tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28887521
Tiểu thuyết
17.05.2013
Nguyễn Đình Chính
Đêm thánh nhân

Trưa hôm đó vào lúc quá ngọ gã chủ khách sạn mặt như cái thớt sau khi chén một tô mì vằn thắn đang ngồi soi gương to tẩn mẩn nặn mụn trứng cá thì thấy Hà dắt anh Phơn xuống trả buồng. Nom bộ điệu cả hai thoả mãn ra mặt. Nhất là cô gái mắt cô cứ sáng rực lên hăm hở rất lạ nom chẳng giống cặp mắt các cô gái sau khi đã no nê tình dục.Sớm nay khi Hà dắt anh Phơn vào đây thuê phòng nhìn bộ điệu Hà gã chủ khách sạn đã đoán là cô gái mới vồ được khách ở ga đưa vội về đây để tàu nhanh. Nhất là khi Hà hỏi mua mấy bao cao su Ôkê thì gã càng chắc mẩm như vậy. Nhìn theo đôi mông tròn mẩy của cô gái đánh qua đánh lại đầy vẻ điệu nghệ đi cạnh anh chàng đồng rừng áo chàm thật thà lực lưỡng gã chủ khách sạn tặc lưỡi không giấu chút ghen tị:  Con bé trúng quả đậm rồi.Con dê rừng ngơ ngác ham gái kia mà đã lùa được lên bàn mổ rồi làm thịt thì đã phải biết.


 


8


 


   Kể từ hôm Hà bỏ lên biên giới thấm thoát đã được gần một tháng mà vẫn chưa có thư về.


  Mùa Đông mưa phùn gió bấc vãn đang chầm chậm trôi qua. Cô Thương Ơi bận tối mắt tối mũi vì phải nai lưng ra nuôi thêm ba miệng ăn nữa suốt ngày cô lồng lên lùng sục khắp thị xã như con chó đánh hơi tìm miếng mồi gì đó. Đấy là chưa kể cứ một tuần hai lần cô lại đạp xe lên bệnh viện tâm thần cách thị trấn gần chục cây số để bón cơm rửa ráy tiếp tế cho bà mẹ điên của Hà.


   Ba đứa em của cô Hà đứa bé nhất sáu tuổi đứa thứ hai tám tuổi và đứa lớn nhất tên là Hạnh gầy quắt như trẻ lên chín lên mười. Hai đứa bé chưa biết gì. Nhưng cái Hạnh thì khôn lắm và rất chăm làm. Mấy hôm đầu nó còn lạ chỗ lạ việc nhưng chỉ mươi hôm sau nó đã thay chị Thương Ơi ngồi bán quán và phụ giúp đủ mọi việc nội trợ trong nhà. Chỉ phải tội là cả ba đứa đều mù chữ chưa bao giờ được đến trường học.


   Chỉ có bác sĩ Trương Vĩnh Cần là không làm gì. Hình như chứng bệnh tâm thần phân lập thể nhẹ của ông lại đang chầm chậm tái phát. Hai hốc mắt ông nhức nhối đỉnh đầu đau buốt. Và khổ nhất là thỉnh thoảng đột nhiên ông lại mất trí nhớ cũng chảng còn biết mình là ai nữa.


  Một buổi tối đợi lũ trẻ ngủ say cô Thương Ơi kéo ghế tới ngồi cạnh bác sĩ Cần. Cô đã quen nói rồi nên không bị nói lắp nữa. Cô bảo:


  - Bác ạ em đã tìm được mối buôn cá ngựa rắn bể rồi. Hai thứ này bây giờ trúng lắm.


  Bác sĩ Cần đờ mắt ừ ào. Cô Thương Ơi nói thêm:


  - Bây giờ nhà ta năm miệng ăn. Nếu cứ chỉ trông vào quán nước thì chẳng mấy bữa ăn cả vào vốn cũng không đủ. Em đã tính kỹ lắm rồi.


   Bác sĩ Cần vẫn chỉ đờ mắt ừ ào.


  Thế là cô Thương Ơi bắt đầu đi buôn cá ngựa rắn bể. Một tuần ba buổi cô dậy từ tờ mờ buộc hai cái sọt sau xe đạp rồi phóng thẳng một mạch hơn ba mươi cây số về một chợ cá nổi tiếng ở gần biển. Oái oăm thay đó lại là cái chợ mà hai chục năm trước người mẹ dại dột tội nghiệp của cô vẫn đi đi về về mua rắn bể ngựa bể đem về tán thành viên tễ cho bố cô uống chữa bệnh. Cá bể ngựa bể mua về cô Thương Ơi đem bỏ mối cho các khách sạn nhà hàng đua nhau mọc lên như nấm trong thị xã để họ chế biến thành những món đặc biệt bổ âm tráng dương. Công việt tất bật mù mịt dầu dãi gió mưa từ sáng tinh mơ tới tận nửa đêm đã làm cho nước da trứng gà bóc của cô sạm đen. Mái tóc mềm mại óng ả nay xơ xác như tổ quạ. Thân thể con gái mượt mà của cô gái teo tóp lại cứng queo chỉ duy nhất có đôi mắt là vẫn cứ trong vắt như mắt thiên sứ. Đôi mắt như có phép lạ bỏ rơi gió mưa và bao nỗi tất bật vất vả cả ngày.


  Thỉnh thoảng có những đêm giật mình thức giấc giữa chừng cô Thương Ơi lại chạnh lòng bồn chồn nghĩ tới cô Hà đang biệt tăm tích. Nhưng chỉ lo nghĩ vậy thôi chứ làm gì được. Chưa một tờ báo công an nào đăng lệnh truy nã một bệnh nhân Sida trốn trại. Nghĩ nhiều quá trăn trở nhiều quá cô Thương Ơi lại vùng dậy chui đầu vào cái màn to tướng mắc giữa nhà tìm xem có con muỗi nào đang rình đốt ba đứa trẻ. Những lúc đó nếu bác sĩ Cần không ngủ chắc là ông sẽ nghe thấy những tiếng thở dài u buồn của cô gái và ông sẽ ngửi thấy mùi quế rất thơm đang bay khắp nhà.


  Một buổi chiều thứ bẩy thị trấn nhộn nhạo như vỡ tổ mối. Cô Thương Ơi đạp xe chở hai sọt rắn bể tới bỏ mối nhà hàng Hoa Hồng. Đúng hôm đó ông Việt Kiều Rôbe Bảo Quýt đang đập phá với tay phó phòng quản lý nhà đất của thị trấn ở lầu hai. Bia con Hổ đổ vào bụng nhiều quá Rôbe Bảo Quýt mót đái. Ông loạng choạng mò vào toa-lét để xả. Tình cờ Rôbe Bảo Quýt trông thấy cô Thương Ơi đang khệ nệ khênh sọt rắn bể vào bếp. Ông Việt Kiều yêu nước nhận ra ngay con mồi mà ông đã vồ hụt hôm nào cái eo lưng thon thả đẫm mồ hôi và đường cong của đôi mông cô gái nom thánh thiện đến nỗi Rôbe Bảo Quýt đờ cả người đái vãi cả ra ống quần. Nghĩ chậm làm nhanh Rôbe Bảo Quýt bèn lao xuống lầu một. Đúng lúc cô Thương Ơi quay trở ra. Mặt đối mặt. Cái hành lang nhà hàng quá hẹp Rôbe Bảo Quýt hộc lên như con chó đực khi mũi gã bất chợt hít được cái mùi quế tinh khiết từ thân thể trinh bạch của cô thiếu nữ. Thế là quên phắt ông phó phòng quản lý nhà đất và hai em xẹc-vơ váy đỏ đang lả lướt nhõng nhẽo ở trên lầu hai Rôbe Bảo Quýt vồ ngay lấy ông chủ nhà hàng quần soóc lửng sặc sỡ.


  - Có thể… hụi cái em bán rắn kia được không?


  Ông chủ nhà hàng nhăn nhở:


  - Muốn cái gì mà chẳng được. Tiền!


  Rôbe Bảo Quýt nghiêm trang:


  - Lo trọn gói nhé.


  Ông chủ nhà hàng cười:


  - Gái nhà lành. Tốn đấy.


  Rôbe Bảo Quýt vẫn nghiêm trang:


  - Không thành vấn đề. Nếu đúng thực gái nhà lành bao nhiêu cũng chi.


  Ông chủ nhà hàng cười sằng sặc:                                                                                      


  - Xong phắt.


