tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28871215
Tiểu thuyết
16.05.2013
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua

Cảm tưởng đầu tiên của tôi là lớn lao, mặc dầu New York chưa có như ngày nay vẻ đẹp ban đêm mê hồn. Còn thiếu những thác ánh sáng tuôn trào ở Quảng trường Times và bầu trời thơ mộng đầy sao của thành phố thắp sáng về đêm với hàng tỷ ngôi sao nhân tạo những ngôi sao thật của trời. Hình ảnh thành phố cũng như sự giao thông còn thiếu vẻ lớn lao táo bạo của hôm nay vì nền kiến trúc mới đang còn rất rụt rè thử nghiệm một vài nhà chọc trời đơn lẻ; và sự tiến bộ đầy kinh ngạc của thị hiếu về các mặt tiền cửa hiệu và về các đồ trang trí đang còn ở buổi ban đầu chưa chắc chắn. Nhưng đắm nhìn về phía cảng từ cầu Brooklyn rung rinh theo một chấn động thường xuyên, và đi xa trong những hẻm đá các đại lộ tạo nên những khám phá và những kích thước đầy đủ, nhưng rồi những cảm giác đó nhường chỗ một cách tự nhiên sau vài ba ngày cho một cảm giác khác mạnh mẽ hơn: cảm giác của sự cô đơn cùng cực! Tôi không có việc gì làm ở New York và không ở đâu một con người nhàn rỗi không đúng vị trí bằng ở đây. Chưa có các rạp chiếu bóng để người ta có thể giải trí trong một tiếng đồng hồ, cũng không có những tiệm cà phê sang trọng; còn có ít hơn ngày nay những nhà trưng bày tranh, những thư viện, những nhà bảo tàng; tất cả đều còn rất chậm hơn châu Âu trong lĩnh vực văn hóa. Sau khi đã cẩn thận đi một vòng các bảo tàng và xem những đồ lạ chính, tất cả trong hai hoặc ba ngày, tôi bắt đầu đi lang thang như một con thuyền không tay lái qua các phố băng giá và đầy gió. Cuối cùng cảm giác về sự phi lý của những cuộc viễn du của tôi lớn tới mức tôi chỉ có thể vượt qua bằng cách làm cho chúng hấp dẫn hơn nhờ một thủ đoạn. Tôi sáng tạo ra một trò chơi mà tôi chơi một mình. Tôi vừa đi lang thang hoàn toàn cô đơn vừa hình dung rằng tôi thành gì đây và tôi chỉ có bảy đô la trong túi - Vậy hãy sẵn lòng làm những gì những người di cư bị bắt buộc phải làm! Hãy tưởng tượng rằng trong ba ngày nữa là nhiều nhất mày đã phải tự kiếm cái ăn. Hãy nghĩ đến cách tìm ra ngay một việc làm, dẫu rằng anh là người nước ngoài, không thân thích, không bạn bè. Tôi bèn đi từ phòng tìm việc này đến phòng tìm việc khác và nghiên cứu các biển treo ở cửa. Ở đây người ta kiếm một thợ làm bánh mỳ, nơi kia, một thầy ký ngoài biên chế phải biết tiếng Anh và tiếng Italia; nơi nữa, một người giúp việc trong một hiệu sách: công việc cuối cùng này luôn là cơ may đầu tiên cho cái tôi trong tưởng tượng. Tôi leo ba tầng qua những cầu thang quay bằng sắt, tôi hỏi thăm về lương bổng và so sánh với giá đăng trên báo của một phòng ở Bronx. Sau hai ngày "tìm một nơi làm việc", trên lý thuyết, tôi đã tìm được năm chỗ làm có thể đảm bảo cho cuộc sống của tôi; bằng cách đó tôi có thể đi dạo không mục đích về những khả năng mà đất nước trẻ này mở ra rất nhiều cho một người mong muốn làm việc, và điều đó buộc tôi phải kính nể. Tôi cũng có thể nhận thấy, khi chạy từ hãng này đến hãng khác, khi đến một hiệu buôn, sự tự do thần thánh mà người ta được hưởng ở đất nước này. Không người nào hỏi về quốc tịch, về tôn giáo, về nguồn gốc của tôi, và tôi đã đi du lịch không có hộ chiếu, điều có thể tỏ ra huyễn hoặc trong thế giới các dấu lăn tay, các thị thực và các quan hệ cảnh sát của chúng ta. Nhưng ở đó có công việc đang chờ người của mình; và chỉ có điều đó là quyết định. Trong một phút, hợp đồng được ký kết trong những thời kỳ của tự do đã thành huyền thoại. Không có sự can thiệp phiền hà của Nhà nước, không thủ tục và không trade union( ) Nhờ có trò chơi "kiếm việc làm" đó mà trong những ngày đầu tôi đã tìm hiểu được nhiều hơn về châu Mỹ so với tất cả những tuần lễ tiếp theo, khi mà tôi thăm với tư cách nhà du lịch sang trọng Philadelphie, Boston, Baltimore, Chicago, luôn một mình, nếu không là ở Boston, tại đó tôi đã sống và giờ dễ chịu với Charles Loeffleur, người đã phổ nhạc vài ba bài thơ của tôi. Một lần duy nhất, một sự tình cờ làm gián đoạn sự nặc danh tuyệt đối của cuộc sống của tôi. Tôi đi dạo ở Philadelphie dọc theo một đại lộ rộng; tôi dừng lại trước một hiệu sách lớn để có được cảm giác của cái quen biết, cái thân thuộc khi đọc tên các tác giả. Bỗng nhiên tôi rùng mình. Ở mặt tiền của hiệu sách này có đặt ở phía dưới bên trái sáu hoặc bảy quyển sách tiếng Đức và từ bìa một cuốn, tên của tôi nhảy phốc về phía tôi. Tôi nhìn như bị thôi miên và bắt đầu suy ngẫm. Một cái gì của cái tôi của tôi đã đến đây trước tôi, bò lê qua các đường phố xa lạ. Không ai biết đến, không mục đích rõ rệt và không làm ai chú ý: người chủ hiệu sách đã phải ghi tên tôi lên một tờ đặt hàng để cho quyển sách này đi mười ngày xuyên đại dương. Trong chốc lát, cảm giác của sự từ bỏ tan biến đi trong tôi và hai năm trước đây, khi tôi đi qua Philadelphie lần thứ hai, bất giác tôi đã bổ đi tìm quầy sách đó.


Tôi không còn can đảm đi đến tận Francisco; Hollywood chưa được tạo ra vào thời gian đó. Nhưng ít ra tôi phải thỏa mãn ở một nơi khác nguyện vọng của tôi được nhìn qua Thái Bình Dương, nguyện vọng đó đã quyến rũ tôi ngay từ thời thơ ấu do liên quan đến những cuộc du lịch đầu tiên vòng quanh thế giới và điều đó, ở một địa điểm ngày nay đã biến mất, một địa điểm mà không bao giờ một con mắt trần tục còn nhìn thấy: những mô đất của kênh đào Panama lúc đó đang trong tiến trình xây dựng. Tôi đã đến đấy trên một chiếc thuyền nhỏ, qua Bermudes và Haiti, - thế hệ thơ mộng của chúng ta phải chăng đã không được Verhaeren bày cho việc ca ngợi những kỹ thuật tuyệt vời của thời đại chúng ta với cùng một niềm hăng say như những tiền bối của chúng ta ca ngợi những cổ vật La Mã? Panama tự bản thân nó đã là một cảnh quan không thể nào quên; lòng con sông ấy được máy nạo vét và màu đất son vàng đốt cay những con mắt dù có mang kính đen; một không khí ma quái rung động vù vù của hàng triệu, hàng tỷ con muỗi mà người ta có thể đếm được những dãy dài nạn nhân ở nghĩa trang. Bao nhiêu người đã ngã xuống vì công trình này mà châu Âu đã khởi sự và châu Mỹ phải kết thúc! Và ngày nay, sau ba mươi năm tai họa và thất vọng, nó thành hình và đạt độ vững chắc. Còn vài tháng làm việc với các cống, rồi một ấn ngón tay lên bộ phận liên lạc và hai biển sau nhiều thế kỷ sắp vĩnh viễn trộn lẫn nước của chúng vào nhau; nhưng tôi đã là một trong những người cuối cùng của thời ấy còn thấy được chúng bị cách biệt với ý thức đầy đủ và sáng suốt của thời điểm lịch sử mà tôi được sống. Tôi không có cách nào từ giã châu Mỹ hơn là bằng cách ném một cái nhìn lên công trình lớn lao nhất mà tài năng xây dựng của nó tạo nên.


 


ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI TRÊN CHÂU ÂU


 


Tôi đã sống như vậy mười năm đầu của thế kỷ mới; tôi đã thăm Ấn Độ, một bộ phận của châu Mỹ và của châu Phi; với một niềm vui mới có đầy đủ thông tin hơn, tôi lại bắt đầu quay nhìn về châu Âu. Không bao giờ tôi yêu thương vùng đất già cỗi của chúng ta nhiều bằng trong những năm tháng cuối cùng trước chiến tranh thế giới. Không bao giờ tôi tin tưởng nhiều hơn vào sự thống nhất của châu Âu. Không bao giờ tôi tin tưởng vào tương lai nhiều bằng thời gian này, lúc mà chúng tôi tưởng đã thoáng thấy ánh hồng của một bình minh mới. Trên thực tế đó đã là ánh lửa của đám cháy sắp thiêu đốt thế giới.


Có thể khó miêu tả cho thế hệ hiện nay, đã được nuôi dưỡng trong tai biến, những sụp đổ và những khủng hoảng, mà chiến tranh là một đe dọa thường trực và một sự chờ đợi hầu như từng ngày, cái chủ nghĩa lạc quan, lòng tin vào thế giới đang khích lệ chính tôi, những người trẻ tuổi đầu thế kỷ này. Bốn mươi năm hòa bình đã làm mạnh thêm cơ chế kinh tế của các nước; kỹ thuật đã làm tăng tốc độ của nhịp điệu cuộc sống, những phát minh khoa học đã làm tinh thần của thế hệ này thấm đượm niềm kiêu hãnh; một sự cất cánh bắt đầu, được cảm nhận hầu như đồng đều ở tất cả các nước châu Âu chúng ta. Các thành phố, năm này qua năm khác, trở nên đẹp hơn và đông dân hơn; Berlin của 1905 không còn giống Berlin mà tôi đã biết năm 1901; nơi cư trú đã trở thành của một thủ đô lớn gồm người tứ xứ mà Berlin 1911 đã vượt quá rất nhiều. Vienne, Milan, Paris, Londres, Amsterdam, khắp nơi mà ta trở lại ta đều ngạc nhiên và tràn đầy niềm vui; các đường phố đã được mở rộng và trở nên tráng lệ hơn, các công sở oai nghiêm hơn, các cửa hiệu sang trọng hơn và được sắp đặt hợp thị hiếu hơn. Ở mọi vật, người ta cảm thấy rằng sự giàu có đã tăng lên và trải rộng hơn; bản thân chúng tôi, những nhà văn, nhận thấy điều đó qua sự xuất bản đã trong khoảng thời gian mười năm tăng trưởng gấp ba, gấp năm, gấp mười. Khắp nơi mở thêm những nhà hát, thư viện, nhà bảo tàng mới; mọi thứ tiện nghi, như các phòng tắm và điện thoại trước kia là đặc ân của những giới rất hẹp, thâm nhập vào các giới tiểu tư sản, và từ ngày giờ làm việc được giảm xuống, giai cấp vô sản vươn lên từ điều kiện thấp hèn của mình, để tham gia ít nhất là vào những niềm vui nhỏ và những tiện nghi của cuộc sống. Khắp nơi người ta tiến về phía trước. Người nào liều lĩnh thì người đó chắc thắng. Người nào mua một ngôi nhà, một quyển sách hiếm, một bức tranh thấy giá trị của chúng tăng lên; một doanh nghiệp càng được quan niệm theo một kế hoạch táo bạo thì càng ở trong một quan hệ tốt đẹp. Một sự vô tư lự tuyệt vời chiếm lấy mọi người như thế đó, vì cuối cùng ai có thể làm đứt đoạn sự tăng tiến này, làm kẹt sự cất cánh này mà theo đà của chúng, chúng không ngừng đạt những sức mạnh mới… Chưa bao giờ châu Âu hùng mạnh hơn, giàu có hơn, tươi đẹp hơn, chưa bao giờ nó tin tưởng một cách sâu kín hơn vào một tương lai còn tốt đẹp hơn nữa. Không ai ngoài một vài cụ già lụ khụ còn nuối tiếc như trước đây "thời xưa cũ tốt đẹp".


Không chỉ các thành phố, mà cả bản thân những con người cũng trở nên đẹp đẽ hơn và lành mạnh hơn nhờ thể thao, nhờ thức ăn tốt hơn, giờ làm việc được rút ngắn và nhờ cuộc sống ở ngoài trời. Mùa đông trước đây là một mùa buồn tẻ, mà đàn ông thường ngồi đánh bài ở các quán ăn với vẻ rầu rĩ hoặc ngồi buồn chán trong những gian phòng bị sưởi nóng quá mức, cái mùa đông ấy được khám phá thấy ở các triền núi như là một mảng ép ánh mặt trời đã được tinh lọc, một bầu mật hoa cho các lá phổi, một sự lạc thú cho da tại đó một thứ máu nhẹ nhàng dồn tới. Cái xe đạp, chiếc ô tô, chiếc tàu điện rút ngắn các khoảng cách và cung cấp cho thế giới một cảm giác mới mẻ về không gian. Ngày chủ nhật, hàng ngàn và hàng chục ngàn người du lịch mặc may ô thể thao sáng loáng trượt xuống các sườn núi phủ băng trên những đôi xki hoặc trong những chiếc xe luy; khắp nơi người ta xây những lầu thể thao và những bể bơi. Và chính là ở cái bể bơi ấy mà người ta có thể quan sát thấy rõ rệt sự thay đổi  đã đến. Trong khi ở thời thanh niên của tôi một người đàn ông thực sự có thể hoàn chỉnh được chú ý bằng cái cổ to, cái bụng kếch xù và cái ngực lép, ngày nay người ta thi nhau trong cuộc thi vui kiểu thời cổ đại với những cơ thể mềm mại rám nắng và được thể thao làm cho rắn rỏi. Không ai, ngoại trừ những người nghèo nhất, còn ở lại nhà ngay chủ nhật, toàn bộ thanh niên đi điều tra thực địa hoặc đi dạo, leo núi và đấu võ, luyện thành thạo mọi bài tập thể dục. Người có kỳ nghỉ không còn dùng nó để sống như cha ông chúng ta ở những nơi gần sát thành phố hoặc để mọi cái đều được tốt đẹp nhất, ở vùng nông thôn của Salzburg; người ta hiếu kỳ muốn biết thế giới xem có phải đâu đâu cũng đẹp như vậy hay đẹp một cách khác; trong khi ngày trước chỉ những người được ưu đãi mới đi thăm các nước ngoài; những nhân viên nhà băng và những nhà công nghiệp nhỏ đi du lịch ở Italia, ở Pháp. Các cuộc đi du lịch ít tốn kém hơn và tiện lợi hơn và trên hết đó là lòng can đảm mới, sự táo bạo mới của những người càng làm cho mình quả cảm hơn trong những cuộc viễn du, ít sợ sệt hơn và tiết kiệm trong lối sống - hơn nữa người ta xấu hổ khi tỏ ra sợ sệt. Cả thế hệ quyết tâm trở nên trẻ trung hơn; mỗi người tự hào mình trẻ trung, trái với những gì sắp xảy ra trong thế giới của các bố mẹ, trước tiên, các bộ râu đột ngột biến đi ở những người đàn em; rồi những người đàn anh bắt chước họ để khỏi bị coi là già. Khẩu hiệu là phải trẻ trung, phải tươi mới, không giả vờ những bộ điệu trang nghiêm. Phụ nữ vứt bỏ yếm đã chèn ép bộ ngực của họ, họ từ bỏ ô và mạng che mặt vì họ không còn sợ không khí và ánh mặt trời; họ cắt ngắn cái váy dài để dễ cử động các ống chân khi chơi quần vợt; họ không còn xấu hổ để lộ những bắp chân tròn trịa của mình. Thời trang bao giờ cũng tỏ ra tự nhiên hơn: đàn ông mặc quần ống túm; đàn bà liền ngồi thử trên những chiếc yên đàn ông. Người ta không còn đeo mạng che mặt, người ta không che giấu thân mình với người khác. Thế giới không chỉ đẹp hơn, nó cũng trở nên tự do hơn.


