tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27191646
Những bài báo
11.05.2019
Đỗ Quang Hưng
Thay lời nói đầu của bộ sách "Đỗ Quang Tiến - Tác phẩm chọn lọc"

Nhân kỷ niệm 28 năm ngày nhà văn Đỗ Quang Tiến vĩnh biệt cõi trần (16-05-1991/ 16-05-2019); xin trân trọng giới thiệu bài của Giáo sư, Tiến sỹ Đỗ Quang Hưng, con trai trưởng của nhà văn, Thay lời nói đầu, in trong bộ sách Đỗ Quang Tiến - Tác phẩm chọn lọc, 1250 trang, khổ 14.5 x 20.5 cm, NXB Văn học, 2017.


www.trieuxuan.info


 


“Hãy tự bằng lòng với những gì mình có…”



Không hiểu sao, cứ nghĩ đến ông, chúng tôi - những đứa



con của nhà văn Đỗ Quang Tiến - lại nhớ về câu nói đó.



Ông thường nói câu ấy từ khi chúng tôi còn thơ ấu, và



nhấn mạnh rằng, đó là câu ngạn ngữ của Pháp, một trong



những câu ông ưa thích. Để hiểu hơn câu ấy và ý ông muốn gửi



gắm với chúng tôi là một quá trình dài, không bất biến mà cứ



thay đổi. Ban đầu, chúng tôi nghĩ đó chỉ là câu an ủi, động viên



khi đất nước còn gian nan, gia cảnh nghèo khó, bố mẹ chúng tôi



phải nuôi tới sáu người con và cả bà u - bà vú già thủa thơ ấu



của bố tôi. Khi vào đời, chúng tôi có ý trách cứ rằng, cứ bằng



lòng, không cứng rắn, mạnh mẽ để vươn lên; thậm chí bằng



mọi cách thì sẽ thua thiệt, khốn khó. Nhưng đến giờ, khi chúng



tôi - trong đó ngay cả đứa con út của ông đã năm mươi, đến



tuổi “tri thiên mệnh” - thì mới thấy thật sự chiều kích của câu



nói ấy. Đua tranh, xoay xở, mưu cầu thái quá, quả thật chỉ làm



ta khổ sở và bất an; tất nhiên cần cù, phấn đấu hết mình một



cách đàng hoàng, trung thực lại là chuyện khác hẳn.



Khổng Tử cũng từng dạy: “Quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu



nhân đồng nhi bất hòa”. Có lẽ đó cũng là một trong những triết



lý sống của nhà văn Đỗ Quang Tiến. Ông là người cẩn trọng,



nghiêm khắc với con cái và rất ít khi kể cho chúng tôi nghe về



gia thế và cuộc đời mình. Chị em cùng cha cùng mẹ với ông



mỗi người một cảnh, xa nhau từ bé nên chúng tôi cũng không



có dịp để tìm hiểu. Chính thế mà người con trưởng là GS.TS. Sử



học Đỗ Quang Hưng, thường bị các em nói vui rằng, chỉ tìm



hiểu lịch sử “đâu đâu” ấy còn chính lịch sử gia đình, gia phả



mình thì gần như không biết gì. Cho đến khi lớn dần, chúng tôi



mới hiểu một chút nguyên do để ông sống giản dị, khắc khổ, có



phần khép kín, lặng lẽ khiêm cung quá đỗi. Ông ít nói mặc dù



trong mọi chuyện - kể cả trang phục lẫn ẩm thực - ông rất tinh



tế và nếu khi vui, thân tình ông luôn biết “humour” - hài hước,



ý nhị, nhẹ nhàng.



