chế giễu chữ poema ở bìa sách và suy diễn ra, gọi cả những sách giáo khoa vật lý học và sách dạy làm vườn là poema. Nhưng những lối phê bình ấy làm cho quần chúng chân chính rất căm phẫn-. Quả nhiên, giá tôi giữ bản thảo trong ngăn kéo thêm một năm nữa, chứ đừng vội vã cho in; thì chính bản thân tôi cũng đã thấy rằng không thể nào đem nó ra mà xuất bản dưới một hình thức kém cỏi như vậy. Tuy những bài thơ châm biếm và những lời chế giễu lúc đầu có làm cho tôi khó chịu thật; nhưng vẫn rất bổ ích cho tôi. Ôi! Những lời dèm pha liên miên ấy, cái giọng phỉ báng và những lời chế giễu cay cú ấy, thật có lợi cho ta không biết bao nhiêu mà kể! Trong thâm tâm ta thường giấu nhiều tự ái ti tiện, nhiều tham vọng xấu xa, đến nỗi ta cần phải luôn luôn bị châm chích, đánh đập bằng đủ mọi thứ khí giới; và phải cảm ơn bàn tay đã đánh ta.
Tôi những mong được phê phán nhiều hơn nữa, nhưng lại muốn rằng người phê phán không phải là những người làm văn học, mà là những người có kinh nghiệm về thực tế. Tiếc thay, ngoài những người làm văn học, không có một bộ óc thực tiễn nào lên tiếng cả. Tuy nhiên Những linh hồn chết cũng đã gây nên lắm xôn xao bàn tán, lắm lời đồn đại, đã xúc phạm đến lòng tự ái của khá nhiều người vì lối giễu cợt, vì tính xác thực, vì lối biếm họa. Tuy đầy rẫy những sự lầm lẫn, sai lệch hiển nhiên; nó cũng đả động đến một tình hình mà ai nấy đều được chứng kiến hàng ngày. Tôi lại còn xen vào đấy một số đoạn có tính chất khiêu khích, hy vọng rằng sẽ có người lên tiếng quát mắng tôi và trong cơn phẫn nộ, sẽ vô tình mách cho tôi biết cái sự thực mà tôi đang tìm kiếm. Tại sao chưa có ai lên tiếng cả? Ai ai cũng đều có thể làm việc đó, và có đủ cơ sở để làm việc đó. Người viên chức có thể công khai chứng minh cho tôi thấy rằng câu chuyện tôi kể là không xác thực, bằng cách kể ra vài ba sự kiện có thật đã xảy ra và như vậy là đã đưa ra một lời cải chính hùng hồn hơn bất cứ lời biện luận nào. Vả chăng, cũng bằng cách ấy, người kia cũng lại có thể xác nhận thêm những lời miêu tả của tôi. Việc dẫn sự kiện có sức thuyết phục hơn là những lời lẽ rỗng tuếch và những bài luận văn về văn học. Nhà buôn, trang chủ, nói tóm lại là bất cứ ai biết cầm bút, cũng đều có quyền làm như vậy; dù người ấy chỉ sống quanh quẩn trong nhà hay vẫn thường đi đây đó khắp đất nước Nga. Ngoài ý kiến cá nhân của mình ra, bất cứ người nào, dù giữ chức vụ gì, ở địa vị xã hội nào, nghề nghiệp, học vấn ra sao, cũng đều có dịp quan sát sự việc trên một quan điểm riêng. Với đề tài của Những linh hồn chết, lẽ ra quần chúng độc giả có thể viết nên một cuốn sách hay hơn Những linh hồn chết không biết bao nhiêu mà kể; một cuốn sách có thể dạy nhiều điều, không những cho tôi, mà ngay cho các bạn đọc nữa; bởi vì giấu giếm mà làm gì, chúng ta đều biết nước Nga rất ít.
Chao ôi! Tại sao không có ai công khai lên tiếng! Thật có thể tưởng chừng như mọi vật đều đã chết; và ở nước Nga, những linh hồn sống đã nhường chỗ cho Những linh hồn chết! Thế mà người ta lại trách tôi không biết rõ nước Nga! Làm như thể do một phép lạ của Đức chúa Thánh thần tôi nhất thiết phải biết rõ tất cả những sự việc xảy ra ở bất cứ xó xỉnh nào; phải học cho kỳ hết, không cần ai chỉ dẫn cả. Tôi làm thế nào mà học hỏi được! Thử nghĩ một nhà văn như tôi, vì nghề nghiệp phải ngồi ru rú ở nhà, sống cuộc đời khổ hạnh, lại thêm bệnh tật nữa và buộc lòng phải sống xa nước Nga; thì còn học hỏi làm sao được? Tôi không thể học hỏi các nhà văn hay các nhà báo, vì họ cũng sống cô độc và quanh quẩn trong phòng giấy. Nhà văn chỉ có một người thầy: bạn đọc. Thế nhưng những bạn đọc ấy đã từ chối, không chịu dạy dỗ tôi. Tôi biết rằng tôi sẽ phải chịu trước Thượng đế một trách nhiệm ghê gớm vì đã không làm tròn bổn phận; nhưng tôi lại biết rằng những người khác cũng sẽ phải chịu một trách nhiệm như thế. Và đây không phải là những lời nói suông: có Thượng đế chứng giám cho tôi, đây không phải là những lời nói suông.