Chính sức khỏe, lòng tin ở bản thân của thế hệ nối tiếp thế hệ chúng tôi đã chiếm lĩnh được sự tự do trong các tập quán. Lần đầu tiên người ta thấy những cô gái đi dạo dùng các bạn trai trẻ hoặc chơi thể thao với họ trong tình bạn bè tốt đẹp mà không có bà trông họ đi kèm. Và họ không sợ để lộ cơ thể mình; họ không còn rụt rè và ra vẻ đoan trang; họ biết mình muốn điều gì và điều gì mình không muốn. Đã thoát ra ngoài sự kiểm soát đầy lo âu của bố mẹ, kiếm sống trong tư cách người thư ký hoặc người nhân viên, họ tự cho mình cái quyền tự mình tổ chức lấy cuộc sống của bản thân mình. Nạn gái điếm, thiết chế duy nhất của việc làm tình được phép trong thế giới đã qua, lùi bước một cách rõ rệt nhờ sự tự do mới và lành mạnh hơn; mọi biểu hiện của sự tỏ vẻ đoan trang được coi là không hợp thời. Trong các nhà tắm công cộng, thành các tấm ván ngăn cách một cách khắc nghiệt bể tắm của đàn ông với bể tắm của đàn bà được hạ xuống thường xuyên hơn; đàn ông và đàn bà không còn hổ thẹn để người khác thấy cấu trúc của cơ thể mình; trong vòng mười năm nay người ta đã chiếm lĩnh lại nhiều tự do, hồn nhiên và tự nhiên hơn trước đó trong một trăm năm.


Bởi vì có một nhịp điệu mới trên thế giới. Một năm! Những gì đã không diễn ra trong một năm? Một phát minh, một khám phá gạt bỏ cái kỳ trước, và mỗi cái trong một thời gian rất ngắn và trở thành tài sản chung của mọi người, lần đầu tiên các quốc gia cảm thấy đoàn kết với nhau hơn khi đụng đến quyền lợi chung. Ngày chiếc Zeppelin cất cánh trong chuyến bay đầu tiên khi tình cờ tôi đi ngang qua Strasbourg để đi Bỉ. Chiếc khí cầu vòng quanh nhà thờ trong tiếng hoan hô nhiệt liệt của đám đông dường như nó, cái bay lượn, muốn nghiêng mình trước công trình cổ đã nghìn năm. Buổi tối ở Bỉ tại nhà Verhaeren, chúng tôi được tin chiếc khí cầu lái được đã bị vỡ tan ở Echterdinger. Verhaeren mắt đẫm lệ và bị kích động dữ dội. Là người Bỉ, ông không thờ ơ với tai họa giáng xuống nước Đức; nhưng với tư cách là người châu Âu, là người của thời đại chúng ta, ông cảm thấy chiến thắng chung cũng sâu sắc như là sự thử thách chung. Ở Vienne chúng tôi thét lên hoan hỉ khi Blériot bay qua biển Manche, như ông ta là anh hùng của tổ quốc chúng tôi vậy. Nhờ có niềm tự hào mà các chiến công luôn lập lại của kỹ thuật, của khoa học của chúng ta, lần đầu tiên gợi lên từng giờ một tình đoàn kết châu Âu, một ý thức quốc gia châu Âu đang được hình thành. Chúng tôi tự bảo: phi lý biết bao những biên giới mà chiếc máy bay bay trên chúng coi là trò đùa; mang tính chất tỉnh lẻ biết bao, giả tạo biết bao những hàng rào thuế quan và những trạm gác biên giới, chúng mâu thuẫn biết bao với tinh thần của thời đại chúng ta hiển nhiên đang mong muốn sự thống nhất và tình hữu nghị trên toàn thế giới! Sự cất cánh của tình cảm không kém phần kỳ diệu so với sự cất cánh của các máy bay; tôi phàn nàn cho tất cả những ai không sống trai trẻ những năm cuối cùng của niềm tin cậy ở châu Âu. Vì không khí quanh chúng tôi không phải là chết chóc và trống rỗng; nó mang trong mình nó sự rung động và nhịp điệu của thời khắc. Nó lẻn vào trong máu chúng tôi mà chúng tôi không biết; nó lan tràn đến tận đáy trái tim của chúng tôi và vào não cân của chúng tôi. Trong những năm cuối cùng đó, mỗi người trong chúng tôi đã hít vào người mình sức mạnh mà nó rút ra được từ cái đà chung của thời đại chúng ta; và niềm tin cá nhân của nó được tăng lên với niềm tin chung. Có lẽ vô ơn như con người, chúng tôi lúc đó không hay rằng làn sóng mang chúng tôi đi hùng mạnh biết bao, vững vàng biết bao. Song chỉ những người đã sống qua thời kỳ của niềm tin phổ biến đó biết rằng tất cả, từ đấy, chỉ là suy tàn và tăm tối.


*


 


Nó thật là tuyệt vời, cái làn sóng bồi bổ sức mạnh từ khắp các bờ biển châu Âu vỗ vào ngực chúng tôi. Song cái làm chúng tôi sung sướng đến thế đồng thời ẩn giấu một mối hiểm nguy mà chúng tôi không ngờ tới. Cơn bão của niềm kiêu hãnh và lòng tin đang quét qua châu Âu lúc đó cũng cuốn theo nhiều mây mù. Sự tiến bộ có thể đã là quá nhanh; các quốc gia, các thành phố đã đạt được quá nhanh một sự hùng mạnh lớn lao và cảm giác về sức mạnh luôn thúc đẩy họ, những người cũng như những quốc gia lợi dụng nó hoặc lạm dụng nó. Nước Pháp đầy ắp của cải. Nhưng nó còn muốn nhiều hơn nữa, nó muốn có thêm một thuộc địa, mặc dầu nó không có một sự dôi dân số cho những thuộc địa cũ; vụ Maroc suýt làm nổ chiến tranh. Nước Italia muốn có Cyrénaðque; nước Áo sáp nhập Bosnie. Serbie và Bulgarie tấn công Thổ Nhĩ Kỳ và nước Đức đang còn đứng tách riêng, đã nắm tay lại để giáng một quả đấm dữ dội. Khắp nơi máu dồn lên đầu các quốc gia để tạo ra đấy một cơn xung huyết não. Ý chí màu mỡ của sự củng cố nội bộ bắt đầu khắp nơi, như một sự nhiễm trùng do trực khuẩn, phát triền thành ý muốn bành trướng. Nhưng nhà công nghiệp Pháp lại vẫn tiến hành một chiến dịch khiêu khích xuống người Đức, về phần mình cũng phồn thịnh lên, bởi vì cả hai đều muốn được phân phối nhiều đại bác hơn, những Krupp và những Schneider của hãng Creusot. Các công ty hàng hải Hamburg với những lợi tức cổ phần kếch sù chống lại các công ty của Southampton; nông dân Hungari chống lại nông dân Serbie, các tơrơt lớn chống lại nhau - sự cạnh tranh làm họ điên lên với việc kiếm lợi nhiều hơn. Nếu ngày nay người ta tự hỏi với đầu óc tỉnh táo tại sao châu Âu đi vào chiến tranh năm 1914, người ta không tìm thấy một lý do nào xác đáng, thậm chí không có một nguyên cớ nào. Không một ý tưởng lớn nào can dự, vấn đề chỉ là những xung đột khu vực nhỏ ở biên giới; tôi không thể giải thích nó cách nào khác là do một sự hùng mạnh thái quá, như là hậu quả bi thảm của sự năng động bên trong đã được tích lũy trong bốn mươi năm hòa bình và muốn giải tỏa một cách dữ dội. Mỗi quốc gia bỗng có cảm giác là mình mạnh và quên rằng người láng giềng cũng hệt như vậy; mỗi bên muốn có nhiều hơn và muốn một phần của cải của người khác. Điều tệ hại chính là cảm giác ấy, mà chúng ta gắn bó nhất: chủ nghĩa lạc quan chung của chúng ta đã lạm dụng chúng ta. Vì mỗi bên có ảo tưởng rằng đến phút cuối cùng bên kia hoảng sợ và rút lui; thế là các nhà ngoại giao bắt đầu trò chơi của mình là lòe bịp lẫn nhau. Bốn lần, năm lần, ở Agadin, trong cuộc chiến Balkan, ở Albani, người ta giữ vững trò chơi; nhưng những liên minh lớn thắt chặt những sợi dây lại, luôn quân sự hóa mạnh hơn. Ở Đức, người ta đặt ra trong thời buổi hòa bình một thứ thuế chiến tranh. Ở Pháp thời hạn quân dịch bị kéo dài, cuối cùng những lực lượng dư thừa phải được giải tỏa, và những dấu hiệu khí tượng ở Balkan chỉ rõ hướng từ đó các đám mây xích lại gần châu Âu.


Chưa phải là sự kinh hoàng, mà là một nỗi lo âu đang ấp ủ; luôn luôn chúng tôi cảm nhận một sự khó chịu nhẹ nhẹ khi nghe tiếng súng nổ ở Balkan. Phải chăng chúng tôi đã thực sự bị chiến tranh tấn công mà không biết vì sao và với ý định nào? Dần dà, rất dần dà, rất quá rụt rè y như ngày nay chúng tôi mới biết! - các lực lượng phản đối chiến tranh tập hợp lại. Có Đảng Xã hội, hằng triệu người ở phía bên này biên giới, hằng triệu ở phía bên kia đã phủ định chiến tranh trong cương lĩnh của họ; có các nhóm công giáo hùng mạnh dưới sự lãnh đạo của giáo hoàng và một vài tơrớt quốc tế; có một nhóm nhỏ những chính trị gia biết điều đứng lên chống lại những âm mưu ngấm ngầm. Và chúng tôi nữa, chúng tôi cũng ở hàng ngũ những kẻ thù của chiến tranh, chúng tôi những nhà văn tất nhiên là luôn luôn đơn độc trong các tính riêng, thay vì phải thống nhất và kiên quyết. Thái độ của phần lớn những ngưới trí thức, đáng tiếc, là thái độ thờ ơ thụ động, vì do lỗi của chủ nghĩa lạc quan của chúng tôi, vấn đề chiến tranh với tất cả những hậu quả đạo đức của nó chưa đi vào hướng thị lực bên trong của chúng tôi. - Không một tác phẩm chủ yếu nào của những trí tuệ cao siêu nhất của thời đó có chứa một tuyên bố chân chính về nguyên tắc hoặc một lời cảnh cáo say mê chống chiến tranh. Chúng tôi tưởng là đã làm đủ bằng suy nghĩ như một người châu Âu và liên kết với nhau trong một tinh thần thân hữu anh em mang tính quốc tế, bằng sự thú nhận coi như là lý tưởng - trong vòng hoạt động của chúng tôi chỉ tạo một ảnh hưởng gián tiếp lên các sự vật của thời đại chúng tôi - sự hiểu biết lẫn nhau và tình huynh đệ về trí tuệ, không hề chú ý tới các biên giới ngôn ngữ và biên giới các quốc gia. Và chính thế hệ mới gắn bó nhiều nhất với ý tưởng châu Âu này. Ở Paris tôi thấy tập hợp quanh người bạn của tôi Bazalgette cả một nhóm những người trẻ tuổi đã, trái với thế hệ trước, loại bỏ mọi thứ chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi và mọi thứ chủ nghĩa đế quốc xâm lược: Jules Romain sau này trong chiến tranh sẽ viết bài thơ lớn Châu Âu của mình, Georger Duhamel, Charles Vildrac, Durtain, René Arcos, Jean Richard Bloch, tất cả tập hợp ở tờ Abbaye( ), rồi ở tờ Effort libre( ), là những người đi tiên phong say mê của chủ nghĩa châu Âu sắp tới và như sự thử lửa chứng tỏ điều đó trong chiến tranh, là những người không gì lay chuyển nổi đối với sự căm thù mọi chủ nghĩa quân phiệt - một lớp thanh niên mà nước Pháp hiếm khi đào tạo được quả cảm hơn, có năng khiếu hơn và kiên cường về đạo đức hơn. Ở Đức, chính là Werfel với tờ Welt freund( ) đã tạo nên những trọng âm trữ tình mạnh mẽ nhất cho ý tưởng về sự xây dựng tình anh em phổ biến, trong khi René Schickele với tư cách người Alsace; đã được số mệnh đặt giữa hai quốc gia, say mê làm việc cho một sự thỏa thuận với nhau; từ Italia G.A. Borgese chào chúng tôi với tình đồng chí; những lời khích lệ đến với chúng tôi từ những nước Slave và Xcandinave. Một nhà văn lớn của nước Nga viết cho tôi: "Vậy hãy đến chỗ chúng tôi một ngày nào đó. Hãy chỉ cho những người theo chủ nghĩa bành trướng Slave muốn kích động chúng tôi vào chiến tranh, rằng ở Áo các anh không hề muốn". Ôi! Tất cả chúng tôi yêu quý thời đại của chúng tôi đang nâng chúng tôi trên cánh của nó, chúng tôi yêu quý châu Âu! Nhưng niềm tin quá sung sướng và quá vững chắc vào lẽ phải sẽ vào phút chót ngăn chặn tinh thần của sai lầm và lầm lạc đã là đồng thời nhầm lẫn độc nhất của chúng tôi. Chắc chắn là chúng tôi đã không xem xét với đầy đủ sự ngờ vực những dấu hiệu chiến tranh ở các bức thành, nhưng phải chăng sự thật của một tuổi thanh niên chân chính là không ngờ vực, mà đầy niềm tin? Chúng tôi dựa vào Jaurès, vào quốc tế xã hội chủ nghĩa; chúng tôi tin rằng những nhân viên đường sắt sẽ làm bật tung các đường tàu hỏa thay vì để người ta đưa lên tàu những đồng chí của họ được đối đãi như súc vật lò sát sinh; chúng tôi tin cậy vào những phụ nữ sẽ từ chối không để bị đưa làm vật hy sinh con, chồng của họ; chúng tôi tin chắc rằng sức mạnh tinh thần, sức mạnh đạo lý của châu Âu sẽ tự khẳng định một cách thắng lợi vào phút chót quyết định nhất. Chủ nghĩa lý tưởng chung của chúng tôi, chủ nghĩa lạc quan của chúng tôi dựa trên sự tiến bộ đang bước tới làm chúng tôi ngộ nhận và coi khinh sự nguy hiểm chung.


Và sau nữa, cái mà chúng tôi thiếu là một người tổ chức ý thức được mục đích phải đạt và liên minh được những sức mạnh tiềm tàng của chúng tôi. Chúng tôi chỉ có giữa chúng tôi một người dự báo duy nhất biết nhìn trước từ xa các sự kiện, và điều kỳ diệu là người ấy sống giữa chúng tôi và trong một thời gian lâu, chúng tôi không biết gì về người ấy, mà số mệnh đã dành làm người hướng dẫn cho chúng tôi. Đối với tôi, thật là một sự may mắn đặc biệt còn phát hiện ra ông ta vào phút cuối; mà phát hiện ra ông ta đâu có dễ vì ông ta sống trong lòng Paris, nhưng sống tách biệt khỏi La Foire Sur la place( ). Nếu ai đó một ngày kia viết một quyển lịch sử chân thật của văn học Pháp vào thế kỷ hai mươi, thì không được bỏ qua không chú ý đến hiện tượng đáng kinh ngạc là người ta tôn thờ trên báo chí Paris tất cả các nhà văn và các tên tuổi có thể tưởng tượng được, thế mà người ta không biết đến ba người lớn lao nhất và không công nhận giá trị của họ. Từ 1900 đến 1914 tôi không bao giờ thấy tên của Valéry với tư cách là nhà thơ trên tờ Figaro lẫn tờ Buổi sáng, Marcel Proust được xem là anh chàng lăng nhăng ở thính phòng, Romain Rolland được xem là một người nghiên cứu âm nhạc rất sành sỏi; họ gần năm mươi tuổi khi những tia sáng đầu tiên còn rụt rè của danh tiếng đến với họ, và tác phẩm lớn lao của họ bị chìm trong bóng tối giữa cái thành phố hiếu kỳ nhất và giàu chất trí tuệ nhất thế giới.


*


Thật là hoàn toàn tình cờ tôi khám phá ra Romain Rolland còn kịp thời. Một phụ nữ Nga làm nghề chạm trổ ở Florence mời tôi đến dự tiệc trà của bà để giới thiệu với tôi các công trình của bà và cũng để thử làm một phác thảo về tôi. Tôi đến đúng hẹn vào lúc bốn giờ, quên rằng bà là một người Nga, do đó rất lỏng lẻo về giờ giấc và sự đúng giờ. Một "babouchka" già( ), như tôi đã biết, trước đây là vú nuôi của mẹ bà, dẫn tôi vào xưởng ở đó yếu tố đập vào mắt hơn cả là sự lộn xộn; bà bảo tôi đợi. Có ở đấy vẻn bẹn bốn bức chạm nhỏ, tôi xem xét chúng trong hai phút. Vì vậy để khỏi mất thời giờ, tôi chộp lấy một quyển sách, đúng hơn một loạt những tập mỏng màu nâu nằm đây đó. Những tập ấy mang tên: "Những quyển vở mười lăm ngày một" và tôi nhớ đã nghe cái tên ấy ở Paris. Nhưng ai có thể theo dõi tất cả các tạp chí nhỏ đó dậy lên khắp nơi trong nước, như những bóng hoa lý tưởng ngắn hạn, rồi biến mất. Tôi lật các trang của tập "Bình minh" của Romain Rolland và bắt đầu đọc, luôn ngạc nhiên và hứng thú hơn. Người Pháp này là ai mà am hiểu nước Đức đến như vậy? Bỗng chốc, tôi thấy biết ơn bà Nga về thói xấu không đúng giờ… Cuối cùng khi bà đến, câu hỏi đầu tiên của tôi là: "Romain Rolland này là ai?". Bà không thể cho tôi biết chính xác và chỉ khi tôi kiếm được những tập tiếp theo (Những tập cuối cùng của tác phẩm còn đang được thai nghén) tôi mới biết: cuối cùng tôi phát hiện được tác phẩm không chỉ phục vụ một quốc gia châu Âu độc nhất, mà tất cả các quốc gia và phục vụ việc xây dựng tình hữu nghị giữa các quốc gia, tôi khám phá ra con người, nhà văn đã vận dụng tất cả các sức mạnh đạo đức: sự hiểu biết mà tình yêu soi sáng và ý chí chân thành muốn hiểu biết, một lẽ công bằng được thể nghiệm và chắt lọc và một niềm tin cháy bỏng ở sức mệnh của nghệ thuật là nối kết những con người. Trong khi chúng tôi phân tán vào những biểu hiện nhỏ nhặt, ông bắt tay vào công trình một cách yên lặng, nhẫn nại, cố công giới thiệu các dân tộc, những dân tộc này với những dân tộc khác, trong những phẩm chất làm cho chúng về mặt cụ thể xứng đáng được yêu mến hơn; đó là quyển tiểu thuyết Âu châu một cách có ý thức được kết thúc ở đây, lời kêu gọi quả quyết đầu tiên cho tình hữu nghị, có hiệu quả hơn những ca khúc của Verhaeren vì nó đến với những đám quần chúng đông đảo ơhn, gay gắt hơn mọi bài văn đả kích và mọi lời phản đối; ở đây đã thấy được hoàn thành trong im lặng những gì mà chúng tôi đã hy vọng và chờ đợi mà không biết.


Nỗi chăm lo đầu tiên mà bọn tôi ở Paris là hỏi thăm tin tức về ông, vì tôi nhớ câu nói của Goethe: "Ông ấy đã học, ông ấy có thể dạy cho chúng ta". Tôi hỏi về ông qua các bạn của tôi. Verhaeren tưởng mình nhớ được một vở kịch, Những con chó sói, đã được diễn ở Nhà hát Nhân dân do những người xã hội chủ nghĩa lập. Bazalgette đã nghe nói rằng Rolland là một nhà nghiên cứu âm nhạc và có viết một quyển sách nhỏ về Beethoven. Trong danh mục sách ở Thư viện Quốc gia, tôi tìm thấy hơn mười tác phẩm về âm nhạc cổ điển và hiện đại, bảy hoặc tám vở kịch tất cả đều xuất bản ở những nhà xuất bản nhỏ hoặc ở Những quyển vở mười lăm ngày một. Cuối cùng để lập quan hệ giữa chúng tôi, tôi gửi cho ông một trong những quyển sách của tôi. Tôi nhận ngay được một lá thư qua đó ông mời tôi ghé qua nhà ông và như vậy bắt đầu một tình bạn đã, cùng với tình bạn của Verhaeren và Freud, có kết quả đối với hướng của cuộc đời tôi rất nhiều vào những giờ phút quyết định.


*


Những ngày nổi bật của cuộc sống của chúng ta mang trong mình nhiều năng lượng ánh sáng hơn các ngày bình thường. Vì vậy tôi còn nhớ với một độ rõ ràng cùng cực cuộc thăm đầu tiên. Tôi leo năm cầu thang quay khá hẹp trong một ngồi nhà không có vẻ ngoài gì đáng chú ý. Không cách xa đại lộ Montparnasse bao nhiêu và ngay từ trước cửa tôi đã kinh ngạc về các chất của sự im lặng: người ta nghe tiếng thì thầm của đại lộ hầu như không nhiều hơn tiếng giói thổi dưới các cửa mở và dẫn tôi vào căn phòng của ông chất đầy sách đến tận trần; tôi thấy lần đầu tiên những con mắt xanh sáng lạ lùng, cặp mắt người trong trẻo nhất mà cũng nhân từ nhất tôi chưa được thấy bao giờ, cặp mắt trong đối thoại rút màu sắc và ánh lửa từ tình cảm sâu kín nhất, tối sầm lại trong tang tóc, trở nên sâu thẳm trong suy tư. Ném những tia lửa trong sự kích động, những đồng tử duy nhất, giữa các bờ mi phần nào mệt mỏi và hơi đỏ lên vì đọc nhiều và vì thức khuya, có thể tỏa một ánh sáng diệu kỳ lan tỏa sang bạn và làm bạn tràn đầy hạnh phúc. Tôi quan sát vóc dáng người ông mà hơi cảm thấy sợ, rất cao lớn và mảnh khảnh, ông đi lại hơi khòm. Dường như nhiều những giờ bên bàn làm việc đã làm gáy ông oằn xuống, ông có vẻ đau yếu với nét mặt lộ rõ cực kỳ xanh xao. Ông nói rất nhỏ cũng như ông rất gìn giữ cơ thể mình, hầu như ông không bao giờ đi dạo, ăn ít, không uống rượu không hút thuốc lá, tránh mọi cố gắng về thể chất; nhưng về sau tôi phải thừa nhận với sự cảm phục rằng cái cơ thể khổ hạnh đó có khả năng chịu đựng kỳ lạ biết bao nhiêu, rằng dưới vẻ yếu ớt bề ngoài đó ẩn giấu một năng lực làm việc trí óc to lớn biết bao nhiêu. Ông ngồi viết hằng giờ ở chiếc bàn nhỏ quá tải về sách và giấy tờ; ông nằm đọc trên giường hằng giờ, chỉ cho phép cơ thể mệt mỏi của mình ngủ ba bốn tiếng đồng hồ là nhiều nhất. Để giải trí, ông chỉ đồng ý cho mình âm nhạc. Ông chơi dương cầm tuyệt vời, với một sự tiếp xúc dịu dàng khó tả, ngón tay lướt nhẹ trên các phím dường như ông không muốn dùng sức mạnh bứt ra các âm thanh mà dùng sự vuốt ve và sức thuyết phục. Không một nhà tài tử nào - và tôi đã nghe trong những nhóm hẹp nhất Max Reger, Busoni, Bruno Walter - gây cho tôi tới mức độ cảm giác về một sự đồng cảm sâu sắc với các bậc thầy yêu dấu.


Tầm hiểu biết của ông làm anh thấy hổ thẹn vì chiều rộng của nó; hình như chỉ sống bằng đôi mắt của người đọc, ông nắm chắc văn học, triết học, lịch sử, các vấn đề của mọi đất nước và mọi thời đại. Về âm nhạc, ông hiểu biết mỗi nhịp độ: ngay những tác phẩm bị quên lãng nhất của Galuppi, của Telemann và những tác phẩm của các nhạc sĩ hạng sáu hạng bảy đối với ông cũng quen thuộc; hơn nữa, ông tham gia với một tinh thần say mê mọi sự kiện của thời kỳ này. Trong cái phòng tu sĩ chật chội này, thế giới soi gương như trong một phòng tối. Ông đã hưởng một cách nhân đạo sự thân tình của những nhân vật lớn của thời đại ông, ông là học trò của Renan, khách của nhà Wagner, bạn thân của Jaurès; Tolstôi đã viết cho ông lá thư nổi tiếng mà với tư cách là bằng chứng nhân đạo, có thể được xứng đáng đặt cạnh tác phẩm của ông. Ở đây tôi cảm nhận - và điều đó luôn giải phóng trong tôi một cảm giác hạnh phúc - sự cao cả về đạo đức và nhân văn, sự tự do bên trong không kiêu ngạo, sự tự do hồn nhiên của một tâm hồn mạnh mẽ. Thoạt nhìn tôi đã nhận ra ở ông - và thời gian đã chứng minh tôi đúng - con người vào giờ phút quyết định sẽ là lương tâm của châu Âu. Chúng tôi nói về Jean Christophe. Rolland giải thích cho tôi rằng ông đã cố gắng bằng tác phẩm này làm tròn một nhiệm vụ gồm ba mặt: biểu hiện lòng biết ơn đối với âm nhạc, lòng tin ở sự thống nhất của châu Âu và một lời kêu gọi lương tâm các dân tộc; tất cả chúng ta phải hành động, mỗi người ở vị trí của mình, mỗi người trong đất nước mình, mỗi người trong ngôn ngữ của mình. Đã đến lúc phải cảnh giác và luôn luôn cảnh giác hơn. Các lực lượng mang lại hận thù, do ngay bản chất hèn hạ của chúng, là mãnh liệt hơn và hiếu chiến hơn các sức mạnh hòa giải, hơn nữa chúng có sau lưng chúng những quyền lợi vật chất mà trong bản thân đã là thiếu đắn đo ngại ngùng hơn những quyền lợi của chúng ta. Sự phi lý rõ ràng là đang hoạt động và sự đấu tranh chống lại nó còn quan trọng hơn nghệ thuật của chúng ta. Tôi cảm thấy ông buồn phiền về sự mỏng manh của các công trình do con người xây dựng, và điều đó hai lần nổi bật hơn trong một con người đã ca ngợi trong toàn bộ tác phẩm mình tính vĩnh cửu của nghệ thuật. "Nó có thể an ủi mỗi người trong chúng ta nói riêng, ông trả lời tôi, nhưng nó không thể làm gì cả chống lại thực tiễn".


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 19.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »