tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27821654
Truyện dân gian Việt Nam và thế giới
13.03.2010
Lan Khai
Truyện dân gian

CHỬ LẦU


Khi xưa, sau một thời hỗn mang, trời đất mù mù, mịt mịt, chưa có ngày đêm gì cả, Chử Lầu bèn tạo ra sáng tối và chia ra âm dương. Công việc đó phải làm trong 7 ngày mới xong.


Trên trời chưa có tinh tú gì hết. Chử Lầu bèn tạo 10 mặt trời, 9 mặt trăng và hằng hà sa số các vì sao. Mười mặt trời thuộc về dương; 9 mặt trăng thuộc về âm và cùng nhau chiếu xuống trần gian trong 7 năm, mặt đất mới khô ráo. Tháng 7 năm ấy, chỉ có ngày mà không có đêm. Khi mặt đất thực khô ráo rồi, Chử Lầu mới sinh ra cây cỏ, chim chóc, lấy bùn nặn thành người ta và hà hơi cho sống. Cây cỏ hồi ấy to lớn lắm. Có người dại dột, nhân thấy một cây đỏ bèn lấy cành cây làm nỏ bắn lên 10 mặt trời và 9 mặt trăng. 9 mặt trời và 8 mặt trăng bị tên bắn trúng rơi đâu mất. Một mặt trời và một mặt trăng tránh khỏi tên chạy thoát và ẩn nấp luôn trong 7 năm không hiện ra. Bảy năm ấy, mặt đất mù mù chỉ có đêm mà không có ngày. Người ta lấy làm hối và lo sợ, cố van nài mãi nhưng mặt trời và mặt trăng nhất định không trở lại. Hết 7 năm, nhờ con gà trống gáy 7 lần, mặt trời và mặt trăng mới về. Chử Lầu thấy con gà trống có công to bèn thưởng cho nó một cái mào đỏ ở trên đầu.


Nhưng một ngày kia, nước bỗng lên to, ngập cả mặt đất và chìm hết muôn vật. Có hai chị em một nhà - chị gái em trai - nhảy vào cái ndông dang được thoát chết.


Trong ndông dang, hai người trữ đủ các giống vật và các thứ hạt. Ndông dang lềnh bềnh theo mặt nước đưa lên tận trời. Chử Lầu thấy hai người mới biết rằng thế gian bị ngập. Ngài vội sai con rồng xuống hút nước. Con rồng ấy trông hệt như cái cầu vồng. Nước cạn ndông dang xuống dần. Hết 50 ngày thì hai chị em nhà kia mới tới đất. Trên đời lúc ấy, chỉ còn trơ hai chị em nên phải bảo nhau cày cuốc trồng cấy và chăn nuôi. Cách ít lâu em ngỏ ý cầu thân cùng chị. Nhưng chị thẹn thùng từ chối, bảo rằng cẩn hợp như thế là trái lẽ của trời. Em cứ nhất định nằn nỉ, viện lẽ rằng trên đời chỉ còn có chị là đàn bà nên em không thể lấy ai được nữa. Chị vẫn không dám quyết, bảo em hãy bói xem ý Chử Lầu thế nào đã. Em nghe theo. Hai chị em lấy hai cái thớt cối lăn từ đỉnh núi cao xuống. Hai thớt cối cứ dính liền lấy nhau. Thấy vậy chị bèn nhận lời em kết nghĩa thành vợ chồng.


 Đứa con hai người sinh ra chẳng có đầu mà cũng chẳng có chân tay mắt mũi gì hết. Hai người cho đó là một cái bọc và đoán rằng đứa bé hẳn nằm ở trong bọc bèn cắt khối thịt ra. Bên trong chẳng có gì nhưng mỗi mảnh thịt ném xuống đất lại hóa ra một đứa bé. Thấy vậy, họ đem khối nọ cắt vụn ra hàng trăm, nghìn mảnh thành được vô số con và mặt đất từ đấy lại trở nên đông vui. Riêng giống Mèo sinh sản lại càng chóng lắm. Không bao lâu thành một dân tộc cường thịnh. Họ ở về bên kia trái đất, ở một xứ lạnh, mùa đông kéo dài quanh năm, sáu tháng là ngày, sáu tháng là đêm. Nước ở các sông ngòi thường đông lại. Sương tuyết phủ kín mặt đất. Người ta phải khoác lông thú để khỏi lạnh. Ông chúa đầu tiên của dân Mèo, khi còn nhỏ, ngậm vú mẹ luôn 3 năm. Chúa ở tòa lâu đài bằng vàng và thống trị nhiều dân khác.


Có một lần các dân tranh nhau đất, việc lôi thôi phải đem ra trước mặt Chúa. Ngài truyền cho mỗi dân phải cử một đại biểu ra trực sẵn ở cổng đền. Nghe hiệu lệnh thì những người đó cũng phải chạy, tùy ý muốn chạy về ngả nào cũng được. Điều cốt yếu là chập tối hôm trước bắt đầu chạy thì sáng hôm sau, khi mặt trời mọc, ai nấy lại phải có mặt ở trước đền. Khoảng đất mỗi người chạy qua được trong đêm ấy sẽ coi là phần riêng của dân tộc đã cử người nọ ra để thay mình. Ai không về kịp, ngang đường gặp mặt trời mọc chỗ nào thì dân cử người ấy chỉ được ở chỗ người đại biểu của mình đã trông thấy mặt trời thôi. Người đại diện dân Mèo gặp mặt trời giữa khi vừa lên tới đỉnh núi. Dân Mèo, vì vậy chỉ ở núi cao…


Rút từ chương II, Bóng cờ trắng trong sương mù (1940)


 


CHẤT KHƯƠI


Theo cổ tích thì ngày xưa, đã lâu lắm, không biết về đời nào, có một vị thiên thần giáng xuống thế gian. Vị thiên thần ấy tên gọi là Chất Khươi. Cùng thuở ấy, thủy tổ họ Ma có một người con gái đẹp lắm. Không biết cô đẹp chừng nào, nhưng người ta vẫn nhớ được rằng, da cô nõn nà như tuyết, tóc cô đen nhánh như mun, môi cô đỏ như máu và mắt cô sáng rực như đèn.


Chất Khươi tình cờ được gặp thiếu nữ. Tuy là thiên thần, Chất Khươi cũng có tình, một mối tình còn thiết tha, đằm thắm bằng vạn tình thương của người ta.


Bởi vậy, thiên thần đã say mê cô gái nhà họ Ma. Ngài đem bao nhiêu thứ vật đến hỏi. Lễ hỏi cũng long trọng như lễ hỏi của vua Hùng Vương của Sơn Tinh và Thủy Tinh.


Nhưng, chê thần là một vị khổng lồ, họ Ma nhất định từ chối.


Thất vọng, Chất Khươi liền cướp lấy thiếu nữ.


Họ Ma xuất gia đinh đuổi theo, gấp quá Chất Khươi vội vốc tay xuống đất lấy một tảng đá lớn đặt chắn đường.


Tảng đá ấy sau thành ra ngọn núi Thần mà cái vực sâu đó do tảng đá bị moi lên để lại thì xoáy thành con sông Gấm.


 Rút từ chương III tiểu thuyết Đỉnh non Thần (1940)


 


SỰ TÍCH THẦY MO


Hồi xưa không rõ từ bao giờ có hai dị nhân tên là Ngiéng Gi và Xi Gi. Một hôm, cả hai cùng ra chơi bờ biển và thấy ở ngoài khơi, giữa muôn làn sóng bạc, nhô lên một hòn cù lao. Hai dị nhân làm phép ra đó gặp một ổ hạc bỏ không và bên trong có hai quả trứng lớn. Chọc thủng dốc lấy ruột xong, hai dị nhân lại để hai vỏ trứng hạc vào chỗ cũ. Lúc về hạc mẹ vô tình ấp mãi, nhưng đôi vỏ chứng rỗng chẳng nở được gì. Nó bèn lấy một chất lạ hàn đôi vỏ lại rồi lại ấp như trước. Hơn một tháng thì lạ thay! Trứng nở thành đôi hạc con. Hai dị nhân bèn cạo lấy chất lạ, vì nó là một chất có hiệu lực hồi sinh.


Thoạt tiên hai ngài đem thuốc thử vào cái xác một con thỏ thì thấy linh nghiệm lạ lùng. Cất kỹ thuốc hay vào bọc, hai dị nhân đi chu du thiên hạ. Đến một thị trấn kia, gặp khi tù trưởng bị bệnh mất, hai ngài dùng thuốc cứu sống lại được. Viên tù trưởng tạ ân rất nhiều vàng bạc châu báu và tiếng tăm hai dị nhân càng đồn như sấm vang. Trong cuộc lãng du, hai dị nhân làm ơn cho không biết bao nhiêu người.


Nhưng một hôm, nhớ tới quê hương, hai dị nhân vội vàng cuốn gói quay về. Đến nhà, các ngài lấy làm buồn rầu thấy vợ con đã chết cả mà thịt xương cũng rữa nát hết rồi. Hai dị nhân bực mình, ném thuốc xuống vực sâu, định cũng liều chết cho xong. Dân sự hay tin, kéo đến can nhưng việc đã rồi. Muốn an lòng dân chúng, hai ngài phải hứa rằng: “Sự đã lỡ ra như thế, các người đành vậy. Sau khi chết ta sẽ hiện hồn thành trinh nữ báo mộng cho một vài người trong bọn và sẽ dạy cho cách trị bệnh cứu nhân”. Những người ấy tức là Tsinèng, có phép thuật cao cường, giao thiệp với thần tiên ma quỷ.


 Rút từ chương VII tiểu thuyết Rừng khuya (1935)


 


LẤY VỢ CÓC


Ngày xưa, có một nhà làm ruộng hiếm hoi chỉ sinh được một gái thì lại là… Cóc. Hai vợ chồng rất lấy làm buồn tủi, nhưng biết sao: Trót đẻ phải nuôi, chẳng nhẽ đem con vứt ra đầu bờ xó bụi!


 Một hôm, bắt đầu mùa gặt, vợ, nhân đi thăm ruộng về, lên tiếng phàn nàn ngay từ ngoài ngõ:


 - Không biết những đứa chết tiệt nào cứ rứt bừa cả lúa ra! Ruộng nhà mình sát ngay đường cái, mình lại neo người, nghĩ tức quá!


 Cóc nghe nhời mẹ liền thưa rằng:


 - Thày bu để con đi canh lúa cho!


 Mẹ gắt:


 - Mày là cóc, dù thấy người ta rứt lúa nữa thì mày làm gì được!


 - Con thấy ai rứt lúa, con cứ ở trong ruộng nói lên là tự khắc người ấy phải thôi.


Cóc phân trần kể có lý vả hai vợ chồng bác nông phu cũng không biết tính cách nào khác được nên phải nhận lời.


 Trong số các người hay qua lại bên ruộng nhà mình, Cóc để ý đến một anh học trò nghèo thường buổi nào đi học cũng rứt vài bông cắn chắt. Cóc phải lòng ngay anh học trò tẩn mẩn nọ. Thấy anh ta nghịch ngợm, Cóc không mắng, chỉ hát rằng:


 Anh chàng ơi hỡi anh chàng,


 Sao anh rứt hạt lúa vàng nhà em!


 Giọng ngân nga hay quá! Anh học trò lắng nghe và nghĩ đến một gương mặt đẹp như sao Băng. Thế rồi, hôm sau và hôm sau nữa, anh học trò càng rứt nhiều lúa hơn, không phải để chỉ cắn chắt mà chỉ cốt được nghe giọng hát tuyệt vời.


Cóc hiểu ý chàng trẻ tuổi nên đánh bạo:


 Hỡi anh đi đường cái quan


 Dừng chân đứng lại em than vài nhời:


 Buồng xuân lần lữa hôm mai,


 Đầu xanh mấy độ da mồi tóc sương!


Anh học trò nhìn quanh thấy vắng liền cũng hát:


 Bây giờ mận mới hỏi đào


 Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?


Cóc trả lời:


 Mận hỏi thì đào xin thưa


 Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.


- À, nếu thế, ta vào vậy! - Anh học trò vừa nghĩ vừa lần xuống ruộng, nhưng người đâu chẳng thấy, anh ta chỉ vẳng nghe tiếng nói rất gần:


- Em thấy chàng là hiền sĩ. Em muốn kết duyên cùng chàng, chẳng hay chàng có bằng lòng không?


Thực là một sự kỳ dị khiến anh học trò ngơ ngẩn.


- Kìa sao chàng bỡ ngỡ thế. Em đây, em đứng trước mắt chàng đây thôi!


 Trước mặt anh học trò, chỉ có một con cóc. Tuy vậy, anh học trò ta cũng không hoảng hốt quá đáng, vì thuở bấy giờ, Tiên Phật xuống thử người trần thế là thường. Anh ta chỉ ngán ngẩm đáp:


 - Nàng là cóc, tôi lấy nàng sao được!


 Cóc vội cam đoan:


- Em tuy là cóc mà đường tề gia nội trợ, em có thể giúp chàng nhiều lắm, chàng đừng lo.


Anh học trò bụng bảo dạ: Không lẽ cóc mà biết nói! Âu là ta cứ thử kể với mẹ xem sao.


Về đến nhà, chàng tuổi trẻ thuật rõ đầu đuôi việc xảy ra cho mẹ nghe. Bà lão cũng nghĩ ngay đến chuyện Tiên lấy chồng, Phật đi thử và, tò mò, bà lại hỏi Cóc cho con.


Vợ chồng người làm ruộng bắt ngay lấy cơ hội để thở than và trách móc số phận:


- Ấy, bà có lòng thương hỏi đến làm chúng tôi thêm xấu hổ: Ai lại vợ chồng hiếm hoi, cầu khấn mãi mới được mình cháu thì, đấy bà xem: người chẳng ra người, vật chẳng ra vật!


Cóc, ngồi trong buồng kín, tức về câu mẹ nói, liền thưa vọng ra rằng:


- Người ta đã có lòng đến hỏi, thày bu cứ nhận thời đừng ngại. Con không làm nhục thày bu đâu!


Cái ý định quả quyết và giọng nói sang sảng như tiếng chuông vàng khiến bà mẹ anh học trò càng tin chắc ở một sự phi thường. Và khi bà đứng dậy ra về, cuộc hôn nhân của Cóc và anh học trò đã quyết định.


Hôm cưới, hai họ đưa đón tưng bừng. Hàng xứ nghe chuyện lạ kéo nhau xem chẳng khác xem một đám hội.


Điềm nhiên, Cóc nhảy theo dám rước dâu và, khi tới nhà chồng, cô ả thót ngay vào buồng kín.


Từ đấy, cứ hễ mẹ chồng đi chợ buôn bán, chồng cắp sách đến trường, Cóc lại trút lốt ra thu xếp quét dọn cửa nhà, làm cơm dẻo canh ngọt để sẵn sàng đấy. Bà lão và con trai ngày nào cũng ăn uống thơm ngon, thêm thấy cửa nhà ngăn nắp sạch sẽ, lấy làm thoả mãn không biết chừng nào.


Anh học trò chỉ còn phải khổ sở mỗi khi anh thò mặt đến trường: việc anh lấy vợ cóc đã thành một cớ để các bạn đồng môn nhạo báng. Họ mỉa mai, họ khinh miệt anh ta, bảo anh làm như đàn bà trong thiên hạ không còn ai nữa! Một hôm, họ lập tâm ác nghiệt đến bàn nhau xin với thầy đồ rằng: - Nhân ngày sinh nhật của thầy, anh em chúng con muốn đặt ra một cuộc thi cỗ. Thầy sẽ chấm nhất vào cỗ nào thầy cho là khéo nhất. Thầy đồ ưng thuận. Anh khóa của chúng ta lo sốt vó, lo đến quên cả ăn bỏ cả học, chỉ nằm mà thở dài.


Cóc gạn hỏi chồng:


- Có việc gì mà chàng ra vẻ băn khoăn thế? Chàng cứ yên tâm ăn uống và đọc sách đi, dù việc gì nữa cũng đừng ngại, đã có em lo liệu cho cả.


Cóc săn đón đến hai ba bận, anh chồng mới ngại ngùng nói thật.


- Từ khi tôi lấy nàng, tôi phải chúng bạn chê bai tệ quá! Bây giờ họ lại xin với thầy đồ cho thi cỗ, chừng để mang tôi ra làm một trò cười ác nghiệt…


- Ồ, tưởng gì! Các bác ấy đã muốn thi cỗ thì rồi các bác ấy sẽ được xem cỗ em nấu! Thôi, chàng dậy xơi cơm đi, rồi cứ đến trường học như thường. Lúc nào họ mang cỗ lại đủ thì chàng về mà lấy.


Tuy chưa dám tin hẳn nhời vợ, anh học trò cũng không biết làm cách nào hơn là cứ ôm quyển đến trường.


Ngày hôm sau, mấy chục mâm cỗ nghênh ngang vào cổng nhà ông đồ. Mâm của anh học trò lấy vợ cóc bị chúng bạn anh lừa đặt xuống cuối cùng. Nhưng, lúc nếm đến những món thơm ngon và lạ miệng bày trong mâm này, ông đồ khen nắc nỏm mãi rồi phê cho được nhất. Đương tự đắc và đương nhơn nhơn thu xếp một trận cười, bọn kia anh nào anh nấy tưng hửng như mèo bị cắt tai vậy. Chúng thẹn quá hoá tức, bàn với nhau: “- Ta nhất định thua keo này bày keo khác, chứ lại chịu nó à?”. Rồi chúng xin với thầy đồ cho thi may quần áo: Hễ bộ nào thầy mặc vừa vặn và đứng đắn thì được nhất. Anh học trò vợ cóc lại phải một phen lo. Cóc lại phải kiếm nhời an ủi chồng:


 - Chàng ơi, cơm dẻo canh ngọt chàng hãy xơi đi, còn công việc gì đã em lo liệu.


Cóc chờ khi chồng đến trường học rồi liền hoá phép đi mua vóc nhiễu và ngầm đến đo người thầy nên lúc áo may xong đem thi, lại được thầy chấm nhất. Còn của các anh kia thì hoặc dài quá, hoặc ngắn quá, hoặc rộng quá, hoặc chật quá, đều thua cuộc. Chúng tức uất người vội vàng cùng nhau bàn kế: - Lần này, ta xin phép thầy cho thi xem vợ anh nào đẹp nhất. Vợ chúng ta xấu tốt cũng là người; vợ nó là cóc lẽ nào không chịu thua, chịu nhục!


 Bể sâu còn có kẻ dò


 Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng!


Anh học trò lấy vợ cóc thực là hoàn toàn thất vọng. Vừa lo vừa tủi, anh ta chưa về đến nhà đã khóc rưng rức.


- Hai lần thi cũng đã được nhất, chàng sao còn ưu phiền đến thế?


Câu hỏi dịu dàng của vợ càng làm anh thổn thức. Anh kể lể:


- Đã đành hai bận trước mình đều thắng cuộc, nhưng bây giờ họ thi sắc đẹp của các vợ học trò thì ta đến thẹn chết mất còn gì!


Hai mắt cóc sáng lên một cách ranh mãnh:


- Chàng đừng ngại, em không để chàng bị nhục với bọn đồng môn độc bụng kia đâu!


Đã hai lần được vợ giữ trọn lời hứa, anh học trò cũng hơi vững dạ.


Đến ngày thi, vợ các sĩ tử đua nhau trang điểm để phô mầu thanh lịch. Họ vui cười ầm ĩ, vì dù sao mọi người đều đã nắm chắc phần thắng Cóc một cách dễ dàng.


Trong khi ấy, anh học trò kia lủn củn dẫn vợ đến trường. Anh ta đi trước, chị vợ lạch bạch nhảy theo sau. Cái cảnh tượng ấy làm cho mọi người phải cười ôm bụng và anh chồng cứ phải cúi gằm mặt xuống, thân thể nóng bừng như lên cơn sốt. Có lần anh ta đã nói phẫn: - Thế này, thà ở nhà quách! Đi lắm chỉ tổ mua cười cho thiên hạ!


Cóc cười rất giòn:


- Làm gì mà quýnh lên thế! Hãy cứ cho đến nhà thầy đồ đã nào.


Tới cổng trường, Cóc thấy chồng rụt rè không dám bước, liền giục:


- Chàng vào trước đi, em vào ngay.


Anh ta ngờ vực nhưng cũng giả làm theo nhời vợ. Kỳ thực anh ta nấp ở xó cổng để rình xem vợ làm ăn ra sao thì thấy Cóc nhảy vào bụi rậm. Một lát sau, từ đám lau sậy, một nàng Tiên yểu điệu bước ra, làm anh chàng lóa mắt!


Giải nhất lại về vợ chồng nhà Cóc. Và lần này, trước vẻ đẹp nảy hào quang của chị khóa đức hạnh, bọn đồng môn thành thực và vui vẻ chịu thua. Để tỏ ra không còn chút thù oán, ganh tị gì nữa, chúng đồng thanh bầu anh chồng chị Cóc làm trưởng tràng.


Thế gian lắm chuyện nực cười


Ai hay Cóc lại hóa người Tiên Nga.


Theo Tạp chí Tao Đàn, số 1/1939.


ĐỒNG TIỀN VẠN LỊCH


Ngày xưa, có anh lái buôn giầu sụ, tên gọi là Vạn Lịch. Nghề đời, trong tay đã sẵn đồng tiền, người ta nghĩ đến sự đổi thay. Và, cái mà Vạn Lịch định thay trước nhất lại chính là vợ anh, người vợ mộc mạc, lấy anh từ lúc còn cơ hàn, người vợ chỉ có độc một tội: Suốt ngày làm tối mắt để cơ nghiệp nhà chồng mau thịnh đạt. Cái rắp tâm của Vạn Lịch chỉ còn thiếu một cơ hội.


Thì nay nó đã đến.


Nguyên một buổi chiều đông, thuyền Vạn Lịch đỗ lại ở bên một đám lau già mọc lan xuống lợi nước. Sương mù nhẹ tỏa trên mặt sông. Vạn Lịch ngồi tính sổ trong thuyền. Vợ hắn cặm cụi vá chiếc áo bông ở đằng khoang lái. Bỗng tiếng nước động lõm bõm làm chị ta ngửng đầu: một người đàn ông gày còm, trần trụi, đương lom khom đánh giậm. Một cơn gió thoảng lạnh vào tâm hồn. Vợ Vạn Lịch rùng mình. Một ý nghĩ từ bi chợt nảy ra trong óc chị: người đàn ông nghèo khổ kia chịu sao nổi với rét mướt, một khi mà chị còn lạnh thấu xương dù đã mặc bao nhiêu là áo mền, áo đụp. Tình thương xâm chiếm cõi lòng người đàn bà phúc hậu ấy. Chị ngó ra, đương chưa biết bảo anh chàng đánh giậm sao thì anh ta chợt ngẩng đầu trông lên. Đôi mắt sáng, vòm trán cao, cặp môi dày, tuy xám lại vì rét mà vẫn tươi, đã khiến chị vợ Vạn Lịch càng lấy làm tội nghiệp. Chị ta chọn trong đống áo mền cũ, lấy một chiếc đưa cho anh chàng.


- Này, bác hãy mặc tạm cái áo này kẻo rét quá chịu sao nổi!


Anh chàng đánh giậm ngạc nhiên rồi cảm động. Anh ta vảy bàn tay ướt, đỡ lấy cái áo và nói mấy nhời tạ ơn.


- Ồ, có gì mà bác nói ơn với huệ. Người ta cứu giúp nhau, đồng lần mà thôi.


Giữa lúc hai người đương rủ rỉ câu chuyện, Vạn Lịch chợt thò đầu ra. Một tia sáng bất lương chạy qua cặp mắt voi ti hí. Hắn tác sắc mắng ầm lên:


- À, đồ voi giày. Tao chỉ ngồi cách có mấy gang tay mà mày dám công nhiên nói chuyện với trai thì ghê gớm thật!


Rồi y nhất định làm ra to việc và kết cục, đuổi người vợ xuống bến sông vắng, hạ lệnh cho chân sào đẩy thuyền đi.


Trong lúc người đàn bà đáng thương kia kêu trời gọi đất để tỏ nỗi oan thì chú lái buôn tủm tỉm cười thầm với cái hình ảnh một con kỹ nữ yêu đương mơ hồ hiện trước mắt.


Giận chồng đen bạc, người đàn bà, sau khi đã khóc hả nỗi oán hờn, cười nhạt và bảo anh chàng đánh giậm đương ngồi xo, như một kẻ đã vô tình phạm phải tội thái ác:


- Này bác, việc xảy ra, bác đừng buồn. Tôi đã hiểu ý chồng tôi muốn thay lòng đổi dạ từ lâu. Cái việc tôi cho bác áo chỉ là một cớ để hắn làm toại ý riêng mà thôi. Ta có nghĩ ngợi buồn rầu cũng vô ích. Nhưng, bây giờ, cơ sự đã đến thế này, thôi thì ta lấy nhau vậy. Biết đâu chẳng phải ý trời sắp đặt.


Hai người, từ đấy, thành vợ chồng. Anh đánh giậm ngày ngày ra bến sông mò cá. Chị vợ ở nhà làm các việc vặt vãnh. Trong túp lều nhỏ bé ở bên sông, bắt đầu có một chút ấm áp của tình yêu.


Một hôm, anh đánh giậm theo nhời vợ bảo, đổi nghề vào rừng kiếm củi. Lúc trở về, anh ta nghễu nghện đem theo một cây quế ở trên vai. Chị vợ mừng quýnh, lập tức cắt thành từng thanh vuông vắn đem ra chợ bán. Số tiền thu được có tới chừng dăm chục quan tiền. Gia đình anh đánh giậm từ nay đã có chút vốn đủ để buôn bán sinh nhai.


Tuy thế, anh tiều phu không nỡ bỏ ngay cái nghề mới nó đã cho anh sự may mắn lạ lùng. Anh vẫn vào rừng kiếm củi. Mỗi lần đi thường đem cả cơm nước theo đi.


Khu rừng ấy, không ngờ lại chính là một khu rừng cấm, trong đó có một ngôi mộ của một ông vua. Quanh bốn góc ngôi mộ, người ta xây bốn ông phỗng rất đẹp đứng hầu. Anh tiều phu thấy hay hay liền giở cơm rượu ra mời mọc từng ông một y như mời bạn thật. Ăn xong, anh ngả luôn bốn ông xuống sập đá để cùng anh đánh một giấc ngủ trưa, chừng khi nào ra về, anh mới lại dựng đứng cả lên như cũ. Nhưng, một hôm, lúc anh tỉnh dậy thì đầu óc hãy còn choáng váng hơi men nên cứ thẳng đường về, quên khuấy việc dựng đứng bốn ông tượng. Rồi luôn mấy ngày sau, anh tiều phu bận việc, không vào chi đến rừng.