Sinh ra ở làng Phương Liệt, thời ấy là ngoại ô Hà Nội, cái



làng có một nghề nổi tiếng - nghề sơn vôi - sau này được ông



thể hiện trong tác phẩm “Đêm đỏ” viết cho thiếu nhi. Đây là



nguyên quán mà chúng tôi trong lý lịch đều phải ghi, thời Cách



mạng Tháng 8 thành công, Phương Liệt thuộc quận 7. Nay nó



thuộc quận Đống Đa và dĩ nhiên đã là phố từ lâu rồi, và anh em



chúng tôi đều không biết cái nhà xưa ấy thế nào. Có lẽ ông



cũng không ở Phương Liệt nhiều, ông nội tôi làm thầu khoán,



rồi làm công chức cho Tây, lấy bà nội tôi là người Hàng Bạc,



nên gia đình khá giàu có. Chúng tôi có lần được bố tôi chỉ cho



vài ba ngôi biệt thự, bảo rằng đấy là của gia đình ngày xưa ở



Hà Nội. Chúng tôi chỉ biết ngậm ngùi khi trở về căn phòng hơn



hai chục mét vuông, vốn là cái garage nền xi măng, để rồi đến



lúc mẹ tôi mất, chúng tôi vẫn không thực hiện được ước mơ của



bà là được lát đá hoa để mùa hè lau sạch rồi nằm cho mát. Sở dĩ



chúng tôi lan man nhớ lại như thế bởi tuổi trẻ của bố tôi thật



buồn. Bà nội tôi mất từ khi bố tôi mới có tám tuổi, ông xem hai



người chị lớn như mẹ, và khi hai chị lấy chồng thì ông cô độc



hoàn toàn, bởi ông nội tôi, sau đó có luôn hai vợ kế và không



mấy quan tâm đến đứa con trai của người vợ cả ấy nữa, dù ông



vẫn chu cấp cho con học hết Tú tài (phần một). Bố tôi trở nên u



uẩn, co mình lại và chỉ có niềm vui đọc sách. Niềm say mê văn



chương của ông lớn dần cùng nỗi khao khát rời khỏi nhà, tự



lập. Ông vào Sài Gòn với một ý nguyện tìm cách sang Pháp.



Ước mơ của ông cũng là của nhiều thanh niên thủa ấy, nếu bà



nội tôi còn sống, sẽ không có gì quá khó khăn. Chỉ một lần, kể



với chúng tôi, ông xin một người Pháp giàu có để làm giúp



việc, để có thể lên tàu sang Pháp, nhưng vì lý do gì đó nên việc



không thành. Và suốt đời niềm ước ao của ông một lần tới Pháp



không bao giờ thực hiện được.



Ở Sài Gòn, ông đi dạy học rồi có thời gian làm thư ký cho



một hãng buôn Thụy Sĩ. Sài Gòn cũng là nơi ông thể hiện niềm



đam mê văn chương bằng việc xuất bản tiểu thuyết đầu tay



năm 1943 “Chiều ba mươi Tết” (chúng tôi chưa tìm thấy cuốn



sách). Nghệ sĩ nhân dân, kịch tác gia Lộng Chương (em họ bố



tôi, ông thân sinh ra Lộng Chương là em ruột thân mẫu của nhà



văn Đỗ Quang Tiến) đã kể lại với chúng tôi rằng, thời hoa niên



cuối những năm 30 của thế kỷ trước, hai anh em từng suốt ngày



bàn luận văn chương, tập tành viết lách, tham gia ban kịch ở Hà



Nội. Nhưng rồi do hoàn cảnh nào đó, ở Sài Gòn Đỗ Quang Tiến



lại trở ra Bắc. Đến thị xã Thanh Hóa, ông ghé lại thăm bà mẹ



nuôi của ông từ lúc thơ ấu. Ở đây, ông gặp mẹ chúng tôi. Và



cũng từ đây, Đỗ Quang Tiến tham gia Cách mạng Tháng 8 rồi



đưa gia đình lên An toàn khu (Sơn Dương, Tuyên Quang), nơi



ông công tác ở ngành Tư pháp. Mấy đứa con của ông sinh ra



trên nẻo đường kháng chiến, chỉ có hai đứa con sau cùng sinh



ra tại Hà Nội.



Phải nói rằng trong thời gian tham gia kháng chiến, Tư



pháp là một môi trường lặng lẽ và thậm chí khá buồn tẻ, bởi Tư



pháp chưa được coi trọng trong một chính phủ kháng chiến.



Nhưng có thể với bố chúng tôi, đó cũng là điều may mắn bởi



ông có thời gian để nhìn lại và suy nghĩ cho tương lai của mình



và gia đình. Hơn nữa ông có dịp gắn bó hơn với cuộc sống và



những con người dân tộc bình dị ở Việt Bắc. Sau khi mẹ chúng



tôi đưa bốn đứa con về Hà Nội khi Hòa bình lập lại, Đỗ Quang



Tiến vẫn làm trong ngành Tư pháp ở Tuyên Quang, tham gia



cải cách ruộng đất đợt hai. Những vốn sống, sự hiểu biết về



Việt Bắc cùng nông thôn và người nông dân gian lao vất vả ấy



đã tạo nên một loạt tác phẩm của ông sau này, nó còn đi suốt



cuộc đời sáng tác của ông. Đỗ Quang Tiến quyết tâm trở lại với



văn chương. Ông liên tục cho xuất bản: Biến đổi ở thôn Đèo Hoa



(tập truyện ngắn, 1955), Hai suất sưu (tập truyện ngắn, 1956),



Nhất tội nhì nợ (tập truyện ngắn, 1956). Ông chuyển về công tác



tại Hội Văn nghệ Việt Nam, trở thành một trong những hội



viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957. Và từ đó đến



lúc về hưu, Hội Nhà văn cũng là nơi công tác cuối cùng của ông



và Hội cũng là nơi mẹ chúng tôi - bà Âu Thị Hường - làm công



việc văn phòng cho đến khi mất vì bạo bệnh.



Được sống và viết với bố tôi là điều hạnh phúc nhất. Cuối



những năm 1950 đầu những năm 1960, là thời gian có thể nói là



sung sức nhất của nhà văn Đỗ Quang Tiến. Nhà quá chật chội,



cứ đến tối, ăn xong ông lại đến cơ quan ở 84 Nguyễn Du ngồi



viết. Nhiều đêm ông không về nhà. Sự cần mẫn ấy cùng với



những chuyến đi thực tế ở Hải Phòng, Thái Bình… đã góp phần



mang đến những tác phẩm được ra mắt bạn đọc: Hai bố con



(truyện vừa, 1958), Lưỡi dao tiện (truyện vừa, 1959), Đêm pháo



hoa (truyện vừa, 1959), Ngoại ô (tập truyện ngắn, 1960), Đàn trâu



(truyện thiếu nhi, 1962)… Trong đó, tiểu thuyết Làng tề (xuất



bản năm 1962) được giới cầm bút và bạn đọc đánh giá cao. Có



thể nói đây là tác phẩm đáng chú ý nhất của nhà văn Đỗ Quang



Tiến. Chưa bao giờ ông nói về các tác phẩm của mình, nhưng



chúng tôi biết ông “tạm hài lòng” nhất về cuốn tiểu thuyết thứ



hai này của đời mình (sau tiểu thuyết Chiều ba mươi Tết xuất



bản năm 1943). Khi cầm bút trở lại, ông thử sức mình qua các



tác phẩm truyện ngắn, truyện vừa, và chỉ sau khi đi thực tế ở



Thái Bình, ông mới bắt tay viết Làng tề. Gia đình chúng tôi còn



giữ cuốn tiểu thuyết, khi đã in, ông vẫn còn cẩn thận sửa nhiều



chỗ mà có lẽ lúc đó cũng không nghĩ nhiều đến việc Làng tề có



ngày được in lại (sau này đầu những năm 1990, Làng tề được



NXB Hội Nhà văn Việt Nam tái bản và giờ đây lại có mặt trong



cuốn tuyển tập này).



Cũng như nhiều nhà văn khác, ông luôn tích cực đi thực tế



sáng tác, đến với những phong trào, những nhân vật điển hình,



“người tốt việc tốt”, “người thật việc thật”. Trong những năm



Mỹ leo thang chiến tranh ra miền Bắc, Đỗ Quang Tiến đi vào



vùng tuyến lửa Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình…



nhưng kết quả với ông chỉ là một số bài phóng sự, bút ký và



một vài truyện ngắn. Có lẽ cái tạng của ông không hợp với việc



viết đề tài chiến đấu, đấu tranh? Nhưng dù viết về “người tốt



việc tốt’, “người thật việc thật” hay viết theo “đơn đặt hàng”,



Đỗ Quang Tiến đều cẩn thận, chăm chút và viết bằng tất cả



lương tâm nghề nghiệp. Ông rất có duyên với ngành Nội



thương với Phía sau quầy hàng (phóng sự, 1964), Ánh lửa (truyện



vừa, 1967), với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam qua Vùng cao



(truyện ký, 1971, tái bản có sửa chữa 1975), Trên từng cánh lá



(tiểu thuyết, 1977), sau đó ông trở lại vùng núi cao quen thuộc



để có Vòm trời biên giới (1972, tiểu thuyết viết về tuổi trẻ Lê



Quảng Ba). Còn Quê cũ quê mới (1974) chính là cuốn tiểu thuyết



đầu tiên về đề tài di dân làm thủy điện (Thác Bà). Những lúc



rảnh rỗi, ông xoay sang viết cho thiếu nhi như để hồi tưởng lại



tuổi thơ không mấy niềm vui của mình. Sau Đàn trâu (1962) là



Trong rừng (1969) và cuốn sau cùng ông dành tặng cho làng quê



Phương Liệt là Đêm đỏ (1973). Trong cuốn kỷ yếu Nhà văn Việt



Nam hiện đại - NXB Hội Nhà văn năm 1997 - người ta viết về



nhà văn Đỗ Quang Tiến rằng: “Ông viết nhiều về đề tài nông



thôn và vùng cao hơn là thành phố quê hương”. Nhận định đó



là đúng. Nhưng có điều lạ là tác phẩm cuối cùng của Đỗ Quang



Tiến - “Thành phố bị chiếm đóng” - mà ông khiêm nhường như



với nhiều cuốn sách khác của mình, chỉ ghi là “Truyện”, bắt



đầu viết ở Hà Nội giữa thời kỳ chiến tranh biên giới phía Bắc,



hoàn thành ở Huế năm 1980, và xuất bản năm 1982, là viết về



thành phố quê hương của ông. Sau cuốn sách này, đặc biệt là



khi mẹ chúng tôi mất tháng 12-1982, sức khỏe của bố chúng tôi



suy giảm, khủng hoảng tinh thần nên ông khó có thể tiếp tục



cầm bút. Được các con động viên, ông nhiều lần cố gắng,



nhưng rồi bất lực trong việc viết cuốn sách “chung kết đời



mình” như ông từng nói. Mặc dù ngoài một cuốn tiểu thuyết



ông đã viết từ giữa những năm 1960 chưa xuất bản - mà chúng



tôi không rõ ông có ý định sửa chữa không, ông còn phác thảo



một cuốn tiểu thuyết cuối cùng của mình, là viết về Hà Nội.



Nhưng rồi dường như ông đã vô vi, không còn mấy quan tâm



tìm đến văn chương, đến những chuyện phù du trần thế nữa…



Những ngày tháng ấy, ông càng trầm mặc, lặng lẽ. Anh em



chúng tôi, người đi xa, người bận công tác, người thì “mải chơi”



nên nhiều khi bữa trưa không thể đi chợ nấu ăn cho ông, đành



đặt cơm bụi trước nhà mang đồ ăn sang. Không một lời phàn



nàn, thở than, ngay cả những đợt ông vào nằm viện điều trị,



anh em chúng tôi không thường xuyên vào thăm cũng vậy. Cho



đến ngày ông mất, chưa bao giờ ông nhờ chúng tôi giặt quần áo



mà vẫn lọ mọ ra bể nước công cộng tự lo cho mình. Đỗ Quang



Tiến là một người Hà Nội rất đỗi “bon gout”, chúng tôi thấy



Thay li nói u Thay li nói u 13



ông rất tinh tế trong việc ăn - mặc. Cũng phải nói thật, mẹ



chúng tôi - một người đảm đang, nhân hậu hết mực - lại không



phải người nấu ăn giỏi, một phần do gia đình nghèo, đông con



nên có muốn nấu ngon cũng không được. Ông chỉ dí dỏm,



nhận xét và quá lắm thì tỏ ý tiếc, giá như có thêm gia vị nọ, một



chút thứ kia… (Ngay với con cái, ông cũng dạy rất tỉ mỉ về cách



ăn, cách mặc. Và dù là người rất nghiêm khắc, ông cũng thường



hay nói đùa bằng ngôn ngữ người Việt xưa hay của phương



Tây). Trong vật dụng hàng ngày, ông thích nhất là những đồ vệ



sinh cá nhân: thuốc đánh răng, xà phòng… Thời bao cấp cơ cực



mẹ chúng tôi vẫn cố dành riêng cho ông miếng xà phòng nhỏ,



chỉ thơm hơn loại xà phòng bánh 72% một chút. Đến khi ông



mất, chúng tôi bùi ngùi và thương xót khi nhìn cái tủ nhỏ của



ông. Chỉ có hai bộ quần áo mặc hàng ngày đã cũ, hai chiếc áo



rét đã sờn và cuốn sổ tiết kiệm qua hai lần Nhà nước đổi tiền đã



chẳng còn giá trị. Ngoài những thứ đó, còn lại hai bánh xà



phòng thơm thuở ấy hình như đã có FA hay Camay thì phải,



cùng một hộp kem cạo râu của Mỹ do con trai ông, người lính



đánh chiếm sân bay Đà Nẵng năm 1975 lấy được cùng cây bút



Parker làm quà tặng bố. Hộp xà phòng cạo râu, ông dùng cả



chục năm chưa hết. Riêng cái bút máy ông không bao giờ dùng



vì… tiếc, và vẫn chỉ viết bằng chiếc bút Trường Sơn cũ kỹ



quen thuộc.



Một số bạn bè đồng nghiệp của ông thường nói xa gần



rằng ông hơi khép kín, ít chất “nghệ sĩ”. Điều đó có lẽ chỉ đúng



một phần. Như tên tập truyện ngắn của mình, Đỗ Quang Tiến



sợ bậc nhất trên đời là “Nhất tội nhì nợ”, nhưng căn nhà nhỏ ở



27 Trần Bình Trọng của chúng tôi thực sự như một “câu lạc bộ”,



đặc biệt khi chúng tôi lớn lên. Bố mẹ tôi sẵn lòng nhường cơm



sẻ áo một cách đúng nghĩa cho người thân, bè bạn, thậm chí cả



người dưng. Không ít nhà văn, nhà thơ, văn nghệ sĩ, giới báo



chí - đặc biệt là những cây bút trẻ, những người không ở Hà



Nội - hoặc chỉ là những người bình thường đến nhà chúng tôi



ăn, ở có khi đến hàng tuần, hàng tháng. Nhà văn Đỗ Quang



Tiến luôn niềm nở, ân cần, chu đáo. Ông thấy vui vì cái không



khí ấy, thấy mình làm được việc gì cho ai đó - không phải là



tiền bạc, hay ông quen biết quan chức gì để có thể nhờ vả cho



bè bạn, người thân của mình. Việc gì ông cũng đều tận tụy, chu



đáo và khiêm nhường. Suốt thời gian làm ở Hội Nhà văn Việt



Nam, ông là một công chức mẫn cán, mực thước, nhưng ở nhà



lại khác. Ông ít gần những “cây đa, cây đề” trong giới văn nghệ



sĩ - cao thật cũng có mà huyễn hoặc, tự nống mình (hay do thời



thế) cũng có - ông thích gần gũi với những người “áo ngắn”,



những người ít danh, vô danh hơn. Ông dường như không bao



giờ nói với ai những từ nặng lời, không to tiếng với ai bao giờ -



tất nhiên trừ chúng tôi khi có “vấn đề”. Ngay cả bè bạn chúng



tôi, ông cũng dùng đại từ nhân xưng nhã nhặn đến “xa xưa” là



anh, hay chị.



Đỗ Quang Tiến không phải là một công chức, một nhà văn



“thành đạt”. Ông chỉ là một công chức bình thường, lương



thiện. Suốt một đời tham gia công tác, ông không hề có một



chức vụ, chưa bao giờ được “lãnh đạo” ai. Một người yêu văn



hóa phương Tây đến thế, nhưng mãi đến năm 1974 mới được đi



thăm Cộng hòa dân chủ Đức và Liên Xô. Điều đó cũng là tất



nhiên bởi hoàn cảnh thời đại của ông và với mẫu nhà văn



như ông.



Mẹ chúng tôi - một đảng viên, cùng cơ quan với bố chúng



tôi - có lần nói nhỏ rằng, ông không có “khuyết điểm” gì, chỉ bị



quy là “cầu an tiểu tư sản”. Còn là một nhà văn, ông luôn biết



và chấp nhận mình ở chiếu hai, chiếu ba, chiếu tư cũng được.



Điều đó không hề làm ông bất mãn, đố kỵ, mà vẫn hiền lành,



an nhiên, nhưng âm thầm nỗ lực hết mình. Ông đã từng nói



nhiều lần khi biết rõ trong anh em chúng tôi, phần lớn còn lâu



mới có nghị lực, cần cù bằng một phần của ông, rằng: “Người



ta nói có tài năng chỉ là 1%, còn cần cù là 99%”. Tất nhiên, ông



không mấy tin vào câu nói đó, bởi ông từng nhỏ nhẹ bảo: “Bố



chỉ tiếc trời không cho bố nhiều tài năng văn chương, chứ còn



sự cần cù thì bố không thiếu”. Chính vì thế, ông mong muốn cả



sáu đứa con của mình phải có một nền học vấn: “Dù nằm dưới



đất cả đời, bố mẹ cũng cố nuôi cho tất cả các con vào đại học”.



Ôi, cái điều nguyện ước là rất lớn thuở ấy tất cả chúng tôi đã



làm được, chỉ trừ một người con trai - Đỗ Quang Huyên - có



giấy gọi Đại học nhưng nhập ngũ và hy sinh tại Long An đầu



năm 1975. Ông muốn một đứa con là bác sĩ, một đứa con phải



vào Đại học Nông nghiệp và càng nhiều con yêu thích và hoạt



động văn chương thì càng tốt. Người con trai đầu của ông - Đỗ



Quang Hưng - làm thơ khi còn rất trẻ, là người đầu tiên được



Hội Văn nghệ Hà Nội chọn in tập thơ riêng “Đám mây nhỏ của



tôi” năm 1973. Ông mừng lắm, đến nhờ nhạc sĩ, họa sĩ Văn Cao



vẽ bìa. Nhưng con trai Đỗ Quang Hưng của ông - do sự phân



công, đã vào học Khoa Sử - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.



Thế rồi cái nghiệp ấy “lôi” người con này đi mãi từ Sử học đến



Tôn giáo học. Cho đến khi Đỗ Quang Hưng được phong hàm



PGS. Sử học (1991), nhà văn Đỗ Quang Tiến hiểu rằng, mơ ước



về đứa con đầu phải làm văn chương, phải làm biên tập viên tờ



báo hay Nhà xuất bản văn chương gì đó đã vĩnh viễn không



bao giờ đến. Nhưng ông nói, ông vẫn tự hào về người con



trưởng ấy. Không chỉ một trường hợp, ông còn hy vọng một vài



người con khác, nhưng có lẽ chúng tôi cũng ít có tài, trong khi



lại mải chơi, không có khái niệm cần cù vì cái nghề quá cực



nhọc nhưng cũng rất dễ… vô vọng, nên chúng tôi rẽ đi nhiều



hướng. Nhưng dù làm gì thì chắc hẳn ông hoàn toàn có thể an



lòng vì các con ông đã nên người, đàng hoàng, và lương thiện.



Như chúng tôi đã nói, vì “mải chơi” nên đã gần hai mươi



năm sau ngày ông mất chúng tôi mới làm được tập sách về



cuộc đời và tình yêu văn chương của ông. Để ra “cơ sự” này



cũng vì chúng tôi biết, ông là một người rất tolérance (độ



lượng, bao dung) các con của mình - giờ tất cả cũng đã đến tuổi



hiểu đời hơn và hiểu ông hơn.



Xin trân trọng cảm ơn Nhà xuất bản Văn học - nơi nhà văn



Đỗ Quang Tiến từng công tác - đã cho ra tuyển tập mới này.



Lần đầu tiên, tiểu thuyết Seo Mỉ viết năm 1978 được ra mắt bạn



đọc sau khi gia đình mới tìm lại được. Ngoài ra, chúng tôi giữ



nguyên cách viết, và theo đúng các bản in tác phẩm. Xin chân



thành cảm ơn bạn đọc!



Thay mặt gia đình nhà văn Đỗ Quang Tiến



Con trai trưởng



GS.TS. Đỗ Quang Hưng



Nguồn: Đỗ Quang Tiến – tác phẩm chọn lọc. NXB Văn học, 2017.


Đỗ Quang Hạnh, con trai cố nhà văn Đỗ Quang Tiến gửi cho www.trieuxuan.info


 



 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Mừng bác Hữu Ngọc - Trần Đăng Khoa 23.05.2019
Về đại hội “Đối thoại văn minh châu Á” - Hà Phạm Phú 20.05.2019
Mười năm xa - Nhớ Bế Kiến Quốc - Nguyễn Văn Thọ 20.05.2019
Vĩnh biệt anh Hoàng Ngọc Biên, nhớ lại vài kỷ niệm - Hoàng Hưng 17.05.2019
Nhớ ngày xuân gặp nhà văn Xuân Thiều - Nguyễn Hữu Sơn 15.05.2019
Truyện ngắn "Truyền thuyết về Quán Tiên" của nhà văn Xuân Thiều lên phim - Tư liệu 15.05.2019
Chuyện chị em đi “cave” - Tư liệu 13.05.2019
Thay lời nói đầu của bộ sách "Đỗ Quang Tiến - Tác phẩm chọn lọc" - Đỗ Quang Hưng 11.05.2019
Đỗ Quang Tiến và ký ức tuổi thơ - Trương Công Thành 08.05.2019
Nhà báo đã đưa Phạm Xuân Ẩn 'ra ánh sáng' - Tư liệu 07.05.2019
xem thêm »