tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24748100
Tiểu thuyết
29.06.2013
Dương Hướng
Bến không chồng

PHẦN I


1.


Nguyễn Vạn xốc lại ba lô, phanh ngực áo đứng trên con đê nhìn về làng Đông. Cây quéo trước cửa đình tán lá xanh sẫm cao lừng lững giữa khoảng trời chiều. Người làng Đông không còn nhận ra Nguyễn Vạn mắt toét bỏ làng đi bây giờ về đây. Đố ai còn dám coi thường Nguyễn Vạn; hãy cứ nhìn những tấm huân chương rung rinh lấp lánh trên ngực Vạn...


Những con sóng lép bép chân đê. Trời ong ong, biển tím ngắt.


Chà ! Gió mát quá, đái cái đã, Vạn vén quần đái tè tè rồi vuốt lại áo cho thật chững. Quan trọng nhất phút giây đầu tiên gặp lại người làng. Vạn tập tễnh bước rẽ xuống con đường đất mấp mô vết chân trâu. Từ xa có hai cái bóng loắt choắt đang đi về phía Vạn, tới gần Vạn nhận ra hai đứa trẻ quẩy hai đôi quanh gánh ngắn cũn nhũng nhẵng đi bên nhau. Thằng bé trai có cái đầu to sù, trán dộ, sống mũi lại gẫy gập khiến hai lỗ mũi hếch lên giữa khuôn mặt bè bè đen nhẻm. Đứa bé gái thấp tè đến tai thằng con trai nhưng trông mặt lại rắn câng.


- Chúng mày đi đâu đấy ?


- Cháu đi gắp cứt trâu - thằng trán dô mắt thô lố nhìn Nguyễn Vạn lạ lẫm.


- Còn cháu đi cắt cỏ - cô bé nói li nhí, e thẹn nép vào thằng trán dô.


- Chúng mày là con cái nhà ai hử ?


- Cháu là con ông Dĩ. Cháu tên là Sinh, mọi người cứ gọi cháu là thằng Ngốc.


Nguyễn Vạn bỏ đi để mặc hai đứa trẻ đứng ngây nhìn theo. Rõ ngược đời, cái thằng xấu như khỉ mà lại tên là Sinh. Trông ngô ngố thì gọi thằng ngố hay thắng ngốc là phải, đúng là thằng ngốc. Mẹ kiếp, vừa về đến đầu làng đã gặp thằng ngốc. Nguyễn Vạn biết thừa mọi người đang làm đồng đang lố nhố đứng lên nhìn Vạn. Hãy nhìn cho kỹ đây. Chẳng gì Nguyễn Vạn đây cũng là lính Điện Biên chiến thắng trở về. Dấu tích oanh liệt trên chiến trường là vết thương trên bả vai và một ống chân bị gẫy, làm bước đi của Nguyễn Vạn cứ tập tễnh. Từ nhỏ Vạn đã là đứa trẻ đầy dũng khí đếch coi cái chết là gì, lúc bị thương ngoài mặt trận máu chảy đẫm cả áo quần đau điếng, Vạn vẫn cố cười. Vạn cười rống lên để khỏi khóc. Vạn cười đến khi ngất xỉu lúc nào cũng không biết nữa.


Nguyễn Vạn tập tễnh bước. Đàn chim két ào qua vạch một đường cong ngang trời. Cây duối già đầu cánh mả Rốt lơ thơ mấy chiếc lá trên những cành cong queo. Cánh mả Rốt dày đặc những mồ mả mấp mô mà Vạn vẫn còn nhận ra mộ bố nằm bên mép ruộng cạnh một ngôi mộ xây bằng gạch giống như ngôi miếu nhỏ. Trên trốc mộ bố Vạn xưa, đóng một cây cọc to bằng bắp chân, giờ đã mục rữa trơ lõi nhọn hoắt như một mẩu xương gãy. Nơi đây cũng là bãi chiến trường thời thơ ấu của Nguyễn Vạn. Những vết thương lòng còn hằn in trong tâm trí Vạn từ ngày đi ở chăn trâu cho nhà Hậu. Quanh năm Vạn mặc quần cộc phơi tấm lưng trần đen nhánh trên lưng trâu, lăn lóc bên gò mả. Nguyễn Vạn quỳ sụp xuống, hai tay chống lên mộ bố, Vạn thấy cay cay trong mắt. Hai giọt nước mắt nóng ấm rỉ ra làm Vạn hoảng sợ đứng vụt dậy. Những mầm cỏ non nhầu nát lẫn trong nắm đất trên lòng tay Vạn tả tơi rơi xuống. Có lẽ lần đầu tiên trong đời Vạn khóc.


Tới đầu làng, tụi trẻ rồng rắn bám theo Vạn. Đứa bế em vẹo cả sườn lách nhách chạy, đứa thì nhảy tâng tâng. Mặt đứa nào cũng lem nhem mắt thô lố nhìn Vạn. Mấy bà già ngấp ngó bên cửa, tần ngần nhìn theo Vạn như thể có sự kiện gì lớn đang xảy ra.


- Bác về đâu hả bác ? - Một đứa trẻ loi choi nhón chân níu áo Vạn, hỏi.


- Về Uỷ ban xã, Uỷ ban xã ở đâu ?


- Dạ ! Ở đình Đông bác ạ.


Tụi trẻ lốc nhốc bám theo Nguyễn Vạn tới sân đình Đông, Vạn đặt ba lô xuống gốc cây quéo lấy kẹo chia cho tụi trẻ. Những bàn tay nhỏ xíu lọ lem rụt rè chìa ra nhận kẹo. Vạn nhìn mặt từng đứa trẻ mà không nhận ra chúng nó là con cái nhà ai. Tụi trẻ được chia kẹo tản ra nhảy nhót quanh sân đình. Vạn thấy tim đập rộn lên khi gõ gót giầy lên bậc thềm đá xanh biếc, nhẵn bóng trước cửa đình. Những ánh mắt ngỡ ngàng nhìn xoáy vào Nguyễn Vạn.


- Cho tôi gặp chủ tịch xã - Nguyễn Vạn nói với một thanh niên trẻ măng, mặt xanh rớt, Anh ta chỉ cho Vạn người đàn ông đang ngồi trước một chiếc bàn lim đen bóng cao lênh khênh kê giữa đình. Vạn nhìn người đàn ông và nhận ra nét quen quen ở cặp mắt hấp háy hơi hiêng hiếng của anh ta.


Chà! Đúng rồi. Thằng Đột, Đột "đơm ràng". Thằng Đột con ông Hách chiều nào cũng để truồng vận mỗi chiếc áo vá của bố dài đắp đít nhong nhong trên bờ mương cái chắn đăng, bắt ngoé làm mồi đơm rạm.


- Chết chửa. Đột ! Mày không nhận ra tao à ? - Nguyễn Vạn nháy nháy  mắt, quằng ba lô xuống tóm lấy tay Đột - Vạn ma lem mắt toét đây, hề hề...


- Vạn hử ! Vạn đại ca đây sao ?


-  Ừ ! Vạn đây !


- Ôi ! Vạn mà oách thế này ư? Ai mà ngờ Nguyễn Vạn lại là bộ đội. Rõ là hắc xì dầu nhỉ.


Vạn véo vào đùi Đột một cái :


- Mày làm chủ tịch à ?


 Tiếng cười, tiếng nói của đôi bạn nối khố thuở nào vang lên trong đình Đông. Ngoài cửa chợt xuất hiện một ông lão râu tóc trắng phơ, lộc cộc chống gậy bước vào. Ông lão đến đứng trước bàn chủ tịch trịnh trọng lấy từ trong túi áo ra tờ giấy trình chủ tịch Đột. Chủ tịch Đột nghiêm mặt xoay xoay tờ giấy trên tay mà vẫn không nhận ra mình cầm ngược đọc.


- Nhờ các ông làm văn tự giúp cho - Ông lão nói.


Chủ tịch Đột đưa tay gãi gáy:


- Ông bán nhà à ?


- Dạ không, con nghé nhà tôi sắp kéo cày được rồi. Tôi xin xã cho bán con trâu.


- Thì ra ông định bán trâu !


Nguyễn Vạn ngồi nghe chuyện bán trâu rõ nhạt hoét. Vạn lơ đãng đưa mắt liếc cô gái ngồi trước chiếc bàn nhỏ cạnh đó. Vạn đã nhận ra cô ta là ai rồi, đúng là cô Tý Hin, em gái chủ tịch Đột. Vạn thấy nóng mặt. Cô Tý Hin cũng đỏ mặt liếc Nguyễn Vạn. Vạn ngỡ ngàng vì cô bé ngày xưa còm nhom giờ lại phổng phao đẹp vậy. Ánh mắt, của cô ta lúng liếng, đôi má đỏ hồng hồng.


- Này, có phải Tý Hin không ? - Vạn ỡm ờ hỏi Đột.


- Con Hin chứ còn ai, nó bây giờ là chánh văn phòng rồi đấy. Đổi đời rồi !


Chương 2


Từ đời xưa người ta đã bảo làng Đông lắm kẻ phong tình, nhiều trai tài gái sắc.


Làng Đông lại có nhiều cái "nhất" : Đình làng Đông to nhất, cây quéo làng Đông cao nhất, cầu đá làng Đông đẹp nhất; nước sông Đình cũng mát nhất. Chả thế những người mẹ làng Đông thường vỗ về con trẻ bằng những câu hát ru "À ơi....chẳng to cũng gọi đình Đông - Có cầu Đá Bạc bắc qua sông Đình - Chàng ơi có nhớ đến mình - Nhớ cầu Đá Bạc, nhớ đình làng Đông". Lại có câu ca rằng "Sông làng Đông vừa trong vừa mát/ Đồng làng Đông ngan ngát hương thơm". Các cụ bảo ; đất làng Đông nằm trên mình con rồng. Con rồng đó chính là dòng sông Đình bắt nguồn từ cống Linh chảy qua làng Đông uốn lượn như một con rồng. Nước sông như dòng sữa mẹ làm tươi tốt đất và người làng Đông.


Cảnh làng Đông mang đường nét dân dã, cây đa bến nước sân đình. Từ những cô gái áo hồng đầu đội khăn the ngồi lắc lư hát cô đầu, đến những giai nhân tài sắc được chọn đứng làm quân cờ trong ngày lễ hội dồn dập tiếng trống đình.


Những nhân vật tài sắc có tiếng xưa bây giờ đã là những bà lão móm mém nhai trầu chóp chép. Hễ có dịp là các cụ lại kể cho con cháu nghe đủ chuyện ngày xửa ngày xưa xa lắc xa lơ. Các cụ bảo đã là người làng Đông không biết tích làng là hỏng.


Cụ Nghiên, trưởng tộc dòng họ Nguyễn to nhất làng Đông thường ngồi xếp bằng ở gian giữa từ đường họ kể chuyện tích làng cho con cháu nghe. Trong số trẻ lau nhau, có thằng cu Nghĩa là cháu đích tôn của cụ. Còn con bé Hạnh lại thuộc dòng họ Vũ nhưng rất thích nghe chuyện cụ Nghiên. Nó há hốc mồm, tròn mắt nghe cụ Nghiên kể xong là nó kể lại làu làu. Cụ Nghiên vuốt râu cười nhìn bọn trẻ ngồi hóng chuyện:


- Ở  giữa cánh đồng làng ta giờ có một cái hồ nước quanh năm trong veo - Cụ Nghiên kể - Làng ta có người gọi đây là rốn tiên, người lại bảo đây là cái "lỗ tè he". Nhưng ông gọi đó là "mắt tiên". Chỉ có mắt tiên mới trong như thế. Chỉ có mắt tiên mới thấu mọi sự và nước mắt là nỗi lòng của người phụ nữ. Ông sẽ kể cho các cháu nghe chuyện "mắt tiên". Ngày xửa ngày xưa. Cụ Nghiên cao giọng - Hồi ấy cái hồ nước ở giữa cánh đồng làng còn tanh hôi như một vũng trâu đằm. Nơi của lau sậy um tùm, cá rúc, cuốc lủi hôi xì, đỉa bơi cung quăng, ếch nhái nhảy chòm chõm. Dạo ấy có cô gái tên là Ngần đẹp nhất làng Đông. Cặp mắt cô Ngần tròn xoe lóng lánh như hạt nhãn mới bóc. Da cô Ngần trắng mịn, tóc dài và mượt như tơ. Vào tuổi trăng tròn, cô Ngần bị bố mẹ ép gả cho người mình không yêu. Đêm tân hôn cô Ngần trốn ra hồ nước giữa đồng tự vẫn. Thế là cỏ lau bỗng lụi tàn, cú, cuốc cũng lủi sạch. Đỉa cũng mất tăm. Nước hồ trở nên trong vắt quanh năm. Từ đó đàn bà con gái làng Đông có nỗi oan khuất đều trốn ra hồ nước tắm để được giải oan. Chính vì có hồ mắt tiên mà gái làng Đông, da cô nào cũng trắng mịn, mang nhiều nét khêu gợi của tiên nữ.


Cái Hạnh thích nhất chuyện mắt tiên. Thằng Nghĩa lại thích chuyện gò ông Đổng. Cạnh hồ mắt tiên có một cái gò đất người ta gọi là gò ông Đổng. Nhưng bọn trẻ lại nghe cụ Nghiên bảo đấy là mộ con trời. Cũng thật lạ bởi cái gò đất quanh năm bị dân vạc đi cày cấy xunh quanh, chuột đồng đào bới vậy mà gò đất vẫn không  nhỏ mà dường như lại cứ đầy lên, cỏ cây xanh tốt. Cụ Nghiên kể rằng: Ngày xửa ngày xưa có một chàng trai làng Đông đi đánh giặc mười năm chiến thắng trở về rõ oai phong lẫm liệt, mắt sắc mày ngài, kiếm cung thao lược. Người chiến binh vừa về tới cánh đồng làng nghe tin vợ ở nhà bạc tình liền nhảy phốc lên gò đất cạnh đấy hét lên một tiếng vang trời, miệng hộc ra dòng máu đỏ tươi chết đứng như chàng Từ Hải của Thúy Kiều.


Từ đó người làng Đông đi qua đều ném lên đấy một nắm đất để tưởng nhớ người chiến binh dũng cảm không chết nơi trận mạc mà lại chết vì tình. Ngôi mộ mỗi ngày một to cao lên mãi. Người ta bảo trai làng Đông có chí khí khác thường vì được mang dòng máu của người chiến binh năm xưa.


Ngoài những câu chuyện về trai gái làng Đông, các cụ còn kể chuyện con ma ở gốc duối đầu cánh mả Rốt, con ma có cái mặt đỏ như gấc, lưỡi dài một gang. Cái của nợ của nó to bằng bắp cày. Con ma thường lượn lờ trên những ngôi mộ chuyên săn đàn bà góa chồng. Ai mà bị con ma hiếp thì người đó trở thành vợ nó. Đến ngày trở trời mưa gió sập sùi, người đàn bà ấy lại tự nguyện ra gốc duối ăn nằm với con ma đến sáng mới về.


Lại đến chuyện ba ba thuồng luồng ngoài bến sông trước cửa từ đường họ Nguyễn, cứ hai năm một lần bắt sống trẻ con. Những con thuồng luồng mình đen chũi dài loằng ngoằng, chân đỏ chót tua tủa như chùm rễ xoan. Những con ba ba thì to như cái thuyền thúng nổi lên dìm chết người như chơi. Những câu chuyện hãi hùng ma quái mỗi người thêu dệt theo một kiểu, ấy vậy mà chẳng ai sợ. Dân làng Đông vẫn kéo nhau ra bến tắm. Bến sông ở đây có vẻ quyến rũ lạ lùng. Mùa đông nước sông cạn phơi ra dải cát trắng phau lấp loá dưới nắng. Nước sông trong veo, lặng lẽ trôi, mùa lũ nước sông dềnh lên xăm xắp đôi bờ cỏ cây xanh tốt. Ngày xưa các cụ gọi đúng tên của bến sông này "Bến không chồng". Bây giờ người ta lại gọi bến Tình. Bến Tình được chia làm ba đoạn. Mỗi đoạn riêng khuất bằng khúc quanh của dòng sông, đoạn cuối nước dành riêng cho trẻ trâu, đoạn giữa dành cho đàn bà con gái, đoạn trên đầu nước ưu tiên cho cánh đàn ông. Đàn ông phải tắm ở đầu nước, thì không sợ đàn bà bẩn mình. Chiều đến, những đứa trẻ trần truồng, mặt đen nhẻm nghễu nghện trên lưng trâu phi ào xuống bến nước. Những gã trâu đực lượn lờ ve vãn ả trâu cái đòi làm tình ngay dưới nước. Bọn trẻ thì lặn ngụp đỏ cả mắt từ lúc mặt trời bỏng lưng cho tới tối mịt mới chịu về. Những ông già để trần tay dắt cháu ra bến, những ông bố nhông nhông công kênh con trẻ trên vai. Rồi những chàng trai cô gái từ cánh đồng quần áo lấm lem cũng bổ nhào ra bến lặn ngụp một hồi cho đã rồi mới lột quần áo ra vỗ bồm bộp trên mặt nước. Gió hây hây, nước chảy nhẹ vờn da thịt như có một bàn tay vô hình mơn trớn, khiến ta quên hết nỗi cực nhọc, đau buồn. Nước bến Tình mát, dễ làm lòng người khoái cảm. Chả vậy mà nhiều cặp vợ chồng trẻ tối đến thường lẻn ra bến Tình tắm, quên hết mọi chuyện về ba ba, thuồng luồng và con ma mắt đỏ.


Cũng chính vì sự quyến rũ của bến Tình nên không ít chuyện đau lòng xảy ra. Chuyện bi thảm nhất vẫn là câu chuyện của hai dòng họ Nguyễn và họ Vũ để lại một mối thù hận ngấm ngầm đời đời không quên. Chuyện rằng:


"Đúng vào cái ngày họ Nguyễn ăn mừng lễ khánh thành ngôi từ đường to nhất làng Đông, cô con gái rượu duy nhất của cụ tổ họ Nguyễn tối hôm ấy bỗng nhiên lại rỡn mỡ mò ra bến Tình tắm. Cô gái đâu có biết trên đầu bến cũng có chàng trai nổi loạn, anh ta lặn một hơi dài chưa từng có đến ôm ghì lấy tấm thân mềm mại mát lạnh của cô gái. Cô ngất xỉu trong vòng tay chàng trai. Thân thể đầy dục vọng của chàng trai, cô gái lại ngỡ là ba ba thuồng luồng hay con ma mắt đỏ ở gốc duối mò tới hiếp mình.


Sáng hôm sau người ta thấy xác cô gái trần truồng nổi dềnh lên ở chân cầu Đá Bạc. Ngày hôm ấy làng Đông xảy ra một cuộc đổ máu chưa từng có giữa hai dòng họ Nguyễn và Vũ.


Cụ tổ dòng họ Nguyễn đã khắc ghi một lời nguyền độc, nguyền rằng: "Nước sông Đình ngàn năm không cạn - Cầu Đá Bạc vạn kiếp trơ trơ - Bến Tình còn đẹp còn mơ - Mối thù họ Vũ bao giờ mới nguôi".


Trong ánh mắt đen láy của bé Hạnh, làng Đông là thế giới huyền diệu, luỹ tre làng xanh mượt, những thân cau cao vút, dòng sông Đình lung linh in bóng cây quéo và nhịp cầu Đá Bạc.


Vốn nhạy cảm, nhút nhát, Hạnh sợ cả hai con chó đá, suốt ngày cứ nhe răng gầm gừ trước cửa đình Đông. Hạnh sợ nhất con ma mắt đỏ trên cây duối đầu cánh mả Rốt. Tuy sợ đủ thứ nhưng bé Hạnh vẫn nhằng nhẵng theo anh Hà, anh Hiệp ra đồng. Hạnh đội chiếc nón rách của mẹ lon ton chạy trên các bờ ruộng, bờ mương xem hai anh của nó cắt cỏ, bắt cua, tát cá. Nhiệm vụ của Hạnh được hai anh giao bắt cào cào cho sáo. Suốt ngày Hạnh rít rít với chú sáo trong lồng: "Mày phải ra đồng với chị, ở  nhà một mình là anh cu mèo nó xơi thịt".


Đồng quê cứ rộn ràng trong lòng bé Hạnh. Cô nhẩy tâng tâng nhìn những nhành lúa nếp, những củ khoai lang, những bắp ngô non vùi trong đống lửa cháy nghi ngút giữa đồng. Mắt cô bé sáng lên khi nghe những tiếng nổ lách tách. Những hạt thóc, hạt ngô nhẩy lên trong than nóng, nở ra trắng toát...


Bây giờ là mùa xuân, mùa trồng đậu. Khắp cánh đồng mầu rực lên những dây cờ xanh, đỏ, trắng vàng và những thằng người nộm. Chúng đứng im phắc như những bóng ma đội nón mê, áo quần tả tơi giương roi doạ dẫm lũ chim sẻ. Lũ chim sẻ khôn như ranh, sà xuống chén những mầm đậu non mới nhú lên khỏi mặt đất. Bé Hạnh say sưa ngắm những mầm đậu đội mũ đứng thành hàng đầu tăm tắp dưới làn mưa xuân lất phất bay.


- Vào lều ngay ! Cấm được ra mưa đứng - Anh Hà ra lệnh - Chúng tao đi đặt bẫy chim.


Bé Hạnh ngoan ngoãn chui vào lêu. Mái lều khum khum do hai anh nó làm bằng ngọn rào lợp bằng những tàu lá chuối. Hạnh kiêu hãnh thấy lều của ba anh em nó to và đẹp nhất cánh đồng màu. Ngồi trong lều mà bé Hạnh quan tâm đến đủ mọi thứ. Chú chuồn chuồn to kềnh có tấm thân đỏ au và bộ cánh vàng óng mà không hiểu sao lại bị đàn kiến nhỏ xíu bâu vào xâu xé. Bé Hạnh đang nằm bò trong lều nhìn ra thì thấy thằng Nghĩa cháu cụ Nghiên hay kể chuyện cổ tích cho nó nghe. Bé Hạnh nhổm dậy chạy ra khỏi lều gọi thằng Nghĩa. Thằng Nghĩa một tay cầm thuổng, một tay xách xâu chuột đứng trước cửa lều, Hạnh nhìn trân trân những con chuột đang giãy giụa trên tay Nghĩa.


- Mày có thích chuột con không?


Thằng Nghĩa nói và móc trong túi ra một nắm con tý đỏ hỏn chưa mở mắt đưa cho Hạnh.


- Ừ, em sợ.


- Sợ gì, về cho mèo !


- Em ứ lấy chuột, em thích đi xem nhà thờ. Tối nay anh phải cho em đi xem nhà thờ.


- Thằng Hà thằng Hiệp nó không cho mày đi đâu.


- Một mình anh dẫn em đi vậy. Em cho anh cái này.


Hạnh kéo tay thằng Nghĩa chui vào lều. Trời lất phất mưa. Hai đứa nằm cuộn tròn trong ổ lá chuối khô.


- Em cho anh củ khoai to nhất đấy, tối anh phải cho em đi xem nhà thờ Thượng.


Nghĩa khoái chí nằm ăn khoai. Mỗi chuyện cái Hạnh đi xem nhà thờ mà Nghĩa đã dỗ của nó khối thứ. Nó kể cho Hạnh nghe đủ mọi chuyện hấp dẫn trong nhà thờ Thượng. Cái Hạnh nằm nghe Nghĩa kể chuyện và nhìn về tháp chuông nhà thờ Thượng cao vút mà xa xôi quá, nó chưa bao giờ được đặt chân tới đó. Chiều chiều từ ngọn tháp đầy bí ẩn kia cứ ngân lên những hồi chuông làm xao động tâm hồn bé Hạnh. Bất chợt, Hạnh nhìn thấy trên đường từ nhà thờ Thượng có đoàn người quần áo sặc sỡ đang đi về phía Hạnh.


- Anh Nghĩa ơi, lại có đám rước ! - Bé Hạnh reo lên.


Thằng Nghĩa chồm dậy cầm thuổng lao lên đường cái.


- Anh làm gì thế ?


- Phải trừng trị bọn đi đạo - Nghĩa nói - Bữa trước bọn tao sang nhà thờ bị bọn nó bắt nạt.


Thằng Nghĩa hối hải trừng trị bọn đi đạo bằng cách khoét xuống đường  thành hình một cây thánh giá khổng lồ kín cả mặt đường.


- Chúng muốn qua đấy phải bước qua mặt Chúa của chúng ! - Nghĩa lẩm bẩm. Vẽ xong cây thánh giá, Nghĩa kéo Hạnh chạy về lều nằm chờ đám rước tới. Đám rước là những con chiên khoẻ mạnh mặc đồ trắng nhông nhông khiêng đức cha ngồi trên chiếc võng đỏ thẫm đi trước, các ông già bà cả lốc nhốc theo sau.


- Chú Xình bảo tao, bọn đi đạo là bọn phản động. Chúng lấy cớ đi rước cha từ nhà thờ này đến nhà thờ kia để làm gián điệp.


Hạnh run bắn khi đám rước tới gần. Các con chiên nháo nhác nhìn cây thánh giá trên đường sợ hãi đưa tay làm dấu lia lịa.


- Chúa sẽ trừng phạt những kẻ vô thần dám báng bổ Chúa.


Đức cha chau mày đưa tay làm dấu ra hiệu cho các con chiên khiêng cha đi men theo vườn đậu. Hạnh run sợ như chính mình vừa gây ra một tội lỗi ghê gớm lắm.


- Chúa sẽ trừng phạt anh - Hạnh nói.


- Chẳng có Chúa nào hết, chú Xình bảo thế, và tao chỉ thấy mỗi lão cha cố nằm chổng vó trên võng, bắt lũ con chiên phải è cổ ra khiêng. Tao muốn trừng trị những kẻ phản động như trừng trị những con chuột.


Thằng Nghĩa hung hăng đóng một chiếc cọc treo lũ chuột lên, vơ rác, bật diêm đốt.


- Chúng mày phải chết nhục nhã, loài sâu bọ ! - Nghĩa hét lên nhảy tâng tâng nhìn lũ chuột giẫy dụa quằn quại dưới ngọn lửa lem lém bốc mùi khét lẹt. Những con chuột mắt lồi ra, da căng mọng sùi ra những giọt mỡ xèo xèo. Xử tội xong lũ chuột to, thằng Nghĩa lại bắt lũ chuột con cho vào cóng bơ treo lên ngọn lửa. Nhìn lũ chuột con quằn quại vì nóng, Hạnh xô lại đạp tung cái cóng bơ văng ra khỏi ngọn lửa rồi ngồi bệt xuống đất khóc thút thít. Nghĩa cười khoái chí nhìn cái Hạnh khiếp sợ. Anh Hà anh Hiệp của Hạnh về, mang thêm những tù binh mới, đó là những chú rắn nước, những con cóc cụ. Hạnh càng hoảng sợ khi anh Hà, anh Hiệp và Nghĩa hành hình, mổ bụng, lột da những con vật.


- Ấy ! Đừng làm thế. "Con cóc là cậu ông trời đấy !" - Hạnh hét lên.


- Mày ngu lắm, cậu ông trời mà phải chui lủi ở đây à ?


- Em bảo thật đấy, chính cụ Nghiên nói "Con cóc là cậu ông trời, ai mà đánh nó thì trời đánh cho". Hạnh bỏ chạy lên đường cái. Nó chợt sững lại khi nhìn thấy chú Vạn.


- Cháu có phải con mẹ Nhân ?


- Vâng ạ !


- Hai anh của cháu đâu ?


Hạnh dẫn chú Vạn tới vườn đậu, Nguyễn Vạn tần ngần nhìn ba đứa trẻ đang say sưa xử tử những con vật. Nguyễn Vạn nhận ra hai đứa trẻ sinh đôi của chị Nhân, thằng Hà thằng Hiệp đều giống bố nó như đúc.


- Chú có phải ở chỗ bố cháu về hả ?


Thằng Hà mạnh dạn đến hỏi chú Vạn.


- Ừ ! - Chú Vạn nói.


- Bố cháu bao giờ về hả chú ?


- Không ! Bố cháu chưa thể về được - Cả bốn đứa trẻ theo chú Vạn về làng. Thằng Hà thằng Hiệp nghe tiếng mẹ khóc, nó chạy bổ về nhà. Nguyễn Vạn bế xốc bé Hạnh lên:


- Chú chẳng giấu cháu nữa - Vạn nói - Bố đã hy sinh ngoài mặt trận - Bé Hạnh bỗng tu lên khóc. Chú Vạn bế nó về đến nhà, nó thấy mẹ và cả hai anh của nó đang khóc vật vã. Trong nhà ngoài sân người ra vào nườm nượp. Mẹ nó ôm chầm lấy nó khóc: "Con ơi, bố chết rồi".


*


Chị Nhân thấy mình như đang ở một thế giới khác, mọi cảnh vật quanh chị đều nhuộm màu chết chóc. Nằm mãi chị cũng phải gượng dậy đi lại xem xét nhà cửa. Con lợn nằm chũi trong đống rác ở góc chuồng, chị lại ngỡ nó cũng chết ngoẻo rồi. Chị cầm chiếc gậy chọc vào đít con lợn, nó hoảng hốt chồm dậy. Đã mất mấy ngày nay chị không cho con lợn ăn mà nó vẫn sống. Con Hạnh chị đã cho nó ra đình Đông ở hẳn với chú Vạn, hai thằng con sinh đôi của chị chắc gì chúng hỏi han đến lợn gà.


Chị Nhân lặng lẽ cầm rổ ra ao vớt bèo, nhìn đàn cá mè ngáp ăn nổi đặc ao, chị nghĩ là chúng cũng đang bị ngạt thở. Chị thấy ngực đau nhói, mắt hoa lên. Mấy đêm nay chị liên tục mơ thấy chồng về, anh ấy cứ lặng lẽ đứng bên giường chị mà chẳng nói gì cả. "Bố thằng Hà về đấy à? Khiếp ! Sao nhà cứ bôi nhem cái mặt thế kia hả ? Chú Vạn cùng về rồi đấy ! Chú ấy có bao nhiêu là huân chương. Nhà đừng doạ tôi nữa, vào đây với tôi đi". Chồng chị nhẩy bổ lên giường đè sấn lên người chị, chị thấy mình chìm nghỉm xuống vực thẳm, chân tay chị tê dại. Chị chới với giãy dụa, đạp: "Ối ! Bố thằng Hà, đứng làm thế, tôi chết mất". Chị hét lên cố vùng dậy. "Mẹ nói lảm nhảm gì con sợ lắm". Tiếng thằng Hà vang lên trong đêm làm chỉ tỉnh giấc. Chị nghe tiếng hai con mèo rên rỉ như tiếng trẻ con khóc, thỉnh thoảng chúng lại rượt đuổi nhau trên mái nhà gào rống lên từng cơn. Chị loạng choạng dậy mở cửa, cầm cây sào khuơ khuơ, hai con mèo hoảng hốt chạy vụt vào vườn chuối. Chị cứ đứng nhìn mãi mảnh vườn trước cửa. Ánh trăng vàng nhẫy trên những tàu chuối đẫm sương.


Chị Nhân định lội xuống ao vớt bèo thì nghe thằng Hà gọi giật:


- Mẹ ! Mẹ về nghỉ đi, để đó cho chúng con.


Thằng Hà vừa nói vừa cởi quần áo nhảy phốc xuống ao. Nước ao sủi bùn đục ngầu. Thằng Hiệp xách xâu chim sẻ vừa bẫy được đến khoe mẹ.


- Chúng con quây được cả đàn đến hai chục con ! Con đã đem cho chú Vạn và cái Hạnh một chục.


Chị Nhân nhìn mãi xâu chim, có con đang giãy chết run lẩy bẩy rã cánh rũ rượi. Từ hôm chú Vạn về báo tin chồng hy sinh, chị hay bị xúc động. Theo sau thằng Hiệp về nhà, chị thấy sợ cái bóng của chính chị và bóng thằng Hiệp in lên vạt khoai nước. Chị nhìn mãi bóng hai mẹ con chị cứ dài ngoẵng méo mó dưới ánh nắng nhợt nhạt của buổi chiều. Chưa bao giờ chị thấy hai thằng con sinh đôi lại là chỗ dựa duy nhất của mình như lúc này. Chị thấy mấy ngày nay chúng ra vẻ người lớn, tự giác lo toan mọi việc.


- Mẹ ơi ! Như vậy bây giờ gia đình ta là gia đình liệt sỹ mẹ nhỉ ?


- Ai bảo con thế ?


- Chú Vạn, chú Vạn bảo bố dũng cảm lắm, phải chết như bố mới anh hùng. Chú Vạn còn bảo làm trai phải xông pha nơi chiến trận.


Thằng Hiệp quăng xâu chim xuống sân:


- Bây giờ tao phải làm thịt chúng mày.


Mẹ con chị Nhân vừa ăn cơm xong đã thấy chú Vạn dẫn bé Hạnh về. Bé Hạnh lao vào ôm lấy cổ mẹ như thế nó vừa đi đâu xa lắm.


- Thỉnh thoảng phải dẫn nó về cho đỡ nhớ - chú Vạn nói - Con bé đến kỳ quặc - Bảo ai ăn thịt chim là có tội. Ôi, những con chim béo nhẫy thơm nức mũi...


Chị Ngân ngồi vuốt tóc con Hạnh. Có nó ở nhà ríu rít như con chim non cũng vui, nhưng thương hoàn cảnh chú Vạn mỗi mình đơn độc ở trong gian hậu đình Đông, chị đành để cho con Hạnh đến ở với chú Vạn.


Bây giờ chị cứ vững vàng mà sống. Hoà bình rồi, hai thằng con trai của chị chúng quản cơ ngơi này rồi sẽ ra trò đấy. Bọn nhà giầu đã hết thời, chúng ta sẽ là những chủ nhân của đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thế giới sẽ đại đồng. Có ai mà ngờ thằng Đột đơm ràng lại làm được chủ tịch...


Chương 4.


Họ Nguyễn to nhất làng Đông. Đứng đầu dòng họ Nguyễn bây giờ là gia đình cụ Nguyễn Nghiên. Con trai cụ Nguyễn Nghiên là Nguyễn Khiên, con trai Nguyễn Khiên chính là thằng cu Nghĩa. Cụ Nghiên là người nổi tiếng tài hoa, đức độ, cả họ đều kính trọng. Trẻ con yêu mến cụ, bởi cụ có tài kể chuyện cổ tích. Cụ là người thay mặt quản một mẫu tư điền của họ mà không tư lợi một cân thóc. Ngày chạp tổ hàng năm cụ lo đâu vào đấy. Trước lúc hấp hối cụ gọi vợ chồng Nguyễn Khiên và thằng cháu đích tôn đến căn dặn:


- Gia đình ta mấy đời nay "độc đinh"! Mỗi đời, trời chỉ cho một con trai để nối dõi tông đường, là trụ cột cho dòng họ Nguyễn nhà ta. Bố thằng Nghĩa bây giờ phải thay tao làm cột cái. Phải giữ lấy cơ ngơi này ! Đây là mồ hôi nước mắt của cả họ tộc bao đời để lại đấy con ạ.


Ánh mắt của cụ Nguyễn Nghiên bao trùm lên con cháu xung quanh, toả rộng ra cả ba gian từ đường họ. Lời cụ vang vọng vào cả gian hậu cung nơi đặt bàn thờ tổ. Ba gian từ đường có hai hàng cột cái và hai hàng cột con, cả thảy là mười sáu cột. Những chiếc cột lim to một ôm đẫy cứ đen bóng lên. Các chân cột đặt đá tảng xanh nổi vân trắng, nền từ đường lát gạch đỏ, ngoài thềm lát đá xanh. Gian hậu cung cuốn bằng gạch chỉ vữa trộn mật với vôi, cát, rắn như đá. Trên bệ thờ là những con rồng đắp bằng vữa sơn son thiếp vàng rực rỡ, cỗ ngai đặt ở giữa bệ thờ, có bát hương cổ màu da lươn lúc nào cũng toả khói thơm ngát.  Gian giữa từ đường treo bốn câu đối nền đỏ chữ vàng trên bốn cột cái lộng lẫy uy nghiêm. Cụ Nghiên căn dặn con cháu xong, ánh mắt cụ nhìn xoáy vào người con trai duy nhất của cụ:


- Khiên ! Con vào trong hậu cung lấy chiếc rương ra đây.


Nguyễn Khiên hớt hải vào bàn thờ tổ lấy chiếc rương nhỏ mang ra đặt trước cụ Nghiên. Chiếc rương đỏ chói nước son và hoa văn vàng choé.


- Đây là tài sản vô giá của họ Nguyễn  - Cụ Nghiên nói, tay run run, mở nắp rương lấy ra hai tờ giấy trao cho con trai. Một tờ ghi bốn điều răn của cụ tổ - Nội dung bốn điều răn là: đức - tài - trung - dũng. Có nghĩa là đã mang dòng máu họ Nguyễn phải có được bốn đức tính cao quý đó. Tờ thứ hai ghi gia phả và kèm theo lời nguyền độc - Mối thù đời kiếp với dòng họ Vũ.


- Bố nói với con lời cuối cùng  - cụ Nghiên kéo tay Nguyễn Khiên đặt lên ngực mình - Con người ta sống ở trên đời quý nhất là cái đức, từ thằng ăn cắp đến kẻ giết người chúng vẫn trọng nể cái đức....


Cụ Nghiên chết, gia phả dòng họ Nguyễn được ghi thêm một dòng: "Nguyễn Văn Nghiên trưởng tộc thứ 11, chết ngày 12 - 1 -1957".


Cụ Nghiên mất, ngày chạp tổ năm nay Nguyễn Khiên phải lo đứng mũi chịu sào trước họ tộc. Mới hơn bốn chục tuổi nhận chức trưởng tộc, Nguyễn Khiên không khỏi lo lắng. Các cụ trong họ bảo: "Hoà bình rồi chạp tổ năm nay phải làm to".


Cơm tối xong, vợ Khiên quét dọn sạch ba gian từ đường trải chiếu lấy nước. Khiên rửa sạch chiếc điếu bát ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu chờ các cụ trong họ tới bàn tính ngày chạp tổ.


Người đến đầu tiên là ông Xung:


- Đã có mống nào chưa đấy ? - Tiếng ông Xung oang oang từ ngoài ngõ.


- Dạ ? mời ông vào xơi nước - Vợ Khiên đon đả. Dạ ông là người đến đầu tiên đấy ạ.


- Mẹ kiếp ! Bàn suông nó thế đấy - Ông Xung đá con mèo một cái - Đã thế thì rót rượu ra, để sang năm mọi người rút kinh nghiệm đến sớm. Ai đến sớm uống rượu, đến sau uống nước chè, sau nữa thì nước lã.


Ông Xung xoa chân ngồi vào chiếu mắt lừ lừ nhìn Khiên, tay gõ xe điếu canh cách.


- Tôi bảo thật đấy, cứ đem rượu ra, tối nay chi hết bao nhiêu anh cứ ghi sổ thanh toán vào ngày mai, đếch đứa nào sắc mắc. Anh mới lên chức trưởng tộc phiên phiến đi, như ông cụ anh chặt chẽ bỏ mẹ.


Ông Xung cười hì hì cất giọng gọi thằng Nghĩa. Thằng Nghĩa dưới nhà chạy lên đứng khoanh tay trước mặt ông Xung.


- Mày đi đốc các cụ một lần nữa, sang ông Kình, ông Phỏng bảo tao đã đến, chạy ù đi, bảo hai ông ấy là có rượu nghe chửa.


Những lúc thế này trông ông Xung oách vậy. Ngày thường ông chuyên mặc quần búi cục ở rốn long tong đi chợ Quài mua lợn con về bán chợ Đình. Làng Đông quen gọi ông là ông Xung lái lợn. Ông Xung có ba người con trai tên là Xeng, Xêng, Xình. Mỗi lần ông Xung gọi tên các con nghe cứ như người gõ phèng phèng xung trận. Ông có cô con gái út tên là Thao. Con gái ông Xung ai cũng khoẻ mạnh làm ăn tháo vát nên kinh tế gia đình ông khá giả nhất nhì trong họ.


Cuộc bàn tính cho ngày chạp tổ của dòng họ Nguyễn đã được thống nhất, vị chi là chín chục mâm, mỗi mâm hai bát năm đĩa. Ban sắp cỗ gồm bảy tay dao thớt, sáu đàn bà ngồi bếp, hai thanh niên bổ củi, bốn cô gái gánh nước. Ngoài ra còn có các nhân vật chén bát sai vặt.


Cuộc bàn tính xong xuôi, mọi người ra về, ông Xung ngồi vớt vát chén rượu cuối cùng. Ông ghé vào tai Khiên nói nhỏ:


- Anh định cho thằng Vạn về từ đường ở sao?


- Tôi cũng định thế đấy - Nguyễn Khiên nói - Chả lẽ để anh ấy ra đình Đông, e làng xóm chê cười cả họ nhà mình. Dù sao anh ấy cũng là người vẻ vang nhất làng Đông này.


 


- Anh kém tính bỏ mẹ! Ai chả biết thằng Vạn có công, công lao của nó đối với dân với nước thì để cho dân cho nước lo nhà cho nó. Nhà Vạn xưa nay đóng góp chó gì cho họ Nguyễn. Ngày còn sống ông bà, bố mẹ nó đói, quanh năm vác dái đi làm thuê cho nhà Hào. Thời thế đổi đời rồi mà anh chẳng biết gì cả. Cứ để thằng Vạn nó ở ngoài đình Đông ! - Ông Xung lại ghé sát vào tai Khiên - Nhà Hào trước sau sẽ đổ, anh hiểu chửa. Cơ ngơi nhà Hào sẽ về tay những thằng trên răng dưới cát tút như thằng Vạn. Đấy rồi anh xem, thời thế nó cứ lộn tùng phèo đếch biết đường nào mà lần.


- Thời nào thì thời - Khiên nói - Người làm ăn lương thiện chả sợ gì.


- Anh ngu bỏ mẹ, lương thiện mà chả có lúc nhăn răng, nói chuyện với anh phí rượu.


Ông Xung đứng dậy phủi đít ra về.


*


Từ gà gáy ông Xung đã mò vào giường thằng Nghĩa véo nó một cái rõ đau:


- Dây đi ông "trưởng nam con".


Nghĩa mắt nhắm mắt mở dậy đã được ông Xung giao làm mật vụ. Nó phải theo dõi các tay dao tay thớt và các bà cô đầu bếp xem có ai ăn cắp thịt quẳng qua bờ rào hoặc chim vụng xôi, oản chuối giắt cạp quần giả vờ đi đái đi ỉa rồi lẻn mang về cho con. Chưa rõ cái chức trưởng nam là thế nào, nhưng Nghĩa nghe cả họ ai cũng bảo sau này nó sẽ làm trưởng tộc đứng đầu họ Nguyễn. Chả biết cái chức trưởng tộc to đến đâu nhưng cả họ Nguyễn bây giờ ai cũng sợ mỗi ông Xung. Ông Xung là em của ông nó, dưới ông Xung còn vô khối ông nữa: Ông Kình, ông Phỏng, ông Rinh, ông nào râu tóc cũng trắng phơ. Dưới nữa là con cháu của các ông ấy, nhiều người còn ít tuổi hơn cả Nghĩa mà nó cứ phải gọi là cô, chú, xưng cháu. Nó ghét cay ghét đắng các chú các cô tý hon của nó vênh váo bắt nạt nó.


Thằng Nghĩa đứng quan sát khung cảnh ngày chạp tổ - Thế giới tinh thần và vật chất của cả họ. Trong từ đường đầy ních người. Ngoài sân trong bếp người đi rầm rập. Những nong thịt đầy ắp, những mâm xôi gấc đỏ au, những nia oản vàng rộm. Nghĩa thấy cả họ Nguyễn từ già đến trẻ hôm nay ai cũng vui như tết, quần áo chỉnh tề. Kể cũng lạ, không biết ai nghĩ ra ngày chạp tổ. Mỗi nhà một cảnh, quanh năm lo làm ăn bỗng dưng lại tụ tập đánh chén một bữa: Từ ông giáo Thảo đức độ có tiếng, đến nhà chú Bỉnh chuyên đi trộm khoai, chộm chuối, từ ông Hưng phó chủ tịch đến nhà anh Dĩ ba đời gắp cứt trâu...


- Mày thấy chú Vạn đến chưa ? - Bố đến vỗ vai Nghĩa ? Ra đình Đông bảo chú Vạn đến ngay.


- Con còn đang bận...


- Đi ngay ! - Bố quát.


Nghĩa chạy lại rỉ tai ông Xung.


- Cháu phải đi ra uỷ ban gọi chú Vạn.


- Mày đã lập được công trạng gì chưa đấy ?


- Dạ...dạ có ! - Nghĩa ấp úng.


- Mày cứ nói, đã là "trưởng nam con" không sợ thằng nào hết.


- Nhưng cháu...


- Không nhưng gì cả, tao sẽ trị tội đứa nào làm bậy.


- Cô chú Xeng nhà ông ! - Nghĩa nói bừa - Chú Xeng lấy trộm một khoanh thịt nạc và một chai rượu giấu vào thúng phủ đầy lá bắp cải đưa cho thím Xeng mang về.


Ông Xung tái mặt đứng ngây ra một lúc rồi, cười hềnh hệch vỗ vào vai Nghĩa;


- Mày thật thà quá hoá hỏng. Đấy là thằng Xeng nhà ông nó mang về cho chó đấy. Mày không thấy nhà ông nuôi con chó to tướng, khi nào đẻ ông cho một con mà nuôi. Thôi được ông thưởng một hào mua bi. Cấm được mở miệng nói với ai đấy.



(còn tiếp)


Nguồn: Bến không chồng. Tiểu thuyết của Dương Hướng. NXB Hội Nhà văn, 1990. Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 



 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 19.11.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 16.11.2018
Bến không chồng - Dương Hướng 08.11.2018
Trở lại cố hương - Thomas Hardy 07.11.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 06.11.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 02.11.2018
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 02.11.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 29.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 25.10.2018
Trả giá - Triệu Xuân 24.10.2018
xem thêm »