  Rôbe Bảo Quýt không nói gì. Mắt gã hau háu như muốn cắm ngập vào cái lưng thon nhỏ của cô gái.


  Chiều thứ ba cô Thương Ơi lại chở hai sọt rắn bể tới. Ông chủ quán quát một anh bồi vác giỏ rắn vào bếp rồi vẫy cô Thương Ơi tới bên quầy. Ông thản nhiên nói:


  - Có một ông mập Việt kiều cứ hỏi em mãi. Có thích phết phẩy chút ít không?


  Mặt cô Thương Ơi đỏ tía lên vì ngượng. Ông chủ nhà hàng vẫn thản nhiên:


  - Ôi dào cắt tiết bỏ mẹ nó đi em bé ạ. Làm ngàn đỏ ngon ơ.


  Cô Thương Ơi không nói gì lẳng lặng ra khỏi nhà hàng. Ba ngày hôm sau vào khoảng 10 giờ cô Thương Ơi đang ngồi trong nhà lúi húi cộng cộng trừ trừ tính lỗ tính lãi thì một chiếc ô tô Toyota màu mận chín đỗ xịch trước cửa. Lúc đó bác sĩ Cần đi đâu vắng. Rôbe Bảo Quýt hăm hở bước vào với điệu bộ vô cùng xúc động. Gã kêu lên:


  - Cháu tên là Thương Ơi có phải không ?


    Cô Thương Ơi ngơ ngác gật đầu.


    Rôbe Quýt lại hỏi:


   - Mẹ cháu tên là Thìn chứ gì ?


    Cô Thương lùi ngay lại.


    Rôbe Quýt hấp tấp:


   - Cháu có thư có quà của mẹ cháu ở Canada gửi về.


    Không để cho cô gái kịp thở Rôbe Bảo Quýt đặt luôn một cái phong bì xuống bàn.


   - Mẹ cháu gửi cho cháu 50 đô-la Hồng Công. Còn thư và quà tôi để khách sạn. Chiều nay... à chiều nay tôi bận họp trên uỷ ban. Tối nay bảy giờ rưỡi mời cháu tới chỗ tôi nhận quà. Phòng hai lẻ ba lầu hai hô-teo Ánh Dương cái cạc của hô-teo Ánh Dương đây. Thôi chào nhé tôi phải đi công chuyện ngay. Gớm hỏi mãi mới tìm được nhà. Ơ ! Mà cái


nhà này hình như không có số nhà.


   Robe Bảo Quýt quay ngoắt ra leo tót lên ôtô vù đi luôn bỏ lại cô gái đang ngớ ra ú ớ như vừa câm trở lại.


   Tối hôm đó cô Thương Ơi tìm đến khách sạn Ánh Dương. Từ hồi bỏ mối rắn bể cô gái chẳng còn lạ lẫm ra vào những chốn này cô hỏi ông khách đang ở phòng hai lẻ ba rồi ngồi đợi ở phòng tiếp tân. Một lúc sau anh bồi tới tận nới ghé vào tai cô:


   - Ông Rôbe bị cảm. Ông mời cô lên tiếp ở trên phòng.


   Cô Thương Ơi thoáng ngần ngại nhưng rồi cô cứ theo anh bồi lên. Phòng hai lẻ ba ở cuối hành lang đã mở sẵn cửa. Anh bồi đưa cô vào tận phòng mời cô ngồi rồi quay ra ý nhị khép cửa lại. Rôbe Bảo Quýt đang xối nước ào ào ở trong toa-lét rồi gã bước ra tóc ướt áo choàng ngủ đỏ rực lộng lẫy người gã thơm sức như một thằng đồng cô. Gã dang tay vui vẻ:


    - Chào em. Nhận đủ năm tờ rồi đấy nhá.


    Cô Thương Ơi lùi lại Rôbe Bảo Quýt xấn ngay tới.


     - Nếu em mất trinh rồi thì phải nôn trả anh bốn tờ rưỡi. Ta cứ sòng phẳng đúng giá qui định của luật giang hồ.


     Nói rồi gã túm ngay lấy tay cô gái. Cô Thương Ơi giật nẩy người như bị điện giật. Cô thét lên một tiếng váng óc. Rôbe Bảo Quýt trố mắt. Cô gái vùng chạy ra cửa. Nhưng cửa đã bị khoá trái từ lúc nào. Rôbe Bảo Quýt ôm thốc láy cô gái. Mồm gã sủi bọt như rãi ngựa gã rên lên ư ử:


   - Chúa ơi. Lần này đích thị con được ăn rau tàu bay rồi.


   Gã vật cô gái ra đệm nhưng đúng lúc đó cánh cửa buồng bật tung. Ba bốn người cảnh sát xông vào. Tất cả ầm ầm như  vỡ chợ.


   Biên bản được viết ngay. Rôbe Bảo Quýt bị kết tội mua dâm. Gã vội trình hộ chiếu quốc tịch Canada nên không bị bắt giữ. Gã rên rỉ phân trần:


    - Xin các anh thông cảm tôi không biết luật lệ ở nước Việt nam nghiêm khắc với những chuyện này. Tôi có lỗi. Tôi xin lỗi. Nhưng cô gái này đã cầm trước của tôi năm mươi đô-la. Xin các ông can thiệp đòi giúp tôi. Xin cám ơn.


   Anh thượng sĩ cảnh sát trợn mắt nhìn Thương Ơi


   - Có thật không ?


   Cô gái gật đầu và đưa ra cái phong bì còn nguyên vẹn số tiền. Thế là ngay lập tức cô Thương Ơi bị ghép tội cố tình bán dâm và bị giải ngay lên đồn.


   Trưởng công an cái đồn mà cô Thương Ơi bị dong về lại chính là trung uý đẹp trai đã thả bác sĩ Cần hôm nào. Anh chả lạ gì gia cảnh nhà cô ThươngƠi. Sau vài phút làm việc với đương sự anh trung uý phì cười nói với mấy anh cảnh sát vừa bắt cô gái:


   - Các cậu bắt nhầm rồi. Phải xin lỗi dân đi.


    Nhưng rồi chính anh lại xin lỗi cô Thương Ơi. Và cũng chính vì thế mà anh sĩ quan cảnh sát và cô thiếu nữ xinh gái quen nhau.


    Từ đó anh hay kiếm cớ tới thăm cô Thương Ơi.


    Trước lạ sau quen lại hiểu thêm cảnh nhà cô Thương Ơi hiện nay anh lấy làm cảm kích lắm. Anh càng năng lui tới lần nào cũng mua quà bánh cho mấy đứa nhỏ. Trò chuyện qua lại cô Thương Ơi cũng biết được đôi điều về gia cảnh anh cảnh sát. Tên anh là Tuấn họ Bùi không có tên đệm vốn là diễn viên hát của đoàn ca múa Bộ nội vụ. Năm 27 tuổi anh bị mất giọng nên chuyển ngạch cảnh sát hộ khẩu. Tuấn gốc người Hà Nội. Hiện nay gia đình bố mẹ anh vẫn ở Hà Nội. Tuấn kể:


   - Sau khi tốt nghiệp khoá huấn luyện nghiệp vụ cảnh sát khu vực anh có thể xin ở lại Hà Nội làm việc nhưng anh vẫn vui vẻ nhận quyết định về cái thị trấn tỉnh lẻ bé nhỏ này để công tác và phấn đấu.


   Sự xuất hiện của anh sĩ quan cảnh sát trẻ đẹp tốt bụng làm cho ngôi nhà nhỏ vui hẳn lên. Chỉ có bác sĩ Trương Vĩnh Cần là người không được hưởng niềm vui đó. Một phần vì căn bệnh tâm thần lập thể nhẹ của ông vẫn đang chầm chậm tái phát. Một phần sau lần bị tù oan bác sĩ Cần rất sợ cảnh sát. Mỗi lần Tuấn đến chơi ông đều len lén lủi vào phòng trong hoặc trốn ra sân ngồi núp sau bể nước. Thái độ kỳ quặc của ông bác sĩ khiến anh cảnh sát để ý ngay. Rồi một lần gặp lúc cô Thương Ơi đi vắng Tuấn bèn đi thẳng vào nhà tìm gặp bác sĩ Cần. Ông bác sĩ sợ quá nhót ngay ra sân chui tọt vào hố xí đóng chặt cửa lại. Hôm sau cô Thương Ơi đi chợ cá Tuấn lại đến bác sĩ Cần đang nằm đắp chăn tới cổ ở trong phòng nên không chạy kịp anh cảnh sát bắc ghế ngồi chắn ngay ở cửa ra vào vừa hút thuốc vừa thong thả hỏi chuyện nhát một như hỏi cung. Bác sĩ Cần sợ đến líu lưỡi lác mắt. Ngay chiều hôm đó vào khoảng 4 giờ ông bác sĩ vội vàng vơ quần áo chuồn thẳng một hơi ra ga nhót ngay lên tàu. Năm giờ 10 phút con tàu hú còi xình xịch chuyển bánh. Mải rúc đầu vào sau cánh cửa đan lưới mắt cáo bác sĩ Cần không nhìn thấy đúng lúc đó có anh cảnh sát và cô gái tất tả chạy vào sân ga. Cả hai cứ cuống lên như đang tìm cái gì. Nhưng chậm mất rồi. Con tàu đã tăng tốc toa cuối cùng đã vượt qua cây cầu tín hiệu căng cờ vàng. Sân ga thênh thang vắng ngắt chỉ còn lại làn khói tanh lòm than bụi bay là là và bóng cô gái đứng sững sờ hai mắt mở to trong vắt như mắt thiên sứ.


