tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27611070
Truyện dân gian Việt Nam và thế giới
04.03.2010
FRANÇOIS PÉTIS DE LA CROIX
Nghìn lẻ một ngày (43)

NGÀY THỨ TÁM MƯƠI MỐT


Vua Timuatat và hoàng hậu Enma hy vọng giành lại ngai vàng người Nôgai ở quê hương Tarta. Niềm vui làm họ vơi đi mọi khổ ải đã trải qua. Hạnh phúc của hai vị càng lớn khi nàng công chúa Tuaranđoc đúng tháng đúng ngày sinh hạ một hoàng tử rất xinh. Để mừng cậu hoàng bé nhỏ mới ra đời, hoàng đê Anh Tông phong ngay cho cháu làm thái tử nước Trung Hoa. Sự kiện được tất cả các tỉnh thành trong đế quốc Trung Hoa rộng lớn mở hội mừng vui, coi như một ngày đại khánh.


Giữa lúc các hội hè đang diễn ra thì có tin báo về triều, các đạo quân đã tề tựu đông đủ cạnh hồ Bangiuta, kể cả quân lính của vị hãn người Berla. Thế là vua Timuatat, hoàng tử Calap và hãn Alingơ ngay lập tức lên đường. Đến điểm hội quân, đã có đủ bảy mươi vạn quân sĩ sẵn sàng chiến đấu(1). Họ ra lệnh tiến quân về xứ Cotan, từ đó băng qua nước Caxga, và cuối cùng tiến vào lãnh thổ của nhà vua nước Carim.


Nhà vua này, được tin cấp báo từ biên cương, không lấy gì làm ngạc nhiên. Vua dũng cảm chuẩn bị nghênh chiến. Vua không ém binh bố trí cố thủ trong thành, mà táo bạo cất đại quân tiến lên đón đánh quân thù. Đội quân vua vừa tập hợp tuy vội vàng cũng đông tới bốn mươi vạn người. Hai đạo quân lớn gặp nhau ở một điểm gần thành phố Cogien. Trận chiến quyết định bắt đầu, Về phía quân Trung Quốc, vua Timuatat chỉ huy cánh bên phải, Hãn Alingơ chỉ huy cánh bên trái, còn hoàng tử Calap làm tư lệnh trung quân. Về phía mình nhà vua nước Carim giao phó cánh phải cho một vị tướng tài giỏi nhất, và cử hoàng tử của mình cầm đạo quân ở giữa chiến đấu chống lại quân do hoàng tử người Nôgai chỉ huy, còn cánh trái là đội kỵ binh rất điêu luyện do đích thân vua lãnh đạo.


Vị hãn người Berla bắt đầu cuộc chiến, xua quân của bộ tộc mình tiến lên, họ chiến đấu rất dũng cảm và chẳng bao lâu đẩy lùi được cánh phải của quân địch, song chẳng mấy chốc đối phương lại dốc sức phản công. Tình hình quân cánh phải do vua Timuatat trực tiếp chỉ huy không được thuận lợi, bởi ngay từ đầu nhà vua nước Carim tung những đạo quân thiện chiến nhất ra đánh, khiến quân Trung Hoa rối loạn sắp bỏ chạy tháo thân. Vua Timuatat đang bối rối chưa có cách nào ngăn được. May sao vừa lúc ấy hoàng tử Calap được tin, vội giao quyền chỉ huy trung quân cho một lão tướng Trung Hoa, rồi tự mình cầm đầu một đội quân tinh nhuệ cấp tốc sang chi viện vua cha. Chẳng bao lâu chiến cục lại thay đổi chiều hướng. Cánh quân trái của người Carim bị tấn công dữ dội, hàng ngũ bắt đầu rối loạn, và cuối cùng bỏ chạy tan tác.


Nhà vua nước Carim quyết tâm hoặc chiến thắng hoặc bỏ mình, đã cố gắng hết sức tập hợp lại quân lính và củng cố trận tuyến. Nhưng vua Timuatat và hoàng tử Calap không để cho ông kịp có thời gian, xua quân bao vây ngay cả bốn mặt. Trong thời gian ấy. Hãn Alinhgơ cũng đã đánh tan được cánh quân bên phải của người Carim.


Vậy là toàn bộ chiến cuộc sắp đến hồi quyết định. Nhà vua nước Carim thấy chỉ còn hai cách để lựa chọn. Hoặc mở một con đường máu thoát ra ngoài vòng vây, chạy đến xin cư trú tại một nước lân bang nào đấy. Nhưng nhà vua này thà chết vì thất trận hơn là đi cầu xin một quốc gia khác trong cảnh thất cơ lỡ vận này. Vua liều mình xông vào những nơi chiến trận đang diễn ra dữ dội nhất, và tiếp tục chiến đấu tả xung hữu đột cho đến khi người bị cả ngàn nhát chém tử thương. Vua gục ngã xuống giữa trận tiền, trên đống xác chết.


Hoàng tử nước Carim cũng chịu chung số phận như cha. Hai mươi vạn quân hoặc bị giết hoặc bị bắt làm tù binh. Phần còn lại tìm đường chạy tháo thân. Quân đội Trung Hoa cũng tổn thất khá nhiều binh sĩ, nhưng trận chiến cho dù rất đẫm máu, thiệt hại khá nặng nề, phần thắng cuối cùng vẫn thuộc về họ. Vua Timuatat tạ ơn trời đất về chiến thắng này, vội phái một võ quan về Bắc Kinh cấp báo, tâu với hoàng đế Trung Hoa rõ cuộc chinh phạt đã thắng lợi. Trong thời gian ấy, ông tiếp tục dẫn quân tiến vào thảo nguyên Zatai, và thừa thắng chiếm đóng kinh đô nước Carim.


NGÀY THỨ TÁM MƯƠI HAI


Vào được kinh thành nước Carim, vua Timuatat cho ban bố cho toàn dân rõ, mình không có ý định chiếm đoạt của cải cũng như tước bỏ tự do của người dân nước này. Thượng đế đã muốn cho vua chiếm được ngai vàng kẻ thù thì ông sẽ phải giữ. Từ nay, vùng Zatai cũng như các nước trước đây vốn là chư hầu thần phục nước Carim, nay bắt buộc phải thừa nhận hoàng tử Calap là quốc vương nước Carim cũng như chua tể tất cả các nước chư hầu.


Người dân Carim, quá mệt mỏi trước sự cai trị của nhà vua vừa qua đời, và hy vọng tân vương Calap sẽ đỡ khắc nghiệt hơn nhà vua trước, đều vui lòng khuất phục. Mọi người đồng thanh tôn vinh chàng hoàng tử trẻ mà ai nấy đều hiểu rõ tài đức lên làm vua ngự trị đất nước mình. Trong thời gian vị tân vương nước Carim cho ban hành những biện pháp cần thiết để củng cố quyền lực, thì vua Timuatat dẫn một phần quân đội đang dưới quyền chỉ huy của mình nhanh chóng quay về cố quốc. Những người Tarta thuộc bộ tộc Nôgai vẫn một lòng trung thành với vị hãn cũ, đều vui mừng thấy vua Timuatat của mình trở về chiếm lại ngôi báu.


Vua Timuatat không chịu dừng lại ở đấy. Thừa thắng, vua tuyên chiến với người Xiêca để trả thù họ đã phản bội trong liên minh của cuộc chiến trước đây, do hoàng tử Calap trực tiếp chỉ huy tại vùng Giun. Người Xiêca không chịu khuất phục. Họ huy động quân chống trả, nhưng cuối cùng bị quân chiến thắng đánh tan. Vua Timuatat tuyên bố mình đồng thời làm vua cả nước Xiêca. Sau chiến thắng ấy vua dưa quân trở về đến Zaita, thì gặp hoàng hậu Enma và công chúa Tuaranđoc vừa đến nơi. Đích thân hoàng đế Anh Tông đã sai một đạo quân tháp tùng trọng thể hai bà đến kinh đô nước Carim.


Vậy là kết thúc tất cả mọi nỗi bất hạnh của hoàng tử Calap. Với tài năng và đức độ của mình chàng được nhân dân Carim rất quý mến. Chàng làm vua ngự trị đất nước ấy. Ít lâu sau, công chúa Tuaranđoc sinh hạ thêm một hoàng tử nữa. Hoàng tử thứ hai sau này sẽ lên làm vua nước Carim, bởi con trai đầu của công chúa Tuaranđoc và chàng Calap đã được hoàng đế Anh Tông nuôi dạy và phong làm thái tử từ trước, chuẩn bị làm người kế vị mình lên ngôi báu toàn nước Trung Hoa.


Vua Timuatat và hoàng hậu lui về sống những ngày cuối đời ở kinh đô Astracan. Còn vị hãn người Berla, sau khi nhận lòng biết ơn sâu sắc của mọi người về lòng hào hiệp của hãn, kéo quân về lại lãnh địa bộ tộc của mình.


Bà nhũ mẫu Xutlumêmê của công chúa nước Casơmia kể xong câu chuyện về hoàng tử Calap, liền hỏi những người hầu của công chúa Farucna nghĩ sao về câu chuyện vừa nghe. Tất cả đều đồng thanh cho rằng câu chuyện cực kỳ thú vị, chàng Calap quả là một hoàng tử tài đức vẹn toàn và một người yêu hoàn hảo. Riêng công chúa Casơmia nói:


- Về phần ta, ta thấy anh chàng ấy kiêu ngạo hơn si tình, phần nào ngớ ngẩn, tóm lại giống y như mọi chàng trai chưa chín chắn. Đối với nhà vua cũ xứ Muxen, cụ Fađala tốt bụng ấy,- nàng vừa nói vừa mỉm cười- phải nhận rằng đấy là một ông chồng yêu đương và chung thuỷ. Ông đã không chịu chết ngay như nàng Zemrut mà còn cố sống năm mươi năm nữa sau khi nàng mất để khóc than nàng.


- Nếu vậy thì, thưa công chúa,- bà nhũ mẫu nói- nếu hoàng tử Calap và vua Falala đều chưa đủ thoả mãn sự tinh tế của công chúa, thì nếu được bà cho phép, tôi xin thuật câu chuyện nhà vua xứ Đamat và vị tể tướng của ông, may ra công chúa sẽ hài lòng hơn.


- Ta sẵn lòng nghe,- nàng Farucna đáp- các gia nhân của ta ai cũng thích nghe các câu chuyện của bà, ta không muốn không cho họ được thưởng thức. Quả là nhũ mẫu biết phác họa nên những bức chân dung tuyệt vời. Nhưng mẹ Xutlumêmê ạ, mẹ Xutlumêmê thân yêu của ta ơi, cho dù mẹ hết sức cố gắng tô vẽ đàn ông bằng những màu sắc rất đẹp đẽ, các khiếm khuyết cuả họ vẫn lộ rõ qua các bức chân dung mẹ thực hiện.


 


CHUYỆN QUỐC VƯƠNG BÊRÊTĐIN-LÔLÔ VÀ TỂ TƯỚNG ATANMUC, BIỆT DANH TỂ TƯỚNG ƯU PHIỀN


Bà nhũ mẫu bắt đầu kể tiếp chuyện khác:


Ngày xưa ở thành Đamat có nhà vua, vương hiệu là Bêrêtđin Lolo. Vua có một vị tể tướng tên Antamuc, nghĩa là Quốc Bảo. Sử sách thời ấy chép rằng tể tướng là một người có tài kinh bang tế thế, xứng đáng với danh hiệu của ông. Ông phụng sự vương triều cực kỳ tận tuỵ, luôn luôn hết mình lo việc nước, lúc nào cũng hăng say làm nhiệm vụ, lại thêm tài năng lỗi lạc, kiến thức uyên thâm, lại hết sức thanh liêm, nhân dân trong nước ai ai cũng ca ngợi. Nhưng ông lại có biệt danh là Tể tướng Ưu phiền, bởi lúc nào vẻ mặt ông cũng phiền não ưu tư. Vẻ mặt ông luôn nghiêm trang, cho dù trong triều đình có xảy ra việc gì buồn cười đến đâu ông cũng chẳng hề nhếch mép, cho dù có ai muốn cù cho ông cười, cũng chẳng làm ông bật ra được một tiếng gọi là vui.


Một hôm, trong lúc nói chuyện riêng với tể tướng, vua cười sảng khoái và kể cho ông nghe một câu chuyện ngộ nghĩnh vừa nghe ai đó nói lại. Tể tướng lắng nghe, thái độ trang nghiêm tới mức vua Bêrêtđin lấy làm phật ý.


- Tể tướng Atanmuc à,- vua nói- tính tình ông lạ thật. Ông bao giờ cũng lộ vẻ âu sầu buồn bã. Từ mười năm nay ông làm việc với ta, ta chưa bao giờ nhìn thấy hiện lên trên nét mặt ông một dấu hiệu nhỏ nhặt nào của niềm vui.


Tể tướng đáp:


- Tâu bệ hạ, xin ngài chớ lấy làm ngạc nhiên. Mỗi con người đều có những ưu tư riêng, trên đời chẳng có ai không có chuyện phiền lòng.


- Ông trả lời không đúng,- nhà vua đáp- đâu phải bởi tại ông có một chuyện không vui bí ẩn riêng tư của mình, mà ông cho tất cả mọi người trên đời đều giống ông? Ông có thật lòng tin lời ta vừa nói?


- Tâu bệ hạ,- tể tướng Atanmuc nói- thân phận con người trên trần thế đều giống hệt như nhau. Lòng chúng ta chẳng bao giờ được hưởng niềm vui trọn vẹn. Xin bệ hạ hãy tự lấy mình ra suy nghĩ xem, rồi so sánh với những người khác. Tâu bệ hạ, ngài có hoàn toàn thoả mãn về cuộc sống của mình?


- Với ta ư?- Vua Bêrêtđin thốt lên.- Với ta thì không. Ta làm sao tự lấy làm thoả mãn mọi bề? Ta lúc nào cũng có kẻ thù rình rập, dòm ngó ở biên cương. Đôi vai ta suốt đời nặng gánh sơn hà. Vì cuộc sống của muôn họ, ta có nghìn điều lo nghĩ hàng ngày, làm sao ta hoàn toàn thanh thản? Nhưng ta tin trong thế giới có vô vàn những người dân thường, cuộc đời họ là những chuỗi ngày lạc thú, chẳng chút gợn đục bởi bất kỳ nỗi đắng cay nào.


NGÀY THỨ TÁM MƯƠI BA


Tể tướng Atanmuc vẫn bảo lưu ý kiến của mình. Quốc vương thấy ông cứ khăng khăng như vậy liền nói:


- Nếu trên đời không ai không có chuyện buồn phiền, ít ra cũng không phải mọi người lúc nào cũng đăm chiêu sầu não. Ta nói thật, ông làm cho ta sinh ra hiếu kỳ, muốn biết rõ điều gì đã khiến cho ông lúc nào cũng buồn bã suy tư như vậy. Ông hãy nói cho ta biết, do đâu ông vô cảm trước cái cười, mà cười vui là niềm thích thú lớn nhất trong đời sống.


Tể tướng đáp:


- Tâu bệ hạ, xin tuân lệnh ngài. Tôi sẽ kể chuyện về cuộc đời của tôi, qua đó ngài sẽ thấy rõ đâu là nguyên nhân vẻ âu sầu mà ngài cho là bí ẩn của tôi.


CHUYỆN TỂ TƯỚNG ATANMUC, BIỆT DANH TỂ TƯỚNG ƯU PHIỀN, VÀ NÀNG CÔNG CHÚA ZÊLICA BÊGUM


 


Tôi là con trai duy nhất một nhà buôn kim hoàn giàu có ở thành phố Batđa. Cha tôi tên là Côtgia Abđala. Sinh thời cha tôi hết sức chú trọng việc giáo dục tôi. Từ tuổi ấu thơ, tôi đã được cha tôi mời những bậc thầy tài giỏi dạy cho nhiều môn khoa học khác nhau như triết học, luật học, thần học... Đặc biệt cha tôi cho tôi nghiên cứu tất cả các ngôn ngữ đang được dùng ở châu Á, với ý định nếu một ngày nào đó tôi muốn đi chu du tại châu lục này, thì những kiến thức ấy sẽ rất có ích cho tôi.


Bản tính tôi thích vui chơi và tiêu pha hoang phí. Cha tôi buồn rầu nhận ra điều đó. Nhiều lần cha tôi trách mắng, cố làm cho tôi thay đổi tính xấu. Nhưng lời dạy bảo khôn ngoan của một người cha có bao giờ để lại ấn tượng gì ở đầu óc một đứa con trai ham phóng đãng? Tôi lắng nghe những lời của cha khuyên bảo mà chẳng mấy quan tâm. Tôi còn cho đấy chẳng qua là cái tật của tuổi già. Một hôm, tôi dạo chơi với cha tôi trong vườn nhà, theo lệ thường cha tôi chê trách tính tình ham chơi bời của tôi. Cha tôi nói:


- Hỡi con trai của ta! Ta nhận thấy những lời trách móc của cha cho đến hôm nay chỉ làm con chán tai. Nhưng chẳng bao lâu nữa con sẽ thoát khỏi người cha lắm điều. Thần chết không còn cách xa cha bao nhiêu nữa. Cha sắp đi vào cõi vĩnh hằng, cha sẽ để lại cho con rất nhiều của cải. Con hãy chú ý chớ dùng tài sản ấy vào những mục đích không hay. Hay ít ra, nếu con quá hư hỏng đến nỗi làm tiêu tán hết tài sản ấy một cách điên cuồng, thì rồi con sẽ phải nhờ đến cây cổ thụ mà con nhìn thấy chính giữa vườn kia. Rồi con nên buộc vào cành cây cổ thụ ấy một sợi dây thòng lọng và tự treo cổ, bằng cách ấy con sẽ ngừa trước cho mình đỡ phải lâm vào những chuyện khốn đốn vẫn luôn luôn bám sát chân sự nghèo khó.


Quả vậy một thời gian sau, cha tôi qua đời. Và đúng như dự kiến của người, sau khi tôi cử hành lễ tang trọng thể cho cụ, và bắt đầu sở hữu tất cả tài sản cụ để lại, tôi mới nhận ra gia tài mình thụ hưởng thật lớn không sao kể xiết. Vậy là tôi nghĩ mình có đủ điều kiện để buông mình vô tội vạ theo bản tính ham vui chơi bời hành lạc. Tôi tăng thêm số lượng gia nhân hầu hạ trong nhà. Tôi lôi kéo đến nơi ở của mình tất cả bọn thanh niên trong thành phố. Tôi mở tiệc đãi đằng tất cả mọi người, ai muốn ăn xin cứ mời đến. Tôi chơi bời trác táng đủ thứ; dần dà mặc dù không để ý tôi xơi mất hết toàn bộ gia sản của cha tôi để lại lúc nào không biết. Ngay lập tức bọn bạn bè lần lượt từ giã tôI, gia nhân tôi tớ cũng theo chân nhau ra đi. Số phận tôi thay đổi đột ngột làm sao. Tôi thất vọng đến ngã gục, không sao gượng dậy nổi. Lúc này tôi mới nhớ lại, nhưng quá chậm rồi, những lời nói cuối cùng của cha. Tôi tự bảo:


- Thật đáng thân cho ta lâm vào cảnh ngộ hiện nay. Tại sao ta không chịu nghe theo lời khuyên bảo của phụ thân khi người còn sống? Người hoàn toàn không phải không có lý khi căn dặn ta nên dè sẻn chi tiêu. Chẳng có gì khủng khiếp hơn, buồn phiền hơn khi một con người đột nhiên thấy thiếu thốn mọi bề sau những ngày sống phè phỡn trong giàu sang. Ôi, nếu ta đã coi thường mọi lời khuyên của cha ta, ít nhất ta vẫn không còn nhớ lời cụ dạy nên tự mình kết liễu số phận mình một khi trót lâm vào cảnh khốn cùng. Lúc này ta đã đến cảnh khốn cùng rồi, ta muốn thực hiện lời khuyên rất đúng đắn của phụ thân. Bởi xét đến cùng, cho dù ta có bán ngôi nhà này, tài sản duy nhất còn lại với ta, thì nhiều lắm số tiền bán nhà cũng chỉ đủ nuôi ta thêm vài năm, sau đấy rồi thân ta sẽ ra sao? Đến lúc ấy, ta chỉ còn cách ngửa tay ăn mày để kiếm sống hoặc chịu chết đói, đằng nào cũng vậy thôi! Vậy thì tốt hơn là ta tự treo cổ ngay giờ phút này, ít ra như thế cũng đỡ cho đầu óc mình rồi phải giằng xé xót xa nếu ta cứ sống.


Tự bảo như vậy, tôi đi tìm một sợi thừng, bước xuống vườn, đến gần cây cổ thụ mà thân sinh tôi từng chỉ cho thấy. Tôi thấy cây cổ thụ này quả thật phù hợp với nhu cầu cuả tôi lúc này. Tôi vác hai tảng đá to xếp vào dưới gốc cây, trèo lên trên hai tảng đá ấy, tôi vươn tay buộc một đầu sợi thừng lên cành cây to nhất, còn đầu kia làm một cái nút thòng lọng, luồn vào cổ mình. Sau đó, tôi tung người lên không. Cái sợi dây thòng lọng mà tôi đã buộc rất khéo sắp xiết chặt cổ họng tôi, thì cành cây có buộc sợi dây bị gãy dưới sức mạnh của tấm thân và cùng rơi xuống đất.


Thoạt tiên tôi cũng buồn, vì mình cố tự vẫn mà không có kết quả. Nhưng nhìn lại cành cây vừa mới gãy xuống đất, tôi chợt ngạc nhiên nhận thấy trong cành cây rỗng vung vãi ra nhiều viên kim cương. Hoá ra cành cây ấy cũng như toàn bộ thân cây đều rỗng ruột. Tôi vội chạy vào nhà tìm một cái rìu, chặt đổ cây cổ thụ, và tìm thấy bên trong bao nhiêu là hồng ngọc, bích ngọc cũng như nhiều ngọc ngà châu báu khác. Vậy là tôi tháo vội ra khỏi cổ mình sợi dây thòng lọng. Từ tuyệt vọng tôi chuyển sang vui sướng khôn chừng.


(còn tiếp)


Nguồn: Nghìn lẻ một ngày. Phan Quang dịch và giới thiệu, theo bản tiếng Pháp LES MILLE ET UN JOURS của nhà Đông phương học lỗi lạc Francois Pétis de La Croix. Nhà xuất bản Garnier Frères Paris 1919. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Truyện cổ Grimm (100) - Anh em Grimm 31.05.2019
Thánh Gióng- Phù Đổng Thiên Vương - Nguyễn Đổng Chi 11.01.2019
Đọc Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam tập II của Nguyễn Đổng Chi - Maurice Durand 11.01.2019
Khảo dị về truyện Tấm Cám (1) - Nguyễn Đổng Chi 11.01.2019
Nghìn lẻ một đêm (21) - Antoine Galland 12.11.2018
Nghìn lẻ một đêm (20) - Antoine Galland 06.11.2018
Nghìn lẻ một đêm (19) - Antoine Galland 06.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (18) - Antoine Galland 04.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (17) - Antoine Galland 01.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (16) - Antoine Galland 01.10.2018
xem thêm »