Sự đãng trí cỏn con ấy không ngờ đã làm động cả một khu rừng và phiền nhiễu đến giấc ngàn năm của ông vua nằm dưới ngôi mộ cổ. Triều đình xét thấy căn nguyên, sai lính vào dựng bốn pho tượng đặt lên chỗ cũ. A lạ! Sao mà nặng thế! Bao nhiêu binh sĩ túm nhau khiêng mà các ông tượng đá vẫn trơ không chuyển. Cùng đường, Triều đình phải xuống dụ xem ai có cách gì gọi được bốn ông tượng đứng lên thì người ấy muốn xin một đặc ân gì cũng cho. Tin đến tai anh chàng kiếm củi. Chàng ta tức khắc nhận cuộc. Vợ lo lắng bảo chồng: “- Mình tài hèn làm chi được mà nói liều!”. Anh tiều phu mỉm cười rồi đáp: “- Nhà không biết, bốn ông tượng ấy là bạn thân của ta. Ta đã mời các ông nằm xuống được thì nay ta xin các ông đứng lên hẳn cũng chẳng khó khăn nào!”. Quả nhiên , anh chàng tuổi trẻ làm được như lời. Tới kỳ thụ ân, anh ta hỏi vợ xem nên xin gì. Vợ khuyên chồng nên xin một chức kiểm soát thuyền buôn đi lại trên các mặt sông.


Thế là, một bước, vợ chồng anh tiều phu trở nên sang cả.


Và, cõi đời, thực ra, chẳng rộng lớn gì nên người ta, dù cố ý xa nhau mà rồi luẩn quẩn lại vẫn gặp nhau. Vạn Lịch, sau khi rẫy được người vợ quê mùa, lấy làm đắc sách lắm. Y cho đầy tớ chèo thuyền một mạch đến chỗ nhân tình ở rồi cưới ngay cô kỹ nữ. Chẳng ngờ cái ngày mà hắn được toại ý lại chính là cái ngày mà cơ nghiệp hắn bắt đầu tan tành. Nghỉ ngơi, phung phí một độ lâu, hắn đành phải xếp gánh xuống thuyền để đi tìm thêm tiền của về tiêu. Một hôm, qua đồn, Vạn Lịch cho người cầm giấy lên trình. Bà lớn đồn mừng rỡ gặp dịp may để báo thù người cũ bèn xin quan ông bắt chủ thuyền phải thân lên trình giấy mới được đi.


Giây phút gặp gỡ mới rắc rối làm sao! Vạn Lịch khúm núm vào tới công đường, đầu không dám ngửng lên vì y đoán trong sự bắt buộc phải thân lên trình giấy có một cái gì không hay cho y. Bỗng một giọng nói cất lên, sang sảng, hách dịch nhưng mà không lạ. Vạn Lịch khẽ liếc trông, thì kìa:


Phải rằng nắng quáng đèn lòa


Người trên thềm đó chính là người xưa!


Vạn Lịch choáng váng vì không ngờ rồi tê mê vì hổ thẹn. Hắn quay phắt trở ra, gieo luôn mình xuống sông tự tử. Người vợ hối lại, bèn xin phép chồng mới xuống thuyền ma chay cho chồng cũ. Phí tổn hết bao nhiêu trừ đi, của cải của Vạn Lịch còn chừng nào, chị ta dồn cả lại đúc thành một thứ tiền đồng tức là tiền Vạn Lịch, để ghi một đoạn tình sử não nùng:


Đồng tiền Vạn Lịch thích bốn chữ vàng


Công em ăn ở với chàng đã lâu


Đã không tình trước nghĩa sau


Bạc đen hẳn có trên đầu xét soi


Dòng sông, nước lặng lờ trôi


Mà thiên trường hận muôn đời còn ghi.


Theo Tạp chí Tao Đàn, số 3- 1939.


Nguồn: Rút từ Lan Khai tuyển tập, tập 2. Trần Mạnh Tiến sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học sắp xuất bản.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Truyện cổ Grimm (100) - Anh em Grimm 31.05.2019
Thánh Gióng- Phù Đổng Thiên Vương - Nguyễn Đổng Chi 11.01.2019
Đọc Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam tập II của Nguyễn Đổng Chi - Maurice Durand 11.01.2019
Khảo dị về truyện Tấm Cám (1) - Nguyễn Đổng Chi 11.01.2019
Nghìn lẻ một đêm (21) - Antoine Galland 12.11.2018
Nghìn lẻ một đêm (20) - Antoine Galland 06.11.2018
Nghìn lẻ một đêm (19) - Antoine Galland 06.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (18) - Antoine Galland 04.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (17) - Antoine Galland 01.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (16) - Antoine Galland 01.10.2018
xem thêm »