tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27626126
Tiểu thuyết
26.06.2013
Thanh Tâm Tài Nhân
Kim Vân Kiều Truyện

Nhấn chuột vô đây để đọc: Lời tựa của nhà thơ Bằng Việt


I - Mùa xuân ai khéo vẽ nên tranh?


Nô nức đưa chơi hội Đạp Thanh


Phận bạc ngậm ngùi người chín suối


Duyên may run rủi khách ba sinh


Dẫy hoa nép mặt gương lồng bóng


Ngàn liễu dong cương sóng gợn tình


Man mác vì ai, thêm ngán nỗi


Đường về chiêng đã gác chênh chênh!


Xưa nay đại phàm những bậc giai nhân tuyệt sắc, thường không được hưởng hạnh phúc giàu sang, mà lại hay gặp những cảnh khắt khe, khổ sở. Xem như Chiêu Quân, Quý Phi, Phi Yến, Linh Đức, Tây Tử, Điêu Thuyền… toàn là những bậc hương trời sắc nước cả, nhưng số mệnh có ai ra gì đâu. Đó chẳng qua là con Tạo có thói ghét ghen, đã cho được mười phần nhan sắc thì bắt phải chịu mười phần chiết ma, đã cho một chút tài tình, lại tăng lên mấy từng nghiệt chướng. Cái công lệ “bỉ sắc tư phong” của Hóa công nghĩ cũng hẹp hòi thay!


Truyện này về đời nhà Minh, triều vua Gia Tĩnh. Khi bấy giờ có một nhà viên ngoại, quê ở Bắc Kinh họ Vương tên là Lưỡng Tùng, biểu tự Tử Trinh. Người tính nho nhã ôn hòa, gia tư vào bậc phong lưu. Phu nhân là Hà Thị sẵn nết nhân từ hiền hậu. Ông bà sinh được một trai, hai gái, trai là Vương Quan, cho theo đòi nghiệp học. Hai gái đầu lòng, cô chị là Thúy Kiều, em là Thúy Vân: mai cốt cách, tuyết tinh thần, mỗi người một vẻ đẹp, nhưng cả hai đều là trang tuyệt sắc. Hai chị em rất thông minh, thơ hay, vẽ giỏi. Nếu đem tài sắc mà so, thì Thúy Kiều có phần hơn Thúy Vân. Cô chị sắc sảo mặn mà, cô em đoan trang thùy mị.


Thúy Kiều rất sành âm luật, rất giỏi Hồ cầm. Thúy Vân thường can chị rằng:


- Chị ơi! Em thiết nghĩ Hồ cầm không phải nghề chơi của con nhà khuê các, chị không nên đam mê quá, mà người ta chê cười.


Thúy Kiều, tuy thấy em can, cũng coi làm thường. Sau lại soạn một khúc “bạc mệnh oán” để hòa theo vận đàn, giọng rất bi ai, thống thiết, ai nghe cũng phải lấy làm não ruột mà động lòng bi thương.


Khúc Bạc Mệnh oán


Nhớ cố nhân hề, cách trở Sâm, Thương;


Tủi phong trần hề, mặt ngọc sao đang?


Vừa cùng họp mặt hề, đâu vội chia tay;


Đông quân khuất bóng hề, Phụng Tiên lẫn đường


Cửa hầu tấp nập hề, chàng Tiêu hờ hẫng;


Chiếc thân lưu lạc hề, lẫn lộn thau, vàng.


Vì ai tiều tụy hề, cùng ai sống, thác?


Lời thề mang nặng hề, ngậm thở, ngùi than.


Thác cảm lòng nhân hề, sống vì lòng người


Trời che đất chở hề, sao nỡ phũ phàng!


Tình xưa, duyên mới hề, ai nào phụ bạc?


Chiếc bóng năm canh hề, tuổi tác nhỡ nhàng.


Xưa khách hồng nhan hề, ai không bạc mệnh?


Bạc mệnh hồng nhan hề, ai chẳng đoạn tràng?


Ủa kìa người oán hề, dựng nên khúc oan!


Ai nghe khúc oán hề, ai chẳng ngùi thương?


Đương lúc hoa lê trang điểm, màu cỏ tốt tươi, vầng dương rạng vẻ, con én đưa thoi, bóng thiều quang soi mặt người, thấm thoắt đã đến tiết thanh minh. Ai thấy cái cảnh xoay vần thợ Tạo, cũng đồng lòng vấn tổ, tầm tông, đều nóng lòng đến hội Đạp Thanh cả.


Ba chị em Thúy Kiều, Thúy Vân và Vương Quan cùng sắm sửa đi tảo mộ.


Vừa đến gần ngòi nước chảy, đã thấy gò đống ngổn ngang, thoi vàng hồ rắc, tro tiền giấy bay. Ở đàng xa xa nữa, lại thấy một nấm đất, hoa cỏ rầu rầu, khói hương vắng ngắt, Thúy Kiều chỏ bảo Vương Quan rằng:


- Kìa! Em xem nấm đất sè sè bên đường kia, có chiều u nhã, mà sao không có ai đến viếng thăm?


- Thưa trình hai chị, âm phần đó là của một người con hát, đã nổi tiếng ở Bắc Kinh ta xưa. Tên nàng là Lưu Đạm Tiên, lúc sinh thời tiếng tăm nàng lừng lẫy, ai cũng chịu là một người tài sắc kiêm toàn. Nhưng mà, than ôi! Kiếp hồng nhan quá mong manh, nửa chừng xuân thoắt gẫy cành thiên hương. Nàng khi tạ thế, gặp người bảo mẫu xử bụng bất nhân, đem vứt bỏ ở nơi ngòi lạch này. Phúc đức làm sao! Nàng đương lúc gối đất nằm sương, bỗng gặp có người khách ở phương xa, nhân trọng tiếng tìm đến nàng. Lúc đến nơi, thấy nàng đã xấu số thiệt phận, khách động lòng thương tiếc mà khóc rằng: “Than ôi! Nàng Lưu Đạm Tiên ơi! Ta với nàng, sao khéo vô duyên làm vậy. Thôi thì đã không duyên trước, cũng gọi là một chút để làm duyên sau”.


Khóc xong liền sắm sửa khâm liệm, đem nàng mai táng ở đó. Trải bao thỏ lặn ác tà, ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm!


Thúy Kiều nghe nói, động lòng cảm thương than rằng:


- Đau đớn thay! Phận đàn bà! Lời rằng “bạc mệnh” cũng là lời chung. Sống làm vợ khắp người ta! Hại thay! Thác xuống làm ma không chồng! Má hồng mệnh bạc đến thế là cùng. Ta nên đến gần mộ chí của nàng xem sao.


Nói xong ba chị em cùng đi. Lượn theo dòng nước loanh quanh, dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. Thẳng đến trước mộ, trông vào tấm đá, thấy rêu in xanh ngắt, dòng chữ tờ mờ. Vạch cỏ lau chùi mới nhận được chữ “Hiệu thư Lưu Đạm Tiên mộ”. Thúy Kiều xem xong, lại than rằng:


- Khốn nạn thay! Nàng Lưu Đạm Tiên ơi, nàng có khôn thiêng, xin về chứng giám. Sống đã nổi tiếng tài danh, thác sao nỡ để tịch hiên thế này? Nàng với ta đã cùng giòng cân quắc, cùng bạn sắc tài, lẽ nên dâng nàng một lễ, song hiềm vì nỗi không sẵn đủ rượu trầu. Nay xin viếng một bài thơ gọi là cái duyên gặp gỡ.


Nói xong, Thúy Kiều bẻ cành trúc cắm trên mộ, rồi khấn rằng:


- Lưu Đạm Tiên! Lưu Đạm Tiên! Ta là Thúy Kiều, đến đây thăm viếng, nàng hỡi có hay, xin nàng chứng giám.


Khấn xong rẫy cỏ, đốt hương, sụp lễ bốn lễ rồi đề thơ:


Thơ rằng:


Người đẹp ở đâu đây?


Luống như ngậm ngùi thay!


Trăng thơ mầu cỏ nhuộm;


Bụi cuốn mặt gương đầy.


Phong trần người đã khuất;


Tài sắc tiếng còn may.


Cảm thương hồn chín suối;


Thăm viếng chẳng ai hay!


Thúy Kiều vịnh xong, lòng càng bi thảm, giọt lệ chứa chan, Thúy Vân và Vương Quan thấy chị âu sầu, cùng can rằng:


- Ô hay! Chị cũng nực cười, khéo dư nước mắt, khóc người đời xưa! Đó là mộ cổ, cây cỗi, hoa tàn, nào thân thích gì, mà chị lại sẵn mối thương, vay làm vậy?


- Hai em ơi! Sao mà hai em vô tình quá đi như thế? Mấy chữ “Hồng nhan vô chủ” kia, là một tấm gương kim cổ cho người đời soi chung đấy! Vả Lưu Đạm Tiên vị tất đã là con hát ở xóm Bình Khang ngay từ khi mới lọt lòng ra. Thế mà con Tạo trêu ngươi, bỗng chốc gây nên dâu bể…! Ôi! Cuộc đời như giọt nước mái nhà, trước sao sau vậy. Ghê gớm thay! Chữ hồng nhan từ thuở xưa, cái gương bạc mạnh có chờ ai đâu! Chị em mình biết đâu lại không phải là Đạm Tiên tái sinh! Kìa, hãy xem đời trước, nhan sắc ai bằng Tây Thi, tài mạo ai hơn Quý Phi, thế mà hai chữ “thủy chung” cũng không sao giữ được. Nỗi niềm tưởng đến mà đau, thấy người nằm đấy biết sau thế nào!


- Chị rõ khéo lo xa! Ai lại giải nghĩa viển vông như vậy? Ở đây âm khí nặng nề, bóng chiều đã ngả, dặm về còn xa. Xin hai chị đi về thôi.


- Để chị từ biệt Đạm Tiên đã, rồi sẽ về.


Thúy Kiều nói xong, đứng trước mộ khấn rằng:


- Lưu Đạm Tiên! Ta xin từ biệt, nàng có khôn thiêng, ứng hiện cho ta xem nào…


Khấn chưa hết lời, đã thấy phía sau mồ, có luồng gió kéo đến ào ào, hương bay ngào ngạt, non vang nước réo, lộc đổ cây rung. Chốc lại mây kéo tối tăm, trời đen mờ mịt, làm cho ai nấy mắt mở mà không trông thấy gì. Nhất là chỗ Thúy Kiều đứng, hình như gió cuốn quanh mình độ hai ba vòng.


Thúy Vân và Vương Quan đều khiếp sợ, rối rít gọi nhau về. Vương Quan nói:


- Em đã nói ở đây âm khí nặng nề, nếu đi ngay thì can chi gặp phải cuồng phong, làm cho phải kinh hồn mất vía…


- Đó không phải là cuồng phong, hai em ạ. Chính là linh hồn Đạm Tiên hiển hiện cho ta xem, ta nên tạ nàng một bài thơ mới phải.


- Em xin chị dứt bỏ cái sự tin nhảm ấy đi. Đạm Tiên từ khi tạ thế đến nay, đã không biết bao nhiêu năm rồi, dẫu nàng có thiêng chăng nữa, thì sao cái cổ mộ của nàng lại tự để hoang vu?


- Em ơi! Em phải biết rằng: xưa nay những đấng tài hoa, thác là thể phách còn là tinh anh. Tinh anh còn thì hay tựa gió nương mây, hiển hiện ở những nơi bụi hồng trong sạch. Nếu hai em không tin, để ta dạo tìm hình tích chắc thể nào cũng thấy có dấu vết không sai.


- Em dẫu hồ nghi, nhưng chị đã nói vậy thì em cũng xin dạo tìm xem.


Quả nhiên thấy vết giầy đi tự tây đến đông, tới bên mồ thì mất. Thúy Vân và Vương Quan thấy sự linh ứng như vậy, lại càng khủng khiếp, liền giục nhau về.


Thúy Kiều nói:


- Thong thả, hai em sợ chi? Đó là tinh anh của Đạm Tiên. Ta từ biệt nàng rồi sẽ về.


Nói xong rút trâm ở mái đầu, vạch vào thân cây một bài thơ từ biệt. Thơ rằng:


Trận gió đâu tự nhiên?


Thương xót bỗng xui nên.


Ngậm ngùi cơn gió thảm;


Ai oán mối tình duyên.


Bóng hạc xưa đã  khuất;


Xe loan nay dạo tìm.


Hương hồn còn phảng phất;


Đi lại dấu rêu in.


Thúy Kiều vịnh xong, còn đương thơ thẩn, ngắm đất nghênh trời, bỗng thấy xa xa có một chàng thanh niên, cưỡi ngựa đi đến. Hình dung phong lưu nho nhã quần áo chỉnh tề, gió trăng lưng túi, tay khấu lỏng buông, sau chân theo một vài thằng nho nhỏ.


Chàng thanh niên ấy là ai? Ấy là chàng họ Kim tên Trọng, biểu tự là Thiên Lý. Quê quán cũng ở Bắc Kinh. Chàng năm ấy tuổi vừa đến độ, đã mơ tưởng về một chữ tình. Phong tư tài mạo tuyệt vời, vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa. Từ khi nghe tiếng nàng Kiều tinh nghề đàn họa, giỏi nghề phú thơ, thì chàng vẫn có lòng khao khát, mong cho thấy được mặt mới thỏa lòng. May sao! Trời kia xui khiến, tình cờ lại được gặp gỡ ở chỗ này.


Vương Quan biết ngay là bạn đồng song, bèn ngảnh lại bảo hai chị rằng:


- Thưa trình hai chị! Người cưỡi ngựa sắp tới đây tên là Kim Trọng, với em cùng bạn bút nghiên. Hai chị hãy tạm lánh một chút.


Thúy Kiều và Thúy Vân liền đứng nấp vào cây sau mộ Đạm Tiên. Kim Trọng thẳng tới trước mồ, xuống ngựa chào Vương Quan. Vương Quan bước ra nghênh tiếp, hai người thi lễ xong, Kim Trọng nói:


- Tiểu đệ đã lâu vẫn có ý hâm mộ cái lòng cao thượng của Lưu Đạm Tiên xưa, nên hôm nay tìm đến đây chơi. May đâu giai cấu tương phùng, lại gặp được quý hữu. Dám hỏi hai vị nữ khách kia với quý hữu là thân thích gần xa thế nào?


- Thưa đại huynh, đó là gia thư của tiểu đệ.


- Hai vị đó đã là lệnh thư của quý hữu, thì tiểu đệ có lẽ nào lại không bái kiến. Dám phiền quý hữu làm ơn thông báo cho.


Vương Quan không nhẽ chối từ, phải đến sau mồ bẩm cùng hai chị. Lúc Vương Quan đi thì Kim Trọng cũng theo sau, hai nàng tránh không kịp, bất đắc dĩ phải cúi đầu chào.


Kim Trọng dẫu ngoài miệng thì chào hỏi lễ phép, nhưng hai con mắt chàng đã nhìn được tỏ rõ nhan sắc hai nàng rồi. Thúy Kiều thì: làn thu thủy, nét xuân sơn, hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh. Còn Thúy Vân thì: hoa cười ngọc thốt đoan trang, mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da. Tâm thần mê mẩn, lòng nhủ lòng rằng: “Lạ chưa! Dễ có khi con ma tương tư kia nó sắp gieo vạ cho mình đây chắc?”. Sau lại lầm rầm thề một mình rằng: “Nếu ta không lấy được một trong hai nàng này làm vợ, thì quyết trọn một đời ta ở vậy không lấy ai”. Tuy nghĩ vẩn vơ, nhưng vì có Vương Quan đứng đó, nên chàng Kim cũng phải giữ gìn, không dám buông lời ong bướm, chỉ trò chuyện qua loa một lát rồi từ biệt.


Ba chị em thơ thẩn mãi gần tối chưa về. Ở nhà, Vương viên ngoại nóng ruột, cho gia đình đem kiệu ra đón. Về đến nhà, cơm nước xong thì trời đã sâm sẩm tối.


Thúy Kiều đương lúc đêm thanh cảnh vắng, cùng ngồi trò chuyện với Thúy Vân, tưởng đến chàng Kim, liền bảo em rằng:


- À! Em ơi! Hôm nay chị xem chàng Kim đến đó nghĩ cũng lạ lắm, sao chàng cũng biết đi viếng Đạm Tiên?


- Thưa chị, em thiết tưởng chủ ý chàng Kim đến đó vị tất đã viếng mộ Đạm Tiên. Chỉ sợ chàng ta lại đến xem mặt chị em mình đó thôi.


- Ừ, cũng có lẽ phải! Nhưng mà em ơi! Chị xem chàng ta tướng mạo khác thường, tưởng cũng là bậc hào hoa phong nhã đó chứ?


- Chị đã ưng ý rồi đó chăng? Nếu cuộc trăm năm của chị ở như người ấy, thì còn chi mà bàn nữa!


- Em ơi! Em phải biết rằng: Chữ nhân duyên vốn là tiền định, dễ ai đã dám cưỡng cầu. Mà việc hôn thú kia, phải có mối mai, lẽ nào mình lại tự kén chọn lấy được? Thôi thì cái duyên kỳ ngộ kia sau này dẫu có kết quả ở chị hay em, thì cũng phó mặc trong tay Nguyệt lão, không cần phải bàn đến nữa. Duy nay chị xem tài mạo của chàng, thì hai chữ khoa giáp chắc sẽ có ngày trông thấy.


- Chị ơi! Khoa giáp của chàng Kim, có việc gì đến chị em mình mà phải bận lòng đến.


- Sao không bận lòng đến được? Em ơi! Chị nghĩ chị nay, đức mỏng khôn đọ với phúc dày, mà em đây về đường phúc đức xem ra lại hơn chị hẳn đến chín phần mười; chắc sau này em sẽ được hiển vinh, chị mong cho em lắm.


- Chết nỗi, chị nói thế nào ấy, em thật không hiểu ý chị.


- Thật đấy, chị mong cho em lắm. Chiều hôm nay chàng Kim gặp chị em mình, tất có ngày trùng phùng. Chị khuyên em gặp lúc bấy giờ, em nên phải giữ lòng trinh chính, em ạ. Thân người con gái, khi đã trọng thì trọng như núi Thái; lúc đã khinh thì khinh tựa lông hồng. Nếu mình trước đã bướm ong lơi lả, nhỡ nhàng trong giây phút, thì cái thân mình sẽ thành ra ngọc trắng nhạn xanh, hai bên xa cách không biết chừng nào.


- Thưa chị, sao chị lại nói mê hoặc như vậy? Em còn thơ ấu, đã biết đâu những sự lứa đôi, mà chị lại đem lời rìu búa để đắn đo em?


- Em nghĩ lầm rồi, chị nói đó là nói chính kinh, sao em lại bảo là mê hoặc? Chị chắc em sau này thế nào cũng phải xuất giá chứ?


Thúy Vân nghe chị nói đến việc chồng con, thẹn đỏ mặt lên, đứng dậy đi ngủ.


 


Lời bình của Thánh Thán


Thân em như vóc đại hồng. Tấm vóc đại hồng kia, có đường ngang, có đường dọc; mà đường ngang bộ sách này tức là chữ “Tình”, đường dọc bộ sách này tức là chữ “Khổ” vậy. Người ta nhân cảnh - ngộ mà sinh tình, vì gặp gỡ mà nên khổ, khi bắt đầu mở quyển sách ra, làm thế nào mà tả cho độc giả trông thấy được? Thế mà bộ sách này tình cờ đem ngay nàng Lưu Đạm Tiên làm dẫn từ, trong bức hình ảnh thấp thoáng lờ mờ kia, cái tình và cái khổ của thân thể cô Kiều, mười phần đã tả ra được đến tám chín, thật là một tay viết văn khôn khéo lắm đó.


Lại còn cái khéo nữa là cùng một chữ “tình” mà xét kỹ ra thì mỗi tình một khác:


Kim Trọng thì tả một cách đậm đà, tức là “cấp tình”. Vì cấp tình cho nên khi gặp Kiều ở trước mộ thì vội đưa mắt nhìn, nhìn rõ mặt thì tương tư, mới tương tư mà đã thề thốt quyết lấy làm vợ. Cho hay cấp tình hễ tả được lộ là khéo!


Thúy Vân thì tả một cách đạm bạc, tức là “viễn tình”, vì viễn tình cho nên khi gặp Kim Trọng ở bên cầu, thì chỉ những thấy thấp thoáng nẻo xa, chỉ những thấy bóng chiều tha thướt, chỉ những thấy người e cúi đầu. Cho nên viễn tình hễ tả được kín là khéo.


Còn như cô Kiều thì thật là giống “đa tình”. Cái tình chủng ấy đã mọc rễ, nảy cành, đâm hoa, trổ lá, đã lắm phen rực rỡ vẻ đẹp, đã lắm phen ngào ngạt mùi hương. Dẫu lộ mà kín, dẫu kín mà lộ. Trong khi dụng bút, có thiển có thâm, xem văn hồ dễ mấy người biết văn vậy! Âu là trước khi đọc quyển văn này, ta hãy cạn một chén rượu ngon mà trông hoa mỉm cười.


II-


Hết nghĩ gần thôi lại nghĩ xa


Hiu hiu án sách ngọn đèn tà,


Gương loan phảng phất hồn cung quế,


Giấc bướm mơ màng khách trướng sa.


Mười đoạn sầu tuôn đôi giọt ngọc;


Trăm năm duyên bén một cành thoa.


Mái tây bõ lúc chờ trăng dựng,


Rày đã vườn xuân tỏ mặt hoa.


Thúy Kiều thấy em hổ thẹn lại càng ngẫm nghĩ băn khoăn. Một mình lặng ngắm bóng nga, rộn đường gần với nỗi xa bời bời. Nàng ngồi nghĩ thầm một mình rằng: “Quái lạ chưa, mình nói thế đã có gì đáng thẹn mà em mình lại đỏ mặt lên? Ừ, cho em mình có kết duyên Tần Tấn với chàng Kim kia nữa, thì hai bên cùng là tài sắc kiêm toàn. Ôi! Em mình vì sẵn nền phúc đức, có vẻ phong lưu, nên mình mới hy vọng cho như thế, còn mình thì phận mỏng cánh chuồn đã chắc vào đâu? Trời ơi! Người đâu gặp gỡ làm chi, trăm năm biết có duyên gì hay không?”.


Nàng đêm khuya nghĩ ngợi như thế, ngồi đứng ngẩn ngơ. Nhân lúc trời quang mây tạnh, gió mát, trăng trong, mượn cảnh ngụ tình, vịnh nên một bài thơ tuyệt diệu. Thơ rằng:


Mây tạnh, trời quang, đêm vắng tanh


Tấm lòng trinh bạch, dạ trong xanh.


Ai đi, nhắn nhủ người tri kỷ,


Trăm mối tơ vương một chữ tình!


Vịnh xong, lòng thêm ngao ngán, tinh thần mỏi mệt cũng đứng lên đi ngủ.


Thúy Kiều đương lúc phách quế mơ màng, hồn mai phảng phất, bỗng đâu thấy một người con gái ở ngoài bước vào. Sương in mặt, tuyết pha thân, sen vàng lững thững như gần như xa. Người ấy bảo nàng Kiều rằng:


- Lệnh thư ơi! Nay đương lúc cảnh xuân vui vẻ, vườn quế thơm tho, sao lệnh thư không đi thăm liễu hỏi hoa chơi xuân ngắm cảnh, nỡ phụ thì giờ quý báu mà đã vội đi ngủ ru?


Thúy Kiều nghe hỏi, vội vàng bước ra nghênh tiếp, thấy hình dung người con gái ấy có chiều phong vận, có chiều thanh tân. Thật là sắc nước hương trời, màu thanh vẻ lịch, coi như một vị tiên nữ ở Đào nguyên mới đến. Hai bên thi lễ xong, cùng ngồi. Thúy Kiều hỏi:


- Dám thưa lệnh thư, chẳng hay quỳnh xá của lệnh thư ở đâu? Quý hiệu là gì? Em nay không rõ.


- Thiếp cũng ở gần đây: hàn gia ở mái tây thiên, dưới dòng nước chảy, bên trên có cầu. Lệnh thư với thiếp mới gặp nhau lúc ban ngày, đã quên nhau rồi ru!


- Thưa Tiên nương, thế ra em không biết, xin tha thứ cho.


- Không, không hề chi, cũng là thanh khí xưa nay, nên mới cùng nhau gặp gỡ. Thiếp vẫn có lòng hâm mộ lại cảm vì mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng của lệnh thư, nên vừa rồi thiếp có trình hội chủ hội đoạn trường, nhân tán mỹ cái thiên tài của lệnh thư. Thời hội chủ cũng sẵn lòng hoan nghênh và bảo lệnh thư cũng có tên ở trong hội đó. Hội chủ có cho thiếp đem mười bài này, nhờ lệnh thư vịnh giúp để vào tập đoạn trường.


- Thưa Tiên nương, chẳng hay hội chủ ở đâu? Có thể cho em được đi bái kiến tôn nhan không?


- Lệnh thư hãy cứ vịnh thơ xong đi đã, còn việc bái kiến sau này sẽ hay.


Nói xong đưa lại mười đầu bài cho Thúy Kiều là: 1. Tiếc đa tài; 2. Thương mệnh bạc; 3. Khổ lẫn đường; 4. Nhớ cố nhân; 5. Nhục con đòi; 6. Tủi thanh xuân; 7. Buồn vận kiển; 8. Khổ lưu lạc; 9. Mộng cố hương; 10. Khóc tương tư.


Thúy Kiều xem xong gật đầu khen rằng:


- Đầu bài hay. Ai khéo ra những đề mục này mà đính theo tập Đoạn trường thực là hay vô cùng! Thiếp xin vịnh thử, họa may có giật được giải Khôi nguyên chăng?


Nói xong, cầm bút viết luôn mười khúc ngâm:


I


Tiếc đa tài!


Chim uyên múa lẻ loi.


Trăm năm hương lửa bao đằm thắm?


Một mối tình duyên những ngậm ngùi!


Những ngậm ngùi:


Tiếc đa tài.


II


Thương mệnh bạc!


Lời nguyền khôn ghi tạc,


Liều bồ chằng thẹn vẻ tài hoa.


Non nước xui nên dòng xuôi ngược!


Dòng xuôi ngược:


Thương mệnh bạc


 


 


III


Khổ lẫn đường!


Gang tấc nên dặm trường,


Lối hiểm còn hơn lòng ác hiểm;


Đảo điên trăm mối…chạnh niềm thương.


Chạnh niềm thương:


Khổ lẫn đường.


 


IV


Nhớ cố nhân!


Mắt xanh đầu trắng ngần!


Nào khi nhẹ bước đường mây tá?


Kẻ quí người khinh xa hóa gần,


Xa hóa gần;


Nhớ cố nhân.


 


 


V


Nhục con đòi!


Soi gương thẹn bóng người.


Luống những ngậm ngùi thân liễu yếu;


Nỡ đem son phấn mỉa mai đời.


Mỉa mai đời;


Nhục con đòi.


 


VI


Tủi thanh xuân!


Hoa đẹp tựa gái tân!


Trên cành tươi tốt hơn đua nở;


Mưa gió gây nên cảnh não nhân.


Cảnh não nhân:


Tủi thanh xuân.




 


 


VII


Buồn vận kiển!


Giấc mộng thành lại biến.


Cõi tục khôn phân kẻ dở hay;


Cửa quyền khó mở đường phương tiện;


Đường phương tiện;


Buồn vận kiển.


 


VIII


Khổ lưu lạc!


Chiếc thân người phận bạc.


Trận gió, hoa cười rụng tả tơi;


Tìm đàn, nhạn hỏi bay ngơ ngác,


Bay ngơ ngác;


Khổ lưu lạc.


 


IX


Mộng cố hương!


Giấc điệp những mơ màng,


Hoa nở cây xưa hương chửa đoạn;


Thông reo vườn cũ tiếng còn vang.


Tiếng còn vang:


Mộng cố hương.


 


X


Khóc tương tư,


Thổn thức cơn biệt li;


Nặng gánh cùng chung ai kẻ đỡ?


Đau lòng đòi đoạn mối sầu bi,


Mối sầu bi:


Khóc tương tư.


Thúy Kiều ngâm xong, đưa lại cho người con gái ấy. Người con gái ấy cầm lấy xem đi xem lại gật đầu khen và nói rằng:


- Hay! Hay lắm! Thực là lời lời ngọc nhả, hàng hàng gấm thêu. Ví đem vào tập đoạn trường, thì treo giải nhất chi nhường cho ai? Thiếp xin bái lĩnh về trình hội chủ.


Thúy Kiều nghe nói đến về, vội vàng mời ở lại mà bảo rằng:


- Lệnh thư ơi! Lệnh thư đã có lòng chiếu cố, khác nào rồng đến nhà tôm! Nay lệnh thư lại vội về, phụ tấm lòng quyến luyến của em lắm. Vả nay lệnh thư đã về, chẳng biết bao giờ cho em lại được tiếp kiến?


- Xin lệnh thư chớ ngại. Lệnh thư với thiếp, ân ái còn nhiều. Xin ước với lệnh thư, sau này chị em ta sẽ họp mặt ở sông Tiền Đường! Thôi hãy xin bái biệt.


Thúy Kiều còn đương săn đón chuyện trò, bỗng đâu cơn gió thoảng qua, xịch động bức màn thưa, giật mình tỉnh giấc, mới biết là chiêm bao. Mở mắt trông theo, chẳng thấy người con gái kia đâu nữa. Bỗng thấy thấp thoáng, ngọn gió hắt hiu, nghe trống cầm canh đã điểm canh ba tiếng. Ngồi nghĩ một mình càng thêm kinh ngạc, sợ hãi quá chừng. Nàng nói lảm nhảm một mình rằng:


- Trong khi mộng mị, thơ vịnh hẳn hoi, trò chuyện trước sau tỏ rõ. Mà quái lạ thay! Duy chỉ có người con gái kia, thì mình lại không biết quê quán ở đâu, tên họ là gì?


Nói xong lại ngồi ngẫm nghĩ, thốt nhiên gật đầu mà rằng:


- Ừ! Phải rồi! Bây giờ mình mới nghĩ ra. Rõ ràng người con gái ấy có bảo ta: “Hàn gia ở mái tây thiên, dưới dòng nước chảy, bên trên có cầu” kia mà. Hôm qua ta chơi mả Đạm Tiên, cũng thấy cảnh vật như lời trong mộng. Thôi chính người con gái ấy là Lưu Đạm Tiên rồi… Còn ngờ gì nữa? Ngao ngán thay! Đem những thơ của mình mà so sánh với truyện của nàng, thời mình cũng là kiếp đoạn trường rồi! Hoa trôi bèo dạt mà đành, biết duyên mình, biết phận mình thế thôi. Kim lang chàng hỡi! Nếu vậy thiếp với chàng chẳng cũng vô duyên lắm sao!”.


Nghĩ đến đấy nàng lại càng thổn thức gan vàng, chứa chan lệ ngọc. Giữa lúc nàng khóc ngấm thương thầm, đêm khuya rền rĩ, tiếng nhỏ tiếng to, thì Hà phu nhân (tức là thân mẫu nàng) sực tỉnh giấc nồng, bỗng nghe trên lầu có tiếng than khóc, vội vàng cầm đèn lên xem. Khi bấy giờ nàng Kiều đương ngồi một mình, nét mặt sầu thảm, giọt lệ chứa chan. Hà phu nhân thấy vậy, liền hoảng hốt sợ hãi, gọi rối gọi rít lên rằng:


- Con!... Con!... Thúy Kiều con ơi! Con chưa đi ngủ ư? Còn ngồi làm chi đấy? Sao con lại âu sầu buồn bã như vậy?


Thúy Kiều đương lúc mơ màng bâng khuâng, vẳng nghe tiếng gọi, mở bừng mắt xem, biết là thân mẫu gọi, nghĩ càng thổn thức, nói chẳng ra lời, chùi nước mắt, thở dài một tiếng, rồi vừa khóc vừa nói rằng:


- Thân mẫu ơi, thân mẫu! Thân con chút phận ngây thơ, dưỡng sinh đôi đức tóc tơ chưa đền. Con gái lớn của mẹ này không còn mong mỏi gì về kết cục sau này nữa!


- Sao!... Tại sao con lai nói gở làm vậy? Hay con nói mê thế hử con?


- Thưa mẫu thân! Lời con nói đó, không phải là nói mê. Số là con khi ngắm cảnh xem trăng, lúc mỏi mệt vừa chợp mắt ngủ đi, bỗng thấy có một người con gái đến, nói rằng chủ hội Đoạn trường bảo đưa mười đầu bài cho con vịnh giúp. Lúc ra đi nàng lại dặn con sau sẽ gặp nhau ở sông Tiền Đường. Mẫu thân ơi! Con thiết nghĩ, phận con thơ ngây vốn trong khuê các, không khi nào xa cách cõi ngoài. Thế mà nay nàng lại bảo con cùng gặp ở sông Tiền Đường là con sông ở nước Việt, xa cách đến mấy mươi ngày đường! Vả chăng người con gái ấy, chính là người trong hội Đoạn trường, nay lại giao ước cùng con, thôi có lẽ cái thân con chắc cũng là thân đoạn trường đấy thôi.


Nói xong lại khóc, khóc xong lại nói:


- Mẫu thân ơi! Cứ trong mộng triệu mà suy, phận con thôi có ra gì mai sau!


Hà phu nhân thấy con than khóc, cũng động lòng thương, liền khuyên giải rằng:


- Con gái quí của mẹ ơi! Sao con vội tin nhảm làm vậy? Này! Mẹ bảo con hay, mộng ảo cứ đâu mà con bỗng không mua sầu, rước não? Con phải biết rằng: bụng nghĩ làm sao, chiêm bao làm vậy. Mẹ đã nghe hai em con nói chuyện chơi mả Đạm Tiên. Vì con có nhiều phần lưu luyến, nên nay mới thấy chiêm bao. Con ơi! Sự huyền hoặc kia mẹ không lấy gì làm tin đấy, con ạ. Thôi đêm khuya rồi, mẹ cùng con đi ngủ cho xong - Nói xong, liền dắt tay Thúy Kiều lên giường ngủ.


Lại nói chuyện Kim Trọng, từ khi thấy mặt hai nàng, suốt ngày luống những ngẩn ngơ ngơ ngẩn. Tơ lòng vấn vít, trăm mối ngổn ngang, cho hay là giống hữu tình, đố ai dứt mối tơ mành cho xong!


Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao,


Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng;


Phòng văn hơi giá như đồng,


Trúc se ngọn thỏ, tơ trùng phím loan;


Mành tương phất phất gió đàn,


Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình.


Cái cảnh tương tư, thực rất nên thơ vậy. Chàng Kim hết ngồi lại đứng, hết ra lại vào, nghĩ quẩn nghĩ quanh, nghĩ không ra kế. Muốn được tái kiến tiên dung, ngặt vì một dải sông Tương, đôi đường cách trở, dẫu ao ước cũng không sao được.


Một hôm, chàng ngồi một mình, nghĩ ngợi vẩn vơ, sực nghĩ được một kế, liền vỗ tay xuống bàn mà nói một mình rằng:


- Ừ! Phải phải, có như thế… như thế… thời mới xong được! Nếu không thế thì chim Việt ngựa Hồ, đôi bên cách trở, bao giờ gặp nhau? Phải, ta mượn người tìm một cái nhà gần đó, để lấy điều du học hỏi thuê, túi đàn cập sách đề huề dọn sang. Được như thế, sự trùng phùng sau này lo gì không có cơ hội.


Nói xong, cho người đi thuê một cái nhà ở gần nhà Vương viên ngoại. Hồi lâu trở về nói đã thuê được một cái trại, gọi là Lãm thúy viên, mà trại ấy lại ở phía sau nhà Vương Thúy Kiều. Chàng nghe xong, bụng mừng hí hởn, nói một mình rằng:


- May quá! Ta thuê được chỗ này thì còn đâu hơn nữa? Nếu vườn kia mà đã gọi là “Lãm thúy”, thì không cần phải nói đến tên hai nàng, cũng đủ biết có trưng triệu hay rồi! Đắt mấy cũng thuê! Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây!


Chàng nói xong, sắm sửa đi liền. Khi tới vườn Lãm thúy, thấy tùng trúc cỏ hoa, hớn hở như đón người khách quý, đình đài lâu các, u nhã dễ trông. Nhưng chàng Kim khi bấy giờ còn có lòng nào mà thưởng ngoạn, chỉ kén lấy một gian nhà ở phía đông, ngày ngày ra đứng ngóng trông người ngọc. Khi cúi đầu ngẫm nghĩ, khi ngẩng cổ dòm nom, nhưng tịt mù bóng hồng đâu chẳng thấy.


Ngày qua tháng lại, Kim Trọng ở đó thấm thoắt đã ngót một tháng, trông mong đã đỏ mắt mà vẫn không thấy bóng hồng. Bấy giờ chàng Kim nóng lòng sốt ruột, ngồi đứng không yên. Có khi nói lảm nhảm một mình rằng:


- Thâm nghiêm kín cổng cao tường thế này, thì chắc là cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh mất!


Một hôm giời chiều êm ái, cảnh sắc tốt tươi, Kim Trọng lững thững dạo quanh núi giả, xem các thức hoa. Ngửa mặt trông lên một cành bích đào, bỗng thấy có vật gì mắc ở trên, ánh vàng bóng lộn, sắc thúy sáng choang, coi như cây bích đào lại nẩy ra cành vàng lá ngọc. Bụng nghĩ lấy làm ngạc nhiên, nói một mình rằng:


- Ô kìa! Vàng ngọc đâu lại mắc ở trên kia? Coi như một vật nữ trang của ai đó.


Nói xong chòi xuống tay cầm mắt nhìn, xem đi ngắm lại, mới biết là một cành thoa Kim phượng. Kim Trọng lại nói một mình rằng:


- Vật này cũng lạ, chất vàng sắc thúy, chắc là vật báu của mỹ nhân nào đây? Hay là lại của hai nàng mà ta vẫn hàng ngày khao khát đấy chăng? Nếu đã của hai nàng mà ta lại bắt được thì còn thú nào bằng? Ngẫm âu người ấy báu này, chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm. Nhưng cũng quái lạ thay! Chẳng hay, sao mà hai nàng lại đánh rơi ở đây? Mà nếu đã đánh rơi ở đây, tất cũng có lúc đến tìm. May mắn sao! Của nàng mà đã ở tay ta, thì cái duyên kỳ ngộ, sẽ có ngày ta gặp lại.


Nói xong trong lòng hoan hỉ, ngoài mặt tươi cười, cầm thoa vào thẳng thư phòng, ngắm đi ngắm lại, hình như không biết chán.


(còn tiếp)


Nguồn: Kim Vân Kiều Truyện. Tiểu thuyết của Thanh tâm Tài Nhân. Hùng Sơn Nguyễn Duy Ngung dịch. Hiệu đính: Nhà văn hóa Vũ Đình Long. Lời bình của Kim Thánh Thán do Nguyễn Đỗ Mục dịch. NXB Văn học liên  kết cùng  Doanh nghiệp Sách Thành Nghĩa in lần thứ 5, quý Tư, 2012.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ông cố vấn - Hữu Mai 16.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 10.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 07.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
xem thêm »