tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29434292
Tiểu thuyết
27.05.2013
Dương Linh
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng

Đêm hôm sau. Ở nhà ông Lâm Quang Ky rộn rịp chuẩn bị một bữa tiệc liên hoan nhỏ để tiễn ông Trực trở lại Sân Chim. Ở dưới bếp sau nhà mấy phụ nữ, trong đó có bà vợ ông Ky còn rất trẻ, vừa làm bếp vừa chuyện trò rất vui vẻ. Ở trên nhà, ông Ky, ông Tư, ông Ngàn, ông Miên cùng Trực ngồi quanh bàn vừa uống nước, vừa bàn luận công việc sắp tới. – “Ở ngoài chợ, bọn giặc xây cái đồn lớn sắp xong rồi. Còn phía đối diện gần phía chợ là trại lính mã tà, cũng có hon một trăm quân do quản Cầu chỉ huy. Bọn lính mã tà này địch mới tuyển mộ và bắt lính...” – Ông Tư nói. – “Quản Cầu là người thế nào?” – Trực hỏi. – “Dạ, tôi cũng chưa rõ lai lịch. Nhưng nghe bà con ngoài chợ nói ông ta cũng không có hành động gì ác ôn cả”. – “Cần phải cho người bám sát ông ta để tìm hiểu rõ về con người này, để mình tuỳ cơ ứng biến. Trên một trăm lính trong tay ông ta không thể khinh suất được đâu”. – Trực nói giọng nghiêm chỉnh. – “Dạ tôi hiểu, anh Hai”. – Ông Tư gật đầu. – “Còn những người trong bộ máy cai trị của giặc, các anh có biết được không?”. – “Dạ cũng có biết sơ sơ, chưa thiệt rõ lắm” – Ông Búp mỉm cười nói. – “Biết sơ sơ thì cũng coi như chưa biết”. – Trực cười – “Người xưa có nói “Biết mình biết ta, trăm trận trăm thắng”. Đánh địch mà chưa biết rõ địch, tốt nhứt là chưa nên đánh”. – “Dạ theo chỗ tôi biết thì trong số làm quan cho địch cai trị dân thì có ông huyện Hiên, không rõ lai lịch, nhưng được bọn Phú-lang-sa tin cậy. Mà giặc đã tin cậy là không tốt rồi. Sau huyện Hiên là cai tổng Nguyễn Văn Ngươn, ông này có đạo Thiên Chúa nên không ưa gì triều đình ta chống đạo. Còn có cai tổng Thạch Phan, Danh Nút gì đó, người Miên, cũng không ưa gì ta, bọn Phú-lang-sa biết nên ra sức mua chuộc, và ông này thề sẽ theo Tây dương đến cùng. Đó là một tên tay sai khá nguy hiểm” Ông Ngàn nói. – “Còn ông xã Lý thế nào”? – Trực hỏi và tự nhiên anh nhớ đến hôm gặp ông này ở nhà ông Thuyên. – “Ông xã này thì bà con ngoài chợ nói ổng theo giặc là theo hụ hợ cho qua ngày đoạn tháng chớ trong bụng không ưa gì bọn giặc” – Ông Ngàn nói. – “Ngoài những người đó, còn có ai đáng cho ta chú ý nữa không?” – Trực nhìn ông Ngàn hỏi. – “Dạ còn có mấy tên làm ở Sở thuế. Mấy thằng này tỏ ra trung thành với bọn Phú-lang-sa, vì làm ở ngành thuế chúng dễ kiếm tiền hối lộ hơn”. – “Anh phải cho dọ thám thêm về bọn này. Nó cũng nguy hiểm không thua gì bọn mật thám, sẵn sàng bán đứng chúng ta để lãnh thưởng đó!” – Trực nói với vẻ giễu cợt. – “Dạ, tụi tui sẽ làm theo lời chỉ dạy của anh Hai”. Ông Ngàn nói. – “Bao giờ chúng ta nắm rõ tình hình địch thì lúc đó ta mới diệt lũ Tây dương ở Rạch Giá này được. Nhưng từ nay mọi việc làm của ta các anh phải hết sức giữ bí mật để cho bọn giặc không phát hiện được ta. Người xưa đã nói “xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị” chính là nói điểm này: “bí mật và bất ngờ” là yếu tố quyết định thắng lợi của mọi trận đánh. Xin các anh nhớ cho”. Một thiếu nữ ở dưới nhà lên hỏi: – “Đã xong hết. Dọn được chưa các anh?”. – “Dọn ra đi là vừa rồi đó!” – Ông Ky vui vẻ nói.


 


 


            Hai người phụ nữ xách đuốc đi trên đường đất ngoằn ngoèo trong đêm tối ở Tà Niên. Đó là cô Điều và cô Đỏ. Hai cô đều còn trẻ và có nhan sắc mặn mà dễ coi. Đặc biệt cô Điều có đôi mắt đen láy, khi cô cười đôi mắt trở nên linh hoạt như cách người ta gọi là “đôi mắt biết cười” dễ làm xiêu lòng người đối thoại. Còn cô Đỏ có đôi má bầu bĩnh lúm hai đồng tiền tạo nên sự hấp dẫn đối với người khác phái. Cả hai đều có nước da bánh ít, nét đặc trưng của các cô gái vùng biển đất phương Nam.


            Vừa đi cô Điều hỏi: – “Mầy có chắc là ông Trực đang ở nhà ông Ky trong Tà Niên này không?”. – “Thì cũng nghe nói vậy thôi. Ai mà biết được?”. Cô Đỏ trả lời lấp lửng. – “Vô không gặp coi như công toi! – Cô Điều nói – Nhưng mà ai nói với mày ông Trực ở Tà Niên?” – “Bà Bảy bán chè thưng đó”. – “Làm sao bà Bảy biết được?” – Cô Điều hỏi dồn. – “Thì bả gánh chè bán dạo, bả thấy mấy ổng tập dượt võ nghệ ở nhà ông Ky”. – Cô Đỏ cười trả lời. – “Trời! Mày tin bà bán chè rồi rủ tao đi đêm hôm tăm tối như vầy để gặp mặt ông Trực?” – Cô Đỏ cũng cười theo – “Thôi lỡ rồi. Tới luôn coi ra sao?”. Cả hai cùng cười vui vẻ. Ánh đuốc của họ như một vệt sáng lấp loáng trong đêm tối hoang vắng ở Tà Niên. Bữa liên hoan ở nhà ông Ky đã kết thúc. Người nhà đã dọn sạch sẽ trả lại cái bàn với bình tích nước đặt trong vỏ dừa khô và dĩa trái cây quen thuộc: chuối, vú sữa... để tráng miệng. Bỗng lúc đó có tiếng chó sủa bên ngoài. Mọi người nhìn ra. Hai cô gái quần áo bà ba đen cổ quấn khăn rằn xách đuốc đi vào. Ông Ky bước ra vui vẻ: – “Chào hai cô. Mời vô, mời vô. Chà đi đâu đêm hôm tăm tối như thế này?”“Đi thăm anh chị chớ đi đâu!” – Cô Điều đáp bằng giọng cười trong trẻo. – “Vậy thì quý hoá quá”. – Ông quay vô trong nói lớn – “Thanh ơi! Có cô Điều, cô Đỏ đến chơi nè”. – “Chào mấy anh!” – Cô Điều bước vô cửa nhìn mọi người mỉm cười chào. Cô Đỏ dụi tắt cây đuốc lá dừa rồi bước vào theo gật đầu chào mọi người. – “Mời hai cô ngồi uống nước”. Ông Ky có vẻ mất tự nhiên khi phải tiếp hai vị khách bất ngờ không hẹn mà đến này. Bà Thanh vợ ông Ky ở nhà dưới bước lên, cười vui chào hai cô Điều và Đỏ. – “Trời ơi! Hai chị sao không vô sớm một chút?”. – “Cũng phải xong việc nhà rồi mới đi được chớ” – Cô Điều nói. – “Hai chị ngồi nghỉ một chút rồi xuống dưới nhà chị em mình nói chuyện. Ở dưới còn mấy bà nữa đó” – Bà Thanh nói. – “Được rồi bọn tôi sẽ xuống sau. Để nói chuyện với mấy anh một chút” – Cô Điều nói. – “Nhớ xuống nghe” – Bà Thanh nói rồi đi vào. Bà cũng hiểu họ có chuyện gì muốn nói với cánh đàn ông đây nên không ép xuống nhà sau ngay với mình. Từ nãy giờ Trực ngồi quan sát hai người phụ nữ xuất hiện bất ngờ nhưng cử chỉ ăn nói rất mạnh dạn tự nhiên, không có chút rụt rè, nhút nhát như những phụ nữ thường gặp ở nông thôn. – “Anh Ba Ky ơi! Anh giới thiệu mấy anh ở đây cho tụi em biết với chớ!” – Cô Điều nói và nhìn Trực. Khuôn mặt vóc dáng Trực khiến cô chú ý nhiều hơn những người khác. – “Được. Được” – Ông Ky vui vẻ giới thiệu – “Đây là anh Tư thì hai cô đã biết rồi. Còn đây là anh Năm Ngàn, anh Ba Búp, anh Sáu Miên. Còn đây là...” – Ông Ky nhìn Trực ngập ngừng, Trực hiểu cười nói luôn: – “Tôi là Hai Chơn”. – “Em là Điều, còn con nhỏ em là Đỏ”. –Điều nói luôn, nhưng mắt vẫn quan sát Trực. Cử chỉ ngập ngừng lúc giới thiệu của ông Ky làm cô thoáng có ý nghi ngờ đây có thể là ông Trực mà họ không muốn nói thật chăng? Cũng có thể như vậy lắm. Cô nghĩ vậy rồi thăm dò: – “Mấy anh có nghe tin ông Thành thủ úy Nguyễn Trung Trực đưa quân về dưới này để đánh bọn Phú-lang-sa không?”. – “Cái đó thì có nghe. – Ông Ky nói – Nhưng chắc chỉ là tin đồn đãi vậy thôi”. – “Vậy mà có người nói rằng ổng đang có mặt ở Tà Niên mình đó!”. Mọi người cười ầm lên khi nghe cô Điều nói. – “Ai nói với cô vậy?” – Ông Ky hỏi. – “Thôi tôi chẳng nói lại làm chi. Chắc chắn là tin đồn thất thiệt rồi – Cô Điều nói – Bởi vì nếu có ổng ở vùng này thì bọn Tây dương đang xây đồn ngoài chợ đó, sao không đánh nó?”. – “Trời ơi! Cô tưởng đánh bọn Tây dương dễ lắm sao? Triều đình có đủ binh tướng mà còn chịu nộp đất cầu hoà, một mình ông Trực làm sao đánh được?” – Ông Tư nói. – “Vậy còn các anh ở đâu? Còn dân chúng ở đây nữa. Ai cũng căm thù lũ Tây dương cướp nước, sẵn sàng ủng hộ bất cứ ai dám dứng lên phất cờ khởi nghĩa chống giặc. Lẽ nào lòng dân như vậy các anh không biết hay sao?”. – “Khó lắm cô Điều ơi!” – Ông Miên nói – “Có lẽ vận số nước Nam mình tới hồi bĩ cực hay sao ấy! Mà nếu số trời định vậy thì làm sao cãi số được, hả cô?”. – “Tụi tui bây giờ chỉ lo bàn chuyện làm ăn nuôi vợ con, chớ việc quốc sự thì hãy để cho các bậc trí giả họ tính chớ mình tính sao nổi!” – Ông Búp nói. – “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”, nước nhà còn mất ngay đến những đứa không ra gì còn có trách nhiệm huống chi như các anh sức dài vai rộng lại ngoảnh mặt làm ngơ lo cho riêng mình. Mấy anh không thấy vậy là nỗi ô nhục hay sao?” – Cô Điều nói với giọng chua chát rồi thở dài: – “Đến phận đàn bà quần vận yếm mang như tụi tui thấy lũ giặc lộng hành như vậy còn chịu không nổi, trong khi các anh là phận “nam nhi chi chí hồ thỉ tang bồng”, lại nói chuyện quốc sự để cho người khác lo thì lạ thiệt! Còn những bậc trí giả mà anh nói đó thì họ lo bằng cách nộp thành giao đất cho lũ Tây dương rồi đó!”. Tự nãy giờ Trực lắng nghe câu chuyện trao đổi giữa cô Điều với mấy ông bạn của ông Ky, Trực thấy có thiện cảm với lối nói bộc trực thẳng thắn của cô Điều. Nhưng làm sao có thể tin ngay được người phụ nữ bỗng nhiên xuất hiện trong đêm tối, ngộ nhỡ như đây là người của bọn giặc ngoài Rạch Giá phái đi dò la tung tích hoạt động của nghĩa quân thì sao? Mãi đang suy nghĩ lan man, Trực bỗng giật mình khi cô Điều hỏi anh: – “Còn anh Hai Chơn, tự nãy giờ sao không thấy anh nói gì hết vậy?”. – “Tôi thấy mấy anh nói cũng hợp với ý nghĩ của tôi – Trực mỉm cười lúng túng đáp – Trong việc nộp thành giao đất cho giặc không biết triều đình có cao kiến gì hay không, làm sao phận con dân chúng ta hiểu được? Còn nếu như thiên cơ định sẵn vậy rồi thì... khó quá!”. – “Tưởng anh nói sao chớ nói vậy thì... chị em tôi uổng công lặn lội đêm tối đến đây quá!”. Cô Điều nói với cô Đỏ: – “Thôi chị em mình về, nói chuyện với mấy ông thái giám này... thì tức chết đi được!”. Nói rồi cô Điều xô ghế đứng dậy nói lớn: – “Chị Ba ơi! Tụi em về nghe! Chào hết mấy anh!”. Bà Thanh ở dưới nhà chạy lên: – “Ấy chết! Sao về ngay vậy? Ở lại ăn cháo gà cái đã!” – “Cám ơn chị Ba. Để lúc khác đi. Bây giờ ăn không vô nổi chị ơi!”. Cô Điều nói xong cùng cô Đỏ bước ra nhanh. Ngọn đuốc lại rực sáng trong đêm tối.


 


 


            Trong nhà, Trực hỏi ông Ky: – “Hai cô khi nãy là ai vậy anh Ky?”. – “Dạ, họ là con của ông điền chủ lớn họ Trương. Gia đình nội ngoại đều đỗ đạt ra làm quan, nhưng khi bọn Phú-lang-sa đến, họ từ quan không ai ra cộng tác với giặc hết. Hai chị em đều được học hành khá cả và lòng yêu nước thì như anh biết rồi đó” Ông Ky cười trả lời. – “Vậy mà tôi cứ tưởng họ đến đây để dò la tin tức gì... Hoá ra mình nghĩ oan cho người ta. Bây giờ có anh nào kêu họ trở lại đi. Những người như hai chị em cô đó sẽ giúp chúng ta nhiều việc lớn sau này đó!” – Trực vui vẻ nói. – “Để tôi chạy kêu họ cho!”. Ông Tư nói rồi vọt nhanh ra ngoài. Hai chị em cô Điều đã đi một quãng khá xa. Họ vừa đi vừa nói chuyện với nhau: – “Bữa nay hai chị em mình xui quá! – Cô Điều cười nói – Gặp toàn là hạng đàn ông nhát còn hơn thỏ đế, sợ giặc hơn sợ cọp thì còn đánh chác nỗi gì!”. – “Nhưng em thấy cái ông Hai Chơn đó không giống mấy ông kia. Chị không thấy tướng tinh của ổng mạnh lắm. Ổng có đôi mắt sáng kinh khủng nhìn ai cũng như hớp hồn người ta. Em nghi ổng là ông Trực mà ổng muốn giấu tông tích với chị em mình đó”. – “Ờ, mày nói cũng có lý... – Cô Điều nói – Nhưng tại sao lại phải giấu chị em mình?”. – “Họ giấu cũng phải vì không ai mời mà đêm hôm đi vô nhà người ta, sao mà dám tin!” – Cô Đỏ mỉm cười nói. – “Ờ hé, tao quên mất chuyện này. – Cô Điều cười xác nhận – Còn cái ông Hai Chơn đó trông đúng là bậc tu mi nam tử hiếm gặp trên đời”. – “Chà, coi bộ bà “chịu đèn” cái ông Hai Chơn đó rồi phải không?” – Cô Đỏ cười nói chọc cô Điều. – “Bề ngoài vậy là được rồi. Nhưng còn bên trong nữa chớ mậy! Thời buổi bây giờ lòng người khó dò lắm. Ai mà biết được?” – Cô Điều nói giọng vui vẻ. Vừa nói tới đó bỗng có tiếng chân chạy rồi tiếng người gọi lớn: – “Hai cô dừng lại. Cho tôi nói cái này đã!”. Cô Điều giơ ngọn đuốc lên cao. Thì ra là ông Tư. – “Các anh còn muốn nói chuyện gì nữa?” – Cô Điều nói có vẻ khó chịu. – “Hai cô bỏ qua những lời anh em tôi nói khi nãy đi. Bây giờ tôi vâng lịnh của ông... ông Trực, xin mời hai cô trở lại cho ổng nói chuyện”. – “Chị thấy chưa? – Cô Đỏ mỉm cười – Em nghi có sai đâu!” – “Hai cô đi lẹ quá. Tôi chạy theo mệt muốn chết!” – Ông Tư cười, mồ hôi rịn ra trên vầng trán nâu bóng.


            Và bây giờ, hai chị em cô Điều, cô Đỏ đang ngồi trước mặt Trực chăm chú nghe từng lời của người anh hùng mà họ hết sức ngưỡng mộ uy danh đã lâu. – “Giặc Phú-lang-sa ỷ có tàu to súng lớn sang xâm chiếm nước ta, gây không biết bao nhiêu tội ác với dân chúng, với đồng bào ta. Triều đình hèn nhát nộp đất giao thành để cầu hoà. Nhưng hoà sao được với lũ lòng lang dạ sói đó? Cho nên, tôi với anh em nghĩa quân cưỡng lịnh triều đình thề quyết không để cho giặc dày xéo non sông đất nước mình. Dẫu cho thân phơi nội cỏ, da ngựa bọc thây cũng không nao núng” – Ngừng một lúc Trực nhìn mọi người rồi tiếp – “Bao giờ những người anh hùng cũng xem thân mạng nhẹ tợ lông hồng, trận đánh sắp tới đây cũng như bao nhiêu trận đã qua, thành bại là do nhiệt tâm của những người yêu nước trước sự thử thách của định mệnh”. – “Anh Hai nói đúng – Ông Ky thêm vào – “Tận nhân lực tri thiên mệnh”. Làm hết sức mình đi rồi sẽ hiểu mệnh trời. Đằng này giặc đến không dám đánh, đi nộp đất giao thành rồi đổ cho mệnh trời để tránh tiếng cầu an phản quốc. Thiệt là nhục nhã!” – “Dạ, tôi xin hỏi anh Hai” – Cô Điều nói và nhìn Trực bằng đôi mắt e dè – “Tại sao giặc đang xây đồn Rạch Giá chưa xong, thừa lúc chúng còn phòng thủ chưa chặt, sao lại không đánh nó?”. Trực mỉm cười nhìn cô Điều: – “Tôi mới chơn ướt chơn ráo về đây còn lạ người lạ cảnh, dân tình chưa hiểu rõ, anh em nghĩa quân còn ít. Vả lại đánh đồn giặc kiên cố là chuyện xưa nay chưa từng làm đối với anh em nghĩa quân... Cho nên anh em phải tập luyện, rồi phải biết rõ đồn nó xây hình dạng ra sao, quân số võ khí thế nào, tuần tra phòng thủ nó có sơ hở những gì... Ta đánh vào chỗ hiểm yếu của nó thì nó có mạnh cũng hoá ra yếu, đến lúc đó nó muốn chống cũng không chống được. – Ngừng một lúc Trực nói tiếp – Đó là chưa kể đến đám lính mã tà. Lực lượng này không ít mà ta chưa hiểu nội tình của họ, nếu ta đánh đồn chánh, họ sẽ tiếp cứu bọn giặc ra sao?... Phải làm sao tách bọn lính này với bọn giặc Phú-lang-sa, nếu họ không theo được ta thì chí ít họ cũng làm ngơ không cứu viện quân giặc khi bị ta đánh. Đó là bài toán khó mà tôi chưa có lời giải, nay nêu ra để chúng ta bàn bạc coi như thế nào...”. Mọi người lặng im khi nghe Trực nói. Họ thấy ở người chỉ huy trẻ tuổi này có một bản lĩnh quân sự sâu sắc hiếm có. Một lúc sau, cô Điều nói: – “Thưa anh Hai, chị em tôi ra vô chợ Rạch Giá dễ hơn nam giới vì đàn bà bọn địch ít chú ý xét hỏi. Chị em tôi xin hứa với anh Hai là sẽ tìm mọi cách kéo bọn lính mã tà làm nội ứng cho mình khi ta tấn công đồn Rạch Giá”. – “Được như vậy thì còn gì bằng!” – Trực mỉm cười vui vẻ. Anh nhìn cô Đỏ hỏi: – “Cô Đỏ có nói gì thêm không?” – “Dạ thưa ...” – Cô Đỏ lúng túng nói – “Dạ thưa, chị Điều em đã hứa với anh Hai thì em sẽ cố hết mình thực hiện lời hứa đó để khỏi phụ lòng tin cậy của anh Hai...”. – “Không riêng gì tôi mà tất cả anh em ở đây nữa chớ!” – Trực cười nói tiếp: – “Sáng mai tôi phải trở về chỗ trú quân. Mọi việc ở đây tôi xin giao cho anh Ba Ky thay tôi lo liệu. Chúng ta chuẩn bị càng kỹ thì khi đánh càng chắc thắng. Xin mọi người nhớ cho là phải tuyệt đối giữ bí mật. Đừng quên rằng bọn giặc Tây dương rất quỷ quyệt nham hiểm, nó sẵn sàng tung vàng bạc ra để mua chuộc những kẻ hám lợi mãi quốc cầu vinh, mà bọn này tối mắt vì danh lợi thì không có tội ác nào nó không dám làm. Tôi chỉ nhắc anh em càng giữ bí mật, càng bất ngờ thì càng chắc thắng. Trước đây tôi đánh mấy trận mà giành được thắng lợi lớn là cũng nhờ hai yếu tố đó. Thôi bây giờ đã khuya rồi, ta tạm nghỉ được chớ? – À này, hai cô còn có điều gì nói nữa không?” – “Dạ thưa... không. – Cô Điều nói – Chị em tôi sẽ giữ liên lạc với anh Ba Ky”. – “Có cần ai đưa hai cô về không?” – Trực hỏi. – “Dạ, hai chị em tôi đến được thì về được, không sao đâu anh Hai. Đường sá vùng này chúng tôi quen thuộc hết mà! Xin cáo từ”. Cô Điều nói rồi cùng cô Đỏ cúi chào Trực với mọi người trong nhà rồi bước ra ngoài. Ngọn đuốc lại rực cháy lấp loáng trong đêm tối ở Tà Niên đưa hai người con gái dũng cảm đất Kiên Giang trở về nhà, nét mặt phấn khởi vì đã gặp được người anh hùng mà họ hết sức ngưỡng mộ, cũng như chính người anh hùng đó giao nhiệm vụ chuẩn bị cho trận đánh sắp tới…


            Sáng hôm sau, ông Ky tiễn ông Trực ra bến nước. Ông Trực dặn dò ông Ky: – “Việc đưa anh em về Tà Niên đóng quân luyện tập, anh phải có kế hoạch bảo đảm bí mật, tuyệt đối không để cho tên do thám nào của giặc lọt vô Tà Niên dò xét mà không bị trừng trị, cốt làm cho địch mắt mù, tai điếc không rõ hoạt động của ta. Anh nhớ nghe!” – “Dạ anh Hai yên tâm. Mọi việc sẽ thực hiện theo lịnh của anh Hai, bảo đảm không có sơ suất”. Ông Ky nói chắc chắn. – “Vậy thì tốt rồi. Tôi thu xếp xong sẽ đưa anh em sang đây ngay. Tạm biệt!”. Trực nắm chặt lấy vai ông Ky lắc mạnh rồi bước xuống tam bản đã có chú bé Tâm chờ sẵn ở đó. Ông Ky đứng nhìn theo đến khi chiếc tam bản khuất sau doi rạch đầy những bụi dừa nước che phủ mới trở vô nhà nét mặt đầy phấn khởi, tin tưởng.


 


 


            Chiếc tam bản chở Trực về đến Sân Chim.


            Thấy chủ tướng về, anh em reo hò “Anh Hai về” rồi chạy ra đón. Trực bước lên bờ và anh hết sức mừng rỡ khi thấy trong số anh em ra đón có cả Hai Nhường, Tư Hội và một số nghĩa quân cũ từng cùng anh đánh giặc ở Tân An – Thủ Thừa. Trực ôm Hai Nhường và Tư Hội lắc mạnh nét mặt hết sức xúc động: – “Bao năm xa cách nay được gặp lại mấy anh tôi mừng quá. Mấy anh tới đây hồi nào?”. Cả Hai Nhường và Tư Hội đều cảm động rơm rớm nước mắt. Hai Nhường nói: – “Từ lúc anh ra Bình Thuận, tụi tui theo mấy ổng đánh giặc cực khổ trăm bề... Rồi triều đình nộp đất giao thành, tụi tui bơ vơ chưa biết tính sao... thì được tin anh về dưới này, tụi tui mừng quá đi luôn về đây tìm anh... Vậy là “châu về Hợp Phố” từ nay anh em mình sống chết có nhau rồi!”. Tư Hội cũng nói giọng hết sức xúc động: – “Tụi tui biết anh không bao giờ chịu để bọn giặc hoành hành trên đất này nên bàn với nhau dù anh có ở góc biển chân trời nào cũng phải tìm anh cho bằng được để cùng anh đánh giặc. Mấy hôm nay chờ anh về bụng như có lửa đốt anh Hai à!”. – “Mấy anh về đây là đúng lúc quá rồi. Tôi có bao nhiêu chuyện bàn với mấy anh về công việc sắp tới”. Cả Nghĩa và con Út cũng chạy ra đón Trực. Trực hỏi: – “Má có đỡ chưa Nghĩa?” – “Dạ, cũng khá nhiều rồi. Má cứ đòi về nhưng ông Thuyên không cho, biểu má cứ ở bên chùa tịnh dưỡng cho khỏe hẳn mới được – Nghĩa nói giọng vui vẻ – Má cũng nói với em, thôi thì má ở lại chùa, còn em nên về dưới này phụ giúp anh, thỉnh thoảng lên thăm má cũng được”. – “Vậy là tốt rồi”. – Trực có vẻ phấn khởi trước sự chữa bệnh có kết quả của Bà Hai – “Thôi ta vô nhà đi, chuyện vãn sau”. Tất cả đi vào nhà.


 


 


            Một buổi sáng đẹp trời.


            Hai Nhường chéo tam bản chở Trực đi chài trên con rạch nhỏ thông ra sông Cái Lớn. Dưới ánh nắng ban mai, Trực cởi trần nhún chân quăng chài bung ra thành một vòng tròn rộng chụp xuống nước con rạch. Hai tay gân guốc của Trực từ từ kéo chài lên. Một số cá chép, tôm càng giẫy giụa trong mắt lưới chài khiến Hai Nhường kêu lên ngạc nhiên mừng rỡ:– “Ối, ở đây cá tôm nhiều quá, đâu có kém gì Đồng Tháp Mười hả anh Hai?”.– “Miệt dưới này cá chẽm với tôm càng nhiều lắm”. – Trực vừa gỡ những con cá tôm vướng trong lưới chài vừa cười nói – “Có hôm vung một lưới chài đếm được hơn ba chục con tôm càng xanh đó! Còn đi đặt trúm, đặt nò, lươn lớn bằng bắp tay gặp luôn”. – “Xứ sở mình giàu của cải thiên nhiên đến vậy, mà để cho giặc chiếm thì đúng là có tội với người xưa đã tốn bao nhiêu mồ hôi xương máu mới gầy dựng nên, vậy mà… – Hai Nhường lắc đầu ngao ngán – Không tốn phát súng, viên đạn nào mà lũ Tây dương vẫn được ông Kinh lược sứ họ Phan giao hết cả ba tỉnh miền Tây cho chúng cai trị, bóc lột dân mình. Càng nghĩ càng tức chết được, anh Hai!”. – “Cho nên chúng ta còn sống ngày nào quyết không để bọn Phú-lang-sa xâm lược đất nước ta, bắt dân ta làm nô lệ cho chúng. – Trực ném con cá chẽm cuối cùng vào lòng tam bản, đứng lên vo chài để vung lần nữa – Chúng phải trả giá bằng chính mạng sống của chúng ngay trên mảnh đất Nam Kỳ này!”. Trực lại nhún mình vung chài. Mỗi đi chài trên sông kiếm cá về ăn, tiếp xúc với những cơn gió mạnh trên dòng sông hay kênh rạch, Trực đều cảm thấy mình hết sức gắn bó với quê hương nhiều sông nước hiền hoà và thơ mộng, quê hương mà lớp người đi trước chịu đựng biết bao gian khổ, hy sinh xương máu mới tạo dựng nên.


 


 


            Bây giờ chiếc tam bản buộc bên nhánh bần sà dọc ven sông.


            Hai Nhường và Trực nghỉ tay uống nước trong cái ấm đất mang theo. Trực nhìn Hai Nhường: – “Anh kể cho nghe, sau khi tôi ra Bình Thuận, anh với anh em ở lại đã làm gì để sống và chống lại bọn cướp nước đó?” – “Gian nan lắm anh Hai à. – Hai Nhường cười buồn – Tụi tui, sau khi anh đi, kéo nhau vô Đồng Tháp Mười đi theo ông Đốc binh Kiều…”.


            Sau đây là câu chuyện kể của Hai Nhường:


            Một buổi sáng. Bọn giặc dồn dân ở vùng Thiên Hộ lại bắt đào đất đắp phòng tuyến và đội gạch đá, cột nhà, rui mè cất đồn. Trong số dân phu bị giặc bắt làm công việc xây đồn đó có cả các nghĩa quân, và bản thân Hai Nhường cũng lẫn vào trong số đó, trực tiếp dọ thám tình hình. Những tên ma ní cầm súng gác vòng ngoài, còn bọn mã tà cầm roi đôn đốc dân phu vòng trong. Chỉ huy cuộc xây đồn là một tên sĩ quan Pháp mang quân hàm thiếu úy, có một tên lính thông ngôn người Việt và vài ba tên Việt gian khác vốn là hào lý của triều đình, nay quay ra theo giặc, sẵn sàng đàn áp dân mình. Đồn dự định xây gần ngã ba sông. Với vị trí này địch có thể kiểm soát một vùng rộng lớn phía Tân An, Định Tường vào Đồng Tháp Mười, đồng thời cũng bảo vệ cho các thị trấn của hai tỉnh trên chống lại các cuộc tấn công của nghĩa quân… Tên thiếu úy nói với một viên chức đứng gần hắn trạc ngoài năm mươi tuổi, áo dài khăn đóng đàng hoàng (qua phiên dịch): – “Ta đi qua nhiều xứ sở ở châu Phi, nhưng chưa thấy nơi nào có thể so sánh với nơi này được. Thời tiết ấm áp, tôm cá đầy đồng, đúng đây là thiên đàng hạ giới. Sau này phát triển, lúa gạo ở Đồng Tháp Mười này thừa nuôi cả nước Việt mà còn có thể xuất khẩu ra nước ngoài nữa”. – “Dạ, quan lớn nói đúng quá! – tên hương chức cười nịnh – Ở đâu dân có chết đói hay không thì tôi không biết, chớ ở đây chưa bao giờ nghe dân chết đói cả”. – “Nhưng dân Việt còn lạc hậu lắm” – tên thiếu úy móc thuốc lá ra tra vào dọc tẩu, bật que diêm đốt, hút một hơi, nhả đụn khói trắng, nói tiếp – “Người Phú-lang-sa đến đây là để giúp khai hoá văn minh cho người Việt hầu theo kịp sự phát triển các nước chung quanh. Thiện ý ấy của người Phú-lang-sa đã bị hiểu lầm, cho rằng họ đến là để xâm lược nên một số tên phiến loạn đã tổ chức trận đánh gọi là chống xâm lược. Thật là một sự ngu xuẩn. Quân triều đình nước Việt còn chống không nổi, huống chi bọn phiến loạn thì làm nên trò trống gì, chỉ đổ máu vô ích! Ta nói vậy có phải không?”. – “Dạ, quan lớn nói chí phải!” – Gã hương chức híp mắt cười nịnh nhìn tên thiếu úy nói sau khi nghe phiên dịch.


            Tất cả cuộc nói chuyện với tên thiếu úy với lão hương chức đều được Hai Nhường nghe hết, vì anh đang xúc đất gần đó. Anh phải hết sức kềm giữ cơn thịnh nộ nổi lên trước cử chỉ xu nịnh của tên Việt gian khăn đóng áo dài đứng bên cạnh tên thiếu úy Pháp. “Được rồi. Mày sang đây để khai hoá dân tộc Việt chớ không phải là quân xâm lược? Dân Việt tao đâu có cần mày đến khai hoá bằng cướp của đốt nhà, giết người, hãm hiếp đàn bà con gái? Mày sẽ phải trả giá như bao thằng Phú-lang-sa khác thôi”.


            Những ý nghĩ trong đầu Nhường khiến anh quên mất công việc đang làm, đến khi chiếc roi của tên cai nào đó vụt vào lưng anh với tiếng quát: “Không đào đất còn đứng làm gì đó?” thì Nhường mới trở lại thực tế: anh đang là dân phu địch bắt đào đất đấp phòng tuyến, xây đồn. Công việc xây đồn có vẻ khẩn trương, tất bật và những cảnh đánh đập dân phu làm đồn vẫn xảy ra như những nơi xây đồn khác. Có khác chăng là trong việc xây đồn Thiên hộ này có cả nghĩa quân lẫn vào đám dân phu để nắm tình hình địch, có kế hoạch tiêu diệt chúng.


 


 


            Trở lại sông Cái Lớn.


            Những giề lục bình trôi theo dòng nước. Mùa này các sông rạch ở miền Tây có rất nhiều lục bình. Hai Nhường mỉm cười vui vẻ nói tiếp:


            – “Sau những vụ bị bắt làm phu xây đồn, khi nắm được tình hình, tôi bàn với ông Đốc binh Kiều cho anh em rút ra chuẩn bị tấn công tiêu diệt địch. Riêng cái thằng hương chức mặc khăn đóng áo dài xun xoe xu nịnh thằng thiếu úy Phú-lang-sa, tôi cho đi điều tra thì biết nó trước đây làm xã trưởng, do cờ bạc thâm thụt ngân quỹ bị quan trấn thủ Định Tường bắt phạt tù ba năm. Lúc bọn Phú-lang-sa chiếm Định Tường hắn mới được thả ra và nhanh chóng bám theo giặc để kiếm quyền thế. Giặc đã phong cho lão chức cai tổng để lão hăng hái đốc thúc làm đồn ở Thiên Hộ mở rộng phạm vi cai trị của giặc… Nắm rõ vấn đề trước khi tiêu diệt đồn Thiên Hộ, tôi được Đốc binh Kiều cho phép tiêu diệt tên Việt gian này trước…”.


            Đêm tối mịt mùng ở một vùng quê.


            Trong một gian nhà, dưới ngọn đèn dầu, tên cai tổng Trương đang tiếp một điền chủ đến nhà hắn giải quyết vụ lỡ tay đánh chết đầy tớ trong nhà. Ánh đèn dầu soi khuôn mặt tên điền chủ lộ vẻ lo lắng khi trình bày với viên cai tổng: – “Thưa ông cai, tôi đâu có ý định giết nó, chỉ vì lúc nóng giận tôi cầm cây roi tầm vông lỡ đánh trúng ót của nó, bể phần sọ phía sau…”. – “Ta biết. Nhưng xã đã báo cáo lên là ta phải xử lý chớ đâu có làm ngơ được” – Lão cai tổng cười nhạt. – “Đêm nay tôi lên đây là… – tên điền chủ gãi gãi đầu – trăm sự nhờ ông cai thương cho. Tôi không bao giờ quên ơn ông. Xin ông cai cầm tạm chút đỉnh trước, sau này còn hậu tạ thêm”. Hắn móc ra một túi nhỏ có mấy nén vàng. Hai tay đưa cho tên cai tổng. Thấy vàng, hắn tít mắt, nhưng còn muốn đòi thêm: – “Bao nhiêu đây?” – “Dạ năm lượng” – tên điền chủ nói khẽ. – “Mạng người mà chỉ có năm lượng thôi à?” – lão cai tổng giả vờ quát. – “Dạ thưa, dạ thưa… – tên điền chủ sợ hãi lắp bắp nói – Đây là món quà đầu tiên. Sau sẽ còn hơn…”. – “Hơn là bao nhiêu?” Lão cai tổng cau mày hỏi. – “Dạ, còn một chục nữa” – tên điền chủ nhỏ nhẹ nói. – “Vậy cũng tạm được – lão cai tổng nói – Nhà ngươi chắc cũng biết ta đâu có ăn một mình được, còn người trên kẻ dưới nữa chớ. Không bịt miệng nó la ẩu thì chết!”. Tất cả đều không qua khỏi cặp mắt của Hai Nhường cùng một nghĩa quân đi theo núp sau tấm vách. Tên điền chủ đứng dậy chắp tay cáo từ: – “Xin phép ông cai tôi về, để ông cai còn nghỉ sớm”. – “Nhớ nộp đủ thì án này mới xoá được. Nhớ chưa?” Lão cai tổng nhắc nhở. Tên điền chủ lui ra ngoài.


            Đã đến lúc hành động. Hai Nhường bước tới gõ cửa. Tưởng tên điền chủ trở lại trình báo điều gì, lão cai tổng Trương nói có vẻ cáu gắt: – “Còn chuyện gì nữa đó? Vô đi!”. Khi Hai Nhường đẩy cửa bước vào, lão cai tổng ngẩng lên nhìn. Lão hoảng hốt khi nhìn thấy lưỡi gươm trong tay Hai Nhường. Lão vội nhảy khỏi ghế la lớn: – “Bớ người ta! Cướp! Cướp!” nhưng tiếng kêu của lão đã tắt đột ngột khi lưỡi gươm của Hai Nhường đâm vào lưng khiến hắn ngã vật ra. Túi đựng năm lượng vàng văng ra ngoài. Anh nghĩa quân đi theo Hai Nhường cúi xuống lượm rồi hai thầy trò lách mình ra biến nhanh vào đêm tối, trước khi có ánh đuốc của bọn tuần tra nghe tiếng kêu chạy tới…


            Hai Nhường mỉm cười kể tiếp: – “Tôi về báo cáo lại với ông Đốc binh, nộp số vàng lấy được của tên cai tổng cho ổng sung vào quỹ quân lương… Một thời gian sau đó anh em chúng tôi phối hợp với quân ông Đốc binh đánh sập đồn Thiên Hộ rồi rút sâu vào Đồng Tháp… Cho đến ngày được tin anh Hai về trong này, tôi liên lạc Tư Hội và số anh em mình ngày trước, xuống đây tìm anh… Chỉ có một kỷ niệm đáng nhớ là cái thằng thiếu úy Phú-lang-sa hôm anh em đánh đồn Thiên Hộ, nó thoát chạy ra sau nhảy xuống sông định bơi qua bên kia bờ, tôi trông thấy nên vội nhào theo ôm vật lộn nó một lúc rồi trấn nước cho nó khai hoá tôm cá Đồng Tháp Mười”. Hai Nhường mỉm cười kết thúc câu chuyện. – “À, Trực nhìn Hai Nhường – Còn cậu Hòa hồi đánh ở Thủ Thừa bị thương đó, giờ sao rồi?”. – “Anh Hai hỏi tui mới nhớ. Hòa bị thương coi như đi lại khó khăn, được ông Bảy Vẹn gả Út Hiền cho. Họ có một con trai kháu khỉnh lắm. Hôm bọn tôi đánh đồn Thiên Hộ, vợ chồng Hòa có mang thuốc men, bánh trái ủy lạo anh em”. – “Vậy là tốt rồi – Trực mỉm cười – Nếu không bị thương như vậy chắc là Hòa theo anh xuống đây rồi phải không?”. – “Đúng vậy – Nhường mỉm cười xác nhận – Tiếc cho cậu ấy bị thương sớm quá!”.


 


 


            Cai Tèo cùng một người lính vào quán nhậu ở ngoại ô thị xã Rạch Giá. Cô chủ quán còn trẻ mặt chữ điền không đẹp nhưng có duyên, vui vẻ mời chào: – “Hai thầy dùng chi?” – “Cho tôi một lít đế với dĩa tôm khô củ kiệu” – Tèo nói. – “Dạ có ngay”. Cô chủ quán nhanh nhẹn đi vô lấy bình rượu và dĩa tôm khô với chén đũa ly sành dọn trên bàn chỗ Tèo ngồi, cười nói: – “Quán em còn có khô cá đuối, cá thiều hai thầy có dùng cứ gọi nghe”. – “Sao cô chủ cứ kêu bọn này là “thầy” hoài vậy? Thầy bà gì ở đây!”. Anh lính cùng đi với Tèo nói vui. – “Dạ nếu không kêu là thầy thì kêu là gì em chưa biết?” – Cô chủ quán mỉm cười liếc anh lính. – “Kêu là anh cho nó thân mật. Đây là... – Anh lính chỉ Tèo – anh Hai Tèo. Còn tôi là Sáu Nhỏ. Nhớ chưa?”. – “Dạ, em nhớ rồi” – Cô chủ quán cười. – “Nói vậy chớ mai quên mất tụi này cho coi!” – Anh lính nói. – “Dạ nhớ chớ. Ở thị xã này chỉ có vài chục anh đi lính mã tà thì làm sao không nhớ?” Cô chủ quán nói rồi cười rất tươi. – “Nè nè, bậu nói trật rồi. Tụi qua hiện có trên trăm rồi đó. Nay mai còn mộ thêm vài trăm nữa... đến lúc ấy làm sao bậu nhớ được?”. – “Gì dữ vậy? Cái thị xã chỉ bằng cái lỗ mũi như Rạch Giá này mà mộ thêm vài trăm lính để làm gì?” Cô chủ quán vẫn với giọng đùa cợt anh lính. – “Đúng là đàn bà như bậu chỉ biết bán rượu nhậu chớ không biết trời trăng gì. Nè, qua nói cho mà biết, mấy ông quan ở đây nói ông Thành thủ úy Nguyễn Trung Trực đã kéo quân về miệt này rồi, mà ông này mấy năm trước đã đốt tàu Phú-lang-sa ở vàm Nhựt Tảo danh tiếng lẫy lừng lắm đó. Chỉ nghe hơi hám ổng kéo quân về đây, mấy ông quan đã tính chuyện mộ thêm lính mã tà để phòng thủ Rạch Giá cho chắc ăn đó nghe!”. Anh lính nói có vẻ quan trọng khiến cô chủ quán bật cười: – “Thêm mấy trăm nữa cũng vẫn nhớ anh Hai mà. Em nói thiệt đó!”. – “Thôi nhậu đi mầy! ­– Tèo sốt ruột giục – Xưa nay ông bà nói khách nhớ nhà hàng chớ nhà hàng đâu có nhớ khách. Mầy yên chí đi, mầy có nhớ cổ thì nhớ chớ cổ đâu thèm nhớ mầy! Nào cụng một cái đi!”. Tèo rót đầy hai ly đưa cho anh lính. Cả hai uống cạn một hơi, rồi Sáu Nhỏ – tên anh lính – “Khà” một cái, khen: – “Chà, rượu này “chơi” được quá chớ!”, nhai mấy con tôm khô, họ lại cụng ly với nhau. Xem ra tửu lượng cả hai đều khá, thuộc loại “cao thủ võ lâm” vùng biển. Bầu rượu đã vơi đi một nửa. Họ gọi chủ quán đưa dĩa khô cá đuối. Vừa lúc đó, có một anh lính còn trẻ ló đầu vào. – “Trời ơi! Hai anh nhậu ở đây báo hại em chạy đi tìm muốn chết!” – “Có chuyện gì vậy?” – Tèo hỏi. – “Dạ, ông quản biểu em đi kiếm anh Sáu Nhỏ về gặp ổng ngay đó”. – “Kệ! Vô đây làm một ly đi mầy”. Sáu Nhỏ nói. – “Úy, em không dám đâu!” – Anh lính trẻ lắc đầu. – “Nè, mầy không uống thì tao không về!” – Sáu Nhỏ nói. – “Trời ơi! Mấy anh hại em. Về mà mặt đỏ ông quản phạt em chết!” – Anh lính trẻ nói. – “Có gì tao chịu cho. Uống đi!” Sáu Nhỏ đưa ly rượu cho anh lính. Biết không thể nào từ chối anh lính trẻ đành cầm ly uống một ngụm rồi nhăn mặt trả lại: – “Anh uống hết giùm em đi. Cay quá!”. – “Bữa nay tao tha cho mầy. Chớ lần tới là không được nghe mậy! – Sáu Nhỏ nói – Đời lính mà không biết uống rượu, coi như chưa phải lính! Thôi về!”. Sáu Nhỏ ngửa cổ ra tu một hơi rồi nói với Tèo: – “Anh ở lại về sau nghe!”, Sáu Nhỏ với anh lính trẻ bước ra ngoài.


            Trong quán chỉ còn lại mình Tèo. Anh ta rót rượu uống một mình. Chợt ở bên ngoài có tiếng quát lớn: – “Đi mau!”. Tiếp theo có nhiều tiếng chân người chộn rộn ngoài đường. Cô chủ quán lo lắng nhìn ra. Cả Tèo cũng để ly rượu xuống nhìn coi có chuyện gì xảy ra. Bên ngoài có bốn người bị trói thúc ké, cổ bị quàng vào nhau bằng sợi dây thừng đang lê gót giữa mấy tên lính Pháp, ma ní xách súng áp giải. Đi sau cùng là một sĩ quan Pháp râu tóc đều vàng như râu bắp. Đó là viên tỉnh trưởng đầu tiên của Rạch Giá mà dân chúng gọi là tên Chánh Phèn (vì màu râu tóc nó cũng giống như màu phèn ngoài ruộng). Theo sau nữa còn có đám người lớn lẫn trẻ con tò mò coi những người bị bắt giải đi đâu. Tèo sa sầm nét mặt khi nhìn thấy cảnh tượng ấy. Cô chủ quán nhìn theo đến lúc đám người đó rẽ qua góc phố mới quay vào, nét mặt cô buồn rười rượi. Cô hỏi Tèo: – “Mấy người đó tội gì mà bị bắt giải đi thấy ghê quá vậy anh?” – “Tôi cũng không biết như cô – Tèo lắc đầu – Thời buổi nhiễu nhương này bọn Phú-lang-sa có coi mạng người dân Nam ra gì đâu cô?”. – “Em xin vô phép hỏi anh Hai nghe. Anh quê ở đâu mà em thấy hình như anh có tâm sự gì nên anh buồn vậy?” – Cô chủ quán hỏi. – “Tôi ở Hòn Chông. Mấy năm trước tôi lưu lạc lên Sài Gòn Gia Định làm ăn, rồi bị bắt lính, đến khi về thăm quê thì tía tôi, em gái tôi đã chết trong trận bọn Tây dương đánh vô Hòn Chông mấy tháng trước. Tôi chỉ còn bà mẹ già... Hoàn cảnh vậy tôi không buồn sao được cô!”. – “Tội nghiệp anh Hai quá. Cho em gởi lời chia buồn với anh... Mà thôi, chuyện đã qua rồi, anh buồn hoài cũng có giải quyết được gì đâu – Cô chủ quán nói”. – “Cám ơn lời khuyên của cô. Còn chuyện buồn của tôi thì tôi sẽ tìm cách giải quyết, rồi có ra sao thì ra”. Tèo uống hết ly rượu rồi hỏi: – “Bao nhiêu đây cô?”. – “Dạ, chỉ chút ít có đáng gì... Bữa nào anh ra uống nữa em sẽ tính”. – “Cám ơn cô. Chào cô”. Tèo đi ra nhưng dáng đi không vững. Cô chủ quán nhìn theo mỉm cười, hình như cô có gì vui trong lòng.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012.


www.trieuxuan.info


           

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 28.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
xem thêm »