tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29490453
Những bài báo
04.11.2008
Việt Thường
Những ai đã làm nên Hòn ngọc Đông Dương

 


Trên 100 biệt thự được xây bằng công sức người Việt


Cựu Chủ tịch kiêm Bí thư Thị trấn Tam Đảo Nguyễn Thị Duyên, trong một bài viết ngày 7/11/1987 cho rằng, nơi này được Pháp chọn làm nơi nghỉ mát từ 1902 - 1905, việc xây dựng ròng rã từ 1905 đến 1941 thì cơ bản xong. Tổng cộng có 123 biệt thự (ít hơn con số thống kê của huyện Tam Dương là 143 biệt thự), một nhà tù, hai trại binh và một hệ thống nhà dịch vụ, trong đó có khách sạn 5 tầng Metropole. Hàng năm có hàng nghìn gia đình người Pháp lên nghỉ mát. Họ là những nhà tư sản, những quan cai trị cỡ bự như toàn quyền Đông Dương Catroux, Decoux, Thống sứ Bắc Kỳ Delsal, Chánh sứ Vĩnh Yên Removille… sống xa hoa trong những biệt thự lộng lẫy do chính tay những người lao động bản xứ Tam Đảo xây nên.


Theo ký ức của ông Nguyễn Hữu Chuân - người Tam Đảo, quá trình hình thành hòn ngọc Đông Dương này là quá trình tập trung và định cư người lao động, người làm thuê làm mướn, vì vậy cư dân Tam Đảo không có lịch sử lâu đời như những làng quê Việt khác, chỉ tròm trèm 100 năm. Và nửa thời gian đó - dưới thời thuộc Pháp - là nô lệ. Sau khi những người Dao bỏ đi, tất cả người Việt lên Tam Đảo đều là những nông dân phải rời bỏ quê cha đất tổ, tha phương cầu thực với hai bàn tay trắng, lao động để kiếm sống, hầu hết là người ở các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình, Hưng Yên…


Từ dân phu làm đường và khai thác vật liệu làm đường của người dân Tam Đảo tương lai bám dần vào hai bên đường để tiến vào lòng chảo. Di tích còn lại là đền thờ ở chân suối (km 13), đền Cậu (km 14), nơi ở là cái cốt cát xăng (km 19), Hương Canh (km 21), họ sống chui rúc trong các lán tranh tre ven đường và gửi gắm nỗi thống khổ của mình vào các đền chùa miếu mạo.


Phải kể đến từ những người lam lũ nhất như phá núi, làm đường, khênh kiệu, vận chuyển bằng khuân vác từ đồng bằng lên cao trên 900 mét. Để có được hòn ngọc Tam Đảo này và vận hành nó, người Nam ta đã đổ không biết bao mồ hôi xương máu và nước mắt. Pháp đã huy động phu phen của tỉnh Vĩnh Yên lên phá đá mở đường. Quan huyện Hương Canh phải đích thân xua dân làm đoạn đường từ km 20 đến km 24. Tại km 21, nơi có lán trại hồi đó, bây giờ còn cây gạo mà dân ta vẫn gọi là cây gạo Hương Canh. Quan thực dân thời gian đầu lên Tam Đảo bằng cách ngồi ghế song loan, phu phen mỗi chuyến 6 người, thay đổi vai, khiêng lặc lè từ km 13 lên lòng chảo.


 


Chỉ riêng chuyện làm sân vận động năm 1943, quan giục lính, lính ép dân - người lao động làm việc trong những ngày rét cắt ruột, có lúc nhiệt độ xuống tới 3 - 4 độ C, vừa cực nhọc vừa ăn uống kham khổ, roi vọt đánh đập, đói rét đã làm 23 người chết.


Những "cỗ máy người" cho các quan thầy ở Tam Đảo


Sau nhiều năm liên tục làm phu, làm thợ, đi buôn… họ ở lại đất này. Dân số Tam Đảo năm 1941 khoảng 1.000 người - năm cao nhất 1943 có xấp xỉ 6.000 người. Tất cả là những cỗ máy người phục vụ cho các quan thầy thượng lưu trên Tam Đảo.


Họ chia làm hai nhóm. Một bộ phận chuyên về “gác nhà”. Mỗi chủ biệt thự phải thuê người trông nom, nơi ở của họ là nhà bếp, nhà để xe, cá biệt có gia đình được ở ngay tầng một của biệt thự - khoảng 1/3 người gác các nhà nghỉ của các công sở Pháp là lính như các ông Ngũ Văn, Ngũ Tuyên, Ngũ Cát Tô hoặc nhân viên bậc thấp của chính quyền Pháp, số còn lại từ thợ thuyền chuyển sang gác nhà. Một bộ phận lớn còn lại chuyên làm thợ: mộc, nề, tạp dịch, sửa chữa đồ gỗ, đồ mây, ống nước… buôn thúng bán mẹt, trồng rau, chăn nuôi ở “làng An Nam”.


Mức sống của người gác nhà có nhỉnh hơn mức sống thợ thuyền ở “làng An Nam” một chút vì có lương tháng. Khi thôi không gác nhà có người lại chuyển xuống sống chen chúc trong “làng An Nam”…


Người gác nhà lỡ để mất mát gì thì bị chủ nhà hành hạ đủ tội, và cho lục soát cả làng An Nam. Lính khố xanh được phép bắn bia qua làng - lính đứng ở đầu dốc lối xuống của làng, bia lưng chừng núi cắt đường vào đền Đức Thánh Trần - những ngày này cả làng không dám ra khỏi nhà, biết đâu đạn lạc, biết đâu đạn rơi dọc đường.


Nhà pha (tiếng dân ta gọi người tù) bị đầy đọa quanh năm để phục vụ cho những ngày phè phỡn của quan thầy: dọn cây cỏ hai bên đường, cả những đoạn vách đá thẳng đứng, manh áo mỏng sao chống được rét; miếng cơm hẩm cá mắm sao đủ sức lao động khổ sai. Có người đi nghỉ khi chơi trên đầu Thác Bạc đã ngã chết, xác nằm lơ lửng ở khe đá giữa thác, chúng lại bắt nhà pha lấy xác lên. Theo ông Nguyễn Hữu Chuân, đã có người tù chọn cái chết để thoát cảnh trần gian cực nhọc: khi ngồi ở lề đường bên vách núi thẳng đứng đã ngả người cho lăn xuống thung lũng Thác Bạc. Tự tuyệt một kiếp người.


Bể bơi người Việt tuyệt đối không được sử dụng. Người Pháp sống đế vương trong các biệt thự đầy đủ tiện nghi, có bồi bếp, phục dịch từ ăn uống, giặt giũ, quét tước lau chùi nhà cửa... Mùa hè, bà con ở chân núi làng Mấu, làng Mạ… mỗi ngày đến vài chục người gánh gồng đủ mọi thứ lên bán như gạo, gà vịt, cá tươi, rau dưa, hoa quả… Cách một ngày một phiên chợ, thực phẩm ê chề, thịt lợn, thịt bò phải giữ nguyên tim, gan, óc để bác sĩ khám rồi mới bán.


Dân ta thì sống quá khổ - có gia đình đẻ 11 lần mà chỉ nuôi sống được 3, trẻ con mới 13, 14 tuổi đã phải đi đập đá, phụ hồ. Chỉ được phép đun nấu bằng lau sậy, củi khô; nhà nào mà chặt củi tươi là bị phạt.


Một số nhà chăn nuôi đã đấu thầu mua nước gạo của khách sạn Metropole, hay của trại lính Tây. Cơm thừa canh cặn của trại lính Tây được lén bán lại cho dân.


Đỉnh điểm về phân biệt tầng lớp có thể thấy chính ở đất này. Và không phải ai khác, chính người nô lệ Tam Đảo đã nổi dậy làm chủ số phận mình, thiêu đốt các biệt thự như trong một câu thơ làm chứng: “Đang đổ sụp một nguy nga man rợ/ Đang tan bay một xán lạn phù hoa…”


 Việt Thường (Ghi chép)


 Nguồn: Thể thao & Văn hóa

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ý kiến tâm huyết về Biển Đông và Trung Quốc - Nhiều tác giả 10.09.2019
Thương nhớ Lê Mai! - Vũ Ngọc Tiến 06.09.2019
Xúc động bức thư Chủ tịch Phú Yên gửi giáo viên và học sinh nhân ngày khai giảng - Tư liệu 06.09.2019
Bức thư "lạ" đầu năm học của Chủ tịch tỉnh Phú Yên gây xúc động mạnh - Tư liệu 06.09.2019
Rất nên đọc: Thư gửi thầy cô giáo và học sinh nhân ngày khai giảng năm học mới - Phạm Đại Dương 06.09.2019
Về nhà thơ Nguyễn Mỹ - Nhiều tác giả 28.08.2019
Sự cô đơn đĩnh đạc và một đồng bằng gai góc trong văn chương - Trịnh Bích Ngân 28.08.2019
Theo dấu tích trống đồng - Trần Mai Hưởng 26.08.2019
Đôi lời về tiểu thuyết đổi mới ở Trung Quốc - Vũ Ngọc Tiến 26.08.2019
Pablo Neruda nói về Gabriela Mistral - Pablo Neruda 23.08.2019
xem thêm »