1843

II.
Tôi đã cảm thấy từ trước là những đoạn mạn đàm trữ tình trong thiên trường ca của tôi sẽ bị hiểu sai. Những đoạn ấy thiếu minh xác, ít ăn nhập với tình tiết và phong cách của cuốn truyện, đến nỗi khiến cho những người công kích tôi, cũng như những người bênh vực tôi, đều bị lầm. Người ta đã tưởng lầm rằng tất cả những đoạn nói về nhà văn nói chung, đều nhằm nói về tôi cả; tôi đã lấy làm xấu hổ khi thấy họ giải thích những đoạn ấy để bênh vực tôi. Chẳng qua, cũng đáng kiếp cho tôi! Lẽ ra, dù sao tôi cũng không nên cho xuất bản một tác phẩm tuy cắt khéo, nhưng khâu thì lại vụng, bằng chỉ trắng lên vải đen; như một bộ áo quần mà người thợ may vừa lược chỉ qua để thử. Tôi lấy làm lạ sao người ta ít có lời chê trách tôi về nghệ thuật và nghiệp vụ như vậy. Âu cũng tại những người phê phán tôi quá phẫn nộ, mà cũng tại họ không đủ sức khảo sát cách cấu tạo của một tác phẩm. Lẽ ra phải nêu rõ phần nào có vẻ dài một cách quái gở so với các phần khác; ở chỗ nào nhà văn đã tự phản mình, vì không nhất quán dùng cái giọng mà mình đã chọn từ đầu. Thậm chí cũng không có ai nhận thấy phần thứ hai của cuốn sách không được gọt giũa bằng phần đầu; nó chứa đựng những chỗ hổng lớn; những nét thứ yếu được khai triển quá mức, choán hết chỗ của những nét chính; các chương quá khác nhau, làm cho cuốn sách có tính chất vá víu, khiến người đọc không thấy tinh thần chung của nó. Nói tóm lại, lẽ ra nhà phê bình có thể có những lời phê phán sáng suốt và chính xác hơn, chê trách tôi nhiều hơn và một cách đích đáng hơn không biết bao nhiêu mà kể. Nhưng vấn đề không phải ở chỗ ấy. Đây tôi muốn nói đến cái đoạn mạn văn trữ tình đã bị các nhà báo công kích nhiều hơn cả, vì họ thấy nó biểu lộ một sự kiêu ngạo, một lòng tự mãn -Biêlinxki phê bình Những linh hồn chết, phần thứ nhất, ngay khi sách mới xuất bản, trong tạp chí Niên san của Tổ quốc, ca tụng khả năng hiện thực chủ nghĩa và tâm hồn nhiệt thành của tác giả: nhưng cho rằng tác phẩm có những đoạn tỏ lòng yêu nước quá huênh hoang-, một lối khoác lác xưa nay chưa từng thấy ở một nhà văn nào. Đó là đoạn mạn văn ở chương cuối: sau khi tả Tsitsikôp ra đi, tác giả bỏ nhân vật của mình ở giữa đường thiên lý, thay mình vào chỗ đó và ngạc nhiên trước vẻ đơn điệu chán ngắt của sự vật, trước khoảng không gian bao la hoang vắng và tiếng hát ai oán từ dải đất Nga vang lên suốt từ biển này sang biển kia; trong một phút cảm khái, đã lên tiếng hỏi bản thân nước Nga, van xin nước Nga cắt nghĩa mối cảm xúc khó hiểu đang làm lòng mình thắt lại: tại sao cứ có cảm giác như tất cả mọi sinh linh, mọi sự vật trong nước Nga đều như đang nhìn mình đăm đăm và chờ đợi ở mình một cái gì? Người ta đã thấy trong những lời lẽ đó bằng chứng của kiêu ngạo, một sự huênh hoang không tiền khoáng hậu; nhưng thật ra đây không phải là huênh hoang, cũng chẳng phải là kiêu ngạo, mà chỉ là sự diễn đạt một cách vụng về của một tình cảm chân thành. Ngay giờ phút này, tôi vẫn còn cảm thấy ấn tượng đó. Tôi không sao chịu đựng nổi những âm thanh ai oán, não lòng của một bài ca Nga khi nó rung lên trong không gian vô tận của thôn quê ta. Những âm thanh ấy ám ảnh tâm hồn tôi. Thậm chí tôi còn lấy làm lạ sao mỗi một người trong chúng ta lại không biết đến cái cảm giác đó. Ai là người trông thấy những không gian vắng lặng, lạnh lẽo ấy mà không thấy lòng mình se lại; ai là người trong những âm thanh thê thiết của bài dân ca Nga, không nhận thấy những lời trách móc đau xót đối với bản thân mình - tôi nói rõ: đối với bản thân mình - thì người ấy đã làm xong bổn phận của mình một cách trọn vẹn, trừ phi không có một tâm hồn Nga.
Sự vật như thế nào, ta hãy cứ nhìn nhận nó như thế. Gần một trăm năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày Hoàng đế Piôtr đệ nhất mở mắt ra cho chúng ta, dắt dìu chúng ta bước lên con đường văn hóa Âu châu, và đặt vào tay chúng ta đủ mọi phương tiện hành động: thế nhưng nông thôn của ta vẫn buồn tẻ và hoang vắng như xưa. Quanh ta mọi vật đều có vẻ ghẻ lạnh, thù địch; tưởng chừng chúng ta chưa phải đang ở trong nhà mình, mà chỉ là đang cắm trại trên đường trường; tưởng chừng đối với ta, nước Nga không phải là một nơi trú ẩn ấm áp, thân tình, mà là một ngôi trạm phủ tuyết lạnh ngắt; ở đấy chỉ thấy hiện ra một gã coi trạm lãnh đạm buông thõng một câu trả lời gắt gao: “- Không có ngựa!”. Tại sao lại như thế? Lỗi tại ai? Tại chính phủ hay tại ta? Nhưng chính phủ vẫn hoạt động không ngừng: chứng cớ là những tập quy chế, chỉ thị, sắc lệnh dày cộm, cái số khổng lồ những tòa nhà đã xây, những cuốn sách đã xuất bản; những thiết chế đủ loại, giáo dục có, từ thiện có, bác ái có; không kể những thiết chế mà ở nước ngoài không thấy chính phủ nào lập ra. Từ trên có những câu hỏi đưa xuống, ở dưới có những lời giải đáp đưa lên. Đôi khi ở trên đưa xuống những câu hỏi chứng tỏ sự đại lượng của một vài nhà vua đã dám hy sinh cả quyền lợi bản thân. Thế mà ở dưới đã trả lời ra sao? Tất cả đều tùy ở cách thức, ở nghệ thuật ứng dụng một tư tưởng sao cho nó thành hiện thực và đi hẳn vào đời sống. Một đạo dụ, dù nội dung có hay ho, dù lời lẽ có chính xác bao nhiêu chăng nữa, cũng vẫn chỉ là một tờ giấy không hồn; nếu ở dưới không tỏ ra có ý muốn đem ứng dụng nó theo một cách thức thích đáng, theo cái cách thức mà chỉ có người nào quan niệm sự công bằng dưới ánh sáng của Thượng đế, chứ không phải dưới ánh sáng của con người, mới tìm ra được. Nếu không, tất cả sẽ thành ra có hại. Chứng cớ là những tay gian lận và ăn hối lộ tinh ma của chúng ta vốn biết cách xoay xở với tất cả các quy chế; một đạo dụ mới đối với họ là một nguồn thu hoạch mới, một phương tiện mới để làm cho sự giải quyết công việc rối ren thêm, để thọc thêm một gậy vào bánh xe.
Nói tóm lại, nhìn về đâu tôi cũng thấy rằng thủ phạm chính là những kẻ có bổn phận thi hành pháp luật. Có người vì quá ước ao danh vọng và huân chương, mà đâm ra hấp tấp. Lại có người vì muốn tỏ ra nhiệt thành và tận tụy - một thói xấu rất Nga, - mà cứ đâm đầu vào công việc, không chịu khó nghiên cứu, những tưởng mình có thể điều khiển công việc một cách thành thạo; nhưng hễ thất bại một lần là nản chí ngay, và sau đó, - cũng một thói xấu không kém tính chất Nga, - lập tức thờ ơ với công việc. Lại có người, khi lòng tự ái nhỏ nhen của mình bị tổn thương, liền để lọt vào tay một tên trùm bịp bợm cái cương vị mà ở đấy mình đã bắt đầu phấn đấu cho chính nghĩa. Nói tóm lại, trong chúng ta, ít có người biết yêu cái thiện đến mức có thể vì việc thiện mà hy sinh tham vọng, tự ái cùng tất cả những cái nhỏ nhen của một lòng vị kỷ dễ đâm ra cay cú đến mức có thể khép mình vào một luật lệ bất di bất dịch là phụng sự đất nước, chứ không phải phụng sự bản thân mình; luôn luôn nhớ rằng mình ở cương vị là để mưu cầu hạnh phúc cho người khác, chứ không phải cho bản thân. Ngược lại từ ít lâu nay người Nga chúng ta tuồng như có dụng tâm muốn phô trương tính vị kỷ và dễ chạnh lòng của mình ra.
Không biết trong chúng ta liệu có những người mà sau khi làm tròn nhiệm vụ mình rồi, có thể đứng trước toàn thể thiên hạ tuyên bố rằng mình không có lỗi gì đối với nước Nga hết; rằng khắp những khoảng đồng không mông quạnh của đất nước này, không có cái gì có thể coi như một lời trách móc đối với mình cả; rằng mọi vật đều hài lòng về mình và không còn mong chờ gì hơn nữa không? Tôi không biết số người có thể làm như vậy có nhiều không. Tôi chỉ biết rằng riêng tôi, tôi đã nghe thấy lời trách móc thầm lặng đó. Giờ đây, nó vẫn còn văng vẳng bên tai tôi. Sự nghiệp văn chương của tôi có hèn kém thật, nhưng lẽ ra dù sao nó cũng có thể giúp tôi là một việc có ích hơn. Tuy lòng tôi xưa nay vẫn ấp ủ khát vọng làm điều thiện và chỉ vì khát vọng đó mà tôi cầm bút; những cái đó phỏng có gì quan trọng đâu! Tôi đã làm tròn nhiệm vụ ấy như thế nào? Chẳng hạn, cuốn sách vừa rồi của tôi, nhan đề Những linh hồn chết, liệu có gây được cái ấn tượng mà lẽ ra nó phải gây nên; nếu nó được viết cho đúng với yêu cầu không? Vì không biết diễn đạt những ý nghĩ của chính mình; tuy đó là những ý nghĩ khá giản đơn, tôi đã làm cho nó bị hiểu sai, và lại hiểu sai theo một hướng có phần tai hại. Lỗi tại ai đây? Tôi có nên viện cớ là đã nghe theo những thị hiếu xốc nổi của những kẻ tài tử ưa chuộng những phong cách hào nhoáng và trống rỗng không? Tôi có nên đổ lỗi cho hoàn cảnh và tuyên bố rằng vì cần kiếm kế sinh nhai mà phải cho in vội, in vàng tác phẩm của mình không? Không. Ai là người đã từng quyết chí làm tròn nhiệm vụ một cách trung thực thì không thể để cho hoàn cảnh chi phối mình được; nếu cần, thà ngửa tay ra ăn xin, chứ quyết không nhượng bộ trước những lời chê trách hời hợt hay những ước lệ giả dối của xã hội được. Người nào đã vì muốn tuân theo những ước lệ giả dối đó mà làm hỏng một tác phẩm có ích cho nước nhà, thì người đó không phải là người yêu nước. Chính vì tôi đã cảm biết được cái tính nhu nhược đáng hổ thẹn của tôi, cái tính hèn nhát đáng khinh của tôi, nỗi bất lực của lòng yêu nước của tôi; cho nên tôi mới nghe thấu được lời trách móc đau xót mà tất cả những sự vật đang ở trong nưóc Nga đã lên tiếng nói với tôi. Nhưng một sức mạnh cao cả đã nâng tôi dậy; không có lỗi lầm nào không bổ cứu được; và tuy lúc đầu tôi đã chán nản trước cảnh tượng những không gian hoang vắng, về sau chính cảnh tượng ấy đã làm cho tôi đầy nhiệt tình: tôi đã thấy khoảng không vô tận ấy là một môi trường hoạt động tuyệt vời. Và tự đáy lòng tôi đã thốt lên lời kêu gọi đất nước Nga: “- Chẳng phải Ngươi vốn có sứ mệnh sinh ra những bậc anh hùng đó sao? Ngươi hiến cho họ biết bao nhiêu là không gian để xây dựng sự nghiệp!”
Đó không phải là một câu văn viết cho kêu để lòe người, cũng không phải là một lời huênh hoang. Không: lời kêu gọi đó tôi thốt ra tự đáy lòng, và đến nay lòng tôi vẫn còn rung cảm vì nó. Giờ đây, sống ở nước Nga bất cứ lúc nào người ta cũng có thể trở thành một bậc anh hùng. Mỗi địa vị, mỗi chức vụ đều đòi hỏi bản lĩnh anh hùng. Mỗi người trong chúng ta đã làm ô uế tính chất thiêng liêng của địa vị và chức vụ của mình (tất cả mọi chức vụ đều thiêng liêng), đến nỗi phải có những sự cố gắng anh dũng mới đưa được địa vị và chức vụ trở lại trạng thái cao cả thích đáng. Trực giác tôi đã cảm thấy được sự nghiệp cao quý ấy, sự nghiệp ngày nay chỉ dành cho dân tộc Nga mà thôi; vì chỉ có dân tộc Nga biết được chủ nghĩa anh hùng và thấy trải ra trước mắt mình những khoảng không vô tận như vậy. Chính vì thế mà tôi đã thốt lên lời than kia, lời than mà người ta đã tưởng lầm là một biểu hiện của tính kiêu ngạo, một lời huênh hoang.

1843

III.
Tôi lấy làm lạ rằng một người am hiểu lòng người như anh mà lại có thể đi hỏi tôi những câu ngớ ngẩn chẳng khác gì những người khác. Phần lớn những câu hỏi ấy đều liên quan đến phần sau này của bộ sách: tò mò như vậy mà làm gì? Chỉ có mỗi một câu hỏi thật là tế nhị và xứng đáng với anh; và tuy cũng chưa dám chắc là có thể trả lời một cách thỏa đáng, tôi vẫn ước ao rằng có những người khác cũng hỏi tôi câu đó. Cụ thể là: tại sao những nhân vật trong các tác phẩm gần đây của tôi, nhất là trong Những linh hồn chết, tuy không phải là những bức chân dung của người thật, lại cũng chẳng có gì hấp dẫn cho lắm, mà sao vẫn có vẻ thân thuộc, gần gũi với chúng ta; tưởng như có thể tìm thấy ở các nhân vật đó những nét riêng của bản thân mình? Mới năm ngoái đây thôi, giá có ai hỏi như vậy, dù người đó là anh đi nữa, thì tôi sẽ lúng túng, khó trả lời. Nhưng bây giờ thì tôi xin thú hết: sở dĩ các nhân vật của tôi gần gũi với lòng người là vì chúng ở lòng người mà ra; tất cả những tác phẩm gần đây của tôi đều là lịch sử của tâm hồn tôi. Để anh hiểu rõ hơn những điều này, tôi xin giãi bày để anh rõ tôi là nhà văn như thế nào. Người ta đã bình luận về tôi khá nhiều: người ta đã xác định một số khía cạnh trong tài năng của tôi, nhưng vẫn chưa nhận ra nét căn bản của nó. Puskin là người duy nhất đã nhận thấy nét đó. Puskin vẫn nói với tôi rằng chưa có nhà văn nào có được đến mức như tôi, cái năng khiếu làm hiện rõ sự nhạt nhẽo của cuộc đời, làm cho sự tầm thường dung tục nổi lên, sắc sảo đến nỗi những chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng đập ngay vào mắt người ta. Đó chính là cái khả năng thiên bẩm trội nhất của tôi, cái khả năng mà quả nhiên không còn nhà văn nào có. Tôi bẩm sinh đã có khả năng đó, và sau một cơn khủng hoảng tinh thần, nó lại càng phát triển thêm. Và đó chính là điều mà dạo ấy tôi chưa thể thú nhận, dù là với Puskin cũng vậy.
Trong Những linh hồn chết, khả năng đó còn thể hiện một cách mạnh mẽ hơn nữa. Sở dĩ Những linh hồn chết đã làm cho nước Nga hoảng sợ và đã gây nên nhiều tiếng xôn xao như vậy, không phải là vì nó phát hiện những ung nhọt hay những bệnh tật ở bên trong; đó không phải là vì nó bày ra cái cảnh đắc thắng của sự xấu xa và cái cảnh những người vô tội bị áp bức, khiến người ta sửng sốt. Không, các nhân vật của tôi không phải là những kẻ vô lại. Tôi chỉ cần thêm một nét dễ ưa vào một trong các nhân vật đó là bạn đọc sẽ vừa lòng với tất cả các nhân vật khác; nhưng vẻ tầm thường dung tục của toàn thể khiến bạn đọc ghê tởm. Các nhân vật của tôi nối đuôi nhau xuất hiện, nhân vật này lại tầm thường hơn nhân vật kia; và độc giả hoài công đi tìm một đoạn có thể an ủi mình, một nơi có thể dừng lại để thở; gấp sách lại, bạn đọc tưởng như vừa từ cái hầm ngột ngạt bước ra để trở lại với ánh mặt trời. Giá đó là những tên gian phi có lắm màu, lắm vẻ đẹp mắt, thì hẳn người ta đã bỏ quá cho tôi; đằng này lại là những kẻ rất mực tầm thường, nên người ta không dung thứ được. Sự vô nghĩa lý của người Nga đã làm cho bạn đọc hoảng sợ hơn là những thói hư tật xấu của họ. Đáng khen thay nỗi kinh hoàng đó! Đã thấy ghê tởm như vậy trước sự đê tiện, hẳn phải có những đức tính trái ngược với sự đê tiện. Vậy thì cái khả năng trội nhất của tôi chính là ở chỗ đó; và xin nhắc lại rằng cái khả năng ấy lẽ ra không phát triển mạnh như vậy nếu tâm trạng của tôi và quá trình diễn biến tinh thần của tôi không góp sức vào đấy. Trong các bạn đọc của tôi, không có ai biết rằng trong khi cười các nhân vật của tôi, họ cũng cười cả chính bản thân tôi đó.
Tôi không có một tật xấu, một đức tính nào đủ mạnh để chế ngự các tật xấu, các đức tính khác; ngược lại, tất cả những tính xấu mỗi cái một tí, đều họp nhau trong con người tôi; tôi chưa từng thấy ai tập họp nhiều tính xấu như thế. Thượng đế đã phú cho tôi một bản tính rất phức tạp. Người đã cho tôi một vài đức tính; đức tính đẹp nhất mà tôi không biết làm thế nào để tạ ơn người, là ước vọng tu thân. Tôi chưa bao giờ thích thú với những thói xấu của mình và cũng may mà Thượng đế chí nhân đã cho tôi phát hiện dần từng thói xấu một chứ không phải đột nhiên khám phá ra tất cả một lúc, trong khi tôi chưa quan niệm được lòng từ bi vô cùng vô tận của Người; nếu không thì chắc chắn tôi đã treo cổ mà chết cho rồi. Trong khi tôi dần dần phát hiện ra những tính xấu của mình, thì một sự xui khiến kỳ diệu của bề trên làm cho tôi tăng thêm ý muốn trút bỏ những tính xấu đó đi; một cơn khủng hoảng tinh thần kỳ dị đã thúc đẩy tôi chuyển những tính xấu đó cho các nhân vật của tôi. Cơn khủng hoảng đó cụ thể ra sao thì anh cũng không nên biết làm gì; ví thử điều đó có chút gì bổ ích cho bất cứ ai, thì tôi đã nói ra từ lâu rồi. Từ dạo ấy, tôi bắt đầu lấy những tính xấu của tôi thêm vào các tính xấu của nhân vật. Tôi làm như thế này: tôi lấy tính xấu của tôi gán cho một người nào mà cương vị và chức vụ khác tôi, rồi theo dõi tác dụng của nó trong người ấy; tôi cố gắng hình dung người đó là một kẻ thù không đội trời chung của tôi, đã từng lăng nhục tôi một cách tàn tệ; tôi hằn học, chế nhạo, dè bỉu hắn. Giá có ai trông thấy những quái vật mà ngòi bút tôi đã vẽ ra lúc đầu, người đó hẳn phải rùng mình, sởn gáy. Tôi chỉ xin nói với anh rằng khi nghe tôi đọc những chương đầu của Những linh hồn chết dưới dạng thức nguyên sơ, thì Puskin, - tính vốn hay cười xưa nay và bao giờ cũng vui lên khi nghe tôi đọc, - lần này lại cau mặt, mỗi lúc một thêm ủ dột. Khi tôi đọc xong, Puskin thốt lên, giọng thảm đạm: “Trời ơi, nước Nga của chúng ta thật buồn quá!”
Tôi lấy làm lạ Puskin biết rõ nước Nga như vậy mà vẫn không nhận thấy rằng đây toàn là biếm họa và bịa đặt! Đến đây tôi mới hiểu thế nào là ý nghĩa của một tác phẩm tự đáy lòng viết ra, và người ta có thể trình bày bóng tối và tình trạng thiếu ánh sáng đáng sợ dưới một hình thức khủng khiếp như thế nào. Từ đấy tôi bắt đầu suy nghĩ cách làm giảm bớt cái ấn tượng nặng nề mà Những linh hồn chết có thể để lại trong lòng người đọc. Tôi nhận ra rằng có nhiều tính xấu không đáng để cho người ta tức giận; tốt hơn là hãy cứ vạch hết cái hư không của nó ra. Tôi cũng muốn xem thử người Nga ta sẽ nói thế nào khi đứng trước sự ti tiện của nó. Theo bố cục của Những linh hồn chết đã được vạch ra từ lâu, thì những nhân vật có mặt trong phần đầu của thiên trường ca chính là những con người vô nghĩa lý. Song không thể vẽ thành những bức chân dung được, mà phải dồn vào các nhân vật đó, dĩ nhiên là dưới một hình thức sa đọa hơn; những nét mượn của những kẻ hay tự cho mình tốt hơn kẻ khác. Ngoài những nét của bản thân tôi ra, ở đây có thể tìm thấy những nét của các bạn tôi. Có một số nét vốn là của anh; tôi sẽ chỉ cho anh thấy khi nào việc đó có thể bổ ích cho anh; và từ bây giờ cho đến lúc ấy thì tôi sẽ giữ kín. Tôi đã phải tước của tất cả những người tốt mà tôi biết, những cái đê hèn và xấu xa ngẫu nhiên thấy có ở họ, để đem trả lại cho các chủ nhân chính đáng của nó. Anh đừng hỏi tôi tại sao phần đầu lại phải chứa toàn những nét đê tiện và đưa lên sân khấu toàn những kẻ dung tục; các tập sách sau sẽ trả lời anh rõ. Tuy có bao nhiêu khuyết điểm như vậy, phần đầu cũng đã có công hiệu: nó đã làm cho mọi người căm ghét các nhân vật của tôi và cái vô nghĩa lý của chúng; nó đã gây nên một sự bất mãn đối với bản thân và một cảm giác buồn buồn mà tôi cho là cần thiết. Tạm thời tôi thấy như thế đã là đủ. Dĩ nhiên, cái công hiệu đó sẽ lớn hơn, nếu tôi chịu khó gọt giũa cho cuốn sách hoàn chỉnh hơn, chứ đừng vội đem xuất bản. Vì chưa tách hẳn ra khỏi bản thân tôi được, cho nên các nhân vật của tôi chưa có một cuộc sống thật là độc lập. Tôi chưa đặt được cho chúng đứng thật vững trên cái mảnh đất mà rồi đây sẽ là đất của chúng; tôi chưa bao bọc chúng trong một bầu không khí có tính chất Nga đầy đủ. Cuốn sách này là một tác phẩm đẻ non; nhưng cái tinh thần chủ đạo đã bắt đầu toát ra được chút ít và việc xuất bản vội vàng như vậy cũng có thể có ích cho tôi, ở chỗ nó khiến cho các bạn đọc nảy ra ý mách bảo tôi những điều nhầm lẫn, mà tôi đã có thể phạm phải trong khi miêu tả cuộc đời tư nhân cũng như sinh hoạt xã hội của dân Nga. Giá anh đừng hỏi tôi những câu ngớ ngẩn đã choán hết nửa bức thư của anh, những bức câu hỏi chỉ nhằm thỏa mãn về một trí tò mò vô ích; mà lượm lặt tất cả những lời nhận xét xác đáng về cuốn sách của tôi, dù là nhận xét của anh hay nhận xét của những người thông minh khác cũng sống một cuộc đời hoạt động và thực tiễn như anh; giá anh thêm vào đấy một số sự kiện khả dĩ xác nhận hay phản bác ý này hay ý khác của tôi; mà những sự kiện hay những mẩu chuyện như vậy thì ở tỉnh anh, cứ xung quanh mỗi trang của tôi, có thể thu nhặt được hàng tá; giá được như thế thì anh đã làm một việc hữu ích và công việc của tôi sẽ dễ dàng hơn biết bao nhiêu!
Nhưng chẳng ai chịu nghe tôi cả; ai nấy đều coi khinh những câu hỏi của tôi, và chỉ những câu hỏi của bản thân họ thì họ mới cho là quan trọng; thậm chí còn có những người, tuy không hiểu rõ mình muốn gì cho lắm, vẫn đòi hỏi tôi phải thẳng thắn, phải thành khẩn thế nào đấy, tôi cũng không biết nữa. Việc gì cứ phải muốn biết trước sự việc; việc gì phải vội vàng như thế? Anh cũng đã bắt đầu nhiễm cái thói ấy rồi đấy. Anh thử nghĩ xem: trong thiên nhiên, mọi sự đều diễn ra một cách khôn ngoan, thong thả, hài hòa biết chừng nào! Các hiện tượng liên hệ với nhau một cách ăn ý biết chừng nào! Chẳng biết tại sao chỉ có chúng ta là cuống quít, quay cuồng như thể lên cơn sốt nóng. Anh viết thư cho tôi đúng như thế đấy: “Phải làm sao cho phần thứ hai ra thật chóng”. Anh đã cân nhắc kỹ những lời lẽ ấy chưa? Tôi đã dại dột đem xuất bản phần thứ nhất quá sớm; tôi lại sẽ dại dột một lần nữa, nếu hấp tấp cho xuất bản phần thứ hai, chỉ vì tôi đã làm cho mọi người bất bình. Tôi điên rồi hay sao? Nỗi bất bình ấy cần cho tôi; những nỗi bất bình có lẽ sẽ cho tôi biết một điều gì. Vả lại anh căn cứ vào đâu mà kết luận rằng phần thứ hai phải cho ra đúng vào lúc này? Anh chui được vào não tôi chắc? Anh đã hiểu thấu thực chất của cái phần thứ hai đó chưa? Theo anh thì nó phải ra ngay bây giờ, theo tôi thì phải hai hay ba năm nữa là sớm nhất mà cũng phải xem từ bây giờ đến lúc ấy, hoàn cảnh có thuận lợi cho tôi không đã. Vậy ai đúng? Người đã mang sẵn cái phần thứ hai ấy trong óc, hay người chưa biết gì về nội dung của nó cả? Ở Nga, có cái mốt thật kỳ lạ! Một anh chàng lười biếng, ăn không ngồi rồi, lại xen vào thôi thúc một người bạn, và chắc là trong bụng cũng cho rằng người bạn đó sẽ mừng quýnh lên khi nghĩ rằng anh ta không làm gì cả. Hễ thấy một người nào nghiêm túc bắt tay vào một công việc nghiêm túc là từ bốn phía người ta xô nhau vào thôi thúc; rồi nếu công việc có hỏng thì người ta lại trách là làm vội quá. Nhưng la rầy anh như thế cũng đã đủ. Anh có một câu hỏi xác đáng thì tôi đã trả lời rồi: tôi lại còn cho anh biết những điều mà cho đến nay, tôi chưa hề nói với ai cả. Tuy vậy, anh cũng đừng vin vào những lời tâm sự ấy mà cho rằng tôi cũng là một con quái vật giống như các nhân vật của tôi. Không, tôi không giống họ đâu. Tôi yêu cái thiện; tôi đi tìm cái thiện; cái thiện làm cho tôi nức lòng. Tôi không ôm ấp các tính xấu của tôi như họ; tôi căm ghét, tôi ghê tởm những thói đê tiện làm cho tôi cách xa cái thiện. Tôi đấu tranh với những thói đó, và nhờ ơn Chúa, tôi sẽ thắng được. Bởi vì, quả là ngu xuẩn, nếu ta bắt chước các bậc trí thức lỗi lạc của ta mà cho rằng con người chỉ có thể tu thân ở nhà trường, và sau đó thì không còn có thể thay đổi một tí gì trong nhân cách nữa! Một ý nghĩ kỳ quặc như vậy chỉ có thể sinh ra trong cái đầu óc đần độn của một gã phong lưu công tử mà thôi. Tôi đã bỏ được nhiều thói xấu trước kia, bằng cách đem gán cho các nhân vật của mình, và như vậy là đã đưa các thói xấu ấy ra cho bản thân mình chế nhạo và cho kẻ khác dè bỉu. Trong khi giật bộ trang phục mỹ lệ và cái mặt nạ anh hùng mà ở nước ta sự xấu xa vẫn khoác, tôi đã bắt đầu tự giải thoát. Khi tôi xưng tội với Đấng đã sáng tạo ra tôi và đã rủ lòng muốn cho tôi sửa chữa các khuyết điểm, thì tôi thấy mình còn nhiều tính xấu lắm; nhưng đó không còn là những tính xấu năm ngoái nữa; một sức mạnh thần thánh đã giúp tôi thoát khỏi chúng rồi. Tôi khuyên anh không nên bỏ ngoài tai những lời của tôi: đọc xong thư, anh hãy tĩnh mặc một lát, hãy ôn lại cả cuộc đời của mình; rồi anh sẽ thấy tôi nói đúng.
Nếu anh chủ tâm suy nghĩ về câu trả lời của tôi: anh sẽ thấy nó cũng có thể dùng để trả lời những câu hỏi khác của anh. Anh cũng sẽ hiểu tại sao cho đến nay tôi vẫn chưa đem hiến bạn đọc những đoạn có sức an ủi khích lệ, tại sao tôi chưa lấy những người có đạo đức làm nhân vật. Những nhân vật như thế không thể bịa ra được. Bao giờ mà còn chưa giống họ ít nhiều, bao giờ mà còn chưa đủ sức mạnh và chí kiên nhẫn để có được một vài đức tính quý báu, thì tất cả những gì viết ra dưới ngòi bút của anh, đều có mùi xác chết và cách xa sự thật một trời một vực. Tôi cũng chẳng hề bịa ra những cơn ác mộng; những cơn ác mộng ấy đang đè nén tôi, và từ tâm hồn tôi chỉ toát ra được những gì vốn sẵn có ở trong ấy mà thôi.

1843


(còn tiếp)


Nguồn: Những linh hồn chết. Tiểu thuyết của Nicolas Vassilievitch Gogol. Hoàng Thiếu Sơn dịch. NXB Văn học in lần đầu 1965, lần 2 năm 1993. Bản điện tử do Soccon nhập liệu/ Chân trời tím.


www.trieuxuan.info


 


 




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 17.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 07.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
xem thêm »