9


  Con tàu chở bác sĩ Trương Vĩnh Cần chạy ra khỏi thị xã được hơn một giờ thì ông bác sĩ cũng từ từ chìm vào giấc ngủ lì bì của bệnh tâm thần phân lập. Giấc ngủ không mê sảng và tối đen như cái chết. Nằm co rúm trong góc ghế lại khuất sau cánh cửa ra vào toa nên chẳng mấy ai để mắt tới ông bác sĩ. Ba mươi nhăm giờ sau nghĩa là vào cuối chiều ngày thứ hai bác sĩ Trương Vĩnh Cần mới giật mình choàng dậy. Cũng đúng lúc đó một người soát vé trên tàu sừng sững hiện ra trước mắt ông bác sĩ. Sau khi xem vé người đó kêu lên:


  - Chết rồi bố ơi bố đi quá một ngày đường rồi. 


  Lập tức bác sĩ Trương Vĩnh Cần bị đưa về phòng cuối cùng của toa cuối cùng. Một giờ sau con tàu từ từ dừng lại anh trưởng tàu đội mũ lông thỏ ngồi đánh tá lả trên chiếc chiếu trải giữa toa quay lại hất đầu ra lệnh cho ông bác sĩ.


  - Bố già xuống đi.Tôi tha không bắt nộp phạt đấy nhá.


  Bác sĩ Cần ngơ ngác. Một anh chíp cũng đang ngồi góp trong chiếu bạc thò cẳng đạp khẽ vào đít ông bác sĩ Cần:


  - Sếp ưu ái bố đấy. Biến đi.


  Thế là bác sĩ Cần bị đẩy xuống sân ga và con tàu lại hú còi hùng hục băng đi. Cái ga bác sĩ Cần bị thả xuống là một ga xép không tên đã bị bỏ hoang nằm lọt thỏm giữa trảng cát mênh mông. Biển gào trước mặt. Núi rừng bá vai nhau trùng điệp sừng sững ngay sau


lưng. Trời lúc này đã chiều trên sân ga lơ phơ cỏ dại chỉ còn sót lại một giải nắng vàng như nghệ. Bác sĩ Cần ngồi ngay đơ giữa hai đường ray. Ông ngắm núi ngắm rừng ngắm biển. Gió chiều lồng lộng và không khí hoang vu cô tịch xung quanh khiến cho ông bác sĩ dần dần tĩnh trí lại. Ông hỏi thầm: “Đây là đâu nhỉ?”


  Từ xa vẳng lại tiếng nhạc ngựa leng keng. Một con ngựa ô kéo cỗ xe thồ bánh gỗ mui vải lăn bánh trên con đường mòn chạy ngang qua trảng cát. Cỗ xe lóc cóc tiến lại gần. Bác sĩ Cần nhổm phắt dậy ôm bọc quần áo lao ra khỏi cái sân ga. Cỗ xe đỗ lại. Con ngựa phì một luồng hơi như xả bễ. Mồm nó phòi ra đống dãi trắng lốp. Một gã trai áo cổ vuông đầu trọc thò đầu ra quát to:


  - Về không?


  Bác sĩ Cần nhẩy dựng lên:


  - Về.


  Gã trai hét:


  - Lên đi.


  Bác sĩ Cần lại nhẩy dựng lên:


  - Lên đây.


  Thế là ông trèo tót lên cỗ xe ngựa. Trong xe lố nhố một đám người chen chúc lẫn với một đống thúng mủng sực nức mùi cá biển đã phơi no nắng.


  Cỗ xe ngựa giật mạnh rồi lại lóc cóc lăn bánh chạy về phía núi rừng chập chùng xanh biếc. Người trong xe cứ xuống dần thưa dần. Chiều cũng đang đổ nhanh đua cùng vó ngựa đang phi. Trời nhập nhoạng thì cỗ xe ngựa về tới một dãy phố nhỏ nằm sát cạnh  con đường quốc lộ trải nhựa. Trên xe chỉ còn lại bác sĩ Cần và một ông cụ râu tóc như cước người nhỏ như quả ô mai đang ngồi ôm khư khư một bọc to tướng cứng đờ. Gã trai đánh xe ngựa nhảy phốc xuống đất lễ phép:


  - Mời cụ và ông xuống ạ.


  Thoắt một cái ông cụ đã tụt khỏi cỗ xe ngựa. Sau khi đon đả chào gã trai trẻ ông cụ vui vẻ hỏi ông bác sĩ:


  - Không dám hỏi ông có biết huyện đội Đức Lưu ở đâu không ạ.


    Bác sĩ Cần ngơ ngác. Gã trai đang tháo ách con ngựa quay lại nói to:


    - Cụ cứ đi thẳng. Ở cuối phố đấy. Nơi có cổng chào mắc đèn nê-ông sáng choang ấy.


    Ông cụ xuýt xoa cám ơn rồi vật cái bọc to tướng cứng đờ lên vai xăm xăm bước đi. thấy ông bác sĩ vẫn cứ đứng ngơ ngác ông cụ ngoái lại hỏi:


    - Thế ông bác về đâu?


    Bác sĩ Cần lúng túng. Ông cụ hạ giọng hỏi:


    - Có phải ông bác cũng ở ngoài đó nghe đài báo nhắn tin rồi vào đây tìm con tìm cháu phải không ?


    Bác sĩ Cần chắp tay:


    - Dạ thưa…


    Ông cụ thở phào:


    - Thảo nào ban nãy ở trên xe già này đã ngờ ngợ. Thế thì ông bác và già này đến cùng một chỗ rồi.Ta cùng đi đến huyện đội Đức Lưu nào.


    Bác sĩ Cần lại dạ một tiếng và cứ thế cúi đầu bước theo ông cụ đang đi thoăn thoắt như chạy.


  Đêm hôm đó bác sĩ Trương Vĩnh Cần nghiễm nhiên là khách quý của huyện đội Đức Lưu. Ông bác sĩ được đưa vào nghỉ trong một gian phòng nhỏ giường chiếu sạch sẽ. Sau khi rửa mặt rửa chân ông được mời đi ăn cơm của nhà khách ở huyện đội. Khoảng độ 9 giờ tối mắc màn xong có tiếng gõ cửa rồi một anh bộ đội còn trẻ ăn mặc chỉnh tề đội mũ đeo sao bước vào chào hỏi lễ phép tự xưng là Trần Văn Hợi thượng uý huyện đội phó vừa đi công tác về. Anh Đợi vui vẻ bảo:


  - Mời bác nghỉ ngơi. Sáng mai sẽ vào Khe Hú. Xe cộ đã chuẩn bị sẵn sàng rồi. Ăn sáng xong là đi luôn.


  Bác sĩ Cần chẳng hiểu gì cả. Ông vâng dạ luôn miệng. Anh Hợi vui vẻ chào ông bác sĩ rồi lễ phép đi ra không quên khép cửa lại rất nhẹ nhàng.


  Sáng hôm sau bác sĩ Cần dậy rất sớm. Ông nhìn thấy một xe ô tô com măng ca đít vuông đỗ ngay ngoài cửa sổ. Cảnh vật đất trời ở đây nom thật lạ mắt. Đất đỏ. Cát trắng. Cây xanh. Tiết trời đã vào độ giáp tết ta rồi vậy mà buổi sáng sớm vẫn cứ chan hòa nắng gió oi ả hệt như mùa hè. Ăn xong nắm xôi và hai quả chuối thì anh Hợi mũ áo chỉnh tề bước vào vui vẻ chào hỏi rồi ân cần đưa ông bác sĩ ra sân. Cậu bộ đội lái xe vui vẻ chào to “Bác ạ” rồi nhanh nhẩu đỡ ngay lấy cái va-ly da méo mó cũ kỹ ở tay ông bác sĩ. Trên xe đã thấy ông cụ tóc bạc đang ngồi ngay ngắn tay ôm bó hương và một xếp giấy vàng mã. Cạnh chân cụ có một cỗ tiểu sành già lửa bóng nhẫy. Chiếc com măng ca nổ máy ròn rã từ từ ra khỏi sân doanh trại huyện đội chui qua cổng chào to tướng rồi bắt vào đường quốc lộ. Chạy được hơn cây số xe rẽ vào con đường cấp phối đồi. Bây giờ thì cát trắng và biển ở phía sau lưng. Núi rừng chập chùng cao ngất ở ngay trước mặt. Xe chạy ầm ầm xóc tung cả người. Con đường quanh co lúc lên lúc xuống. Hai bên đường hoa trạc chìu ngả nghiêng trên những vạt đồi. Xe chạy mười cây số thì  chui tọt vào rừng sâu. Tới lúc chỉ còn nhìn thấy rừng. Rừng như bưng lấy mắt. Thỉnh thoảng anh Hợi ngồi ghế trước ngoái lại nói gì đó nhưng bác sĩ Cần không nghe rõ vì tai ông đang bị ù. Xe cứ chạy như thế tới gần trưa thì đỗ xịch lại bên bờ con suối lớn chảy ào ào như thác. Bên kia bờ suối là cỏ gianh ngút ngàn. Lác đác đó đây nhô lên những thân cây cổ thụ bị đốt cháy


đen thui vương lại chút ít dấu tích của một nơi có lẽ đã có con người từng qua lại ăn ở. Anh Hợi xuống xe rồi trỏ sang bên kia bờ suối:


  - Thưa cụ thưa bác khe Bú ở ngay bên kia rồi ạ.


  Bác sĩ Cần vẫn cứ ngơ ngác. Nhưng ông cụ tóc bạc thì có vẻ xúc động mạnh. Nách cắp chặt cỗ tiểu ông cụ bật kêu lên”Con ơi!” rồi cứ thế băm băm lội qua suối. Anh Hợi cuống quýt xắn quần nhẩy xuống nước “Rêu trơn lắm cụ ơi khéo ngã đấy”. Nhưng ông cụ chẳng thèm ngã. Cậu lái xe vác một đống cuốc xẻng cũng ào ào lội theo. Còn trơ lại bác sĩ Cần. Ông đứng ngẩn ra một lúc rồi cũng lóp ngóp theo sau rốt. Lên đến bên kia bờ anh Hợi dẫn đầu ba người nối đuôi cứ thế bám nhau rẽ cỏ tranh mà đi. Nắng xiên vào mặt. Gió ù ù lẫn tiếng vượn hót lảnh lót thấp thỏm. Cảnh rừng thật hoang vu dờn dợn. Tới một bãi đất khá bằng phẳng anh Hợi dừng lại nói to “Tới rồi đấy ạ” rồi anh trải ra đất tấm bản đồ nhàu nát có đánh dấu nhằng nhịt. Mặt anh Hợi đầm đìa mồ hôi. Hai mắt anh nheo nheo. Ngón tay trỏ của anh di di trên tấm bản đồ tìm kiếm. Rồi anh lẩm bẩm:


  - Đây rồi. Phần mộ đồng chí Xuân.


  Cậu lái xe chống xẻng góp một câu:


  - Điểm chuẩn ngoài thực địa là cây trám đen bốn mét tính về phía Bắc.


  Rồi anh Hợi ngẩng nhìn bác sĩ Cần:


  - Ta đào ngay bác nhỉ?


  Bác sĩ Cần lúng túng như gà vướng tóc. Nhìn sang đã thấy ông cụ đốt một bó hương cháy đùng đùng rồi chắp tay vái lia lịa vào ba bề bốn bên rừng cây rậm rạp chằng chịt. Cậu lái xe đã cởi phăng áo và bắt đầu bổ cuốc. Anh Hợi cầm ngang cán xẻng phạt cỏ tranh. Bác sĩ Cần đi tới đi lui rồi cũng cầm lấy cuốc bổ xuống đất. Còn ông cụ lúc này đã ngồi thụp xuống đốt vàng mã.


  Trưa rừng yên tĩnh chỉ còn nghe tiếng cuốc đất huỳnh huỵch. Ba người mê mải đào. Ông cụ chạy tới chạy lui quanh cái lỗ huyệt đang sâu dần thỉnh thoảng lại kêu lên “Con ơi!” rồi ông cụ chắp tay khấn vái tứ tung. Đào tới lút đầu người thì cậu lái xe lấm như con ma vùi vất xẻng chống tay vào thành huyệt nhẩy tót lên. Người cậu xực nức mùi đất mới. Cậu lái xe lắc đầu:


  - Chỉ toàn rễ cây. Trượt rồi.


  Anh Hợi lại trải tấm bản đồ ra đất lò mò tìm kiếm. Lúc này đã chính ngọ. Trời không nắng nhưng ong ong oi bức lạ thường. Ai cũng mệt nhoài. Anh Hợi rụt rè:


  - Trưa rồi mời cụ và bác về xe nghỉ ngơi ăn tạm bát mỳ cho đỡ đói. Ý cháu là chiều lại đào tiếp có được không ạ.


  Ông cụ chắp tay vái anh Hợi:


  - Các anh vất vả thế này tôi ái ngại quá. Thôi thì trăm sự nhờ các anh cả.


  Anh Hợi ngượng đỏ mặt:


    Bốn người lại rồng rắn quay về chỗ xe đỗ. Anh Hợi và cậu lái xe thoăn thoắt gây bếp bắc nồi đun nước. Ông cụ và bác sĩ Cần được mời ngồi nghỉ trên tấm bạt trải cạnh xe. Mươi phút sau đã thấy anh Hợi lễ phép đem đến hai bát mỳ tôm nghi ngút khói bát nào cũng đập thêm hai quả trứng gà. Ăn xong anh Hợi lại mời ông cụ lên xe nằm nghỉ. Bác sĩ Cần ngâm ngẩm đau bụng. Ông bèn lọ mọ men theo bờ suối lội xuôi về phía dưới độ  dăm chục mét rồi chui vào bụi rậm tìm chỗ ỉa. Trưa rừng yên tĩnh. Tâm trí bác sĩ Cần nhẹ nhõm tỉnh táo. Cơn đau bụng đã hết. Ngồi mãi trên tảng đá rộng như cánh phản mà không ỉa được bác sĩ Cần thiu thiu buồn ngủ. Thế là ông bèn ngả ngay lưng ra và nhắm mắt lại. Nhưng đúng lúc ấy có tiếng chân người lội suối lõm bõm. Một anh bộ đội trẻ măng đội mũ tai bèo quần vê tới gối đứng ở giữa dòng suối mỉm cười rồi vẫy vẫy: “Đi theo tôi”. Bác sĩ Cần ngạc nhiên quá ngây mặt ra nhìn. Anh bộ đội lại vẫy vẫy rồi hỏi to: “Tìm thằng Xuân khểnh chứ gì. Bác cứ đi theo tôi mà”. Thế là bác sĩ Cần vùng dậy đi theo anh bộ đội lạ mặt. Hai người đi vòng vèo trong rừng rồi tới một cái hang rất to. Ngoài cửa hang có một tấm biển gỗ viết nguệch ngoạc bằng hắc ín: Kho Z3. Trong hang chôn mấy sạp nứa chạy hun hút mãi vào phía trong. Trên sạp chồng chất hàng trăm hòm gỗ đóng đai đóng kiện. Anh bộ đội ghé vào tai ông bác sĩ: “Toàn bột cá Triều Tiên đấy. Nhưng cũng có vài chục hòm lương khô bảy không hai”. Rồi anh giảng giải: “Thằng Xuân khểnh là tổ trưởng. Tôi và thằng Hữu bống là tổ viên. Lính kho mà”. Bác sĩ Cần hỏi: “Anh Xuân đâu. Có ông cụ người nhà anh ấy đang tìm”. Anh bộ đội nói cụt lủn: “Nó chết rồi”. Bác sĩ Cần hỏi: “Sốt rét chết à?”. Anh bộ đội lắc đầu: “Nằm lên quả lựu đạn”. Bác sĩ Cần hỏi: “Thế nghĩa là ra làm sao?”. Anh bộ đội thần mặt ra một lúc rồi nói: “Đi theo tôi”.Thế là hai người lại đi vòng vèo trong rừng một lúc. Lát sau cả hai tới một bản Vân Kiều ở bên bờ con suối lớn nước chảy trắng xoá. Lúc này trời đã muộn. Ngôi nhà nào trong bản cũng đang toả khói lam chiều. Anh bộ đội dẫn ông bác sĩ trèo lên ngôi nhà sàn ở giữa bản. Trong nhà râm ran tiếng nói cười. Một anh bộ đội trẻ măng có cái răng khểnh rất tươi đang ngồi cười nói huyên thuyên giữa mấy trai gái trong bản. Ở góc nhà cạnh lối ra cầu thang có thằng bé đang nghịch quả lựu đạn  chầy. Thằng bé táy máy giật luôn cái nụ xoè. Quả lựu đạn xì khói. Thằng bé sợ quá ríu tay quẳng luôn quả lựu đạn xuống sàn nhà. Anh bộ đội răng khểnh hét lên kinh hãi rồi lao ngay tới chỉ kịp nằm đè lên quả lựu đạn. Một tiếng nổ vang. Cái nhà sàn sập xuống. Khói bụi mù mịt. Loáng một cái bác sĩ Cần đang thấy mình đang ngồi cạnh cây  trám già giữa bãi cỏ tranh thênh thang.  Hố huyệt mới đào đất đỏ tươi như máu cách cây trám khoảng bốn mét. Dân bản già có trẻ có đàn ông có đàn bà có bu quanh miệng huyệt khóc như ran như ri. Anh bộ đội ghé sát vào mặt ông bác sĩ hỏi nhỏ: “Hiểu chưa?” Bác sĩ Cần gật đầu: “Hiểu rồi” Anh bộ đội hỏi lại: “Hiểu rồi à? Thế thì tôi đi đây”. Rồi anh bộ đội thong thả bỏ đi. Đám người cũng rã dần. Tất cả mờ dần rồi biến đi như ảo ảnh. Còn trơ lại ông bác sĩ Cần bên cạnh  lỗ huyệt. Bác sĩ Cần bàng hoàng. Ông tự hỏi: “Trời ơi! Lại nằm mơ ư?” Ông bò tới miệng huyệt ngó xuống: “Xuân ơi”. Có ai đập nhẹ vào lưng ông: “Xuân đây”. Bác sĩ Cần quay ngoắt lại. Anh bộ đội đứng sát ngay phía sau cười cái răng khểnh rất có duyên: “Xuân đây. Bác tìm tôi à?” Bác sĩ Cần run run gật đầu. Anh bộ đội răng khểnh lại cười: “Muốn tìm tôi thì phải đến bản Hú ở bờ sông Cà Lồ. Hỏi nhà anh Liêng trưởng bản.” Đúng lúc đó có ai đập mạnh vào chân bác sĩ Cần. Ông choàng tỉnh dậy.


  Cậu lái xe vui vẻ cười hàm răng trắng lóa nắng.


  - Sao bác lại ngủ ở đây. Nhỡ rắn cắn thì chết.


  Bác sĩ Cần vâng dạ đi theo cậu lái xe. Ông chưa hết bàng hoàng vì cơn mộng mị kỳ dị vừa xảy ra.


  Chiều hôm đó hố huyệt được đào rộng ra gấp đôi và sâu thêm một mét nữa nhưng vẫn không tìm thấy xương cốt liệt sĩ Xuân. Anh Hợi liền đề nghị mọi người quay về huyện đội nghỉ để hôm sau quay lại đào tiếp. Đi lối nào về lối ấy. 7 giờ tối chiếc com-măng-ca đã về tới sân huyện đội. Một mâm cơm khá thịnh soạn đã được dọn sẵn ở nhà khách. Cơm nước xong ông cụ có vẻ mệt nên về phòng nằm nghỉ. Anh Hợi mời bác sĩ Cần ra hiên ngồi uống nước hóng gió. Anh huyện đội phó vẫn đinh ninh bác sĩ Cần là người nhà họ hàng liệt sĩ Xuân cùng đi vào đây với ông cụ nên anh nói:


  - Nhờ bác động viên cụ. Những chuyện lạc mộ trục trặc như thế này vãn xảy ra như cơm bữa. Ngày mai quay vào đào rộng ra vài mét nữa là gặp ngay thôi ạ.


  Bác sĩ Cần ngồi im lắng nghe ừ ào. Rồi ông buột miệng hỏi:                                          


  - Thưa anh sông Cà Lồ ở đâu?


  Anh Hợi lễ phép trả lời:


  - Sông Cà Lồ cũng ở gần đây thôi ạ.


  Bác sĩ Cần nhắm mắt. Ông nói như trong giấc ngủ:


  - Cà Lồ. Bản Hú. Hỏi nhà anh Liêng trưởng bản.


  Anh Hợi đang rót nước vội đặt ngay cái ấm xuống. Rồi anh reo lên khe khẽ:


  - Ờ nhỉ. Thế mà không nhớ ra cứ đến hỏi bố con anh Liêng là rõ cả thôi.


  Khắp cả vùng Đức Lưu cát trắng khô như rang chỉ có một dòng sông Cà Lồ nước trong vắt lạnh buốt từ núi rừng chảy ra. Mười năm về trước bản Hú bị bệnh dịch tàn phá chỉ trong non một tháng đã giết chết phần ba dân trong bản. Để cứu dân bản Hú khỏi họa diệt vong huyện ủy Đức Lưu đã di chuyển toàn bộ dân bản Hú ra khỏi rừng đưa về lập bản ở gần vùng cửa sông Cà Lồ chảy ra biển. Bản Hú đổi tên là bản Cà Lồ.


   Sáng ngày hôm sau cơm nước xong chiếc com-măng-ca lại chở mọi người chạy thẳng vào bản Cà Lồ. Chỉ khác là lần này trên đường đi núi rừng ở lại sau lưng cát trắng và biển ở trước mặt. 8 giờ đi. 9 giờ đã tới nơi. Bản Cà Lồ lô nhô nhà ngói nhà tranh nằm san sát bên con sông Cà Lồ lững lờ nước trong vắt. Nhà trưởng bản Liêng ở giữa xóm ngay dưới cây cột cờ cao chót vót. Trưởng bản Liêng chột mắt thọt chân tóc muối tiêu tập tễnh ra tận cổng đón khách rước lên nhà. Sau vài câu chào hỏi vừa nghe anh Hợi giới thiệu ông cụ là bố đẻ của liệt sĩ Xuân trưởng bản Liêng thụp xuống lạy rồi rống lên:


  - Ông ơi… Xin ông tha tội. Bộ đội Xuân là ân nhân cứu mạng cho con đây.


  Ông cụ không nói gì cả chỉ sẽ sàng đỡ trưởng bản Liêng đứng dậy. Lúc đó vợ trưởng bản Liêng đội thúng đi chợ về ngơ ngác ở ngoài sân. Trưởng bản Liêng vừa mếu vừa ngoái ra tuôn một tràng líu lo. Vợ Liêng kêu úi một tiếng quăng ngay cái thúng chắp tay vái lấy vái để. Ba bốn đứa trẻ ở đâu chạy tới cũng rối rít vái lạy. Ông cụ xoa đầu đứa bé nhất rồi lấy bánh kẹo trong cái làn ra chia cho cả nhà. Anh Hợi quay sang ghé vào tai bác sĩ Cần:


  - May quá thế là không có chuyện gì xảy ra.


  Trưởng bản Liêng đi giật lùi rước ông cụ và bác sĩ Cần vào nhà mời ngồi uống nước hút thuốc. Khi nghe anh Hợi nói là đã vào bản Hú mà chẳng tìm được xương cốt liệt sĩ Xuân trưởng bản Liêng rơm rớm nước mắt:


  - Bản Hú dời về đây thì dân bản cũng rước anh Xuân về đây rồi.


   Anh Hợi thở phào:


  - Thảo nào chúng tôi đào mãi chẳng thấy gì.


  Tới lúc này ông cụ mới se sẽ nói:


  - Phiền các bác cho già này được ra thăm cháu.


  Trưởng bản Liêng vâng dạ rồi tập tễnh dẫn đoàn người đi luôn. Anh Hợi lại rỉ vào tai bác sĩ Cần: “Ông Liêng thoát chết nhưng lại bị chột mắt què chân.” Ngôi mộ liệt sĩ Xuân nằm trên gò cát. Một nấm đất đã lún. Những đám cỏ Dành Dành sắc như dao bò quấn tấm bia đá lờ mờ dòng chữ “Bộ đội Nguyễn Văn Xuân –  Mất 1973 - Bản Hú huyện Đức Lưu”. Ông cụ cắm cho cậu con trai một nén hương rồi ngồi xuống vỗ vỗ mấy cái vào nấm đất. Ông cụ không khóc không gào mà chỉ thở dài. Trưa hôm đó gia đình anh Liêng giết gà cơm rượu khoản đãi rất thịnh soạn. Bữa cơm tàn ông cụ uống nước xỉa răng rồi thong thả nói:


  - Trước tiên tôi xin cám ơn bà con ở bản và gia đình anh chị Liêng đã chăm nom phần mộ cho thằng cháu Xuân mấy chục năm qua nên hôm nay bố con tôi mới được gặp nhau. Nay tôi có lời muốn được đón cháu về quê.


  Vợ chồng anh Liêng ngây mặt nước mắt chảy ròng ròng. Mấy đứa trẻ sợ quá chạy tọt vào buồng. Anh Hợi biết ý ghé vào tai anh Liêng xi xô líu lo vài tiếng dân tộc. Anh Liêng lúc gật lúc lắc rồi lại líu lo với anh Hợi. Bác sĩ Cần và ông cụ ngồi im như tượng. Anh Hợi quay sang nhẹ nhàng thưa với ông cụ và bác sĩ Cần.


  - cháu mời ông và bác uống nước nghỉ ngơi. Chút nữa cháu có chuyện muốn thưa với gia đình ta.


  Dăm phút sau anh Hợi mới nhỏ nhẻ nói với ông cụ và bác sĩ Cần là gia đình anh Liêng muốn sáng mai mời thầy mo tới đặt lễ để xin với các ma trong họ cho phép cái ma anh Xuân được dời  chỗ này để  về quê. Lễ xong thì mới đào mộ lấy cốt. Anh Hợi nói thêm  tục lệ ở bản Hú là như vậy. Mong cụ và bác ráng đợi cho đến chiều mai. Nghe vậy ông cụ vội vã xua tay “Không có gì không có gì”. chiều hôm đó khoảng 3 giờ mấy người đi đào mộ lên xe quay trở về huyện đội Đức Lưu. Cơm chiều xong anh huyện đội phó phóng xe hon-da về nhà cách huyện đội 12 cây số. Bác sĩ Cần ngồi một mình bên khung cửa sổ vừa uống trà vừa lơ ngơ ngắm mấy cây phi lao già ngoài sân đang mờ dần trong cảnh hoàng hôn đổ xuống chậm rãi. Nhà khách huyện đội vắng như chùa bà đanh. Ông cụ ở phòng bên chắc buồn quá nên mò sang nói chuyện. Ông cụ hỏi:


  - Tôi hỏi khí không phải ông bác vào trong này chắc cũng là để tìm ai đang nằm ở đâu đây?


  Bác sĩ Cần ngượng nghịu lắc đầu:


  - thưa cụ tôi… tôi đâu có tìm ai.Tôi chỉ biết đi theo cụ.


  Ông cụ nhìn bác sĩ Cần chăm chăm. Rồi ông cụ thong thả nói


  - Vậy là có chuyện gì đây.Chuyện tròi đất quỷ thần ư ?


    Bác sĩ Cần chẳng biết nói như thế nào. Hai người cứ ngồi nhìn nhau. Rồi Bác sĩ Cần ấp úng kể là ông đi tàu ngủ quên quá ga nên bị bỏ xuống đây. Đang bơ vơ thấy có cỗ xe ngựa thấy gã đánh xe gọi thế là ông leo lên xe. Rồi ông theo ông cụ đến đây. mọi người cho ăn thì ông ăn cho ngủ thì ông ngủ. Mọi người lên xe vào bản Hú thì ông cũng lên xe vào bản Hú. Mọi người đến nhà anh Liêng thì ông cũng đến nhà anh Liêng… Và bây giờ ông ngồi đây uống trà… Ông chẳng biết gì hơn.


  Nghe bác sĩ Cần nói vậy mắt ông cụ cứ trợn dần lộ vẻ ngạc nhiên hốt hoảng. Rồi ông cụ  kính cẩn len lén bỏ về buồng khoá trái cửa cài then cửa sổ buông màn lên giường tắt đèn im thin thít. Cả buổi sáng hôm sau ông cụ tránh mặt bác sĩ Cần. Đến trưa chiếc com-măng-ca lại chở mọi người đến bản Hú ven bờ con sông Cà Lồ. Cả gia đình anh Liêng đã xếp hàng ngoài hiên chờ. Cỗ tiểu sành đã được buộc gọn ghẽ để trang trọng giữa nhà. Khói hương nghi ngút. Thì ra ngôi mộ đã được thày mo cho khai quật đêm qua lúc nửa đêm gà gáy. Một mâm cơm cúng bày trên bàn. Anh Liêng mời mọi người uống rượu ăn cơm. Cơm rượu xong anh Liêng vác cỗ tiểu lên vai đi ra xe. Chị vợ và mấy người hàng xóm trong bản xếp hàng đi sau người cầm con dao người cầm nén hương người ầm ừ ê a hát bài ca tiễn hồn ma anh bộ đội Xuân về xuôi. Chiếc com-măng-ca nổ máy lăn bánh vợ chồng anh Liêng còn lếch thếc chạy theo một đoạn đường. Mấy người ngồi trên xe im như thóc. Khi xe ra tới đường quốc lộ anh Hợi thở phào. Chắc là mừng vì đã xong việc. Tối hôm đó nhà khách huyện đội lại vắng tanh. Anh Hợi đã về nhà từ chiều. Ông cụ cũng khoá cửa phòng tắt đèn đi ngủ. Bác sĩ Cần ngồi một mình bên khung cửa sổ vừa uống trà vừa nhìn ra màn đêm đen sì ngoài xa. Tờ mờ sáng hôm sau chú lái xe đã đập cửa gọi ông cụ và bác sĩ Cần dậy rồi chở hai người ra bến xe khách cách huyện đội gần hai chục cây số. Anh Hợi huyện đội phó tay cầm hai tấm vé và hai gói quà đứng đợi ở trong bến ân cần tiễn ông cụ và bác sĩ Cần lên xe. Mọi việc xong xuôi chu đáo tới khi xe chạy khỏi bến khuất hẳn anh mới nhẩy lên chiếc xe hon đa quay về huyện đội.


      Chiếc xe khách chở ông  cụ và bác sĩ Cần chạy một mạch vượt hơn trăm cây số đường quốc lộ rồi rẽ trái bắt vào một con đường cấp phối ngược rừng. Xe chạy thêm hai chục cây thì cảnh vật hai bên đường đã lô xô núi rừng đẹp như tranh vẽ. Vượt thêm chục cây nữa tới một ngã ba có cây cầu xi-măng lừng lững. Bên kia cầu là con đường chạy lên đèo cao thăm thẳm tới miền biên giới cũng chẳng còn xa. Bên này cầu là dãy phố nhà cửa nhấp nhô người xe sầm uất hàng hóa ứ phè. Xe vào bến đổ khách. Đây cũng là bến đỗ cuối cùng. Từ lúc lên xe ông cụ chỉ ngồi ôm cỗ tiểu sành. Còn bác sĩ Cần thì lúc thức lúc ngủ gà gà gật gật. Hai người chẳng ai nói một câu nào. Tới lúc này ông cụ mới đặt tay lên vai ông bác sĩ kính cẩn:


  - Mời ông bác ghé nhà tôi uống chén rượu nhạt.     


  Thế là bác sĩ Cần lếch thếch đi theo ông cụ.


  Hai người đi vào giữa phố rồi dừng lại trước một ngôi nhà khang trang nhưng lòe loẹt kệch cỡm. Một tấm biển phoóc-mi-ca mầu hồng gắn hàng chữ nổi bay bướm “Restaurant Sơn Cước”. Ba con chó thui quắt đuôi nhe răng treo lộn ngược trong tủ kính trước quầy. Trong nhà rùng rình một đám người đang thái thịt rút gân gậm xương uống rượu muôn


phần dữ dội ầm ĩ. Ông cụ vác cỗ tiểu phăm phăm đi vào nhà hàng. Lập tức có tiếng reo: “Ông về. Ông về rồi”. Bốn năm cô gái mắt xếch mi xanh mỏ đỏ áo váy phấp phới chạy ùa ra đón. Hơn chục khách đang ăn uống cũng đứng dậy kính cẩn: “Ông về… cụ về…”  Bác sĩ Cần được dẫn thẳng lên gác ba vào trong một căn phòng sập gụ tủ chè cực kỳ hoành tráng. Ngồi chưa nóng chỗ thì ông cụ xúng xính áo mới bước vào. Sau khi khép cửa lại ông cụ trịnh trọng vòng tay xá bác sĩ Cần một xá.


