tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29387443
Những bài báo
28.08.2019
Nhiều tác giả
Về nhà thơ Nguyễn Mỹ


Chuyện bi tráng về nhà thơ Nguyễn Mỹ


Trong chiến tranh chống Mỹ, Quảng Nam là vùng đất được coi vào loại ác liệt nhất nước. Đấy là một vùng đất chết, một bên trắng xoá cát biển, một phía lúp xúp đồi. Bom đạn cày xới đến từng cen-ti-mét. Nơi đấy một loạt các nhà văn đã hy sinh mà hai người nổi tiếng nhất, đến giờ vẫn còn để lại những đau xót trong lòng mọi người là nhà văn Dương Thị Xuân Quý và nhà thơ Nguyễn Mỹ.


Tôi vừa được cùng một số nhà văn Khu Năm cũ về thăm căn cứ Khu uỷ khu V xưa ở Trà My, căn cứ địa Nước Oa - “Thủ đô kháng chiến Khu Năm” thời chống Mỹ, nơi hiện đang có phần mộ liệt sĩ Nguyễn Mỹ.


Có nhiều chuyện về Nguyễn Mỹ, nhà thơ của Như chưa hề có cuộc chia ly nổi tiếng mà có lẽ không ai không biết vì nó được đưa vào sách giáo khoa, vả lại bài thơ này cũng hay thực sự, ít nhất là cho đến bây giờ. Ông quê ở Tuy An, Phú Yên, là em ruột nhạc sĩ Nhật Lai với bài hát Hà Tây quê lụa nổi tiếng. Câu chuyện về sự hy sinh của Nguyễn Mỹ đầy éo le mà tôi được nghe từ các đồng đội của ông kể ngay tại mộ ông khiến rưng rưng quặn thắt.


Trước đó, năm 1964, Nguyễn Mỹ làm bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ như một sự tự khẳng định tài năng của mình trên văn đàn. Bài thơ là một trong những áng thơ tình hay nhất thời ấy, đồng thời cũng rất lạc quan thời đại, nó vừa có yêu đương, có chia ly lại rực rỡ sắc màu, nhờ thế mà nó được phổ biến và hầu như thanh niên ai cũng thuộc. Lục trong google, thấy Wikipedia ghi vẻn vẹn: “Nguyễn Mỹ sinh ngày 21 tháng 2 năm 1935, tại thôn Trung Lương, xã An Nghiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. 16 tuổi vào bộ đội, chiến đấu ở chiến trường Nam Trung Bộ. Năm 1954, tập kết ra Bắc, công tác ở đoàn văn công Tây Nguyên (nơi anh ruột mình là trưởng đoàn - VCH). Học xong lớp báo chí của Trường Tuyên huấn Trung ương thì về công tác ở Nhà xuất bản Phổ Thông. Năm 1968, ông trở lại chiến trường miền Nam, làm phóng viên báo Cờ giải phóng Trung Trung Bộ, thuộc Ban Tuyên truyền văn nghệ khu V. Hi sinh ngày 16 tháng 5 năm 197l ở huyện Trà My, Quảng Nam”.


 


Nhưng những gì tôi nghe các nhà văn là đồng đội của ông kể thì bi tráng và đau đớn hơn nhiều. Nó khiến tôi ngẩn ngơ suốt cả tháng. Thì ra phía sau mỗi cuộc đời, phía sau những vần thơ đẹp, phía sau tưởng tượng và hiểu biết của ta, lại là những sự thật, phần lớn là đau lòng...


 


... Vào những ngày cuối đời của nhà thơ Nguyễn Mỹ, ông gần như bị cách ly với cuộc chiến đấu và với cả đồng đội. Sau ngày giải phóng, phải thẩm tra mãi, cách đây mấy năm, nhà thơ mới được công nhận là liệt sĩ. Số là ở quê tại Phú Yên, ông có một bà mẹ, bà rất nông dân, một hôm bị bắt trộm con gà, mà người bắt chính là mấy anh... du kích xã. Hồi ấy các anh du kích trẻ đói nên việc ấy cũng thường xảy ra. Tiếc gà, bà chửi như tất cả những người nông dân mất gà khác. Bà chửi liền mấy ngày đêm thì bị chính mấy anh du kích này bắn chết, nhưng họ lại báo lên trên rằng bà là Thiên Nga (tổ chức tình báo, tâm lý chiến của giặc). Trên báo lên trên tiếp... Thế là Nguyễn Mỹ tự nhiên bị cách ly, được phân ra rẫy ở một mình đuổi khỉ và chim, tự túc lương thực thực phẩm. Một người bình thường cô đơn đã khổ, huống gì đây lại là nhà thơ của “Cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ/ Tươi như cánh nhạn lai hồng... Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi/ Như chia hề có cuộc chia ly...”, nhà thơ mỏng manh nhạy cảm và có thể cả yếu đuối nữa, thế mà một mình một khu rừng trong nỗi mặc cảm dày vò khắc khoải không được giải thích và có thể là cả ân hận nữa thì nỗi cô đơn đau khổ nhân lên gấp mấy lần? Ở lâu như thế, hoàn toàn mù tịt với tình hình và cả cách đánh của địch, một hôm ông gặp một tốp biệt kích nhưng lại hoá trang mặc quân phục giải phóng. Mừng quá, ông nhào ra vẫy rối rít: “Các đồng chí ơi, tôi đây...”. Bảy ngày sau thì đồng đội mới biết ông đã bị bắn chết. Nhưng lúc này thì xác đã trương lên và có biểu hiện có lựu đạn ở dưới xác. Thường bọn biệt kích hay cài lựu đạn dưới xác liệt sĩ để nó sẽ phát nổ tiêu diệt tiếp khi đồng đội đi tìm. Thế là mọi người để nguyên ông nằm trên mặt đất, lấy đá xếp vòng xung quanh rồi đứng xa hắt đất vào chôn. Đấy là một nỗi đau, là bi kịch cứa mãi trong lòng đồng đội của ông, nhưng bi kịch hơn là sau đấy khi quay lại quy tập hài cốt thì... toàn bộ hài cốt đã không còn. Chỉ còn lại các dụng cụ cá nhân mà khi bị bắn chết ông vẫn mang trên người như quần áo, dép, vỏ đạn, bi đông... những thứ này bây giờ đang nằm dưới ngôi mộ có tên Liệt sĩ nhà thơ Nguyễn Mỹ lúc nào cũng đỏ thắm hoa mười giờ do nhà văn Nguyễn Bá Thâm trồng và hôm nay thì rực đỏ hoa hồng do chúng tôi mang đến. Nhà văn Cao Duy Thảo, nhà thơ Thanh Quế và nhà văn Nguyễn Bá Thâm là người sống, chiến đấu cùng Nguyễn Mỹ thời ấy, đồng cam cộng khổ và hiện nay cũng là người siêng năng đi thăm và lo lắng cho mộ Nguyễn Mỹ nhiều nhất, khi kể chuyện này đều buồn rười rượi và các ông đều cho rằng, khả năng lớn nhất là xác nhà thơ Nguyễn Mỹ đã bị thú dữ đào lên ăn thịt. Nhà văn Cao Duy Thảo lặng lẽ ngồi bệt sát mộ Nguyễn Mỹ và kể cho tôi nghe câu chuyện trên. Ông giờ ở Nha Trang, để đến được với Nguyễn Mỹ hôm nay, ông đã vượt năm trăm cây số. Rồi ông kết luận: “Chiến tranh mà. Trong chiến tranh không có chuyện gì không thể xảy ra. Nhiều chuyện còn bi kịch và kinh khủng hơn nhiều, nhiều chuyện cố tin cũng không thể tin nổi, dù đấy là sự thật”. Ông kể thêm chuyện tìm mộ nhà văn Chu Cẩm Phong. Những người chôn Chu Cẩm Phong vẫn còn cả đấy, nhưng đào nát cả thửa ruộng đã chôn anh rồi mà vẫn không thấy hài cốt đâu. Cuối cùng bà mẹ anh xuất hiện. Bà thắp nhang vái rồi sẵn chai rượu mang theo, bà ngậm trong miệng phun khắp xung quanh. Và điều kỳ lạ xảy ra: Một đám cỏ chuyển màu có hình người. Đào lên thì đấy đúng là di cốt Chu Cẩm Phong...


Chúng ta hãy cùng nhau đọc lại bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ, để nhớ và hiểu thêm một thời hào hùng và bi tráng của dân tộc. Trên nắp mộ nhà thơ Nguyễn Mỹ, đồng đội ông cũng khắc mấy câu thơ rực đỏ ấy...


Văn Công Hùng


Báo Sức khoẻ và Đời sống, 2009.


 


NHỚ NHÀ THƠ NGUYỄN MỸ


Thứ bảy - 16/07/2011 22:18      


Sau tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968 của quân dân miền Nam buộc Mỹ phải ký hiệp định ngừng bắn hạn chế ở miền Bắc, bom đạn, sự gian khổ, ác liệt và hy sinh dồn vào khúc eo miền Trung từ một nửa Nghệ An trở vào đến Vĩnh Linh.


Nhà tôi lúc đó ở một làng quê sơ tán, thường bất ngờ được đón các đoàn công tác, các đơn vị bộ đội hành quân vào Nam hay ra Bắc thường nghỉ lại 1-2 ngày. Cứ mỗi lần các anh về làng, không chỉ thanh niên mà lũ trẻ chúng tôi như ngày hội, cứ chạy tung ta tung tăng khắp nơi thăm các anh, sung sướng nhìn súng đạn, máy bộ đàm, quân trang, quân dụng...


 


Đã hơn 40 năm rồi, trí nhớ hồi trẻ thơ vẫn cứ khắc sâu hình ảnh các anh, đôi lúc cứ thầm hỏi: những con người dạo ấy bây giờ ở đâu? Chắc rất nhiều anh đã vĩnh viễn nằm lại dọc đường hành quân hay ở chiến trường.


 


Một trong số các anh để lại trong tôi nhiều dấu ấn nhất là nhà thơ Nguyễn Mỹ. Tôi nhớ mãi vào một ngày cuối hè năm 1968, một người cao to đẹp trai mang trang phục người lính rất nghiêm, nói giọng Nam đến thăm nhà tôi nơi sơ tán. Anh điềm tĩnh, ít nói, nhưng dễ chịu lúc tiếp xúc và khiến tôi có cảm tình ngay.


 


Anh tự giới thiệu tên là Mỹ, công tác ở NXB Phổ thông, anh biết nhà tôi qua người anh họ tôi (nhà thơ Xuân Hoài). Anh bảo rất vội vì sắp sửa phải đi công tác xa đơn vị đang nghỉ ở làng bên cạnh, Anh muốn ghé thăm làng Tiên Điền và mộ cụ Nguyễn Du. Nhà tôi có chiếc xe đạp rất tàng, nhưng phải để dưới hầm để tránh bom đạn, nghe anh nói vậy mẹ tôi kéo xe lên cho anh mượn.


 


Anh không biết đường nên tôi dẫn anh đi. Thật khổ sở xe không có chỗ ngồi đằng sau, tôi ngồi trước khung xe, nào được đi trên con đường huyện lộ, mà phải đi vòng vèo qua các làng để tránh vào đường lớn và cầu. Trên trời máy bay Mỹ luôn gầm rú, đâu đó lại có tiếng bom nổ, có khi rất gần. Chúng tôi phải dừng lại nhiều lần trú máy bay Mỹ. Trên đường đi hai anh em chuyện trò vui vẻ, có lần anh hỏi:


- Ngày nào cũng có bom đạn như thế này các em sống thế nào, làm sao đi học được?


- Bom đạn thì mặc nó, chúng em vẫn sống vẫn đi học bình thường. Ban ngày còn đỡ anh ạ. Ban đêm ngoài máy bay quần đảo suốt đêm với pháo còn sáng hơn cả ban ngày. Từ ngoài biển tàu chiến bắn pháo và tên lửa suốt đêm. Hầu như ngày nào quê em cũng người chết và bị thương.


- Em học giỏi không? Lớn lên em thích làm nghề gì? Có thích làm nhà báo, nhà văn không?


- Dạ, em học bình thường thôi ạ, thậm chí còn yếu môn văn. Làm sao mà em làm được những nghề đó. Muốn làm nghề đó học giỏi chưa đủ mà còn phải có năng khiếu nữa phải không anh? Em chỉ mong lớn lên được làm người lính hay y tá để băng bó và chăm sóc những người bị thương. Quê anh ở đâu?


- Quê anh ở Phú Yên, xa lắm. Ở đấy chiến tranh cũng rất ác liệt - vừa nói, anh vừa đăm chiêu nhìn về phương Nam xa xôi


Anh nói “xa lắm”, nhưng lúc đó tôi không hình dung nổi, chỉ nghĩ quê anh ở bên kia dãy núi Hồng Lĩnh đã là rất xa đối với tôi rồi.


 


Đến nhà lưu niệm Nguyễn Du thấy cảnh hoang tàn, cửa đóng, những cây thông già, hàng phi lao vẫn ru với gió. Lá thông, lá phi lao rụng đầy sân, lối đi và mái ngói. Anh trầm ngâm suy nghĩ và chậm rãi đi một vòng khu vườn, hình như anh muốn tìm một cái gì.


 


Sau đó chúng tôi ra mộ cụ Nguyễn Du. Anh lấy làm ngạc nhiên vì cụ Nguyễn Du là thi sĩ lớn nhất của Việt Nam nhưng cũng nằm ở một nghĩa địa bình thường như trăm làng quê khác ở miền Bắc. Mộ chỉ đắp cao hơn một chút, không xây bia, chỉ có 4 cây khuynh diệp trồng 4 hướng. Anh đứng ở gần mộ cụ trầm ngâm rất lâu, tôi không nghe rõ lời cầu khấn của anh. Cảnh chiều tà, mặt trời đỏ lửng ở những rặng tre phía Tây, gió nồm thổi đưa vị nồng của cát và muối.


 


Chiều hôm đó mẹ tôi đã chuẩn bị sẵn cơm, anh không kịp ăn mà chỉ xin mẹ tôi một bi-đông nước chè rồi ngồi lúi húi chép tặng tôi bài thơ “Cuộc chia ly màu đỏ” và còn cho tôi 2 gói lương khô, như để cám ơn tôi. Hồi đó tôi mới học lớp 5, môn văn không phải là môn tôi thích nên văn thơ cũng ít để ý đến (bây giờ nhớ lại tôi thấy tiếc vô cùng bản chép tay của chính tác giả).


Mãi sau này Hiệp định đình chiến năm 1973 ký kết, những bài thơ hay được in riêng từng bìa cứng trang trọng như “Việt Nam máu và hoa” của Tố Hữu, “Việt Nam đường sáng tuyệt vời” của Chế Lan Viên (không biết tôi có nhớ đúng tựa đề của bài thơ không?), “Cuộc chia ly màu đỏ” của Nguyễn Mỹ…


 


“Cuộc chia ly màu đỏ” Nguyễn Mỹ viết vào ngày cuối thu năm 1964 ở Đồng bằng Bắc bộ. Có lẽ đó là bài thơ hay nhất, thành công nhất trong cuộc đời thi ca của anh và là một trong những bài thơ hay của thi ca Việt Nam hiện đại. Mang âm hưởng lãng mạn cách mạng với những thi liệu rất thực, rất bình dị và gần gũi, bài thơ mô tả người vợ trẻ tiễn đưa chồng ra trận.


 


Dù tác giả không cố viết về nỗi buồn của cuộc chia ly, nhưng người đọc vẫn thấy bùi ngùi. Trong “Cuộc chia ly màu đỏ”, cụm liên từ “tươi như cánh-nhạn-lai-hồng” này không biết tác giả viết loại cây nào mà rất lạ, nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều bàn cãi, mà tác giả đã hy sinh ngày 16-5-1971 trên bờ sông Dakta, huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam.


 


Thật kỳ lạ những qui luật thiên nhiên nghiêm ngặt và cực kỳ chính xác như Trái đất quay quanh mặt trời, hệ Mặt Trời quay trong giải Thiên Hà, nước chảy từ nơi có thế năng cao xuống nơi có thế năng thấp… Những qui luật của xã hội; dù chỉ là con người qui định với nhau cũng không kém phần nghiêm ngặt.


 


Màu đỏ là một trong 7 màu quen thuộc mà con người nhìn thấy, có bước sóng khác nhau. Thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, màu hồng, màu đỏ là biểu tượng của cách mạng, được mọi người yêu thích nhất và đã trở thành màu đẹp nhất. Cả một thời tuổi thơ của tôi ai cũng ngợi ca màu đỏ, màu hồng.


 


Chẳng riêng nhà thơ Nguyễn Mỹ trong “Cuộc chia ly màu đỏ”, từ “màu đỏ”, “màu hồng” được nhắc đến hàng chục lần, mà ngay cả “cây cổ thụ” của thi ca Việt Nam thế kỷ 20 Chế Lan Viên cũng có nhiều bài thơ ngợi ca màu đỏ, màu hồng. Ðiển hình là trong bài “Người đi tìm hình của nước”, nhà thơ quá say sưa với màu “hồng” mà quên đi đất nước đã có mấy nghìn năm lịch sử, đã viết: “Lắng nghe trong màu hồng hình đất nước phôi thai”. Ðâu phải ở thế kỷ 20 đất nước mới phôi thai!


 


Nhưng tôi thấy màu “áo đỏ” trong bài thơ “ Cuộc chia ly màu đỏ” hơi lạ. Bài thơ ra đời sau khi chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ, thời kỳ này rất ít ai mặc áo trắng vì sợ máy bay Mỹ phát hiện, còn màu đỏ của áo quần chỉ dành mặc cho những người đã mất khi khâm liệm mà thôi. Vậy mà thi phẩm Nguyễn Mỹ lại tả về màu áo đỏ tươi của cô gái trẻ lúc tiễn đưa chồng ra trận, điều này lại càng không có. Phải chăng nhà thơ nhìn thấy màu khác nhưng quá yêu màu đỏ nên viết lên bài thơ như vậy!


 


Chiến tranh đã đi qua lâu rồi, nhưng mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn cảm thấy như chuyện của ngày hôm qua, vẫn làm tôi đau và nhức nhối. Đó là bao cuộc tiễn đưa, để rồi mãi mãi không bao giờ gặp lại. Đó là tuổi thơ của thế hệ chúng tôi đầy thiếu thốn, chết chóc, đau thương, lòng thương yêu nhau vô bờ bến giữa con người với con người. Ðó mãi mãi là niềm thương, nỗi nhớ, là miền sâu thẳm nhất của lòng tôi.


 


Anh Nguyễn Mỹ ơi, cuối cùng ai cũng phải chết để trở về cát bụi. Nhưng anh ra đi sớm quá, tuổi 36 còn đầy hứa hẹn cho đời nhiều bài thơ hay. Tôi thương tiếc anh cùng nhà thơ Lê Anh Xuân, nhà văn Nguyễn Thi và biết bao anh chị khác đã ngã xuống trên chiến trường. Các anh chị đã góp phần xây nên nền văn học thời chiến, góp phần không nhỏ cho công cuộc thống nhất đất nước. Cho lớp trẻ hôm nay biết đất nước đã đi qua một thời như thế!


Bây giờ, mỗi lần nhớ đến anh, nhớ về thời thơ ấu, tôi lại ngân nga bài thơ “Cuộc chia ly màu đỏ” của anh.


 


Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ


Tươi như cánh nhạn lai hồng


Trưa một ngày sắp ngả sang đông


Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ


Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ


Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa


Chồng của cô sắp sửa đi xa


Cùng đi với nhiều đồng chí nữa


Chiếc áo đỏ rực như than lửa


Cháy không nguôi trước cảnh chia ly


Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia


Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy


Không che được nước mắt cô đã chảy


Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời


Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi


Và rạng đông đã bừng trên nét mặt


Một rạng đông với màu hồng ngọc


Cây si xanh gọi họ đến ngồi


Trong bóng rợp của mình, nói tới ngày mai


Ngày mai sẽ là ngày sum họp


Đã tỏa sáng. Những tâm hồn cao đẹp


Nắng vẫn còn ngời trên mắt lá si


Và người chồng ấy đã ra đi...


Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế


Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ


Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào


“Khi Tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau!”


 


Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy


Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy


Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi


Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người


Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp


Một làng xa, giữa đêm gió rét...


Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi


Như không hề có cuộc chia ly...


9-1964


Budapest, ngày 18-6-2011


Nguyễn Lam Thủy


th-nghiaphong-namdinh.violet.vn


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ý kiến tâm huyết về Biển Đông và Trung Quốc - Nhiều tác giả 10.09.2019
Thương nhớ Lê Mai! - Vũ Ngọc Tiến 06.09.2019
Xúc động bức thư Chủ tịch Phú Yên gửi giáo viên và học sinh nhân ngày khai giảng - Tư liệu 06.09.2019
Bức thư "lạ" đầu năm học của Chủ tịch tỉnh Phú Yên gây xúc động mạnh - Tư liệu 06.09.2019
Rất nên đọc: Thư gửi thầy cô giáo và học sinh nhân ngày khai giảng năm học mới - Phạm Đại Dương 06.09.2019
Về nhà thơ Nguyễn Mỹ - Nhiều tác giả 28.08.2019
Sự cô đơn đĩnh đạc và một đồng bằng gai góc trong văn chương - Trịnh Bích Ngân 28.08.2019
Theo dấu tích trống đồng - Trần Mai Hưởng 26.08.2019
Đôi lời về tiểu thuyết đổi mới ở Trung Quốc - Vũ Ngọc Tiến 26.08.2019
Pablo Neruda nói về Gabriela Mistral - Pablo Neruda 23.08.2019
xem thêm »