tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27700203
Tiểu thuyết
30.05.2013
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua

Đó là vào năm 1913. Chính cuộc nói chuyện đầu tiên đã thuyết phục tôi rằng bổn phận của chúng tôi là không được bất cẩn và tiêu cực, rằng chúng tôi phải bằng mọi cách phản đối một cuộc chiến tranh châu Âu lúc nào cũng có thể xảy ra. Không gì khiến cho Rolland đạt đến một sự cao cả kỳ diệu về đạo đức bằng việc ông đã một cách đau đớn làm cho tâm hồn mình thêm cương nghị. Chúng tôi có thể làm một điều gì trong giới chúng tôi; tôi đã dịch nhiều; tôi đã làm cho các nhà thơ đến với những người láng giềng chăm chú hơn của tôi. Năm 1912 tôi đã đi cùng Verhaeren khắp nước Đức trong một vòng đi diễn thuyết mang vẻ một biểu hiện tượng trưng của tình hữu nghị Pháp - Đức; ở Hambourg Verhaeren và Dehmel đã ôm hôn nhau trước công chúng, nhà thơ trữ tình lớn nhất của nước Pháp và nhà thơ lớn của nước Đức. Tôi đã chinh phục được Reinhardt cho vở kịch cuối cùng của Verhaeren; chưa bao giờ sự cộng tác của chúng tôi, ở phía này và phía kia, thân tình hơn, mãnh liệt hơn, thúc đẩy hơn, và trong nhiều giờ hứng khởi, chúng tôi đã tự an ủi bởi ảo tưởng rằng mình đã chỉ cho thế giới chân lý sẽ cứu nó. Song thế giới ít quan tâm đến những biểu hiện văn học như vậy, nó đi theo con đường riêng của nó, là con đường xấu. Có trong cấu trúc của nó tôi không biết tiếng điện nổ lốp đốp nào, do những cọ xát tạo nên; lúc nào cũng có tia lửa phun ra - vụ Zaberin, cuộc khủng hoảng ở Albanie, một cuộc phỏng vấn vụng về - mỗi lần chỉ một tia lửa thôi, nhưng mỗi tia lửa có thể đốt cháy những chất nổ đã được tích tụ. Nhất là chúng tôi ở Áo, chúng tôi cảm thấy mình đang ở trung tâm của vùng xáo động. Năm 1910, hoàng đế Francưis-Joseph bước vào tuổi tám mươi mốt. Ông già đã chuyển sang hàng tượng trưng không còn có thể kéo dài thật lâu và một cảm giác bí ẩn lan tràn trong dư luận rằng sau khi con người ấy ra đi, người ta không thể tránh sự tan rã của nền quân chủ lâu hàng nghìn năm. Ở bểntong, cắm rễ cuộc xung đột các bộ tộc; ở bên ngoài, các nước Italia, Serbie, Roumanie và theo một ý nghĩa nào đó, cả nước Đức đang chờ Roumanie và theo một ý nghĩa nào đó, cả nước Đức đang chờ đợi để chia nhau đế quốc Áo. Chiến tranh Balkans tại đó Krupp và Sneider làm cuộc thử nghiệm các đại bác của họ chống lại nhau trên "vật liệu con người" của cả hai phe, cũng như sau này, người Anh, người Italia đã tiến hành với các máy bay của họ trong cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha, càng ngày càng lôi cuốn chúng tôi vào một dòng thác. Trong mọi lúc người ta giật nẩy mình để rồi lại thở phào: "Lần này chưa phải. Và hy vọng sẽ không bao giờ".


*


*           *


Mà kinh nghiệm đã chứng tỏ rằng tái tạo các sự kiện của một thời kỳ vô cùng dễ dàng so với việc tái tạo không khí đạo đức của nó; không khí này không lắng đọng lại trong những sự kiện chính thống mà đúng hơn là trong những tình tiết nhỏ nhặt riêng biệt, như những tình tiết mà tôi muốn kể ra ở đây. Để được chân thật, tôi phải nói rằng vào thời gian đó tôi không tin là có chiến tranh. Nhưng hai lần hoàn toàn thức, tôi đã mơ thấy nó, và tôi đã rùng mình vì hoảng sợ. Lần đầu tiên là vào dịp "vụ Redl" ít biết đến vì cũng như tất cả các sự kiện lịch sử quan trọng nó diễn ra ở hậu cảnh.


Tôi biết về đại tá Redl rất ít. Ông là nhân vật của một vở kịch tình báo phức tạp… Ông ở cùng một quận với tôi, chỉ cách có một con đường; một hôm kiểm sát trưởng T. giới thiệu ông với tôi ở một quán cà phê tại đó con người hưởng lạc có vẻ mặt rất tươi đẹp đang hút một điếu xì gà. Từ đó, chúng tôi chào nhau trên đường phố. Không chỉ về sau tôi mới khám phá ra rằng trong cuộc đời của chúng ta, chúng ta bị bao bọc bởi những điều bí ẩn tới mức nào và chúng ta biết ít đến như thế nào về những người thở cùng một bầu không khí với ta. Vị đại tá với vẻ ngoài của một sĩ quan tốt bình thường của quân đội Áo là người tin cẩn của hoàng tử kế vị. Người ta giao cho ông nhiệm vụ quan trọng lãnh đạo cơ quan mật của quân đội và cản trở công việc của cơ quan mật thuộc đối phương. Thế là, ông phát giác rằng năm 1912 trong cuộc khủng hoảng của chiến tranh ở Balkan, trong khi Áo và Nga đã động viên chống lại nhau, văn bản mật quan trọng nhất của quân đội Áo, "Kế hoạch tấn công" bị bán cho Nga. Điều đó có thể gây nên, trong trường hợp xảy ra chiến tranh, một tai họa có một không hai, vì như vậy người Nga biết trước và nắm từng điểm một tất cả các vận động chiến thuật của quân đội Áo đang xâm lược. Nỗi kinh hoàng mà sự phản bội đó gây ra trong những giới tổng tham mưu thật dữ dội, đại tá Redl, chuyên gia phản gián, được giao nhiệm vụ khám phá kẻ phản bội, mà ông phải tìm trong nhóm những người ở địa vị cao nhất. Về phần mình, Bộ Ngoại giao, không quá tin ở sự khôn khéo của các quan chức quân sự và cung cấp một ví dụ điển hình của trò chơi kình địch đối lập các động lực khác nhau, đưa ra khẩu hiệu tự bản thân mình làm cuộc điều tra mà không báo cho bộ tổng tham mưu và buộc cảnh sát, ngoài tất cả các biện pháp hữu ích khác, mở tất cả các thư gửi về hòm thư lưu, không đếm xỉa gì đến bí mật thư tín.


Một hôm, đến ở một phòng bưu điện một bức thư đề ngày tháng của trạm biên giới Nga Podvolorzyska và mang địa chỉ bằng số "Điệu khiêu vũ của nhạc kịch" hòm thư lưu. Khi mở ra thì thấy nó không đựng giấy viết thư mà đựng sáu hoặc tám giấy bạc mới một nghìn cuaron Áo. Tức thì giám đốc cơ quan cảnh sát được báo về sự phát hiện đáng nghi đó; ông ra lệnh đặt một thám tử ở cửa giao dịch để bắt ngay người đòi nhận bức thư đó.


Trong một lúc, bi kịch bắt đầu chuyển thành một kịch khôi hài lý thú của thành phố Vienne. Vào giữa trưa, một đức ông hiện ra, đòi nhận lá thư mang lời nghi: "Điệu khiêu vũ của nhạc kịch". Nhân viên phát thư ở cửa giao dịch phát ngay hiệu lệnh đã thống nhất trước cho người thám tử. Nhưng điều xảy ra là thám tử đúng lúc đó đang đi nhậu bia buổi sáng và khi ông ta trở về ông chỉ kịp xác nhận rằng người khách lạ đã thuê một chiếc xe ngựa và đã đi về một hướng không rõ. Nhưng ngay khi đó bắt đầu hồi hai của vở hài kịch thành phố Vienne. Vào thời đại ấy của các xe ngựa, những chiếc xe đúng mốt và sang trọng do hai ngựa kéo, người xà ích tự cho là một nhân vật quá nổi bật để tự tay mình rửa xe. Vì vậy ở mỗi trạm đỗ có một người "rửa xe" như người ta quen gọi, mà công việc là lau chùi kỳ cọ các xe. Thế là người rửa xe, may mắn thay, có ghi số xe của chiếc xe ngựa vừa xuất phát. Trong mười lăm phút tất cả các đồn cảnh sát đều được báo động, và chiếc xe ngựa được tìm thấy. Người xà ích cho biết dấu hiệu nhận dạng của đức ông đã buộc xà ích đưa về quán cà phê Kaiserhof là nơi tôi luôn gặp đại tá Redl. Hơn nữa do một dấu hiệu ngẫu nhiên sung sướng, người ta còn tìm thấy trong xe chiếc dao bỏ lại mà người lạ mặt đã dùng để mở bì thư. Các thám tử bắt chở họ rất nhanh đến quán cà phê Kaiserhof. Ở đây họ cung cấp một sự miêu tả về đức ông, nhưng đức ông đã lại ra đi. Tất nhiên là những người hầu bàn tuyên bố rằng đức ông ấy không ai khác là ông già quen thuộc, đại tá Redl và ông ta đang trở về khách sạn Klomser.


Người thám tử trở nên ngẩn ngơ. Điều bí ẩn đã được chọc thủng. Đại tá Redl, thủ trưởng tối cao của cơ quan tình báo Áo đồng thời là một gián điệp ăn lương của ban tổng tham mưu Nga. Ông không chỉ bán các bí mật và các kế hoạch xâm lược, mà người ta hiểu ngay ra rằng tại sao năm trước, tất cả các gián điệp Áo do ông ta gửi sang Nga đều bị bắt và bị xét xử. Người ta bèn điện thoại một cách náo nhiệt đi khắp nơi cho đến khi cuối cùng với tới Konrad von Hưtzendorf, tổng tham mưu trưởng Áo. Một nhân chứng của cảnh này kể cho tôi nghe rằng qua mấy từ đầu người ta nói với ông, mặt ông trở nên bạc phếch. Cái tin được chuyển bằng điện thoại đến hàng cung, những cuộc bàn bạc nối tiếp nhau. Làm gì? Cảnh sát trong thời gian đó thực hiện những biện pháp để cản trở đại tá Redl bỏ trốn. Khi ông ta sắp từ giã khách sạn và còn sai phái người gác cổng một việc, một thám tử đến gần ông mà không để ông nhận thấy, chìa con dao bỏ tủi ra cho ông và hỏi ông một cách lễ phép: Ngài đại tá có bỏ quên con dao này trong một xe ngựa không? Vào giây phút đó Redl biết là ông đã thất bại. Ông đi đến đâu cũng nhìn thấy những bộ mặt mà ông rất quen của cảnh sát mật theo dõi ông, và khi ông trở về khách sạn, hai sĩ quan đi kèm theo ông lên đến phòng và đặt một khẩu súng lục trước mặt ông. Trong khoảng thời gian đó, người ta đã quyết định ở Hofburg rằng vụ này quá ô nhục cho quân đội Áo, phải kết thúc với càng ít tiếng ồn càng tốt. Đến hai giờ sáng, hai sĩ quan đi tuần trước phòng của Redl ở khách sạn Klomeser. Chỉ lúc đó mới có tiếng súng lục vọng ra từ bên trong.


Ngày hôm sau các báo buổi chiều đăng một thông tri ngắn có tính chất tiểu truyện người chết về đại tá Redl, người đã có những cống hiến lớn và đã qua đời đột ngột. Nhưng quá nhiều người đã bị lôi kéo vào cuộc theo dõi để điều bí mật có thể giữ kín. Dần dần người ta nắm được những điểm đặc thù giải thích được nhiều điểm về mặt tâm lý học. Đại tá Redl là một người đồng tính luyến ái mà cấp trên và bè bạn không hề biết và từ nhiều năm là con mồi của những bậc thầy phát giác đã cuối cùng dồn ông ta đến cách làm vô vọng này. Một luồng kinh hoàng chạy xuyên suốt quân đội. Mọi người đều biết rằng trong hoàn cảnh chiến tranh, chỉ duy nhất con người này sẽ làm thiệt đến tính mạng của hàng trăm ngàn người và nền quân chủ sẽ bị hắn đẩy tới bên bờ vực thẳm; chỉ vào lúc đó chúng tôi mới hiểu được rằng trong những năm vừa qua nước Áo đã gần kề miệng hố chiến tranh biết bao nhiêu.


*


*           *


Đây là lần đầu tiên sự kinh hoàng đã xiết lấy họng tôi. Ngày hôm sau tình cờ tôi gặp Berta Suttner, - cô Cassandre( ) lớn lao và hào hiệp của thời chúng tôi. Quý tộc xuất thân từ một trong những gia đình cũ nhất của chúng tôi, bà đã trải qua thời còn rất trẻ những ghê rợn của chiến tranh 1866 ở vùng lân cận lâu đài của tổ tiên ở Bohême. Và với sự đam mê của một con chim họa mi xứ Florence, bà chỉ dành cho cả cuộc đời mình một nhiệm vụ: ngăn cản một cuộc chiến tranh thứ hai, ngăn cản mọi cuộc chiến tranh nói chung. Bà viết một cuốn tiểu thuyết Bỏ vũ khí xuống nổi tiếng thế giới. Bà tổ chức vô số cuộc hội thảo hòa bình; và chiến công của đời bà là đã đánh thức lương tâm của Alfred Nobel, người đã sáng chế ra chất dinamit (một loại thuốc nổ) và bà thuyết phục ông lập giải Nobel Hòa bình và Liên minh quốc tế để sửa chữa những nỗi đam mê đã gây nên với chất dinamit. Bà đến gần tôi, vẻ rất kích động.


"Nhiều người không hiểu cái gì đã xảy ra". Bà kêu to lên ngay giữa đường phố, tuy bà là một người thường rất bình tĩnh, dễ thương và dịu dàng khi nói chuyện. "Đã là chiến tranh rồi, thế mà chúng một lần nữa lại che giấu tất cả, giữ bí mật mọi chuyện! Và các anh, những người trai trẻ, tại sao các anh không làm gì cả? Chính cái đó liên quan trước hết đến các anh. Hãy đứng lên tự vệ đi; hãy đoàn kết nhau lại. Đừng để một vài mụ đàn bà già phải làm tất cả mà chẳng ai nghe…".


Tôi nói với bà tôi đi Paris; có thể thử một sự biểu thị thái độ chung chăng.


Bà giục tôi: "Tại sao lại có thể? Tình hình tồi tệ hơn bao giờ hết. Cỗ máy đã được vận hành".


Tôi khó có thể làm bà yên lòng vì bản thân tôi cũng rất lo ngại.


Nhưng chính là ở Pháp, nhờ một tình tiết thứ hai hoàn toàn cá nhân, tôi phải nhớ lại rằng, người phụ nữ mà ở Vienne người ta không hề coi là quan trọng, đã đoán định tương lai với cái nhìn tiên tri đến mức nào. Đó là một tình tiết rất nhỏ, nhưng đã để lại cho tôi một ấn tượng hết sức mạnh. Mùa xuân năm 1914, tôi đã đi cùng một cô bạn thân đến Touraine để thăm mộ của Léonard de Vinci. Chúng tôi đã đi nhiều giờ dọc các bờ sông bằng phẳng và tràn đầy ánh nắng của sông Loire và buổi tối chúng tôi cảm thấy mệt thực sự. Đến thành phố Tours đã gần trong giấc ngủ im lìm, chúng tôi quyết định đi xem phim sau khi tôi đã đến vái trước ngôi nhà nơi sinh của Balzac.


Đó là một rạp chiếu bóng nhỏ vùng ngoại ô hoàn toàn không giống chút nào với những lầu hiện đại bằng crôm và kính sáng loáng; một căn phòng thích nghi tạm cho việc sử dụng, chứa đầy những người hèn mọn, thợ thuyền, binh lính, những người đàn bà trồng rau, tóm lại một công chúng thực sự, đang nói chuyện nhỏ nhẹ và tuy có biển cấm hút thuốc, vẫn phà vào không khí ngột ngạt những đám khói thuốc lá điếu rẻ tiền. Trước tiên người ta chiếu lên màn vài chục "Thời sự". Một cuộc thi ở Anh: người ta nói chuyện và cười. Tiếp đến cuộc duyệt binh ở Pháp: khán giả vẫn tỏ ra ít quan tâm. Cảnh thứ ba: "Hoàng đế Guillaume đi thăm hoàng đế François Joseph". Tôi nhận ra ngay trên màn ảnh sân ga thảm hại phía Tây Vienne. Đoạn, một hiệu lệnh: Vị hoàng đế già François Joseph tiến lên trước đội danh dự để đón tiếp vị khách. Khi ông hiện ra, hơi còng và chân hơi khập khiễng, đi dọc theo sân ga, những người dân thành Tours chế nhạo nhẹ nhàng ông già có chòm râu má bạc. Sau đó đoàn tàu đi vào ga, toa thứ nhất, toa thứ hai, toa thứ ba. Cửa toa phòng khách (toa đặc biệt) mở ra và Guillaume II bước xuống ria mép vểnh cao, mặc đồng phục đại tướng Áo.


Vào lúc hoàng đế Guillaume hiện lên màn ảnh, nổ ra một cách hồn nhiên tự phát trong phòng tối một tràng tiếng huýt sáo và dậm chân. Mọi người gào thét và hò hét, đàn bà, đàn ông, trẻ con la ó như chính bản thân họ bị xúc phạm. Tôi hoảng sợ, tôi hoảng sợ tận đáy lòng. Vì tôi cảm thấy sự hận thù theo đuổi trong nhiều năm đã phải thắng thế, trong khi ở đây, tại một thành phố nhỏ tỉnh lẻ, những người tư sản và những người lính đã bị kích động chống hoàng đế, chống nước Đức đến mức chỉ một hình ảnh thoáng qua trên màn ảnh có thể đốt cháy kho thuốc súng. Điều đó kéo dài một giây, chỉ một giây độc nhất. Khi các cảnh khác tiếp đến, tất cả đều đã bị lãng quên. Những con người cười vỡ bụng với cuốn phim hài hước lúc này đang được chiếu, họ vỗ đôm đốp lên đùi nhau. Điều đó đã chỉ kéo dài một giây, nhưng giây đó chứng minh cho tôi rằng sẽ dễ dàng biết mấy, vào lúc xảy ra một cuộc khủng hoảng, làm các dân tộc ở bên này và bên kia biên giới nổi dậy, mặc cho những nỗ lực hòa giải, mặc cho những cố gắng của bản thân chúng tôi.


Cả buổi tối ấy với tôi là đã hỏng. Tôi không thể ngủ. Nếu điều đó diễn ra ở Paris, tôi cũng lo lắng, nhưng không bị xáo động đến mức ấy. Điều mà sự căm thù đã gặm nhấm đến tận đáy của tỉnh lẻ, đến tận những chiều sâu thẳm của một dân tộc dễ thương và ngây thơ làm tôi run lên. Vào những ngày tiếp sau, tôi kể lại tình tiết đó cho các bạn tôi. Số đông không lấy đó làm nghiêm trọng. "Chúng tôi người Pháp cũng đã chế nhạo hoàng hậu Victoria to béo, và hai năm sau, chúng tôi đã ký một liên minh với nước Anh. Anh không hiểu người Pháp lắm. Chính trị không đi sâu vào trong họ". Chỉ có Rolland nhìn nhận một cách khác. "Một dân tộc càng ngây thơ, càng dễ dàng quay họ trở lại. Sự vật đã xấu đi từ khi Poincaré đắc cử. Chuyến đi Saint Petersbourg của ông không phải là một chuyến đi cho vui". Chúng tôi còn nói nhiều về hội nghị xã hội chủ nghĩa quốc tế sắp họp ở Vienne mùa hè sau, nhưng ở đấy Rolland cũng tỏ ra hoài nghi hơn những người khác. "Sẽ có bao nhiêu người trụ vững khi các lệnh động viên được niêm yết, ai biết được? Chúng ta đã đi vào một thời kỳ của những tình cảm lớn trong quảng đại quần chúng, của chứng ixtêri tập thể, mà người ta không thể đo sự hùng mạnh trong trường hợp chiến tranh".


Nhưng, như tôi đã nói, những giây lát lo âu đó bay đi như những mạng nhện trước gió. Chúng tôi đôi khi có nghĩ đến chiến tranh, gần như người ta nhớ đến cái chết, như về một điều có thể xảy ra, nhưng chắc chắn là còn xa lắc. Và Paris trong những ngày xuân ấy quá đẹp, và bản thân chúng tôi còn quá trẻ và quá hạnh phúc. Tôi còn nhớ vở kịch hề tuyệt diệu mà Jules Romain đã tưởng tượng ra để chế nhạo "hoàng tử của các nhà thơ"; ông ta đã tặng phần thưởng cho một "hoàng tử của nhà tư tưởng", một con người đôn hậu hơi đơn giản, đã để các sinh viên long trọng rước đến chân tượng của Rodin, trước điện Panthéon. Và buổi tối chúng tôi sôi nổi kéo nhau như những học sinh trong hoan lạc đến một cái "giả vờ làm bữa tiệc". Cây cối đang nở hoa, không khí dịu và nhẹ; vậy ai có thể đứng trước những điều mê ly như vậy lại nghĩ đến một cái gì không thể hình dung nổi đến thế? Các bạn tôi thân thiết với tôi hơn lúc nào hết và tôi có thêm những bạn mới ở nước xa lạ này, ở nước "thù địch"; thành phố vô tư lự hơn bao giờ hết và với sự vô tư lự của bản thân, người ta yêu sự vô tư lự của thành phố. Trong những ngày cuối cùng này, tôi đi theo Verhaeren đến Rouen, ở đấy ông phải diễn thuyết. Ban đêm, chúng tôi đứng trước nhà thờ, mà các mũi tên chói lên kỳ diệu dưới ánh trăng - những cái dịu dàng tuyệt vời đó còn thuộc về một "tổ quốc" - không thuộc chung cho tất cả chúng ta? Ở ga Rouen, ở cùng chỗ mà hai năm sau, một trong những chiếc máy mà anh ca ngợi, sẽ xé xác anh - chúng tôi chia tay nhau. Ông ôm hôn tôi: "Mồng một tháng tám, ở nhà tôi nhé". Tôi hứa với ông điều đó; hằng năm tôi đến thăm ông tại ngôi nhà nông thôn của ông để dịch với ông, tay trong tay, những bài thơ cuối cùng của ông. Tại sao năm nay lại không như vậy? Không có nỗi lo sợ nào, tôi từ giã các bạn bè khác, tôi từ giã Paris, một cuộc từ giã vô tư lự, không tình cảm ướt át, như khi người ta từ giã nhà mình trong vài ba tuần. Kế hoạch của tôi cho những tháng tiếp theo đã được vạch sẵn. Ở Áo, ẩn náu đâu đó ở nông thôn, tôi muốn đẩy mạnh công trình của tôi về Dostoievski (chỉ năm năm sau mới xuất bản được) và hoàn thành bằng cách đó quyển sách Ba bậc thầy, giới thiệu ba trong số những quốc gia lớn nhất qua tiểu thuyết gia lớn nhất của họ. Đoạn tôi đến nhà Verhaeren và trong mùa đông có lẽ tôi thực hiện cuộc du lịch sang Nga đã dự định từ lâu, nhằm tạo nên ở đó một nhóm có lợi cho sự liên minh tinh thần của chúng tôi. Tất cả đều bằng phẳng và trong sáng trước mắt tôi trong cái tuổi ba mươi hai của đời tôi: thế giới hiện ra trước mắt tôi đẹp và đầy ý nghĩa, như một trái cây thơm ngon trong các mùa hè chói lọi này. Và tôi yêu nó vì cái hiện tại của nó và vì cái tương lai còn đẹp đẽ hơn của nó.


Và ngày 28 tháng 6 năm 1914, nổ ra ở Sarajevo phát nổ trong một giây làm vỡ tan thành ngàn mảnh như chiếc bình đất rỗng cái thế giới của an bình và của lý trí sáng tạo trong đó chúng tôi đã được nuôi dạy, đã lớn lên và được thuần hóa.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 20.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
xem thêm »