  - Cháu Xuân linh thiêng nên già này mới có phúc được gặp ông bác đây.


  Bác sĩ Cần hơi lo sợ. Ông chợt thoáng nhớ tới ông Từ coi đền bà thánh mẫu. Ông cụ vẫn trịnh trọng:


  - Tứ giải giai huynh đệ. Già này năm nay đã tám chín tuổi rồi. Đã tưởng ăn hết lộc hết đức ấy vậy mà vẫn còn may mắn được gặp ông bác đây là người nhà giời.


      Nói rồi ông cụ vỗ tay hét to:


     -   Bay đâu. Tiệc rượu.


        Lập tức hai cánh cửa mở tung. Bốn cô mắt xếch váy chàm lươn lướt đi vào. Sơn hào hải  vị bày ra chật bàn. Ông cụ lại vỗ tay đánh bốp. Bốn cô đi ra. Lập tức có ngay ba cô yếm thắm vấn khăn ăn mặc hệt như lối gái miền xuôi nhẹ nhàng đi vào. Cô cầm sáo ôm đàn cô cầm nhị cầm phách. Đàn sáo nổi lên chen lẫn tiếng hót véo von: “Như rằng ấy ớ ơ mấy rượu đổ mạn thuyền…” Ông cụ cười khà khà tự tay mở chai rượu đỏ như máu. Bác sĩ Cần cạn ngay ly đầu tiên  cho nó dẫn nhanh. Rượu cháy họng. Đầu óc ông bác sĩ đã mơ màng. Tiếng đàn tiếng sáo tiếng hát tiếng cười íu rít vào vào ra ra lẫn lộn. Bữa tiệc có cái gì đó kỳ dị kệch cỡm của vẻ cổ xưa pha lẫn tân kỳ. Chai rượu vơi một nửa. Ông cụ ngà ngà đứng dậy tới bên cửa sổ giật phăng tấm màn nhung huyết gụ trỏ xuống dãy phố lấp loáng đèn rồi cất giọng oai vệ:


  - Ông xem mấy ngôi nhà bốn tầng cao nhất rộng nhất ở cái thị trấn đồng rừng miền Tây này là của mấy thằng con thằng cháu họ Đinh nhà tôi đấy ông ạ. Thế này thì chắc ông bác phải kêu lên cái phúc cái lộc họ Đinh tôi to nhất dày nhất xứ này rồi.


  Bác sĩ Cần ú ớ gật đầu. Mắt ông hoa lên vì đèn xanh đèn đỏ lập lòe ở bên dưới. Ông cụ rót thêm hai chén nữa. Cả hai cạn cốc tức thì. Căn phòng kín mít nồng nặc mùi rượu mùi đồ ăn. Ba cô yếm thắm đã quăng đàn quăng nhị từ lúc nào. Một cô uống bia ừng ực. Một cô nhai thịt gà nhồm nhoàm. Một cô váy áo tốc ngược nằm ngả ra ghế mắt lim dim chẳng biết ngủ hay chưa ngủ. Ông cụ vỗ bốp vào mông cô gái trẻ nhất dễ lối chưa đến 20 tuổi rồi phà vào mặt bác sĩ Cần:


  - Gái nhá.


  Bác sĩ Cần lắc đầu.


  Ông cụ cười hà hà:


  - Thế thì mời ông đi chơi phố với tôi.


  Thế là ông cụ dắt tay bác sĩ Cần xuống nhà rồi đi ra phố. Một đoàn ô tô tải phủ bạt kín mít chạy rầm rầm ngang qua trước mặt hai người. Ông cụ trợn mắt háo hức “Hàng ở cửa khẩu về đấy. Chắc là toàn u-rê”. Rồi ông cụ dắt tay bác sĩ Cần tới trước một toà nhà 4 tầng ngất ngưởng ban công thò ra thụt vào. Cửa lim cửa xép đóng kín mít. Ông cụ đấm huỳnh vào cửa dạng chân gọi to:


  - Cả ơi.


  Ông cụ gọi 4 lần. Cánh cửa lim to tướng hé mở ra. Một cái đầu đàn bà tóc tai bù xù ló ra nhớn nhác:


  - Ông.


  Ông cụ hắng giọng oai vệ:


  - Anh cả đâu.


  Người đàn bà lắc đầu:


  - nhà con lên huyện từ sáng chưa về.


  - lại lên gặp thằng Thông bàn mưu tính kế kiện cáo chứ gì?


  Người đàn bà chối đây đẩy:


  - Con không biết.


  Ông cụ trợn mắt:


  - Vợ chồng anh chị không được làm như thế. Không sợ tội với giời à.


Người đàn bà nhìn trộm bác sĩ Cần lúng túng:


  - Mời ông vào nhà uống chén nước đã ạ.


  Nhưng ông cụ khoát tay:


  - Để khi khác. Sớm mai chị bảo anh cả sang gặp tôi ngay.


  Nói rồi ông  cụ lại dắt tay bác sĩ Cần dẫn đi. Đi hơn trăm mét cả hai đứng lại trước toà


nhà 4 tầng lầu chăn chẵn như  4 cái hộp chồng lên nhau vuông vức sắc cạnh. Lầu nào cũng lát toàn kính. Ba tầng trên tối om. Tầng dưới sáng choang. Cửa hàng tủ kính chất ngất toàn những xoong nồi bếp ga bếp điện sáng bóng. Một anh chàng nhỏ thó mặc bộ quần áo ngủ kẻ sọc có dáng ông chủ chạy vọt ra túm lấy ông cụ kể lể liên hồi. Bác sĩ Cần ù cả tai chẳng hiểu ông chủ kia nói gì chỉ thấy ông cụ nhăn nhó lắc đầu lia lịa. Rồi ông cụ chém tay nhổ toẹt bãi nước bọt xuống vủa hè quay lại nắm ngay lấy tay bác sĩ Cần xăm xăm lôi đi. Cả hai đi vài trăm mét thì dừng lại trước một quán Ka-ra-ô-kê tuềnh toàng. Trước quán có trồng cây bàng đen sì. Trong quán lập lòe đèn xanh đèn đỏ nhưng vắng ngắt tịnh không có một bóng người. Một giọng con trai non choẹt ông ổng rống lên: “Đời tôi cô đơn nên không biết yêu ai…” Ông cụ hắng giọng to:


  - Cháu ơi. Hoàng ơi.


  Anh cháu tên là Hoàng cao như cây sào mặt búng ra sữa mép mới mọc ria hí hở chạy ra reo to:


  - Ông về rồi ạ. Ông vào đi. Cháu vừa mua được Em bé Mường La và Hò kéo pháo cho ông đấy. Sờ te reo ô. Băng gốc din Hồ Gươm ô đi ô mới ở Hà Nội lên cháu và ông song ca.


  Ông cụ cười vỗ vào lưng cậu thanh niên rồi quay lại bác sĩ Cần:


  - Thằng cháu ngoại của tôi đấy ông ạ. Khốn nạn dái chưa có lông đâu.


  Rồi ông cụ hỏi anh cháu Hoàng:


  - Mẹ về chưa hả con?


  Anh cháu nói:


  - Chưa ạ. Mẹ cháu đang mong ông về lắm.


  Ông cụ thở dài nói với bác sĩ Cần:


  - Tôi có một đứa con gái hiền thảo tốt bụng chẳng may lấy phải thằng chồng vừa ngu vừa bạc ăn cháo đái bát. Tôi ân hận quá.


  Ông cụ lại vỗ bồm bộp vào lưng anh cháu. hai ông cháu đứng đấu mặt nói chuyện như đôi bàn vong niên xem chừng qúi mến thương yêu nhau lắm. Rồi ông cụ lại dẫn bác sĩ Cần đi tiếp tới một ngôi biệt thự nguy nga cửa đóng then cài. Ông cụ ấn nút chuông điện kêu ré lên. một con chó tây đen thui to như con bê hồng hộc lao ra đâm bổ vào cánh cửa sắt kêu ùng một tiếng rung chuyển. Ông cụ quát:”Cút”. Con bẹc giê đen thui cúp đuôi rẽ ngang. Từ trong bóng tối xồ ra một người đàn bà nạ dòng ăn mặc chua ngoét. Người đàn bà túm ngay lấy ông cụ chu lên thê thảm:


  - ối ông ơi ông về mà xem chú Thái chém chết thằng Bình nhà con rồi.


  Ông cụ lùi lại quát:


  - Chém vào đâu?


  Người đàn bà rền rĩ:


  - Chém vào bắp tay.


  Ông cụ vẫn quát:


  - Chém vào bắp tay thì làm sao mà chết được.


  Người đàn bà ớ họng. Thị rên ư ử:


  - Giời ạ. Hôm đó không có bác cả Thông lăn xả vào giằng con dao ra thì chú Thái chém đứt đôi thằng cháu đích tôn của ông ra rồi.


  Ông cụ xì một tiếng rồi phẩy tay:


  - ngày mai anh chị ăn mặc tử tế rồi dẫn nhau lên nhà tôi có việc. Cho cả thằng Bình cùng đi.


  Chị đàn bà tươi ngay nét mặt như được quà vâng dạ rối rít. Ông cụ bần thần một lúc rồi lại kéo tay bác sĩ lôi đi. Nhưng lần này ông cụ lại không dừng lại trước bất cứ ngôi nhà


nào ba tầng bốn tầng xanh đỏ nào nữa. Hai người đi về phía cây cầu xi-măng ở đầu dẫy phố mà bên kia cầu  ngã ba đất đỏ có một con đường chạy thẳng lên đèo Con Cum. Đêm đã vào khuya cái phố huyện đồng rừng sát cửa khẩu phía Tây cũng đang nguội dần vẻ huyên náo sôi sục. Đèn điện nhà dân tắt dần. Chỉ có cây cầu nhà nước là vẫn uy nghi sáng choang ánh điện. Đứng trên cầu nhìn xuống dòng sông thăm thẳm ở phía dưới đang gầm thét ầm ầm như trống đập. Ông cụ vuốt bụng thở dài:


  - ối giời ơi cái đồng tiền nó thảm lắm ông ơi.


  Rồi tự dưng ông cụ bỗng bộc bạch cho bác sĩ Cần nghe:


  - Tôi không phải là người là vùng này đâu ông bác ạ. Tôi là người Kinh đấy nhưng quê quán gốc gác ở đâu thì không biết chỉ biết bồ côi từ nhỏ tứ cố vô thân năm lên chín tuổi đã lang thang theo phụ cho một ông thợ đóng cối tên là Thuộc rồi dầ dà học được cái nghề đóng cối nên cũng có tên là anh phó thực. Những năm đói kém tôi chạy dạt lên vùng này kiếm ăn lấy vợ rồi sinh cơ lập nghiệp luôn ở đây. Vợ tôi là người Thổ. Ông phó Thực kể như vậy. Bà ấy đẻ cho tôi sáu đứa con bỏ mất hai chỉ còn bốn đứa. Những năm kháng chiến chống Pháp tôi có đi bộ đội làm anh nuôi tại một trung đoàn nổi tiếng đánh rừng ở vùng biên giới phía Tây này. Hoà bình lập lại tôi là người dân tộc ấy là đơn vị vẫn cứ nghĩ như vậy lại không biết chữ lại đông con nên tôi được phục viên về. Hôm tiễn tôi ra quân đơn vị tổ chức liên quan rất to. Có cả đoàn văn công về biểu diễn vở kịch “Hòn đá to hòn đá nặng rồi lại múa sạp nữa”. Tôi được trung đoàn thưởng cho một khẩu hiệu chữ vàng thêu trên băng vải đỏ: Phát huy truyền thống bộ đội cụ Hồ về tham gia xây dựng quê hương. Vui duyên mới không quên nhiệm vụ. Nhiệm vụ gì. Ông cụ bỗng bật cười hô hố. Nhiệm vụ tiếp tục đẻ. Vợ tôi lại đẻ cho tôi hai thằng con giai và một cô con gái nữa vị chi tất cả là bẩy đứa. Gái thổ mắn con ra phết ông bác ạ. ậ trong bản chật quá lại không quen cái kiểu canh tác và phong tục của người thổ anh Cối Thực bèn dinh cả gia đình ra một ngọn đồi lùn khai hoang vỡ đất lập trại làm ăn. trồng đủ thứ sắn ngô đu đủ khoai lang mít nhãn bưởi và cả cây cà phê nữa. Đất rừng bạt ngàn cuốc lên cứ bốc hơi ngùn ngụt đỏ ối như miếng thịt thăn. Cả nhà anh Cối Thực thi đua lao động suốt ngày này qua ngày khác năm này qua năm khác. Hôm nào cũng vậy từ sớm tinh mơ vợ chồng con cái đã dắt díu nhau lên đồi đào xới cày cuốc cho tới tối mịt mới bồng bế nhau về nhà xúm quanh bếp lửa bập bùng. Hôm thì chõ xôi. Hôm thì nồi cháo. Không cháo không xôi thì rổ khoai đĩa sắn. Vợ chồng hoà thuận vui vẻ. Con cái đứa nào cũng béo đen. Cậu con cả tên là Xuân  vừa đến tuổi 18 đã hăng hái lên đường nhập ngũ. Cả bản tiễn đưa trống dong cờ mở. Vợ chồng anh Cối Thực đã làm đúngcái khẩu hiệu chữ vàng phông đỏ năm nào vui duyên mới không quên nhiệm vụ. Đi bộ đội được hai năm thì  anh cả Xuân hy sinh ngoài chiến trường. Gia đình ông Cối Thực là gia đình đầu tiên ở cái bản người Thổ vùng giáp biên giới phía Tây này được tặng bảng vàng Tổ quốc ghi công. Thời gian dần trôi. Cây cối ở cái trại đồi lùn của gia đình anh Cối Thực tươi tốt xum xuê như rừng. Sáu đứa em của anh cả Xuân lớn dần lên khoẻ mạnh chất phác lần lượt nối tiếp nhau lấy chồng lấy vợ nhưng không đứa nào ra ở riêng.


  Đất trong trại rộng mênh mông ông Cối Thực lần lượt cắt chia cho từng đứa làm nhà làm cửa tăng gia sản xuất. Tuy không giàu có thừa thãi nhưng cả sáu gia đình sáu đứa con trai gái của ông Cối Thực cũng không túng thiếu gì. Ông Cối Thực đã có cháu nội cháu ngoại đủ cả. Cái đại gia đình của ông Cối Thực tứ cố vô thân đã hình thành bám rễ vững chắc xuống đất rừng ngày một phát triển đông đúc vui sống đầy đủ ấm no hòa thuận chan chứa tình người. Đúng những ngày tháng huy hoàng ấy thì tai họa ghê gớm đã xẩy ra và chỉ trong một sớm một chiều nó đã phá tan hoang cái trại đồi lùn ấm cúng um tùm cây cối đó ấy là một buổi chiều mùa đông rét buốt sau một ngày đi rẫy về mỏi mệt ê ẩm ông Cối Thực dừng lại rửa chân tay rửa cày cuốc ở ven con suối lào và nhặt được một hòn cuội vàng chóe to hơn ngón chân cái…


 


                                                                *


  Sáng hôm sau bác sĩ Cần đang nằm ngáy khò khò thì ông cụ Cối Thực tới cạnh hắng giọng đánh thức ông bác sĩ dậy. Thấy ông bác sĩ ngơ ngác cụ Cối Thực có vẻ bẽn lẽn chứ không còn hùng dũng la đà như tối hôm qua. Ông cụ lễ phép hỏi:


  - Ông bác ngủ ngon giấc chứ ạ?


  Bác sĩ Cần ấp úng vâng dạ. Cụ Cối Thực se sẽ:


  - Mời ông bác vào toa-lét rửa mặt rồi xuống nhà ăn sáng rồi xin phép được…


  Nói đến đây ông cụ thực loay hoay như gà vướng tóc. Bác sĩ Cần vẫn chỉ biết trố mắt nhìn. Cụ Cối Thực thở dài:


  - Chả là sáng nay mười giờ gia đình tôi làm cái lễ đưa cháu Xuân lên đồi Lùn.


(còn tiếp)


Nguồn: Đêm thánh nhân. Tiểu thuyết, tập 1, của Nguyễn Đình Chính. NXB Văn học, 1999. Bản điện tử do tác giả gửi


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »