tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30446232
Tiểu thuyết
14.06.2013
Dương Linh
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng

Đêm hôm ấy trong nhà cô Điều. Đó là căn nhà khang trang, bày biện tươm tất, chứng tỏ gia đình là một trong những người khá giả vùng này. Trong buồng ngủ của cô Điều. Dưới ánh đèn dầu, thấy cô chủ quán, bây giờ biết tên là Thắm, đang to nhỏ thuật chuyện cho cô Điều, cô Đỏ nghe. Hoá ra, lâu nay Thắm là cơ sở của hai chị em cô Điều. – “Mấy lần trước ra quán em thấy anh ta không giống như mấy thằng lính mã tà khác ăn uống xô bồ, khích bác đánh lộn với nhau – Thắm ngừng lại mỉm cười – Còn anh ta thường hay kiếm một chỗ vắng dường như để suy nghĩ điều gì đó chớ không phải ra quán để ăn nhậu… Em để ý thấy vậy nên nảy ra ý định kéo anh ta về phe mình… Không biết hai chị nghĩ sao?”. – “Thắm phải tìm hiểu kỹ thêm – cô Điều nói – Muốn vậy thì ta phải đi gặp bà mẹ anh ta ở Hòn Chông. Ủa, mà em chưa nói tên anh ta là gì, rồi tên bà mẹ anh ta ở Hòn Chông, để khi đến Hòn Chông mới biết đường mà hỏi”. – “Dạ, anh ta tên là Tèo, Hai Tèo, hiện là cai trong đám lính mã tà. Ngay ngày mai em sẽ báo cho hai chị biết hoàn cảnh, gốc gác gia đình ảnh để hai chị liệu”. Thắm mỉm cười nói. – “Sao mau quá vậy?” – Cô Đỏ hỏi. – “Đám lính mã tà này ngày nào chẳng có thằng ra quán em nhậu. – Thắm mỉm cười tự tin – Em hỏi là biết liền hà!”. – “Cô chủ quán trẻ dễ thương thế này, không ra quán nhậu thì còn đi quán nào nữa!” – cô Điều cười – “Bây giờ phải gặp cho được bà mẹ cai Tèo ở Hòn Chông. Chuyện này tao giao cho con Đỏ. Còn tao sẽ gặp quản Cầu… Anh Hai Trực đã giao nhiệm vụ cho mấy chị em mình là phải lôi kéo cho bằng được bọn lính mã tà. Chỉ khi nào nắm được bọn lính này thì mới đánh đồn Sơn Đá của Chánh Phèn được. Tụi mày nhớ chưa?”. – “Dạ, nhớ rồi!” cô chủ quán Thắm nói. – “Vậy thì cứ thế mà làm. – cô Điều nói tiếp – Nhưng phải hết sức đề phòng bọn phản bội, lộ bí mật là chết cả lũ với chúng nó đó”. – “Dạ tụi em nhớ chớ chị!” Cô Đỏ nhìn Thắm mỉm cười.


 


 


            Cũng trong đêm này, trong một gian phòng nhỏ nằm ngoài doanh trại của lính mã tà, tên đội Lượm trạc ngoài bốn mươi, mặt xương, cằm bạnh, có để râu cá chốt, đang nằm với người tình của hắn là một cô gái còn trẻ, khá xinh. – “Công việc của bậu qua giao hôm trước, bậu làm tới đâu rồi?” Tên Lượm nâng cằm cô bồ, đặt cái hôn vào đó nói. – “Mấy con mẹ bán tạp hoá ngoài chợ, nó buôn lớn mà khai buôn nhỏ để trốn thuế…” – cô bồ trẻ nói. – “Nó làm ăn buôn bán rần rần vậy, sổ sách đâu ra đó làm sao trốn thuế được?” Tên Lượm có vẻ ngạc nhiên hỏi. – “Anh đi lính lâu chưa?” Cô gái cười ranh mãnh hỏi lại. – “Nếu tính từ trước khi người Phú-lang-sa đến thì cũng được năm năm… Ủa, mà sao bậu lại hỏi vậy?”. Tên Lượm không hiểu sao cô bồ hắn lại hỏi chuyện đi lính của hắn để làm gì. – “Em hỏi để biết tại sao anh đi lính lâu vậy mà còn ngây thơ quá. Mấy bà buôn làm ăn lớn bao giờ cũng có hai sổ sách, một là để khai với nhà nước mà đóng thuế, còn loại thứ hai là của riêng gia đình. Cái này thì bí mật tuyệt đối, vì nếu lộ ra thì tù như chơi vì tội trốn thuế. Như vậy anh hiểu chưa?”. Cô gái nheo mắt nhìn đội Lượm mỉm cười. – “Ừa, thì giờ qua hiểu rồi. Bọn trốn thuế này qua sẽ có cách móc họng nó ra, để nó hiểu rằng thằng đội Lượm này không gà mờ như nó tưởng đâu?” – Tên Lượm gằn giọng như hắn đang hỏi cung tội phạm – “À, còn chuyện người ta đồn tên Nguyễn Trung Trực đã có mặt ở Kiên Giang – Rạch Giá đang chiêu mộ quân sĩ để chống người Phú-lang-sa, bậu có nghe gì không?”. – “Thì cũng nghe như mọi người, chứ có thấy động tĩnh gì đâu? – cô gái trẻ nói tiếp – Mà ông Trực là ai mà anh có vẻ lo lắng quá vậy?”. – “Thiệt bậu không biết gì về tên Nguyễn Trung Trực đó à?” Tên đội Lượm nhìn cô gái hỏi. – “Lâu nay ở đây lo làm ăn chớ có biết chuyện trời trăng gì đâu!” Cô gái mỉm cười nói. – “Để qua nói cho bậu biết, Nguyễn Trung Trực là người chỉ huy đã đánh và đốt chiếc tàu sắt ở vàm Nhựt Tảo, sông Vàm Cỏ, Tân An, nên được triều đình phong cho chức quản cơ, rồi sau này được phong chức Thành thủ úy Hà Tiên, nhưng trên đường đi nhậm chức thì ông Phan Thanh Giản đã dâng ba tỉnh miền Tây của Nam Kỳ lục tỉnh cho người Phú-lang-sa rồi, ổng tức giận trả ấn kiếm cho triều đình, tự mình đi chiêu mộ nghĩa quân để chống lại người Phú-lang-sa”. Tên Lượm nói. – “Vậy là ổng anh hùng quá trời rồi còn gì?” Cô gái thật thà nói. – “Nè, bậu muốn ở tù hay sao mà đi ca ngợi tên phiến loạn đó?” – tên Lượm bật cười trước sự thật thà của cô bồ trẻ. – “Ai mà biết – cô gái bĩu môi – Nhưng dám trả ấn kiếm cho triều đình, tự mình chiêu mộ lính đánh lại người Phú-lang-sa thì thử hỏi cả tỉnh Kiên Giang này có ai dám làm như vậy không?”. – “Thôi bỏ qua chuyện đó đi – tên đội Lượm xoay qua ôm cô gái – Bây giờ muốn có tiền tiêu xài thì một là bắt bọn buôn bán trốn thuế, buộc chúng nó phải ói ra bớt, hai là dò la tin tức tên Nguyễn Trung Trực, nếu báo chính xác thì được thưởng lớn lắm đó!” – “Đối với bọn buôn bán thì em có thể mách anh được tên nào có vốn lớn mà có hai sổ sách để anh móc họng nó ói ra, còn chuyện thứ hai dò la tin tức ông Trực để lãnh thưởng thì em nhát lắm, không dám làm đâu!” – cô gái trả lời. Cô gái cười sằng sặc giẫy giụa khi con thú trong người tên Lượm thèm khát đến cực độ khiến hắn vùng dậy chồm lên người cô gái như con thú vồ mồi…


 


CHƯƠNG CHÍN


-—–-


 


Nhà Tuần phủ Huỳnh Mẫn Đạt ở ngoại ô thị xã Rạch Giá. Ngôi nhà một vị quan lớn của triều đình nhưng vẫn thanh bạch, không hơn nhà của một trung nông. Buổi sáng, phía sau nhà có một khu vườn nhỏ, ngoài cây ăn trái còn có một số hoa như các loại lan rừng, mai, cúc… Cụ Huỳnh mặc quần áo bà ba đang tưới hoa. Đó là một thú vui của những vị quan lớn khi về hưu, lấy hoa lá thiên nhiên làm chất di dưỡng tinh thần. Cụ Huỳnh cũng thuộc vào số người vui thú điền viên như vậy. Còn khác hơn mọi quan lớn khác, cụ Huỳnh còn là một nhà thơ giàu lòng yêu nước. Với cách sống giản dị của cụ khiến nhiều người cảm mến. Đang tưới cho một giò lan phi điệp của một ông bạn già gởi tặng, thì có đứa cháu ngoại trong nhà chạy ra. Thằng bé khoảng độ 7, 8 tuổi, mặt mũi khôi ngô liến thoắng, giọng trong trẻo nói với cụ: – “Ngoại ơi! Có khách!”. – “Khách nào vậy, con có biết không?” – Cụ nhìn cháu mỉm cười hỏi. – “Dạ khách người Tây dương, ngoại à! Con không biết”. – “Thôi được – Cụ Huỳnh nói – Con chạy vô trong nhà mời họ trà nước tử tế, ông lỡ tay phải làm cho xong mới vô được. Nghe chưa?”. – “Dạ!” – thằng bé lon ton chạy vào vô tư. Còn lại một mình cụ Huỳnh sau vườn. Cụ lấy nước cho đầy bình rồi tưới nốt mấy giò lan, với những ý nghĩ ngổn ngang trong đầu: Lũ giặc Tây dương đến gặp ta để làm gì? Lại cũng tính như những lần gặp trước chăng?... Làm sao ta có thể cộng tác với lũ xâm lược như bọn tổng đốc Phương, Tôn Thọ Tường được… Tưới xong, cụ lững thững đi vào nhà.


 


 


            Bây giờ ta thấy cụ Huỳnh mặc quốc phục áo dài khăn đóng ngồi tiếp tên Chánh Phèn, có phiên dịch tên Chôm ngồi cạnh. Tên Chánh Phèn hai tay nâng chai rượu champagne đưa cho cụ Huỳnh (nói tiếng pháp và tên Chôm dịch lại).


            – “Đây là món quà của đô đốc Ohier gởi kính biếu ngài, mà tôi là người được hân hạnh thay mặt đô đốc trao tận tay ngài, xin ngài vui lòng nhận cho”.


            Cụ Huỳnh biết không thể từ chối được nên nói:


            – “Cho tôi nhờ ông chuyển lời cám ơn ngài đô đốc về món quà quý này. Nhưng rất tiếc là từ khi nghỉ hưu đến nay tôi vướng vào căn bệnh về tim mạch mà lương y điều trị cấm tuyệt tôi không được dùng rượu, dù chỉ là một ngụm nhỏ. Và với tư cách cá nhân, tôi xin tặng lại ngài tỉnh trưởng món quà quý này gọi là chút kỷ niệm buổi gặp gỡ hôm nay”.


            Cụ Huỳnh lại đưa chai rượu lại cho Chánh Phèn. Dù trong thâm tâm Chánh Phèn, hắn biết cụ cố ý từ chối nhận lễ vật người Phú-lang-sa tặng, nhưng không có lý lẽ bắt bẻ được, hắn đành cười gượng nhận lại chai rượu.


            – “Ố là la… Rất tiếc là ngài không dùng được mà tặng lại tôi. Rất cám ơn lòng tốt của ngài với cá nhân tôi”. Sau khi chuyển chai rượu cho tên Chôm, tên Chánh Phèn nhìn cụ Huỳnh nở nụ cười thân thiện: – “Hôm nay tôi đến gặp ngài ngoài việc trao quà của đô đốc Ohier, tôi còn muốn tha thiết được ngài cộng tác trong công cuộc cai trị ở đây, nhà nước Phú-lang-sa luôn dành sự biệt đãi các nhà trí thức cộng tác với chánh quyền sở tại ngõ hầu giúp đỡ cho xứ sở này phát triển như đối với các ông Trần Bá Lộc, Tôn Thọ Tường trên Sài Gòn Gia Định… Tôi rất muốn nghe ý kiến của ngài”. Nghe tên Chôm dịch lại, cụ Huỳnh nhẩn nha uống ngụm nước trà rồi nhìn tên Chánh Phèn nói: – “Như lần gặp trước đây, tôi đã nói với ngài tỉnh trưởng, tôi đã về nghỉ hưu vì lý do sức khoẻ ngày một kém dần… Tôi đang điều trị bệnh về tim mạch, và thày thuốc bảo tuyệt đối không được tham gia bất cứ công việc nào có liên quan đến suy nghĩ, ảnh hưởng trực tiếp đến não bộ… Do đó, tôi cám ơn thịnh tình ngài tỉnh trưởng đối với tôi, và rất tiếc là tôi chưa có thể đáp ứng lại lời mời của ngài được. Mong ngài thông cảm cho”. – “Tôi có thể giúp cho ngài chữa bệnh bằng cách sẽ cử các bác sĩ quân y người Phú-lang-sa trong quân đội viễn chinh đến đây, nếu ngài cho phép”. Tên Chánh Phèn tỏ ra quan tâm đến bệnh tật của cụ Huỳnh. – “Được vậy thì còn gì bằng. – Cụ Huỳnh vui vẻ nói – Nhưng phải đợi đến lúc ông thầy thuốc đang điều trị cho tôi hết đợt thuốc này đã. Đến lúc ấy tôi sẽ báo cho ngài biết”. – “Như vậy thì tốt quá. – tên Chánh Phèn đứng dậy – Công việc còn bề bộn, xin phép được cáo từ. Hy vọng lần gặp sau, tôi được nghe những ý kiến mới về sự cộng tác của ngài”. Hắn chắp tay tỏ vẻ cung kính cụ Huỳnh trước khi ra về. Cụ Huỳnh cũng chắp tay đáp lễ, nhưng với cảm giác của người vừa trút xong gánh nặng.


 


 


            Cụ Huỳnh đã thay đồ trở lại chăm sóc vườn hoa nhỏ sau nhà. Bà vợ cụ Huỳnh, tuy đã ngoài năm mươi nhưng vẫn giữ nét đẹp phúc hậu của người phụ nữ Việt ở nông thôn, đến bên cạnh cụ nói: – “Hồi nãy tôi nghe ông nói sẽ đồng ý để bọn bác sĩ trong quân đội Tây dương đến trị bệnh cho ông. Như vậy nghĩa là sao?”. – “Đó cũng là cách hoãn binh, chớ bà còn lạ gì tôi nữa. Mất sáu tỉnh Nam Kỳ mối hận này chưa trả được, chỉ có loài cầm thú mới ra làm tay sai cho giặc”. Cụ Huỳnh giải thích cho bà vợ hiểu. – “Hiện nay gia đình mình còn nằm trong vùng kiểm soát của chúng, cho nên phải khéo léo trong đối nhân xử thế để tránh sự dòm ngó gây khó dễ của bọn chúng. Chớ tôi nói cho bà biết, sớm muộn gì lũ Tây dương này cũng phải cút đi, nếu đời cha chưa đuổi được thì đời con đời cháu cũng sẽ làm được. Sử sách nước Việt ta đã ghi chuyện này rành rành như vậy rồi”. Đúng lúc đó, đứa cháu ngoại trong nhà chạy ra, nét mặt tươi tỉnh nói lớn: – “Ngoại ơi! Ngoại lại có khách”. – “Ai vậy con?” Bà Huỳnh hỏi. – “Dạ, hình như ông thầy thuốc hay đến nhà mình bắt mạch cho ông ngoại đó”. Thằng bé nhanh nhẩu đáp. – “À! Thầy Thuyên. – Cụ Huỳnh cũng vui ra mặt – Bà vô chuẩn bị nước nôi tiếp khách nghe bà”. Quay qua đứa cháu ngoại – “Con vô thưa với ông thầy nói ông vui lòng đợi ngoại con chút. Nhớ chưa?” – “Dạ nhớ”. Thằng bé nhanh nhẩu chạy vào nhà.


            Bây giờ cụ Huỳnh ngồi đưa tay cho ông Thuyên bắt mạch. Nét mặt ông Thuyên lúc đầu có hơi căng thẳng nhưng lúc sau giãn ra tươi tỉnh hơn, ông nói: – “Mạch cụ hôm nay ổn rồi. Xin mừng cụ”. – “Cũng nhờ có sự chăm sóc của thầy nên mới được như vậy. – Cụ Huỳnh nhìn ông Thuyên với ánh mắt tin cậy – Sao lâu nay không thấy thầy ghé chơi?”. – “Từ lúc bọn Phú-lang-sa chiếm đóng ở đây chúng ra sức xây đồn đắp lũy, bệnh nhân bị thương tích do chúng đánh đập đến tôi nhiều hơn. – ông Thuyên nhìn quanh rồi nói khẽ – Cụ đã nghe tin ông Nguyễn Trung Trực về hoạt động vùng này chưa?” – “Lâu nay tôi chỉ quanh quẩn trong nhà ra sau vườn chớ có đi đâu mà biết tin đó! – Cụ Huỳnh nhìn ông Thuyên mỉm cười – Ai nói tin đó cho thầy biết vậy?”. – “Không phải ai nói mà chính tôi đã hân hạnh được gặp ông Trực”.


            Rồi ông Thuyên kể lại chuyện Trực mạo hiểm đưa bà Hai ra gặp ông để trị bệnh. Sau đó ông và Trực vào Tà Niên gâp ông Lâm Quang Ky, cũng là một thanh niên giàu lòng yêu nước, sẽ là cơ sở tốt cho hoạt động của nghĩa quân Trực sau này. Nghe xong chuyện ông Thuyên kể, cụ Huỳnh rất phấn khởi. Cụ nói: – “Nếu ông Trực có mặt ở đất Kiên Giang nầy thì bọn Phú-lang-sa sẽ bị những trận đòn nhớ đời. Tôi nói vậy thầy xem coi có đúng không?”. – “Tôi hoàn toàn đồng ý nhận định của cụ – ông Thuyên gật đầu đồng ý – Ông Trực được nhân dân quý mến, hết lòng ủng hộ thì không có chuyện gì ổng không làm được”.


 


 


            Trong quán nước cô chủ quán ở ngoại ô Rạch Giá, anh cai Tèo đang ngồi uống rượu một mình. Nét mặt anh vẫn tối sầm của một tâm trạng u uất không sao giải toả được. Bỗng từ ngoài bước vô là bà mẹ Năm và cô Đỏ. – “Tèo!” – Nghe tiếng gọi, Tèo giật mình ngẩng lên. Anh thảng thốt khi nhìn thấy bà Năm. – “Má!” – Anh thốt lên nghẹn ngào: – “Má xuống đây bao giờ? Sao biết con ở đây mà kiếm?”. Bà Năm nhìn con thấy chỉ có thời gian ngắn mà trông Tèo xanh và gầy ốm hơn trước. Tự nhiên nước mắt bà ứa ra. – “Má xuống nhà cô Ba này chiều tối qua. Má muốn gặp con để nói chuyện quan hệ tới đời con”. – Bà Năm nhìn quanh có ý muốn tránh sự dòm ngó. Hiểu ý, cô chủ quán đon đả: – “Bác với anh Hai có thể ra sau quán nói chuyện tiện hơn. Ở đây khách ra vô hoài, phiền lắm”. – “Cảm ơn cô”. Tèo đứng dậy cùng mẹ ra sau quán. Cô Đỏ muốn để hai mẹ con tâm sự nên cô ngồi lại quán nói chuyện với chủ quán Thắm. – “Chị Ba uống gì em làm cho. – Thắm vui vẻ nói – Hay chị uống nước dừa nghe”. – “Cũng được” – Cô Đỏ gật đầu.


 


 


            Ở sau quán có nhiều cây cối mát mẻ. Đến dưới gốc cây dừa, bà Năm dừng lại nhìn con trai: – “Bữa nay má xuống gặp con là để nói chuyện này. Con có biết tin ông Nguyễn Trung Trực dẫn quân về vùng này chưa?”. – “Dạ con có biết” – Tèo gật đầu. – “Đây là một dịp may để con trả thù cho tía và em con. Ông Trực đã cho người tin cẩn là cô gái đi với má đó, nhắn má nói với con là hãy theo nghĩa quân đánh bọn Tây dương. Cũng là cơ hội cuối cùng cho con lập công chuộc tội, để còn nhìn mặt má, mà có chết xuống suối vàng còn nhìn thấy tía con. – Giọng bà Năm bỗng nghẹn ngào – Còn nếu con không nghe lời má thì sẵn có súng đó, con giết má đi để má đi theo tía con”. – “Má ơi! Sao má lại nói vậy? – Tèo nói trong nước mắt – Từ hôm con biết chuyện tía và em Bông chết, con thề trong lòng phải trả mối thù không đội trời chung này! Lâu nay con nghe tin ông Trực về, nhưng con không biết làm sao liên lạc được để con theo ổng. Nay má nói vậy thì con mừng quá. Con hứa với má là con sẽ theo ông Trực để trả thù cho tía và em con, dẫu có chết con cũng hả dạ!”. Bà Năm xúc động nói: – “Má tin con bao giờ cũng là đứa con hiếu thảo của má. Kể từ thời khắc này lòng má mới thanh thản vì thấy con biết nghe lời má theo đường ngay lẽ phải, phân biệt chánh tà, không cam tâm làm tay sai nô lệ cho bọn giết hại cha mình. Má mừng lắm Tèo à!”. Rồi bà quay vô trong gọi lớn: – “Cô Ba ơi!” Có tiếng “dạ” rồi cô Đỏ đi ra. Bà Năm nói với Tèo: – “Đây là cô Ba, người của ông Trực đó con”. Tèo gật đầu chào cô Đỏ. Bà Năm nói tiếp: – “Còn đây là thằng Tèo. Tôi đã nói hết mọi lẽ với nó rồi, nó chịu sẵn sàng theo ông Trực, để trả thù kẻ giết tía với em nó. Dì giao nó cho cô đó, định liệu thế nào tùy cô”. – “Dạ, cám ơn bác đã tin cháu – Cô Đỏ xúc động nói – Cháu hứa sẽ không phụ lòng tin cậy của bác. Cháu sẽ thu xếp cho anh Tèo gặp ông Trực để nhận công việc của ông Trực giao làm sắp tới”. – “Được như vậy mẹ con tôi cám ơn cô nhiều lắm!”. Bà Năm nói với giọt nước mắt long lanh trên gò má đã nhăn nheo sạm nắng của người dân lam lũ vùng biển.


 


 


Trong phòng làm việc của tên Chánh Phèn được bố trí ở ngay trong đồn Sơn Đá. Hắn đang nói chuyện với tên đội Lượm, có tên Chôm phiên dịch.


            – “Từ hôm ta giao cho anh nhiệm vụ theo dõi nội bộ lính mã tà, nhất là đám lính chánh quyền cũ để lại kể cả bọn lính mới mộ thêm – đến nay có gì lạ không mà không thấy anh báo cáo?”.


            Tên đội Lượm nhìn lão Chánh Phèn bằng ánh mắt xu nịnh:


            – “Bẩm quan lớn, tôi có để ý theo dõi bọn họ đó chớ. Nhưng tôi thật thấy khó nói, nếu quan lớn cho phép”. – “Ngươi cứ nói, ta cho phép đó!” – “Dạ nếu vậy thì bẩm quan lớn – tên đội Lượm nói– tôi thấy ông quản Cầu thật đáng nghi ngờ…”. Lão Chánh Phèn có vẻ chú ý, nhắc tên Lượm: – “Ngươi nghi ngờ điều gì, cứ nói”. – “Tôi thấy ông ta không chú nhiều đến việc tuần tra, canh gác cũng như không hăng hái trong việc bắt phu xây dựng tuyến phòng thủ của doanh trại…”. Lão Chánh Phèn cười lớn: – “Nếu ngươi nghi ngờ tên quản Cầu như vậy, ta thấy chưa có cơ sở… Ngoài ra ngươi còn chú ý đến ai khác nữa không?”. – “Dạ bẩm quan lớn, tôi đang để ý một vài tên nữa, nhưng chưa có bằng chứng về tội buôn lậu, ăn hối lộ nên chưa báo cáo với quan lớn”. – “Ngươi cứ tiếp tục công việc theo dõi, kể cả quản Cầu. Ta mới chiếm được đất này, mọi việc còn rất lộn xộn, bộ máy cai trị chưa có nề nếp gì, cho nên phải theo dõi những phần tử nào nguy hiểm cho công cuộc cai trị cũng như chống lại nhà nước Phú-lang-sa là phải loại bỏ ngay. Hiểu chưa?”. – “Bẩm quan lớn, tôi hiểu. Xin quan lớn yên tâm. Ngày nào còn thằng Lượm này thì bọn phản bội không còn đất sống!”. – “Tốt lắm! Ta tin ngươi”. Hắn đưa cho tên Lượm túi nhỏ đựng mấy nén bạc: – “Đây là món tiền thưởng nhỏ cho mọi cố gắng của ngươi”. – “Dạ cám ơn quan lớn”. Tên đội Lượm nhận túi tiền với vẻ mặt hí hửng của tên chỉ điểm. Hắn cúi đầu chào rồi đi giật lùi ra ngoài.


 


 


            Dưới bến sông. Trực nói với bà Hai: – “Má cứ yên tâm đến chỗ ở mới để tịnh dưỡng cho thật khoẻ. Con còn bận nhiều việc nên không đưa má đi được. Nghĩa sẽ thay con đi với má. Chỗ má ở là người tin cậy của con, họ sẽ lo cho má chu đáo. Chừng nào xong việc, con sẽ cho người đón má nếu con không đi được. Còn Nghĩa, khi má yên nơi yên chỗ rồi thì em về ngay dưới này, cũng có việc cần đến em đó”. – “Thôi con về đi – Bà Hai xúc động nói với Trực – Con mạo hiểm ra đưa má như vậy là đủ rồi. Không nên ở đây lâu”. – “Anh nên nghe lời má về đi. – Nghĩa nói – Đưa má đến chỗ ở mới yên ổn rồi em sẽ về ngay”. Chiếc ghe do hai nghĩa quân thân tín của Trực cải trang như ngư dân từ từ tách bến. Trực lặng yên nhìn theo. Chàng không ngờ đây là lần cuối chàng gặp người mẹ thân yêu của mình...


            Ông Thuyên và Trực đi dọc theo bờ kênh Rạch Giá. Cả hai đều mặc áo dài khăn đóng. Dọc đường gặp những người quen biết ông Thuyên, họ đều cung kính chào hai người. Trông họ đi nhàn nhã, vừa đi vừa nói chuyện vui vẻ, đâu ai ngờ đó là chuyến đi trinh sát thực địa của Trực xem xét địa thế của thành lính Sơn Đá mà chàng được báo cáo là xây rất kiên cố bề thế, có sức chứa đến cả đại đội lính địch (khoảng 100 người với vũ khí, và tên trung úy hải quân Pháp được cử làm tỉnh trưởng đầu tiên của Rạch Giá khi quân Pháp chiếm đóng, không rõ họ tên gì, chỉ biết dân gọi là Chánh Phèn vì râu tóc của tên này màu vàng sậm như nước phèn ở ruộng, thường làm việc và ở luôn trong đồn). Từ xa họ đã nhìn thấy phía trái của họ thành Sơn Đá nhô cao vòi vọi giữa bãi đất trống như một khối đá vuông vức nặng nề. Trước sân, bọn lính Pháp đang đốc thúc dân phu khiêng cây đá ra vào thành để hoàn thành một phần trang trí bên trong. Ông Thuyên nói: – “Nghe nói đồn chúng nó xây sắp xong rồi. Đã có mấy dân phu bị đánh chết vì cực quá bỏ trốn chúng bắt lại được”. – “Phía bên đối diện với đồn giặc có dãy nhà thấp... Đó là nhà dân hay trại lính?” – Trực hỏi. – “Dân đâu có ở gần chúng được. Đó là dãy trại lính mã tà, coi như án ngữ vòng ngoài để bảo vệ đồn chánh đó!” – “Bọn Tây dương này cũng tính kỹ lắm đây! – Trực gật đầu nhận xét – Tiếc là chưa biết được bên trong đồn chánh của nó bố trí ra sao”. – “Ông nói tôi mới nhớ – Ông Thuyên nói – Hôm trước có một anh dân bị nó bắt làm phu xây đồn, cực quá bỏ trốn bị bắt lại được, đánh cho một trận thừa sống thiếu chết rồi giam vô ngục. Lần nầy nhờ ơn trời Phật ảnh lại vượt ngục trốn được ra ngoài. Sau đó ảnh tìm đến tôi để chữa bịnh ho ra máu vì hậu quả của trận đòn... Ảnh có kể là bên trong đồn bọn giặc có xây đến sáu cầu thang lên xuống. Tầng trên là nơi ngủ của lính và để võ khí”. – “Cám ơn thầy quá!” – Trực vui mừng nói. Qua lời kể của ông Thuyên, trong đầu Trực chợt loé lên một ý tưởng đánh đồn táo bạo sau này... Họ tiếp tục đi dọc theo bờ kênh rồi rẽ ra hướng biển. Đôi mắt Trực chăm chú quan sát cảnh vật chung quanh thành Sơn Đá, trong đầu chàng đã hình thành con đường hành quân chiến đấu sau nầy, làm sao tiếp cận nhanh tránh bị phát hiện. Họ đã ra đến bờ biển. Gió thổi lồng lộng. Bãi biển Rạch Giá không có cát mà toàn bãi bùn. Ngoài khơi những chiếc ghe lưới đang thả lưới hướng đảo Hòn Tre. Chợt Trực thấy phía phải có con rạch nhỏ ăn sâu vào phía thành Sơn Đá. Chàng hỏi ông Thuyên: – “Con rạch bên kia gọi là rạch gì vậy thầy?” – “Đó là rạch Lăng Ông”. – “Sao lại có tên rạch Lăng Ông?” – Trực mỉm cười hỏi. – “Là vì trước đây dân chài lưới thấy cá ông lụy ngoài biển trước rạch, mới đưa vô chôn rồi lập miếu thờ, do đó mà có tên là rạch Lăng Ông”. Trực quan sát thấy con rạch hai bên cây lá mọc hoang um tùm, chàng chợt nẩy ra ý nghĩ phải lợi dụng địa thế này ém quân khi tấn công thành Sơn Đá. Hai người lại quay trở về nhà ông Thuyên. Cuộc trinh sát thực địa của Trực coi như đã đạt kết quả như mong muốn.


            Nhưng đêm hôm đó, khi trở về Tà Niên, Trực vẫn còn băn khoăn là chưa tiếp cận được thành Sơn Đá, và địa hình cụ thể của rạch Lăng Ông. Chàng đắn đo rồi quyết định phải đi trinh sát lại lần nữa trong đêm. Chàng bảo chú bé Tâm: – “Em đi với anh. Anh phải ra Rạch Giá lần nữa mới được”. Tâm cười: – “Đi với anh em khoái lắm. Còn nhớ hồi ở Nhựt Tảo, anh em mình tới sát tàu giặc, em đâu có ngán...”. Trực cũng cười.


            Chiếc tam bản do Tâm chèo cặp sát ven biển Rạch Giá đến cửa rạch Lăng Ông rồi từ từ vào trong rạch. Hai bên bụi lá cây mọc um tùm. Chiếc tam bản vẫn tiếp tục đi sâu thêm nữa. Đến chỗ có chút khoảng trống, Trực bảo khẽ: – “Em ghé lại chỗ này. Rồi ở đây chờ anh nghe”. Chiếc tam bản cặp bờ. Trực nhảy lên rồi nhanh nhẹn biến vào bóng tối. Hai tên lính Pháp đi tuần tra quanh thành rồi dừng lại tại cửa chính. Trực đã vào sát tường thành, rờ những tảng đá xanh được xây kiên cố, cao khỏi đầu người. Khi nắm được sát thực tế, Trực quyết định trở ra về. Chú bé Tâm ngồi đợi Trực cảm thấy sốt ruột. Muỗi nhiều quá khiến Tâm phải luôn tay đập muỗi. Bỗng nghe tiếng chân người rồi Trực xuất hiện. – “Trời! Anh đi lâu, em lo quá!”. – “Có vào hang cọp mới bắt được cọp chớ – Trực cười – Mình về được rồi. Này, em nghỉ đi, để anh chèo cho”. Chiếc tam bản từ từ theo lòng rạch trở ra biển. – “Có đi như thế này anh mới yên tâm. Mình ở xa đến đây không nắm rõ đường đi nước bước thì làm sao đánh được giặc – Trực nói vui với Tâm – Nhứt là đêm, vì ban đêm cảnh vật rất khác ban ngày, Tâm à!”. – “Nhưng anh mạo hiểm quá! Em ngồi chờ mà lo như có lò lửa trong bụng”. – “Anh cũng tính rồi. Hai thằng lính gác đó anh đủ sức hạ nó, nếu bị nó phát hiện. Nhưng thôi, mọi việc ổn rồi. Bây giờ anh mới thiệt yên tâm về ngủ ngon”. Chiếc tam bản Trực chèo lướt trên mặt biển lặng yên lấp lánh những vì sao in trên mặt nước, trở lại rạch Tà Niên.


 


 


            Ở trong Tà Niên, nghĩa quân đang tập luyện võ nghệ ở sân rộng sau ngôi miếu cổ. Từng đội dưới sự chỉ huy của đội trưởng. Vũ khí luyện tập là mã tấu, gươm, giáo và trường côn. Nghĩa quân hầu hết là những thanh niên nông dân còn trẻ tuổi, cũng có nghĩa quân ở lứa tuổi trung niên. Sau những bài tập đồng diễn toàn đơn vị như quyền, cước, đao, kiếm, trường côn... trông rất khí thế và đẹp mắt, họ theo khẩu lệnh của Hai Nhượng chỉ huy cuộc tập, chuyển qua tập song đấu. Từng cặp, từng cặp, họ giao đấu với nhau, mồ hôi nhễ nhại trên những tấm lưng trần dưới ánh nắng mặt trời buổi sáng.


            Trong lán trại của Trực. Trực đang hội ý với ông Ky và các chỉ huy như ông Búp, Ngàn Miên, Tư Hội. – “Tôi vừa đi Rạch Giá quan sát tình hình của bọn giặc và tôi nghĩ chúng ta có thể đánh được. Đại để chúng nó bố trí như thế này”. Trực cầm que vạch một vòng trên mặt đất – “Cái đồn của nó được xây bằng đá khá cao, nóc bằng, có cột cờ – ở xa có thể nhìn thấy – nằm giữa khu đất trống. Theo tin biết được thì bên trong của nó có sáu cầu thang lên xuống. Phía trên bọn lính ở và để võ khí. Còn phía dưới là nơi làm việc của thằng Chánh Phèn – thằng này là trung úy hải quân Phú-lang-sa chỉ huy bọn lính chiếm đóng kiêm luôn chức chánh tham biện tức là tỉnh trưởng tỉnh Rạch Giá. Nó có cái dinh nhỏ ở gần đồn chánh, nhưng nó ít ở đó mà thường là ngủ ở đồn cho tiện việc bảo vệ” – ngừng một lúc Trực nói tiếp – “Trang bị của bọn giặc chỉ có súng trường chớ không có súng lớn, có lẽ vì chúng chiếm Rạch Giá – Hà Tiên quá dễ, không tốn viên đạn nào, nên sanh ra chủ quan cho rằng chúng ta không thể tấn công chúng được”. – “Ngoài đồn chánh đó ra còn có đồn luỹ nào khác nữa không anh Hai?” – Ông Ky hỏi. – “Có chớ. – Trực mỉm cười đáp – Nó không có xây đồn luỹ nào khác, nhưng đối diện với nó là dinh trại của lính mã tà. Đó là nó bố trí theo thế liên hoàn để có thể hỗ trợ cho nhau khi bị tấn công. Đây là mối lo chánh của tôi. Nếu ta không nắm được số lính mã tà này mà tấn công vào đồn chánh, thì sẽ bị lâm vào thế “lưỡng đầu thọ địch”, nghĩa là bọn lính mã tà sẽ đánh thốc sau lưng chúng ta để giải vây cho đồn chánh đó!”. – “Anh Hai chưa nói việc tuần tra canh gác của giặc, cũng như lực lượng tiếp viện khi chúng ta đánh thành...” – Ông Búp hỏi. – “Theo tin tôi biết thì bọn giặc tuần tra ban đêm gần như không có, bởi từ khi chúng chiếm đóng Rạch Giá đến giờ chưa ai dám đụng đến cái lông chân của nó nên nó chủ quan không tổ chức tuần tra làm gì cho cực. Đó là sơ hở lớn của địch. Còn đồn chánh thì có hai thằng gác mỗi phiên một canh giờ, mà thường do lính Phú-lang-sa phụ trách chánh. – Trực nhìn mọi người rồi nói tiếp – Cái khác quan trọng là việc chúng chiếm ba tỉnh miền Tây do triều đình nộp đất dâng thành không giống như chiếm ba tỉnh miền Đông trước phải nổ súng đánh nhau mới chiếm được. Chính cái khác đó làm cho giặc chủ quan khinh địch, do đó lực lượng bọn Tây dương ở đây chưa tới trăm tên. Nếu bị đánh chỉ có lính mã tà ứng cứu. Ngoài ra phải mất một thời gian sau mới điều quân ở Long Xuyên – An Giang hay Vĩnh Long đến tiếp viện được”. – “Vậy là rõ ràng rồi. Vậy thì bao giờ anh Hai sẽ ra lịnh tấn công?” – Tư Hội hỏi. – “Trước mắt chưa thể tấn công trong ngày một ngày hai được – Trực mỉm cười trả lời – Còn nhiều việc phải làm lắm”. – “Những việc gì anh Hai cứ nói đi – ông Ngàn nói – Anh ra lịnh thì khó mấy cũng làm được”. – “Tôi rất tin tưởng các anh – Trực nói – Nhưng đây là việc khó, phải suy tính cho kỹ, kẻo “sai một ly đi một dặm” mà trong chiến đấu không cho phép sơ sót, vì sơ sót có khi phải trả bằng máu của anh em đó. Nhứt là lần này ta đánh vào thành luỹ kiên cố của giặc, trong khi anh em chúng ta chưa từng đánh kiểu này bao giờ. Phải làm sao cho anh em nghĩa quân tin tưởng đánh được và đánh là chắc thắng”. – “Nhưng khí thế của anh em đang lên rất cao, ai cũng nôn nóng muốn diệt sạch lũ cướp nước đang hằng ngày gây bao nhiêu tội ác với dân mình. – ông Miên nói – Mấy hôm trước chúng đến chợ bắt nộp thuế, có người chưa có tiền nộp chúng đánh chết đi sống lại để thị uy”. – “Nhưng ông bà ta đã từng dạy “dục tốc bất đạt”, cái gì làm vội thì khó có kết quả tốt được – Trực mỉm cười nói – Tôi cũng nóng ruột như anh em, nhưng chúng ta là những người tướng cầm quân, sanh mạng của anh em binh sĩ ở trong tay chúng ta. Sơ sẩy một cái là ân hận suốt đời đó!”.


            Bỗng có một nghĩa quân chạy vào báo, nét mặt anh ta có vẻ phấn khởi: – “Xin báo các anh có số bà con gánh bánh trái đến ủy lạo anh em, họ muốn gặp các anh chỉ huy”. – “Ra nói với họ chờ một chút. Chúng tôi ra ngay!” – Trực nói. Anh lính “Dạ” rồi chạy trở ra. – “Như vậy bữa nay tôi họp sơ với các anh để biết tình hình rồi mỗi người suy nghĩ nên làm gì cho trận đánh tới... Còn bây giờ ta ra ngay kẻo bà con đợi lâu, không nên”. Tất cả theo Trực ra chỗ sân anh em tập sau ngôi miếu cổ. Ở trước ngôi miếu cổ. Có đến hàng chục phụ nữ gồm các bà già và các cô gái trẻ với hàng chục gánh đầy những bánh tét, bánh ít, bánh dừa và các loại trái cây, nhiều nhất là chuối rồi đến dừa tươi. Họ đang ngồi nghỉ ngơi chờ đợi gặp các chỉ huy nghĩa quân. Thấy Trực và các ông Ky, Búp với mấy ông trong cuộc họp ra, họ vội đứng dậy.


            – “Vì đang mắc họp để bà con chờ đợi lâu, chúng tôi xin bà con thứ lỗi”. – Trực cười vui vẻ nói. – “Các anh lo việc dân việc nước thì có lỗi gì đâu! Tụi em chờ được mà”. – Một cô gái nói với nụ cười rất tươi. Một bà có lẽ lớn tuổi nhất vì mái tóc đã bạc gần hết, nhưng đôi mắt còn tinh anh nhìn lướt qua rồi hỏi: – “Ông nào là người cầm đầu lớn nhứt ở đây?”. Trực bước tới trước mặt bà cụ. Bà nhìn Trực từ đầu đến chân rồi bước lại vuốt ve đôi vai nở nang của anh: – “Như vầy mới xứng đáng là một vị tướng chớ!”. Ai nấy bật cười ầm lên vui vẻ khi nghe bà cụ thật thà khen Trực. – “Bữa nay mấy bà già với mấy con nhỏ nầy – bà cụ nói – nghe nói mấy chú kéo về đây tập luyện võ nghệ để đánh bọn Tây dương nên bàn với nhau làm bánh với kiếm ít trái cây đem đến biếu mấy chú ăn lấy thảo có sức mà đánh giặc”. Trực hết sức xúc động trước lời lẽ mộc mạc chân thành của bà cụ, biểu thị tấm lòng người dân Kiên Giang ủng hộ nghĩa quân. – “Thưa bà, – Trực nói – tôi xin thay mặt tất cả anh em nghĩa quân ở đây tỏ lòng biết ơn bà và các chị em đã có lòng giúp đỡ anh em chúng tôi. Tôi xin hứa bà con sẽ cùng anh em đánh lũ Tây dương một trận cho “tởn tới già”, cho chúng biết dân Nam mình quyết không cúi đầu cho chúng cai trị đâu”. – “Hoan hô anh Hai!” –  Tiếng reo hò của nghĩa quân làm cho không khí buổi gặp giữa dân Tà Niên với nghĩa quân trở nên ấm cúng tình nghĩa như những người thân lâu ngày mới gặp. Các nghĩa quân nhận từ tay các bà mẹ những chiếc bánh dừa, bánh ít, bánh tét, còn các cô gái thì vạt dừa mời Trực cùng các chỉ huy khác.


 


 


            Nhà cai tổng Ngươn ở ven thị xã Rạch Giá. Viên cai tổng theo đạo Công giáo này đã ra cộng tác với Pháp, và được giữ nguyên chức vụ khi còn thuộc quyền triều đình. Sáng hôm nay ông Ngươn khăn áo chỉnh tề chuẩn bị đi ra công sở thì nghe tiếng chó sủa ngoài cổng. Ông ta nhìn thấy gã em vợ trạc ngoài ba mươi tuổi, tất tả đi vào. – “Có chuyện gì mà cậu ra đây sớm vậy cậu Năm?” – Ông cai tổng hỏi. – “Anh không biết chuyện gì sao?” – Gã em vợ nét mặt có vẻ lo sợ nói. Viên cai tổng bật cười: – “Làm sao tôi biết chuyện gì của cậu mà cậu hỏi”. – “Chết, chuyện động trời mà anh không biết thiệt à?” – Gã em vợ nét mặt vẫn còn vẻ sợ sệt nói. Lão cai tổng bật cười lớn: – “Nhưng chuyện động trời cậu nói là chuyện gì mới được chớ?”. – “Chết tới nơi thiệt rồi anh Hai ơi!” – Gã em vợ nói. Lão cai tổng không cười nữa, nghiêm giọng hỏi: – “Cậu nói chết tới nơi mà ai chết mới được chớ?”. – “Ngày hôm qua em có gặp thằng bà con xa ở Tà Niên nói hiện giờ ông Nguyễn Trung Trực đang tập luyện nghĩa quân sắp đánh Rạch Giá tới nơi rồi đó! Chuyện động trời vậy mà anh không biết thiệt sao?”. – “Lạy Chúa, chuyện có thiệt vậy sao?” – Lão cai tổng hỏi. – “Em được tin tức tốc ra đây báo cho anh chị biết để mà liệu tính. Chớ để nước tới trôn rồi chạy không kịp đâu. Tiếng tăm ông Trực chắc anh đã biết, đến người Phú-lang-sa còn sợ ổng, đừng nói tới anh em mình”. – “Thôi được. Cám ơn cậu đã báo cái tin quan trọng này. Bây giờ cậu vô nhà sau báo cho chị Hai cậu biết đi. Còn tôi phải đi ngay bây giờ”. Lão cai tổng nói xong vội lấy cây dù cặp nách rồi đi nhanh ra cổng. Vừa đi lão vừa lẩm bẩn có vẻ bực mình: – “Ôi lạy Chúa, sao chuyện chết người như vậy mà không thấy làng xã nào báo cho mình biết vậy cà!”.


 


 


            Quán của Thắm từ khi bọn Pháp chiếm Rạch Giá, mộ thêm lính mã tà đóng doanh trại gần đó, khách đông hẳn lên, chủ yếu là bọn lính mã tà đến quán ăn nhậu nhiều nhất. Một mình Thắm trước đây còn xoay xở được, nhưng nay phải có người phụ việc thêm mới lo tiếp đãi khách chu đáo. Bây giờ quán của Thắm có người giúp việc tên Út Hết, một cô gái độ tuổi 19, 20 có nét mặt sáng sủa, dễ thương. Thực ra tên cô gái là Sarết, gốc Khơ Me, nhưng cô thích lấy tên Việt là Út Hết nghe dễ thương. Sáng nay, quán của Thắm có khá nhiều khách, đầu tiên là ba anh lính mã tà trong đội của Cai Tèo. Họ kéo vô quán ngồi gần cửa ra vào. Một anh lính gọi: – “Cho ba tô cháo gà với một dĩa gỏi”. – “Dạ, có ngay!”.


            Út Hết vui vẻ đáp lời, nét mặt cô rạng rỡ, vì mới mở cửa đã có khách. – “Nè, cho vò rượu đế luôn nghe!” – Một anh lính gọi tiếp. – “Dạ, có ngay!” – Út Hết mau mắn đáp. Rồi cô bưng một cái mâm lớn trên để ba tô cháo và một dĩa gỏi gà xé phay cùng vò rượu ra, trông rất bắt mắt, dọn thức ăn lên bàn. – “Xin mời!” –  Một anh lính để ria mép tay cầm ly rượu đế giơ cao nói lớn. Ba ly rượu đế chạm vào nhau và cả ba cùng ngửa cổ uống cạn. Rượu vào thì lời ra, xưa nay vẫn vậy. Cuộc nhậu này cũng không ngoại lệ, cho nên ta không lấy làm lạ, khi anh lính có ria mép lên tiếng trước: – “Tao thấy thằng cha đội Lượm dạo này giàu lên trông thấy tụi mày ạ!” – ngừng một chút, anh lính có ria mép nói tiếp: – “Mới thay chánh quyền có mấy tháng mà đã kiếm bộn vậy rồi, nay mai nữa, thằng chả còn giàu đến cỡ nào nữa!”. – “Giàu mà làm cái việc bất nhân bất nghĩa, đ.mẹ nói thiệt, tao không ham!”. Anh lính có cái cằm bạnh hơi quá khổ khuôn mặt chữ điền, tu một hơi, đặt ly xuống, “Khà” một tiếng, mới buông một câu nhận xét. – “Sao mầy biết thằng chả làm giàu trên sự bất nhân bất nghĩa đó?”. Anh lính dáng người thấp đậm có giọng nói như kim chọc vào tai người nghe, lúc này mới lên tiếng. – “Lão thông đồng với bọn thuế vụ, bắt mấy thương lái cỡ bự, vu cho họ cái tội trốn thuế, nện cho mấy đòn tra tấn thừa sống thiếu chết thì có bao nhiêu vàng bạc cũng phải ói ra để cứu mạng của mình. Lão giàu lên trông thấy là vậy đó!” – Anh lính có ria mép giải thích. – “Làm sao mầy biết được chuyện đó?” – Anh lính có giọng nói the thé hỏi. – “Chỉ có mầy là không biết đó thôi, chớ thiên hạ đều biết hết từ lâu rồi”. Anh lính có ria mép nhìn người vừa hỏi mỉm cười có vẻ ranh mãnh tinh nghịch. Đúng lúc ấy cũng có bốn lính mã tà đến quán. Đám lính này thuộc quyền chỉ huy của đội Lượm. Thấy ba anh lính của cai Tèo ngồi phía cửa ra vào, một tên có vẻ mặt lém lỉnh nói lớn: – “Các chiến hữu ra đây hồi nào vậy?”. Rồi không đợi trả lời cả bốn kéo vào bên trong, tên có vẻ mặt lém lỉnh gọi lớn: – “Chủ quán đâu?”. Thắm ở phía sau chạy ra nét mặt vui vẻ: – “Dạ, các thầy dùng chi?”. – “Đm. đã nói nhiều lần rồi, ở đây không có thầy bà gì cả, – tên lính có vẻ mặt lém lỉnh nói – chỉ có mấy anh với em thôi. Này, bữa nay có có cái gì cho mấy anh nhậu đó?”. – “Dạ, chỉ có gà xé phay với cháo thôi” – Thắm vui vẻ đáp. – “Cũng tạm được – tên lính có vẻ mặt lém lỉnh nói – Em cứ dọn ra cho mấy anh thưởng thức cái tài nấu cháo của em”. – “Dạ, em nấu cháo gà lâu rồi, tại anh ít ra đây nên chưa biết đó thôi”. Thắm vui vẻ nói. – “Chắc là vậy rồi!” – tên lính có vẻ mặt lém lỉnh gật đầu đồng ý rồi quay sang đám lính đi cùng – “Bữa nay tao đãi tụi bây nhậu thả cửa, không say không về, chịu không?”. – “Sao bữa nay mày “chịu chơi” quá vậy Bảy Tiền?” – Một tên lính có đôi mắt lúc nào cũng như con chim ngủ ngày nhìn tên lính – bây giờ ta biết tên Bảy Tiền hỏi. – “Vô chỗ nhậu, đừng hỏi vậy! – tên Bảy Tiền nói – Chỉ biết là tao chịu chơi chớ không “chơi chịu” là được rồi. Hiểu chưa?”. Khi Út hết bưng mâm ra dọn, Bảy Tiền thấy cô gái trong mắt hắn hết sức hấp dẫn nên hỏi để làm quen: – “Em chắc là lính mới của quán nầy phải không? – “Dạ” – Út Hết mỉm cười đáp. – “Hèn chi mấy lần trước ra đây anh không có gặp. Em nói cho anh biết tên được không?”. – “Dạ được. Em tên là Út Hết”. Út Hết có vẻ bẽn lẽn đáp. – “Út Hết… Út Hết, tên nghe dễ thương quá!” –  Bảy Tiền cười híp mắt. – “Nghe “dễ thương” mà “thương không dễ” nghe mậy!”. Tên lính có đôi mắt như con chim ngủ ngày chêm vô, kèm theo giọng cười hô hố, dễ ghét nhìn theo Út Hết bước vào trong nói. – “Hình như Út Hết này có dáng người Khơ Me quá. Mầy có trông thấy đôi mắt đen láy đặc trưng của con gái Khơ Me trên khuôn mặt Út Hết không?”. Tên lính dáng người thấp đậm to béo tự nãy giờ ngồi im, bây giờ mới lên tiếng: – “Ừa, tao thấy mầy nói có lý đó Tám!”. Tên lính có đôi mắt như con chim ngủ ngày gật đầu tỏ vẻ đồng tình nhận xét của tên to béo. Anh ta nói tiếp: – “Có lý hay không để em ra tao hỏi một câu tiếng Khơ Me thì biết ngay thôi!”. Đúng lúc đó Út Hết xách vò rượu đế ra, tên này nhìn Út hết hỏi luôn: – “On ơi on! Sa lanh bòn tê on? (Em ơi em. Em có yêu anh không?) – “Tê! (Không!)” – Út Hết cười trả lời rồi đi nhanh gần như chạy vội vào trong. Tiếng cười của bọn lính đi chung với tên Bảy Tiền lém lỉnh làm cho ba anh lính đến ngồi phía trước khó chịu. Cả bọn lính Bảy Tiền đã nhanh chóng làm cạn sạch vò rượu đế. Mặt tên nào cũng đỏ gay như mặt trời mọc. Một tên gõ chén giọng lè nhè ngâm:


Hiu hiu gió thổi đầu non,


Mấy người uống rượu là con Ngọc Hoàng.


Ngọc Hoàng ngự tại ngai vàng,


Thấy con uống rượu hai hàng lệ rơi!


            – “Sao kỳ vậy? Thấy con uống rượu đáng lẽ Ngọc Hoàng phải vui chớ sao lại khóc hả mậy?” – Tên lính to béo giọng ngà ngà cất tiếng hỏi. Tên lính ngâm thơ nói: – “Bởi vì Ngọc Hoàng ổng thấy: (ngâm tiếp)


Tưởng rằng con uống con chơi,


Nào ngờ con uống con rơi xuống sình!


            – “Vậy Ngọc Hoàng khóc là phải rồi”. Tên lính có đôi mắt chim ngủ ngày xác nhận, rồi quay vào trong gọi lớn: – “Mang thêm vò rượu nữa ra đây!” – “Thêm dĩa mồi nữa nghe chưa?” – Tên lính to béo chêm vào. Rồi hắn quay lại nhìn Bảy Tiền: – “Ê mầy, Bảy. Nghe nói mầy có nhiều chuyện tiếu lâm lắm, mầy hãy kể một hai chuyện cho anh em nghe chơi, được không mậy?”. – “Ờ, phải đó – nhiều tiếng tán thành – Kể đi Bảy”. – “Tụi mầy muốn nghe thì tao kể”. – Bảy Tiền cất giọng hơi lè nhè kể: – “Nghe nói hồi xưa có bốn ông quan võ sau khi nhậu xong, ăn tráng miệng bằng khoai môn luộc. Một ông nói: – Lâu nay bọn quan văn chúng chê chúng ta là loại võ biền không biết thơ phú là gì, chỉ biết gươm với giáo. Nay bọn ta phải làm thơ cho bọn quan văn nó biết mặt, không dám chê bai nữa, các vị có đồng ý không?”. “Đồng… ý!”. Cả ba ông quan võ đồng thanh hưởng ứng. Bỗng có ông hỏi: – “Bây giờ chọn đề tài gì và làm theo thể loại nào vì thơ cũng có nhiều loại lắm như lục bát, thất ngôn bát cú, hay thất ngôn tứ tuyệt?”. – “Chà, rành thơ dữ quá hén?” – Một ông buột miệng khen. “Nói không phải khoe chớ tui biết làm thơ từ lúc tóc còn để chỏm, sau này đi lính làm quan mới bỏ nghề đó” – Một ông cao hứng khoe. “Ông quan khởi xướng chuyện làm thơ nói: – Đề tài kiếm đâu xa cho mất công. Nay chúng ta đang ăn khoai môn thì lấy khoai môn làm đề tài. Còn thể loại thì làm theo thất ngôn tứ tuyệt. Mà ở đây không phải một người làm hết bốn câu, mà mỗi người chỉ làm một câu thôi, nối nhau cho thành bốn câu tứ tuyệt. Các vị chịu làm cách này không?”. – “Đồng ý!” – Tất cả đều nhất trí cái rụp. Ông ngồi đầu lên tiếng trước: Trời đất sanh chi cái giống môn. Ông quan thứ hai nối vô: Luộc lên mà xực thiệt là ngon. Ông thứ ba hơi bí bèn chọn cách ăn: Bác xơi một củ, em một củ. Ông thứ tư nhanh nhẩu đế tiếp: Lá nó hao hao giống cái…quạt. Ông ta cố tình kéo dài mấy chữ cuối “giống cái…quạt!” khiến các ông cười ầm lên. “Hay quá! Hay quá!”. Cả bốn ông vỗ tay lập lại: Lá nó hao hao giống cái…quạt! Đó, mấy ông quan võ làm thơ như vậy đó. Đừng chê người ta là võ biền nghe!” – Bảy Tiền nói. – “Hay lắm! – tên lính có đôi mắt chim ngủ ngày nhìn Bảy Tiền nói – Nhưng tao nghi mầy lắm!”. – “Nghi cái gì?” – Bảy Tiền hỏi lại. – “Tao nghi mầy đổi chữ thơ của mấy ổng quá!” – “Đâu có mậy! – Bảy Tiền cải chính – Mấy ổng làm sao tao kể đúng như vậy, đâu dám thêm bớt chữ nào!”. – “Bữa nay nhậu đã quá. Lại được thằng Bảy Tiền kể chuyện mấy ông quan võ làm thơ nữa. Làm một chầu nữa tụi bây?” – tên lính có đôi mắt ngái ngủ nói. – “Thôi bữa nay vậy là đủ rồi. – tên lính to béo nói – Bảy Tiền, bữa nay tới phiên mầy bao đó!”. – “Ừa được, để tao – Bảy Tiền quay vào trong gọi lớn – Ê chủ quán đâu, tính tiền!”. Có tiếng “Dạ” rồi cô chủ quán Thắm vui vẻ ra đến nhìn qua các thứ còn bày trên bàn, cô nhẩm tính rồi nói: – “Dạ, tất cả là năm quan!” – “Gì dữ vậy? Có hai dĩa mồi, mấy tô cháo, hai vò rượu mà đến năm quan à?” – Tên Bảy Tiền cau mày nói có vẻ khó chịu. – “Dạ, mấy anh thông cảm. Em đâu muốn bán mắc cho mấy anh. Nhưng dạo này mọi thứ hàng đều lên giá… nên phải tính vậy, nếu không em bị lỗ”. Thắm giữ nét mặt vui vẻ chiều khách. – “Này, đây chỉ trả ba quan thôi. Muốn đòi thêm ra doanh trại mà đòi. – Bảy Tiền nhìn đồng bọn – Về thôi tụi bây!”. Bảy Tiền vừa đi ngang bàn ba anh lính ngồi ngoài thì anh lính có để ria mép chặn lại: – “Ê, trả đủ tiền cho chủ quán rồi hãy về!”. – “Đ.m! Chuyện nầy dính gì tới mầy mà xía vô? Dang ra! Để tao đi!”. Bảy Tiền vừa nói vừa xô mạnh tên lính có ria mép đang đứng chặn hắn.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »