tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29829867
Tiểu thuyết
20.06.2013
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua

NHỮNG NGÀY ĐẦU CỦA CHIẾN TRANH THẾ GIỚI 1914 


Mùa hè 1914 sẽ còn đọng lại trong chúng tôi không thể nào quên, cho dù không có tai họa mà nó giáng xuống châu Âu. Tôi hiếm được sống một mùa hè cây cối sum suê um tùm hơn, đẹp hơn, có thể nói "hè" hơn. Trong nhiều ngày bầu trời dệt bằng lụa, không khí dịu mà không ngột ngạt, các cánh đồng cỏ ngát hương, các khu rừng tối tăm và rậm rạp với thảm lá màu lục mới. Cho đến ngày nay khi đọc lên từ "mùa hè", tôi bất giác nghĩ đến những ngày tháng Bảy rạng rỡ mà tôi sống ở Baden gần Vienne. Tôi lui về trong cái thành phố thơ mộng ấy mà Beethoven vui lòng chọn cho mình làm nơi nghỉ mùa hè, để dành tháng Bảy cho công việc trong một sự tập trung tư tưởng cao độ, và để sau đó sống phần còn lại của mùa hè ở nhà Verhaeren, người bạn đáng kính của tôi, trong ngôi nhà nhỏ nông thôn của anh ở Bỉ. Ở Baden, không cần rời cái thành phố nhỏ mới được hưởng phong cảnh. Cánh rừng dốc thoai thoải trườn nhẹ nhàng giữa các ngôi nhà thấp, xây dựng trong nửa đầu của thế kỷ trước và vẫn giữ cái giản dị và vẻ duyên dáng của thời Beethoven. Ở các quán cà phê và quán ăn, đâu đâu người ta cũng ngồi ăn ngoài trời; người ta có thể tùy nghi trà trộn vào đám người vui nhộn đi tắm đang dạo chơi bằng ô tô trong công viên hoặc thơ thẩn trên những con đường hiu quạnh.


Ngay từ hôm trước ngày 24 tháng Bảy, mà ở nước Áo theo Cơ Đốc giáo là ngày lễ "Các thánh Pierre và Paul", nhiều khách đã từ Vienne đến. Trong những bộ áo quần mùa hè màu sáng, vui vẻ và vô tư lự, đám đông đổ vào công viên trước khán đài các nhạc công. Ngày dịu, bầu trời không mây trải rộng bên trên những câu dẻ tán lá rộng; và quả là một ngày để cảm thấy sung sướng. Kỳ nghỉ hè của trẻ em và người lớn đang đến gần và trong ngày lễ đầu tiên này của mùa hè, họ dường như cảm nhận trước tất cả mùa hè với không khí ngọt ngào, những màu xanh đậm, sự lãng quên những lo âu thường nhật của nó. Tôi ngồi cách biệt với đám đông ở công viên và đọc một quyển sách, tôi nhớ đó là quyển Tolstoï và Dostoïevski của Merejkovski, - tôi đọc hết sức chăm chú. Tuy nhiên cùng lúc đó, tôi vẫn nhận thấy gió rì rào trên cây, tiếng chim hót líu lo và tiếng nhạc từ công viên bàng bạc trong không khí. Tôi nghe thấy rõ ràng các giai điệu mà không bối rối, vì lỗ tai chúng ta có khả năng thích nghi tới mức một tiếng ầm ì kéo dài, một đường phố ồn ào, một con suối sùng sục sau vài phút không còn làm ta rối loạn tâm thần, nhưng trái lại một sự đột ngột phá vỡ nhịp điệu lại làm chúng ta dỏng tai lên.


Như vậy là tôi ngắt việc đọc sách một cách không chủ tâm khi bỗng chốc điệu nhạc im đi giữa một nhịp. Tôi không biết giàn nhạc của nhà tắm chơi bài gì. Tôi chỉ nhận thấy điệu nhạc bỗng chốc tắt đi. Bất giác tôi ngẩng nhìn khỏi sách. Đám đông đang đi dạo giữa các hàng cây tạo thành một mảng sáng bồng bềnh hình như cũng thay đổi; nó nữa, cũng đột ngột ngưng sự đi lại. Một điều gì đó đã phải xảy ra. Tôi đứng dậy và nhìn các nhạc công rời khán đài. Đó cũng là một chuyện lạ vì buổi hòa nhạc thường kéo dài một giờ hay lâu hơn nữa. Một điệu gì đó phải gây nên sự ngắt quãng đó. Đi lại gần, tôi nhận xét thấy những người xúm lại thành những nhóm sục sôi đang chen lấn nhau trước lầu nhạc quanh một thông cáo đã được niêm yết tại đó. Sau đấy vài phút, tôi được biết đó là bức điện báo tin hoàng thân kế vị François Ferdinand và phu nhân, đã đến Bosnie để dự cuộc diễn tập, bị ám hại tại đó trong một cuộc mưu sát chính trị.


Đám người ngày càng đông ùn lại trước tấm yết thị. Họ lần lượt trao đổi với nhau về cái tin bất ngờ đó. Nhưng, để tôn trọng sự thật, người ta không thể đọc thấy trên các khuôn mặt một vẻ sững sờ nào lẫn một nỗi cay đắng nào cả. Vì người kế vị này hoàn toàn không được yêu quý. Tôi còn nhớ một ngày khác của tuổi thơ tôi, trong ngày đó hoàng tử nối ngôi Rodolphe, con trai độc nhất của hoàng đế, được tìm thấy bị một viên đạn bắn xuyên ở Meyerling. Lúc đó cả thành phố sục sôi căm phẫn, những đám đông khổng lồ chen lấn để dự lễ nhập quan; niềm thông cảm và sự hốt hoảng được biểu hiện với một sức mạnh vô biên, bởi vì con trai độc nhất và người nối ngôi của ngài, một người thuộc dòng dõi Halsbourg yêu chuộng tiến bộ, cực kỳ đáng yêu và tràn trề hy vọng đã ra đi lúc đang tuổi tráng niên. François Ferdinand trái lại thiếu tất cả những gì quan trọng nhất ở Áo để tạo nên một sự đường lòng dân chân chính: sự đáng yêu, sức quyến rũ của cá nhân và những cử chỉ dễ gần. Tôi thường quan sát ngài ở nhà hát. Ngài ngồi ở lô của mình, lực lưỡng và cao lớn, cặp mắt lạnh lùng và bất động, không hề có một cái nhìn khả ái với công chúng và không hề có những cái vỗ tay nồng nhiệt cổ vũ các nghệ sĩ. Người ta không bao giờ thấy ngài mỉm cười, không một tấm ảnh nào chụp ngài đang trong một tư thế hơi buông thả một chút. Ngài không có một tí nhạc cảm nào, một tí vẻ hài hước nào; và vợ ngài cũng một vẻ mặt quàu quạu như ngài. Một bầu không khí băng giá bao bọc lấy hai con người ấy. Người ta biết rằng họ không có bạn; người ta biết là vị hoàng đế già ghét cay ghét đắng hoàng tử vì hoàng tử không thể che giấu sự nóng lòng nắm lấy quyền lực. Sự tiên cảm hầu như có tính chất tôn giáo của tôi báo với tôi rằng con người có cái gáy chó ngao, có đôi mắt bất động và lạnh lùng này một ngày kia sẽ là nguyên nhân của một nỗi bất hạnh nào đó. Đó hoàn toàn không phải là sự tiên cảm của cá nhân tôi mà đã lan tràn ra khắp nước. Vì vậy tin tức về vụ ám sát không khêu gợi một sự thông cảm sâu sắc nào. Hai giờ sau đó, người ta không còn nhìn thấy một dấu hiệu tang tóc thực sự nào. Nhiều người nói chuyện và cười; về khuya âm nhạc bắt đầu được chơi lại trong các phòng. Nhiều người ở nước Áo thở phào trong bí mật ngay cả khi người kế vị này của hoàng đế già bị trừ khử vì lợi ích của quận công trẻ Charles được yêu mến hơn rất nhiều.


Ngày hôm sau, các báo tất nhiên dành cho những nạn nhân các bài tiểu truyện người chết với đầy đủ các chi tiết và biểu thị như đã thỏa thuận sự phẫn nộ của họ đối với vụ mưu sát nhưng không có gì chứng tỏ rằng sự cố sẽ được khai thác nhằm một hành động chính trị chống lại xứ Serbie. Đối với hoàng gia, cái chết này trước hết gây một sự náo động kiểu khác, tức là sự náo động cho lễ nghi của đám tang. Với tư cách là người kế vị ngai vàng và nhất là do thực ra ngài đã qua đời vì phụng sự nền quân chủ, vị trí của hoàng tử phải tất yếu ở hầm mộ của các vị tu sĩ dòng thánh François, nơi đặt phần mộ lịch sử của dòng dõi Halsbourg nhưng François-Ferdinand, sau một cuộc đấu tranh kịch liệt chống lại hoàng gia, đã thành hôn với nam tước Chotek, quả là thuộc đại quý tộc, nhưng căn cứ vào luật bí ẩn và lâu đời của triều đại Halsbourg, lại không phải là ngang hàng với Ferdinand theo thế tập, và các công chúa vào những cuộc lễ lớn, bền bỉ yêu sách được xếp đứng trước phu nhân của người kế vị nối nghiệp, mà các con không có khả năng nối ngôi. Sự kiêu hãnh của triều đình đứng lên chống lại cả người chết. Thế nào? Đặt thi hài của nam tước Chotek vào hầm mộ hoàng gia Halsbourg ư? Không, không thể như thế được! Một thủ đoạn khủng khiếp được xếp đặt; các công chúa tấn công vào vị hoàng đế già. Trong khi người ta chính thức yêu cầu ở dân chúng một sự chịu tang sâu nặng, những thù hằn tàn bạo tha hồ được biểu lộ. Những người chủ lễ tang bày đặt ra điều hư cấu rằng chính nguyện vọng của người đã qua đời là được mai táng ở Artstetten, một thành phố nhỏ tỉnh lẻ và dưới cái lý do thành kính đó, tránh được một cách nhẹ nhàng việc nhập quan, đoàn đưa tang và tất cả những cãi vã về quyền đứng ngồi ai trước ai sau gắn liền với các việc trên. Quan tài của hai nạn nhân được lặng lẽ đưa đến an táng ở Artstetten. Thủ đô Vienne mà người ta đã tước đi một dịp thỏa mãn cái thị hiếu biểu diễn của mình đã bắt đầu quên sự kiện bi đát này. Và dù sao ở Áo, cái chết bất đắc kỳ tử của hoàng hậu Elidabeth, của hoàng tử kế vị, sự bỏ trốn tai tiếng của nhiều thành viên của hoàng gia đã từ lâu làm người ta quen với ý nghĩ rằng hoàng đế cô độc và không lay chuyển được sẽ sống lâu hơn so với triều đại Tantalides. Còn vài tuần nữa, thế rồi tên tuổi và hình ảnh của François-Ferdinand sắp được vĩnh viễn xóa khỏi lịch sử.


Nhưng sau chừng một tuần, trên báo chí bắt đầu một trò chơi của hỏa lực bắn tỉa mà sự tăng dần lên được đồng bộ hóa quá tốt để có thể là hoàn toàn ngẫu nhiên. Chính phủ Serbie bị buộc tội thông đồng với những kẻ sát nhân, và người ta nói bóng gió nửa lời rằng nước Áo không thể để việc giết chết người kế vị ngai vàng, mà người ta bảo là rất được yêu quý, không bị trừng trị. Người ta không thể không có cảm tưởng là một hành động nào đó đang được báo chí chuẩn bị, nhưng không một ai nghĩ đến chiến tranh. Các ngân hàng, các hãng buôn lẫn các tư nhân đều không thay đổi khuynh hướng của mình. Những cuộc cãi vã thường xuyên với Serbie thì liên quan gì đến chúng ta? Chúng ta biết tỏng đi rằng những cuộc cãi vã đó nảy sinh từ một số hiệp định thương mại về xuất khẩu lợn Serbie. Tôi đã sửa soạn rương hòm cho chuyến đi Bỉ ở đó tôi sẽ gặp lại Verhaeren; công việc của tôi đang đi đúng hướng đến thành công. Vị quận công đã qua đời nằm trong quan tài có ảnh hưởng gì đến cuộc đời tôi? Mùa hạ đang đẹp như chưa bao giờ nó đẹp như thế và hứa hẹn còn đẹp hơn nữa; thoát khỏi mọi lo âu, chúng tôi ngắm nhìn thế giới. Tôi còn nhớ đã đi dạo, vào hôm trước ngày ra đi, giữa các luống nhỏ của Baden với một người bạn và một người trồng nho già đã nói với chúng tôi: "Từ lâu chúng ta không có mùa hạ như thế này. Nếu cứ kéo dài như thế này, chúng ta sẽ có rượu ngon hơn bao giờ hết. Người ta sẽ nhớ tới mùa hạ này".


Nhưng ông già mặc áo xanh của người bỏ rượu vào hầm không biết rằng những điều ông nói thật một cách bi thảm đến như thế nào!


*


Tại trạm nghỉ mát nhỏ Le Coq( ) gần Ostende, nơi mà tôi muốn nghỉ hai tuần trước khi đến ngôi nhà nông thôn nhỏ của Verhaeren như mọi năm, cũng tràn trề một sự vô tư lự đó. Những người sung sướng với kỳ nghỉ của mình nằm trên bãi biển, dưới những chiếc lều sặc sỡ, hoặc đầm mình trong nước; trẻ con thả diều, trước các tiệm cà phê, thanh niên khiêu vũ trên mặt đê. Tất cả các quốc gia có thể tưởng tượng được đều tụ hội ở đây một cách hòa bình: người ta nghe nói nhiều nhất là tiếng Đức bởi vì như mọi năm, các nước láng giềng trên bờ sông Rhin sẵn sàng nhất trong việc gửi các khách tới nghỉ hè trên bờ biển Bỉ. Sự rối loạn duy nhất ở đây là do những trẻ bán báo rao to, để bán được nhiều hàng hơn, những đầu đề chữ to đầy đe dọa của các tờ báo Paris: "Nước Áo khiêu khích nước Nga", "Nước Đức chuẩn bị tổng động viên". Mặt của những người mua báo tối sầm lại, nhưng cũng chỉ trong vài phút. Dẫu sao, từ nhiều năm nay chúng ta đã biết các xung đột ngoại giao; may thay chúng tôi luôn được dàn xếp yên ổn vào giờ chót trước khi trở thành nghiêm trọng. Tại sao lần này lại không là như thế? Nửa giờ sau, người ta thấy cũng những người đó lội bì bõm trong nước và vung vẩy; những con diều giấy lại lên cao hơn, những con mòng biển vỗ cánh và mặt trời sáng và ấm cười bên trên đất nước thanh bình.


Nhưng những tin nghiêm trọng nhất dồn dập và trở nên đe dọa hơn. Trước hết là tối hậu thư của nước Áo gửi cho Serbie, thư trả lời nước đôi, những bức điện trao đổi giữa các quốc vương và cuối cùng những cuộc động binh hầu như không giấu giếm. Tôi không còn có thể ở mãi cái chỗ nhỏ hẻo lánh này nữa. Hằng ngày tôi đi đến Ostende trên chiếc tàu điện nhỏ để sát tầm với các tin tức hơn; và tin tức ngày càng xấu thêm. Người ta còn tắm đấy, các khách sạn còn chật ních đấy, khách mùa hạ vẫn còn đi dạo từng đám đông trên mặt đê, vừa cười vừa chuyện trò đấy. Nhưng lần đầu tiên môt nét mới được tô thêm vào bức tranh. Người ta bỗng chốc thấy xuất hiện những người lính Bỉ mà ngày thường không bao giờ có mặt ở bãi tắm, những cỗ đại liên được chó kéo trên những chiếc xe nhỏ - đặc điểm đáng tò mò của quân đội Bỉ!


Lúc đó tôi đang ngồi trong một tiệm cà phê cùng vài người bạn Bỉ, một họa sĩ trẻ và nhà văn Crommelynck. Chúng tôi đã ở buổi quá trưa tại nhà James Ensor, họa sĩ hiện đại lớn nhất nước Bỉ, một con người cô độc và kín đáo một cách kỳ lạ, tự hào về những khúc nhỏ polka và valxơ không hay mà ông soạn cho kèn đồng quân đội hơn là về những bức tranh huyền ảo của ông, được phác ra với những sắc màu rực rỡ. Ông đã cho chúng tôi xem những bức tranh ấy với vẻ thiếu nhiệt tình, vì nỗi sợ hài hước rằng ai đó đang muốn mua một bức tranh của ông, đang giày vò ông. Sự thực như bạn bè tôi nói với tôi, vừa nói vừa cười, giấc mơ của ông là bán các bức tranh thật đắt, tuy nhiên vẫn muốn có thể giữ tất cả lại, vì ông thiết tha với tiền cũng như thiết tha với từng tác phẩm của mình. Mỗi lần nhượng được một bức, ông cảm thấy tuyệt vọng trong nhiều ngày. Cái ông Harpagon thiên tài này với tất cả những ý ngông, kỳ quặc đã làm chúng tôi vui, và vừa lúc một đoàn quân có khẩu đại liên mắc vào một con chó đi qua, một người trong chúng tôi đứng lên và vuốt vẻ con vật, làm cho viên sĩ quan hết sức bực mình; ông này sợ rằng sự vuốt ve một chiến vật sẽ làm tổn thương đến phẩm giá của thể chế quân sự.


Một người trong nhóm chúng tôi làu bàu:


- Những cuộc hành quân đi rồi hành quân lại ngu ngốc này để làm gì!


Nhưng một người khác đầy kích động đáp lại:


- Phải thực sự đề phòng chứ. Điều này có nghĩa là trong trường hợp chiến tranh, quân Đức có ý định thọc xuyên qua nước Bỉ.


Tôi nói với một niềm tin chân thành, vì trong thế giới cổ kim thời bấy giờ người ta còn tin ở sự thánh thiện của các thỏa ước:


- Nếu có chuyện gì xảy ra và nếu người Pháp và người Đức chém giết nhau đến người cuối cùng đi nữa thì người Bỉ các anh vẫn sẽ được che chở rất yên ổn.


Nhưng chàng bi quan của chúng tôi không nhân nhượng. Anh nói rằng điều đó chỉ có ý nghĩa nếu như ở Bỉ người ta thực hiện những biện pháp như vậy. Nhiều năm trước đây, người ta nghe đồn về một kế hoạch bí mật của ban tham mưu Đức: trong trường hợp tấn công nước Pháp, sẽ có một cú thọc sâu xuyên qua nước Bỉ bất chấp mọi thỏa thuận đã thề thốt. Nhưng tôi nữa, tôi cũng không nhân nhượng. Đối với tôi, thật là phi lý khi ở đây hàng ngàn và hàng mười ngàn người Đức hoàn toàn vô tư lự và với tâm trạng vui, đang hưởng sự mến khách của nước nhỏ trung lập này, thì ở biên giới đội quân đang ở thế sẵn sàng xâm lược!


- Thật là vô lý! Tôi nói. Anh có thể treo cổ tôi lên vào cái đèn lồng kia nếu người Đức vào Bỉ!


Ngày nay tôi còn đội ơn các bạn tôi đã không vội bằng vào lời nói của tôi.


Nhưng lúc đó diễn ra những ngày gay cấn nhất của tháng Bảy và mỗi giờ một tin nói trái lại tin trước, những bức điện của hoàng đế Guillaume gửi Nga hoàng, những điện khẩn của Nga hoàng gửi hoàng đế Guillaume, lởi nước Áo tuyên chiến với Serbie, vụ mưu sát Jaurès. Người ta cảm thấy tình hình trở nên nghiêm trọng. Bỗng chốc cơn gió lạnh của nỗi sợ quét sạch bãi tắm bây giờ đã vắng vẻ. Hàng ngàn người rời bỏ các khách sạn; phải chen lấn xô đẩy nhau nhiều mới lên được tàu hỏa; ngay những người tự tin nhất cũng đã phải thu dọn rương hòm một cách vội vã. Và cả tôi nữa ngay khi được tin Áo tuyên chiến với Serbie, tôi giữ một chỗ và chỉ có thể là rất đúng lúc. Vì chuyến tàu suốt Ostende là chuyến cuối cùng đi qua biên giới Đức. Chúng tôi đứng trong các hành lang, bị kích thích và rất sốt ruột, mỗi người nói với người đứng cạnh. Không người nào ngồi yên một chỗ hoặc đọc; đến mỗi ga người ta vội vàng xuống sân ga để đi tìm những tin tức khác, với hy vọng thầm kín rằng một bàn tay định mệnh vẫn còn gìn giữ số mệnh đã bị buông lỏng. Người ta cứ khăng khăng không tin là có chiến tranh, càng không tin hơn ở sự xâm lược nước Bỉ. Người ta không muốn tin vì người ta không muốn chấp nhận một sự lầm lạc đến như vậy. Dần dần con tàu chạy gần lại biên giới; chúng tôi đi qua Verviers, ga cuối cùng. Những người chỉ dẫn Đức lên các toa tàu, trong mười phút nữa chúng tôi đã ở trên lãnh thổ Đức.


Nhưng ở nửa đường đến Herbesthal, ga đầu tiên của nước Đức, con tàu bỗng chốc bị ngừng lại giữa cánh đồng bằng phẳng và trơ trụi. Trong hành lang toa tàu, chúng tôi ùn lại ở các cửa sổ. Cái gì đã xảy ra? Và lúc đó, trong bóng tối, tôi thấy nhiều chiếc tàu hàng chạy ngược chiều với tàu của chúng tôi, chiếc này nối chiếc khác, những toa xe trần phủ vải bạt dưới đó tôi tưởng nhận ra hình thù mơ hồ đầy đe dọa của những khẩu đại bác. Tim tôi ngừng đập. Đây phải là sự tiến quân của đạo quân Đức. Nhưng có thể chỉ là một biện pháp phòng thủ, một sự dọa động binh chứ không phải là sự động binh thật sự, - tôi tự nhủ để tự an ủi. Luôn vào những giờ tai biến, ý muốn tiếp tục hy vọng tỏ ra chuyên chế. Cuối cùng, tín hiệu "Đường thông" đến; con tàu lại chuyển bánh và đi vào ga Herbesthal. Từ trên bậc lên xuống, tôi nhảy phốc xuống sân ga để chạy tìm một tờ báo, để có những tin tức. Nhưng nhà ga đã bị quân đội chiếm đóng. Khi tôi muốn đi vào phòng đợi, tôi tìm thấy trước cửa đóng một nhân viên nghiêm nghị râu trắng chặn tôi lại. Không một ai được vào các gian phòng nhà ga. Nhưng sau các ô kính của cửa chính đã được che kỹ tôi đã thoáng nghe thấy tiếng lách cách nhè nhẹ của các thanh kiếm và tiếng khô khan của những báng súng được đặt xuống sàn. Không còn nghi ngờ gì nữa, cái điều khủng khiếp đang diễn ra, sự xâm lược nước Bỉ bất chấp tất cả các nguyên tắc của quyền con người. Tôi lại lên tàu, run rẩy và tiếp tục cuộc hành trình về nước Áo. Từ đó không còn chút hoài nghi: tôi đã đi vào chiến tranh.


*


Buổi sớm hôm sau, ở Áo, trong mỗi nhà ga, người ta dán những yết thị loan báo cuộc tổng động viên. Các chiếc tàu chất đầy những tân binh lên đường nhận nhiệm vụ; cờ bay, tiếng nhạc vang vọng; đến Vienne tôi thấy cả thành phố đang trong cơn hoảng loạn. Nỗi sợ đầu tiên do cuộc chiến tranh mà cả các dân tộc lẫn các chính phủ đều không mong muốn, gợi ra, nỗi sợ cuộc chiến tranh đã vô tình tuột khỏi tay những nhà ngoại giao vụng về đùa giỡn và lòe bịp về nó, nỗi sợ đó bỗng trở nên một niềm hứng khởi đột ngột. Nhiều đoàn người được hình thành trên các đường phố, khắp nơi bỗng nhiên phấp phới những lá cờ, những dải băng, vang vọng những điệu nhạc; những tân binh trẻ tiến lên trong tiếng hoan hô nhiệt liệt và khuôn mặt họ rạng rỡ vì người ta thốt lên những tiếng kêu hoan hỉ lúc họ đi qua, thốt lên cho họ, những con người thấp hèn của cuộc sống đời thường, mà cho đến lúc đó không ai hề chú ý hay chúc mừng.


Để được chân thật, tôi phải thú nhận rằng trong cuộc đứng dậy đó của quần chúng có cái gì lớn lao, lôi cuốn và thậm chí quyến rũ mà người ta khó lòng cưỡng lại. Và mặc dầu tôi căm thù và ghê sợ chiến tranh, tôi không muốn tước đi trong đời tôi kỷ niệm của những ngày đầu tiên ấy. Hằng ngàn và hằng trăm ngàn người vẫn hằng cảm nhận điều mà lẽ ra họ cảm nhận tốt hơn trong thời bình, - là họ đoàn kết với nhau biết nhường nào. Một thành phố hai triệu người, một nước gần năm mươi triệu cảm thấy vào giờ phút ấy rằng họ đang sống một trang lịch sử thế giới, một thời điểm không bao giờ còn trở lại, rằng mỗi người được kêu gọi ném cái tôi nhỏ bé của mình vào đám quần chúng rực cháy để thanh lọc mình khỏi mọi sự ích kỷ. Tất cả những khác biệt về cấp bậc, về ngôn ngữ, về giai cấp, tôn giáo đều bị nhận chìm trong một lúc bởi tình cảm chan chứa của tình anh em. Những người không quen nhau nói với nhau trên đường phố, những người đã tránh nhau trong nhiều năm lại bắt tay nhau; đâu đâu cũng thấy những khuôn mặt rạng rỡ. Mỗi cá nhân cảm nhận sự mở rộng cái tôi của mình, không còn là con người cô độc ngày trước, mà được sáp nhập vào một khối quần chúng; con người của anh tới lúc đó là vô nghĩa, lại có một ý nghĩa. Anh nhân viên bưu điện bé nhỏ từ sáng đến chiều chỉ làm mỗi một việc là chia chọn thư, chia chọn và chia chọn không ngừng từ thứ hai đến thứ bảy, anh thư ký, anh thợ giày bỗng có một viễn cảnh khác, một viễn cảnh lãng mạn trong cuộc đời họ: họ có thể trở thành những người anh hùng và các bà vợ đã ca tụng tất cả những ai mặc quân phục. Những người không mặc quân phục kính cẩn chào họ và gọi trước bằng cái tên lãng mạn đó. Họ đánh giá cao cái sức mạnh chưa được biết đến đã bứt họ ra khỏi cái nếp đơn điệu ngày thường; ngay cả sự tang tóc của người mẹ, nỗi lo góa bụa của người vợ - tình cảm quá ư tự nhiên - cũng e thẹn không dám bộc lộ ra vào những giờ đầu tiên của cuộc sống quá dồi dào này. Làn sóng lừng đó tràn lên nhân loại hùng mạnh và bất ngờ đến nỗi, phủ bọt của nó lên bề mặt, nó bứt ra khỏi bóng tối của vô thức những xu thế u ám, những bản năng nguyên thủy của con thú - người, cái mà Freud với độ sâu của những cách nhìn của ông đã gọi là "sự chán ghét văn hóa", nhu cầu chỉ một lần thôi thoát khỏi thế giới tư sản của những luật và những điều khoản của luật và thỏa mãn những bản năng khát máu xa xưa. Có lẽ những sức mạnh đen tối ấy cũng có phần của chúng trong cơn say sưa tàn bạo ở đó tất cả đều được trộn lẫn - niềm vui của sự hy sinh và rượu, thị hiếu phiêu lưu và niềm tin thuần khiết nhất, ma thuật cổ xưa của các lá cờ và của những diễn văn yêu nước - sự say sưa đáng lo ngại đó của hàng triệu con người mà hầu như người ta không thể miêu tả bằng lời, nó đã trong một lúc tạo cho cái tội ác lớn nhất của thời đại chúng ta một sự hăm hở man rợ không cưỡng nổi.


*


Thế hệ hiện nay, chỉ nhìn thấy nổ ra Chiến tranh thế giới thứ hai có thể tự hỏi: Tại sao chúng tôi đã không sống những giờ phút như vậy? Tại sao quần chúng không bừng lên năm 1939 cùng một niềm hứng khởi như năm 1914? Tại sao họ chỉ tuân theo lời kêu gọi với vẻ kiên quyết và vững vàng, điềm tĩnh và định mệnh? Cùng những quyền lợi ấy không nhập cuộc ư, không quan hệ đến những tài sản còn thiêng liêng cao cả ư trong cuộc chiến tranh của chúng ta hiện nay, là một cuộc chiến tranh vì các ý tưởng chứ không chỉ vì các biên giới và các thuộc địa?


Câu trả lời thật đơn giản: đó là vì thế giới của chúng ta năm 1939 không còn có sẵn nhiều niềm tin ngây thơ và trẻ con như thế giới của năm 1914. Lúc bấy giờ dân chúng còn có niềm tin mù quáng ở các cấp chính quyền của họ. Không ai ở Áo dám liều đưa ra ý nghĩ rằng người được sùng kính một cách phổ biến của Tổ quốc, hoàng đế François-Joseph, đã, vào năm tám mươi bốn tuổi, kêu gọi dân tộc mình vào chiến đấu mà không thực sự bị ép buộc, đã bắt phải có sự hy sinh đẫm máu nếu các đối phương tàn bạo, xảo quyệt và tội lỗi không đe dọa nền hòa bình của đế chế. Những người Đức về phần mình đã đọc các bức điện của hoàng đế gửi Nga hoàng trong đó ngài đấu tranh cho hòa bình; một sự tôn kính kỳ diệu đối với những ông lớn, những bộ trưởng, những nhà ngoại giao và đối với sự sáng suốt của họ, sự trung thực của họ còn khích lệ những con người bình dị. Nếu phải đi đến chiến tranh, điều đó chỉ có thể là ngược với ý muốn của các nhà chính khách của họ; đó không phải là lời của các chính khách. Không ai trong cả nước chịu một chút trách nhiệm. Chính ở bên kia biên giới, trong nước kia mới tìm thấy những kẻ có tội, những người đã đẩy tới chiến tranh; nếu phải cấm vũ khí chính là vì người đã ở trong trường hợp tự vệ chính đáng chống lại một kẻ thù xảo quyệt và gian giảo đã không vì lý do gì cả "tấn công" nước Áo và nước Đức yêu chuộng hòa bình. Năm 1939, trái lại, niềm tin hầu như có tính chất tôn giáo ở sự trung thực hoặc ít nhất ở năng lực của chính phủ đã biến mất trên toàn châu Âu. Người ta khinh miệt nền ngoại giao từ khi người ta đã chua cay nhận thấy rằng nó đã phản bội ở Versailles những hy vọng của một nền hòa bình lâu dài; các dân tộc nhớ rất rõ là với một sự vô liêm sỉ đến như thế nào người ta đã lừa dối họ khi hứa với họ việc giải trừ quân bị, việc loại bỏ nền ngoại giao bí mật. Năm 1939, trên thực chất, người ta không kính trọng một nhà chính khách nào, và không một ai tin tưởng trao số phận mình vào tay họ. Người công nhân sửa đường Pháp bé nhỏ nhất chế giễu Daladier, ở Anh từ Munich - peace for one time( ) - tất cả sự tin cậy ở tài sáng suốt của Chamberlain đã tiêu tan; ở Italia, ở Đức quần chúng ngẩng nhìn Mussoloni, Hitler với những cặp mắt đầy sợ hãi: hắn còn dắt ta đến đâu nữa? Dĩ nhiên người ta không thể đừng được. Việc này có quan hệ đến Tổ quốc. Vì vậy những người lính cầm lấy súng; các bà mẹ để các con ra đi, nhưng không như ngày xưa với niềm tin không lay chuyển rằng sự hy sinh là không tránh khỏi. Người ta nghe lời, nhưng không hề tỏ ra hoan hỷ. Người ta ra trận, nhưng người ta không còn mơ mộng mình là anh hùng. Các dân tộc và các cá nhân đã cảm thấy rằng mình chỉ là nạn nhân hoặc của một sự điên rồ về chính trị ngược đời hoặc của một định mệnh tinh quái không dò nổi.


Và thêm nữa, quảng đại quần chúng năm 1914 biết gì về chiến tranh sau nửa thế kỷ hòa bình? Họ không hiểu biết về nó; hầu như họ không nghĩ đến nó. Nó là một truyền thuyết và chính là sự xa vời đó đã làm cho nó trở thành có tính chất anh hùng và lãng mạn. Quần chúng bao giờ cũng nhìn thấy nó trong viễn cảnh các sách tập đọc và các tranh bảo tàng. Từ các cuộc tấn công chói lọi của những kỵ sĩ mặc những bộ đồng phục rực rỡ, viên đạn giết người luôn trúng vào tim ai, tất cả chiến dịch là một cuộc hành quân chớp nhoáng đến thắng lợi. Các tân binh 1914 vừa cười vừa thét to với mẹ: "Lễ Giáng sinh chúng con sẽ về nhà, mẹ ạ". Ai ở nông thôn hoặc thành thị còn nhớ đến cuộc chiến tranh "thực sự"? Cùng lắm là vài ba cụ già đã chiến đấu năm 1866 chống quân Phổ, ngày nay là đồng minh của chúng ta. Và cuộc chiến đấu đó mới nhanh chóng và xa vời làm sao! Mới ít đổ máu làm sao! Một chiến dịch ba tuần lễ, và thấy ra là nó gây ít thương vong khi người ta đã lấy lại hơi sức! Một cảnh đi dạo nhanh trên đất nước thơ mộng, một cuộc phiêu lưu man rợ và mạnh mẽ - chính là bằng các màu sắc đó mà cuộc chiến 1914 in vào trí tưởng tượng của người dân thường; và những người trẻ tuổi thực sự lo sợ phải vắng mặt trong một thứ nhiệm vụ tuyệt vời và khích động đến vậy. Vì vậy họ chen lấn ầm ào xung quanh các lá cờ, vì vậy họ ca hát và thét lên những tiếng reo vui trong các chuyến tàu đưa họ đến lò sát sinh; làn sóng máu đập cuồng nhiệt trong các tĩnh mạch của toàn đế chế. Nhưng thế hệ 1939 hiểu biết chiến tranh, nó không ảo tưởng. Nó biết rằng chiến tranh không thơ mộng, mà dã man. Nó biết rằng chiến tranh sẽ kéo dài nhiều năm - khoảng thời gian không thể thay thế trong một đời người. Nó biết rằng người ta không tấn công kẻ thù đầu đội vòng lá sồi và mình mặc bộ đồng phục được tô điểm bằng những dải lụa, trái lại, phải nép mình nhiều tuần lễ trong những đường hầm hay những trại lính, bị chấy rận giày vò và sống dở chết dở vì khát; rằng người ta có thể bị xé nát cơ thể và cắt cụt chân tay từ xa mà không bao giờ nhìn thấy địch thủ. Người ta được biết trước qua báo chí và phim ảnh những phương tiện quỷ quái để sát hại lẫn nhau; người ta biết rằng những chiếc xe tăng khổng lồ trên đường đi xéo nát những người bị thương và các máy bay đánh chết ngay các bà mẹ và trẻ em trên giường họ; người ta biết một chiến tranh thế giới vào năm 1939, do sự cơ giới hóa vô hồn, sẽ ngàn lần ghê tởm hơn, thú vật hơn, bất nhân hơn mọi cuộc chiến tranh trước đó. Không một người nào của thế hệ 1939 còn tin ở sự công bằng của chiến tranh do Thượng đế an bài; tệ hơn người ta không còn tin ở sự công bằng và sự lâu dài của nền hòa bình kiếm được bằng vũ khí. Vì người ta còn nhớ quá rõ tất cả những thất vọng mà cuộc chiến tranh đã đem lại: sự nghèo khổ thay vì sự giàu sang; nỗi cay đắng thay vì sự thanh thản, sự đói khát, sự mất giá của đồng tiền, những cuộc bạo loạn, sự tước bỏ các quyền tự do của công dân, sự chuyên chế của nhà nước, một sự mất an toàn làm căng thẳng thần kinh, một sự ngờ vực phổ biến.


Đó là tất cả những gì tạo nên cái khác biệt. Chiến tranh năm 1939 có một ý nghĩa tinh thần, nó có quan hệ đến sự tự do, đến việc cứu vãn một giá trị đạo đức; và việc đưa chiến đấu cho một ý tưởng làm con người trở nên cứng rắn và kiên quyết. Người lính năm 1914 trái lại không biết gì về hiện thực, anh còn phụng sự một ảo tưởng: giấc mơ về một thế giới công bằng và hòa bình. Và đó là ảo tưởng; không phải sự hiểu biết làm người ta sung sướng. Vì vậy, những nạn nhân thời đó trong say sưa cất lên những tiếng kêu hoan hỉ khi đi đến lò sát sinh, họ có những cái mũ quấn đầy hoa và lá sồi, và các đường phố âm vang và chói lọi như trong một ngày lễ.


*


Nếu bản thân tôi không bị rơi vào niềm say sưa yêu nước đột ngột đó, tôi hoàn toàn không nhờ vào một sự minh mẫn và một sự sáng suốt đặc biệt nào, mà chính là nhờ lối sống mà tôi đã theo cho đến lúc đó. Hai ngày trước, tôi đang còn ở "nước thù" và tôi đã có thể tin chắc rằng quảng đại quần chúng của Bỉ cũng hoàn toàn yêu hòa bình như những người của chúng ta, và họ cũng không hoài nghi gì cả. Hơn nữa, tôi đã trải qua quá lâu một cuộc sống lúc ở nước này lúc ở nước khác để có thể chỉ ngày một ngày hai ghét được một thế giới nó là của tôi cũng như là Tổ quốc tôi. Từ nhiều năm nay tôi ngờ vực chính trị và thời gian gần đây, tôi vừa thảo luận về sự phi lý hình dung một cuộc chiến tranh là có thể có trong vô số những cuộc đối thoại với các bạn bè Pháp, Italia của tôi. Như thế là tôi đã được tiêm chủng bằng sự ngờ vực chống lại sự nhiễm khuẩn của niềm hứng khởi yêu nước, và dự phòng như tôi được dự phòng khỏi cơn sốt thời gian đầu, tôi kiên quyết giữ không để nhu cầu huynh đệ tương tàn mà các nhà ngoại giao vụng về và các tay buôn súng tàn bạo phát động, làm lung lay niềm tin của tôi.


Vậy là trong thâm tâm, tôi rất tự tin ngay từ giây lát đầu tiên ở tư cách công dân thế giới của tôi; thật là khó hơn cho tôi tìm được một thái độ thích đáng với tư cách là công dân của một Quốc gia. Mặc dầu mới ba mươi hai tuổi, lúc này tôi không có một nghĩa vụ quân dịch nào, bởi vì tất cả các hội đồng thẩm tra đều tuyên bố tôi không đủ khả năng, điều mà vào thời bấy giờ đã làm tôi rất sung sướng. Bởi vì thứ nhất, sự hoãn lại đó tránh cho tôi không khỏi mất một năm quân dịch ngu xuẩn; hơn nữa hình như đối với tôi, phải rèn luyện ở trong thế kỷ hai mươi việc vận hành các vũ khí giết người là một sự lỗi thời có tội. Thái độ thích đáng nhất đối với một người nuôi dưỡng những niềm tin như tôi sẽ là trong thời chiến tuyên bố mình là "conscientous objector"( ). Điêu đó ở Áo (khác với những gì xảy ra ở Anh) bị kết án những hình phạt nặng nề nhất và đòi hỏi ở linh hồn một sự cứng rắn của kẻ tử vì đạo. Phản ứng tự nhiên của tôi là trong những trường hợp nguy hiểm bao giờ cũng là lẩn tránh chúng, và không phải chỉ trong hoàn cảnh này người ta mới có thể, chắc là chính đáng, lên án sự do dự của tôi, điều chê trách mà ở một thế kỷ khác người ta đã quá nhiều lần buộc cho người thầy khả kính của tôi: Erasme de Rotterdam. Vả lại, trong một thời kỳ như thế này, đối với một người tương đối trẻ thật không thể chịu nổi phải chờ đợi người ta đưa ra khỏi bóng tối để ném vào một vị trí không phải của mình. Vậy tôi tìm kiếm một hoạt động mà ở đó tôi có thể giúp ích mà không làm kích động các trí não, và vì một trong những người bạn của tôi, một sĩ quan cao cấp, làm việc tại Sở lưu trữ của chiến tranh, tôi có thể được kết nạp vào đó. Tôi phải làm một công việc dịch vụ thư viện ở đó; sự am hiểu các ngôn ngữ cho phép tôi giúp ích được ít nhiều; tôi cũng có thể trau chuốt phong cách các thông cáo dành để công bố - đó chắc chắn không phải là một hoạt động vẻ vang, tôi sẵn sàng nhận như vậy, tuy nhiên nó hình như thích đáng với con người tôi hơn là thọc lưỡi lê vào bụng một nông dân Nga. Nhưng điều thuyết phục tôi là sau cái công tác không quá thu hút đó, tôi còn có thì giờ cho một công tác khác đối với tôi tỏ ra là quan trọng nhất trong cuộc chiến tranh này, - chuẩn bị cho sự hòa hợp tương lai.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
xem thêm »