tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27808774
Những bài báo
29.12.2018
Nhiều tác giả
Những bài báo về nhà văn Vũ Hạnh (1)


VŨ HẠNH - CÂY BÚT TÀI NĂNG, TRÀN ĐẦY SỨC SỐNG


Nhân đọc cuốn Sông nước mênh mông, NXB Văn Nghệ TPHCM - 1995, 179 trang.


Thanh Lê


… Qua Sông nước mênh mông càng thấy sức viết của anh vẫn dồi dào tràn đầy tâm huyết và nghị lực. Phong cách hiện thực trong những tác phẩm của anh đã tạo nên một thứ ngôn ngữ rất trong sáng, giàu trí tuệ, một thứ ngôn ngữ mang tính chiến đấu cao mà chân thật, khách quan. Anh viết: “Chưa bao giờ tôi thấy yêu con tàu, yêu mảnh đất mình đang sống như hiện nay, yêu đến nghẹn ngào, với sức vươn lên trên mỗi nhọc nhằn, trên những cản lực của những trì kéo lỗi thời đọng lại từ bao chế độ dằn vặt con người. Chỉ có phấn đấu hết lòng cho một tình yêu, con người mới hiểu giá trị của tình yêu ấy. Tôi sẵn sàng để hy sinh, bảo vệ con tàu, sẵn sàng để chết cho quê hương mình yên vui, không có mảy may luyến tiếc, vì thế tôi không bao giờ phung phí sức khỏe và không phung phí thời gian, tôi phải tổ chức cuộc sống mỗi ngày của mình sao cho phong phú và được hoàn toàn hữu ích”. (Chuyến tàu cuối năm - trong Sông nước mênh mông, trang 166).


Sức mạnh của ngòi bút Vũ Hạnh là sức mạnh của sự thông minh, phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề có sức thuyết phục rất cao. Ngòi bút của anh vừa sắc sảo vừa tỉnh táo, vừa say mê vừa dạt dào tình cảm. Vốn sống phong phú, năng lực quan sát và miêu tả rất tinh tường.


Sông nước mênh mông với cuộc đời của anh cũng mênh mông, dạt dào như biển cả. Ai đã gặp Vũ Hạnh dẫu có một lần cũng giữ lại trong lòng mình những tình cảm và ấn tượng khó quên. Trước hết, cuộc đời riêng của anh đã xác định ngay từ ngày còn trẻ tuổi một định hướng mang tính xã hội - dân tộc với lòng yêu nước, trung thành với nhiệm vụ và nhân phẩm của mình. Thái độ đó được thể hiện công khai khi mặt đối mặt với quân xâm lược, đặc biệt trong những năm 1954 - 1975. Những tác phẩm văn học của anh đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc vì tư tưởng và tình cảm của anh mãi gắn bó với đất nước, quê hương. Ngòi bút của Vũ Hạnh đã đánh dấu một bước trưởng thành trong dòng văn học yêu nước, cách mạng dưới thời Mỹ-ngụy tạm chiếm. Và hôm nay trong hòa bình xây dựng đất nước, Vũ Hạnh có những đóng góp mới rất đáng trân trọng vì thái độ lao động quên mình.


 


T. L.


Báo Công An TP Hồ Chí Minh


 


NHÀ VĂN VŨ HẠNH “CHIA” ĐÔI NHUẬN BÚT


Phạm Xuân Thông


Hội Văn nghệ Ninh Thuận


 


Chamalé Rá, dân tộc Raglai, sinh 1944 tại buôn Đá Đứng (trong căn cứ Cách mạng Bác Ái). 15 tuổi, Rá đi bộ đội, làm giao liên. Thỉnh thoảng Rá về buôn cũ thăm nhà. Năm 1959, chính quyền Mỹ - Diệm chủ trương “tát nước bắt cá”, Rá cùng một số đồng bào buôn Đá Đứng và các buôn khác bị địch lùa về lập thôn mới Tầm Ngân, trong ấp chiến lược Lâm Sơn. Rá bị chính quyền đương thời phạt một năm tù về “tội” tham gia Cách mạng, sau đó buộc anh vào lính.


Tháng 5/1975, Rá được đi học tập. Loại lính gác cửa như Rá, là người dân tộc, lại có vài năm tham gia kháng chiến, chỉ phải học tập bảy ngày, sau đó được thả tự do. Nhưng Rá mới học tập được bốn ngày, thì vợ anh vào thăm, mang theo tin đồn nhảm và những lời đe dọa khống chế của bọn phản động. Rá trốn trại vào rừng, được bổ sung vào đội cận vệ cho bọn phản động Fulrô. Bọn phản động này bị đánh tan tác. Năm 1976 Chamalé Rá lại bị bộ đội bắt và lại được giáo dục, được chiếu cố. Chỉ còn năm ngày hết hạn học tập, được trả tự do, bọn phản động lại qua vợ Rá nhắn “Cấp trên đang đợi trên rừng” …


Rá lại đánh mất cơ hội lần thứ hai. Bấy giờ đồng đội của Rá gồm 30 tên, cùng ăn cơm của vợ và của ăn cướp, ngồi ở núi Hòn Vàng chờ tin “chiến thắng”. Đương nhiên cả lũ lần lượt đền tội. Trong một lần hai người đi “hoạt động”, “đồng đội” của Rá là Mang Thiết bị tiêu diệt. Riêng Rá thoát chết, lại gặp may - gặp bà chị đi làm ăn trong rừng. Chị khuyên Rá về đầu thú để được hưởng lượng khoan hồng. Rá nghe chị một nửa - chưa đầu thú, nhưng cũng thôi vào rừng, mà ở ẩn ngoài rẫy vắng - nghe ngóng tình hình. Biết được bọn Fulrô ngoan cố bị tiêu diệt gần hết, Rá mặc cảm tội lỗi, trốn đi xa hơn.


Rá đánh mất cơ hội lần thứ ba: Anh mang theo một cái gùi, một máy lửa, bộ quần áo mặc trong người và một ít gạo ăn chưa hết, lên núi Savin - Đá Đứng, mong không ai trông thấy, không bị bắt lần cuối. Ở đó được một năm, vẫn chưa yên bụng. Thỉnh thoảng còn nghe tiếng người nói, trông thấy người … Rá di chuyển tiếp lên đỉnh Chill Sala, cao hơn mặt biển 1400 mét, quyết “từ biệt” loài người. Những năm đầu, Chamalé Rá thua xa cuộc sống ở hoang đảo của Rôbinsơn. Chiếc máy lửa hết đá. Rá ăn sống quả rừng, củ rừng và những động vật săn bẫy được. Những lần gặp được một ít cơm, muối thừa của những người luồn rừng tìm trầm… là những bữa “mặn miệng” …


Nhưng không thể ăn sống mãi, ông đánh liều “hạ sơn”, tìm được trong các rẫy một thanh sắt và những thỏi sắt vụn. Có sắt, có đá là có lửa. Thanh sắt cũng được rèn thành ní (thuổng) không tôi qua lửa trên những tảng đe và chiếc búa đều bằng đá. Tiến xa hơn, Rá bẫy khỉ, mò cá, bắt nhái, trăn, nuôi ong, đan chài bằng… dây rừng. Tro cỏ không đủ mặn để thay muối nấu, Rá chế biến một thứ thập cẩm, chắc chưa mấy ai được dùng: óc khỉ, thịt trăn, ếch, cá… ninh với mật ong rừng… Một lần, đeo gùi vào vai, trèo cây hái trái, chẳng phải vin phải cành mục, Rá ngã, gẫy tay! Tay gẫy, ông tự chữa bằng hơ lửa và đắp lá rừng. Một cơ thể đã được miễn nhiễm các loại vi trùng, thích nghi với mọi hoàn cảnh.


Chamalé Rá muốn gột bỏ tội lỗi, từ biệt cộng đồng, nhưng cộng đồng không quên ông. Người ta vẫn nhớ một Rá dại dột, liều lĩnh, ngu muội, cả tin kẻ xấu… chỉ không biết ông còn sống hay đã chết, đang lang thang ở đâu, bởi ông không phát “tín hiệu” nào, trong khi vẫn có người lần mò dấu vết ông. Năm 1991, trong dịp đi đánh dấu cây rừng (phân lô quản lý rừng) anh Y Leo, gọi ông bằng cậu, phát hiện có người lên rừng sớm hơn mình. Y Leo gọi. Người ấy chính là Rá. Nhưng Rá không trả lời. Y Leo đến chỗ vừa thấy bóng người. Ở đó chỉ còn lại chiếc bẫy săn thú bằng cây rừng! Lần đầu tiên sau 14 năm, Rá để lộ dấu vết rồi lại biệt tích. Năm ngoái, người vùng cao thiếu việc, Y Leo rủ bạn đi tìm hoa lan nhung bán cho những người làm nghề xuất khẩu. Cũng là Y Leo, Y Leo phát hiện một làn khói mỏng manh trong hang đá cao vút. Y Leo gọi, xưng tên mình, xưng tên những người trong thân tộc kể cả tên vợ, tên hai người con gái của Rá …


Mười tám năm sống biệt lập trên đỉnh núi cao, cách biệt loài người, ông Rá đủ khôn để cân nhắc lợi hại: “Về, nếu phạm tội chết, thì ở đây cũng không hơn gì!”. Trong hang đá, Rá lóp ngóp bò ra. Đó là một thân hình đen nhẻm khói ngo, tóc phủ tận lưng, mấy mảnh quàng trên người không ra dáng áo, quần… Y Leo nhắc tên hai đứa con gái. Rá lắc đầu “không nhớ”. Y Leo nhắc tên vợ Rá. Rá cũng lắc đầu: “Vợ tao chết rồi!”. Y Leo nói tên mình, Rá cũng ngơ ngác. Y Leo phải nhắc đến tên cúng cơm. Rá mới ôm chầm lấy đứa cháu. Sau cơn khóc mếu, ngậm ngùi, Chamalé Rá nói ra điều vừa lựa chọn:


- Ở đây cũng chết… nghe lời mày… cậu về!


Vẫn là “thăm dò” từ rẫy xa về dần rẫy gần. Thế mà khi gia đình ra đón, bạn bé đến chúc mừng ông từ cõi chết trở về, ông Rá vẫn e dè, ngơ ngác, giống như lại muốn tìm đường lẩn trốn. Nhưng đến khi đồng chí Pinăng Thái, phó Công an huyện đến thăm, sự sợ sệt của ông Rá mới lên đến đỉnh cao tận cùng. Người ông tái tím, ngất xỉu!


Đây hẳn là người Fulrô cuối cùng?


Được tin Chamalé Rá tái nhập cộng đồng, nhà văn Vũ Hạnh từ thành phố Hồ Chí Minh ra thăm. Sau khi chúc ông Rá sức khỏe, chúc vợ chồng, cha con “tái ngộ” êm ấm, nhà văn thay mặt Hội Văn học Nghệ thuật Thành phố tặng ông Rá năm trăm nghìn đồng.


Ông Rá vui lòng đưa nhà văn đi “thám hiểm” nơi ông sinh sống cách biệt loài người 18 năm ròng rã; kể cho nhà văn cách sống, sự suy nghĩ, chuyển biến trong tâm tư tình cảm suốt trong 18 năm không sử dụng tiếng nói; không đối thoại với bất cứ ai…


Sau ba ngày đêm vượt núi luồn rừng, một phần ba trang đời huyền thoại của Chamalé Rá được nhà văn Vũ Hạnh thể hiện trong thiên phóng sự đăng nhiều kỳ trên báo Công an thành phố Hồ Chí Minh với tựa đề là Hoa Lan Nhung. Sau khi được hai triệu tiền nhuận bút, mặc dù đang phải vay mượn để trang trải trong tổ chức xuất bản Tạp chí Gia đình, nhà văn Vũ Hạnh đã dành một triệu đồng, trong một dịp đi công tác đem số tiền ấy đến tận nhà tặng ông Rá, giúp nhân vật trong thiên phóng sự giảm bớt khó khăn sau 18 năm sống cách biệt cộng đồng.


Ông Chamalé Rá, gia đình và những người chứng kiến thật bất ngờ về tấm lòng hào hiệp của nhà văn, trân trọng cảm ơn, chúc ông sức khỏe và thành đạt nhiều hơn trong văn nghiệp.


 


X. T.


Nguyệt san Văn nghệ Dân tộc và Miền núi,  số 13/9/1996


 


VŨ HẠNH VÀ SỰ HƯNG VONG CỦA VĂN NGHỆ MIỀN NAM TRƯỚC 1975


Nguyễn Xuân Huy


 


Trong số những nhà văn tiến bộ chiến đấu công khai trong lòng địch ở miền Nam giai đoạn 1954 - 1975, Vũ Hạnh là một trong những cây bút đi đầu và bản lĩnh, đã theo suốt “hành trình tàn tạ” của văn nghệ miền Nam. Không chỉ nổi tiếng ở trong sáng tác (với các tập Bút máu, Chất ngọc, Vượt thác, Lửa rừng…), Vũ Hạnh còn là một ngòi bút phê bình độc đáo (với hai bút danh Cô Phương Thảo và Nguyên Phủ), đã không ngừng chiến đấu để bảo tồn văn hóa dân tộc, ngợi ca vẻ đẹp của tiếng nói và chống lại sự suy đồi, vong bản trong văn nghệ. Trong suốt mấy mươi năm (từ 1958 đến 1972), các bài phê bình của ông đã bao quát được một hoạt động sáng tác và nghiên cứu rộng lớn (khoảng trên 60 bài)…


… Trong bài viết Tình hình văn nghệ năm 1959, ông buồn rầu tổng kết: “Suốt trong năm (…) không có tác phẩm nào phản ánh được thời đại, đánh dấu được xã hội chúng ta trong mấy năm nay về một khía cạnh rộng lớn nào”. Những sáng tác văn chương đang dần lìa đời sống nhân sinh để tìm về cõi phù thế.


Tiểu thuyết là một loại hình phát triển nhất trong các thể loại văn học. Nhưng sự đa dạng của nó chỉ là sự đa dạng giả tạo. Vũ Hạnh nhận thấy trong tiểu thuyết miền Nam có sự đóng băng về tư tưởng. Các nhà văn chỉ biết lục lọi dĩ vãng và xem đó là sự phong phú, mới lạ của tác phẩm mình. Chính nội dung ấy khiến thể loại này không có được tiếng nói thực sự lớn lao, không thu hút được nhiều độc giả…


… Vũ Hạnh còn thấy những tác phẩm của các nhà văn sau năm 1967 hầu hết đều nhìn cuộc đời bằng cái nhìn “quá ư dễ dãi, vấn đề nêu lên chỉ là những trực cảm nông cạn”, đặc biệt “nỗi buồn và sự bi quan” trong văn chương đã không còn lặng lẽ, âm thầm như trước nữa, mà đã xuất hiện nỗi “hốt hoảng” và “sợ hãi” thực sự. Có những nhà văn “hoài nghi tất cả, kể cả chính bản thân mình”. Tệ hại hơn, những tác phẩm của số đông các nhà văn lại đi vào khai thác các bản năng hạ cấp của con người, chuyển nghệ thuật thành những “phòng săm” mênh mông, biến văn chương thành nơi tôn thờ xác thịt, “nơi phơi bày những gì sa đọa của những con người không còn lương tri, sống trong nhịp điệu tan nát của những tín điều đổ vỡ”. Không song hành cùng chính trị, nhưng những gì nhuốc nhơ mà nền văn nghệ miền Nam đã sản sinh ra, nên “chết” đi cùng với nền Cộng hòa…


… Ngành kịch miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 cũng không có một dấu hiệu gì khả quan… Năm 1962 nổi lên mấy vở Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan và Người viễn khách thứ mười của Nghiêm Xuân Hồng với ý nghĩa xã hội khá rõ rệt, thế nhưng lại phải ẩn nấp trong một khung cảnh xa xưa với ít nhiều giả tưởng. Hai vở kịch này là hai tác phẩm lớn nhất và có lẽ nhờ chúng mà người ta còn nghĩ về kịch miền Nam như một thể loại văn học.


Vũ Hạnh ghi nhận, Thành cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan là vở kịch đã ghi lại được một số biến động xã hội và những chuyển biến tâm tư của một lớp người sinh ra gặp thời loạn lạc. Tác phẩm là dấu hiệu của một cuộc suy tàn tập thể không thể nào tránh khỏi của một thế hệ người quen sống trong cõi sống cá nhân u tối của chính mình. Còn Người viễn khách thứ mười chủ yếu tìm đến những bi kịch trong tình yêu nhưng Vũ Hạnh còn thấy trong đó hình bóng của con người cá nhân dường như ôm trùm lên tất cả, họ miên man nếm trải nỗi niềm cô độc của chính mình và cho đó là cái cốt cách cao quý của kẻ “phong trần”…


Hai tác phẩm đã ghi nhận được những tâm tư u tối, bạc nhược của cá nhân trước bao nhiêu biến động của cuộc đời. Đó là một cuộc hành trình tư tưởng không có lối thoát, không một hi vọng, một niềm tin vào tương lai.


Sau cuộc chinh biến 1/11/1963 (đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm), ngành kịch lại trở về với sân khấu cũ của nó để song hành cùng với tiểu thuyết và thi ca. Suốt những năm 1964 - 1967, hầu như không có một vở nào mới mẻ, ở trên sân khấu cũng như trên báo chí. Vũ Hạnh nhận xét: “Những kịch gia của chúng ta không còn gì đáng quan tâm hơn là cơm áo cùng những nhu cầu thiết thực”. Ca kịch tuột dốc, cải lương suy thoái, giới nghệ sĩ rơi vào tình trạng “rách bơm” thảm hại. Thoại kịch cũng thế. Nhìn vào nội dung các vở kịch những năm 67 - 72, Vũ Hạnh thấy: “Đề tài hầu hết là giả tạo hoặc cứ quanh quẩn trong các chuyện tình lẩm cẩm, những sự báo thù cá nhân vụn vặt, những chuyện mất con, tìm mẹ và các kiểu lối hối hận dễ dãi của bọn du đãng”. Có đôi vở kịch cố gắng dùng những “điển cũ, tích xưa” để lồng vào đó các vấn đề của hiện tại khiến cho sự giả tạo lại tăng lên mấy lần. Vũ Hạnh chua chát nhận xét: “Người ta nghe các nhân vật lịch sử nói đến lập trường, quan điểm quần chúng, thấy các nhân vật đời Lê tổ chức các đảng bí mật, nghe các nhân vật đời Trần nói đến tinh thần quốc tế…”


… Giống như tiểu thuyết, thi ca cũng chứng tỏ sự bất lực của nó trên cả hai phương diện: Tình cảm và tư tưởng xã hội. Có những năm như 1959, “không có thi phẩm nào có sự cố gắng đáng ta lưu ý”. Trong nhiều năm sau, thi ca không gợi lên được một suy tư thế sự nghiêm túc nào mà chỉ là những “tâm sự lạc loài, cô đơn nhạt nhẽo…” (đó là những tác phẩm như Mây, Nhạc dế, Mưa gió sông Tương, Đau thương, Lang thang…). Nhiều tác phẩm chỉ biết băn khoăn trong những “ngõ lối tâm hồn”, tìm về những rung động xưa cũ mà không hề nghĩ rằng, thời đại đã đi trước mình hơn nửa cuộc đời. Sở dĩ như vậy vì các thi sĩ của chúng ta không nhìn thấy nguồn cảm hứng từ thực tại. Và cõi sống cá nhân, dù đã bạc nhược lắm rồi, đã trở thành một “lối trốn nhiệm màu”. Sau 1963, thơ ca vẫn “ru” một điệu buồn năm xưa. Không còn hy vọng gì ở tương lai và ngán ngẩm trước thực tại, họ quay về với quá khứ ủ dột để than khóc cho một dĩ vãng êm đềm, đẹp đẽ đã đi qua… và cố gắng chứng minh với độc giả rằng mình vẫn còn tồn tại trên cõi đời này, cho dù sự tồn tại ấy chẳng khác nào những bóng ma trong đêm dài…


… Có thể nói những công trình phê bình văn học của Vũ Hạnh chưa phải là nhiều, nhưng độc đáo. Ông đã tạo được một ấn tượng mới bằng cái nhìn tinh tế, mạnh mẽ và khoáng đạt. Nhìn chung, người ta có thể nhớ đến Vũ Hạnh - một nhà phê bình tiến bộ của nền văn nghệ miền Nam với những nét lớn sau đây:


Tinh thần nghiên cứu trung thực khách quan.


Trong bối cảnh kinh tế, xã hội và văn nghệ miền Nam những năm 1954 - 1975, hiếm có một nhà nghiên cứu phê bình nào dám nói về thực trạng văn học và chỉ ra nguyên nhân một cách rõ ràng, cụ thể, can đảm và nhiệt tình như thế. Các vấn đề văn học mà Vũ Hạnh để tâm nghiên cứu rất phong phú và đa dạng, nhưng bao giờ ông cũng tôn trọng sự trung thực của các hiện tượng. Chọn cách nhìn khách quan khoa học, Vũ Hạnh đã đem lại cái nhìn tương đối toàn diện về các vấn đề văn học. Ông chỉ ra nguyên nhân chủ yếu dẫn tới một nền văn nghệ như thế là bởi thực trạng xã hội xuống cấp về văn hóa và đạo đức, bệnh hoạn về tâm lý, sinh lý, đa tạp về tư tưởng…


Tinh thần nghiên cứu khách quan được phát huy cao độ ở các bài tổng kết văn học khiến cho nhiều người tìm thấy ở Vũ Hạnh một sự tin tưởng. Ta không hề ngạc nhiên giữa vòng phong tỏa gắt gao của mạng lưới mật vụ và chính sách của phòng kiểm duyệt Sài Gòn, Vũ Hạnh vẫn xuất hiện đều đặn trên tạp chí Bách Khoa hàng năm.


Năng lực hệ thống hóa các vấn đề văn học một cách khoa học.


Vũ Hạnh không chỉ có năng lực hệ thống lại toàn bộ sáng tác phẩm và sinh hoạt văn nghệ trong năm mà còn khám phá tính chỉnh thể trong một tác phẩm văn học cụ thể. Từ chi tiết nhỏ đến sự kiện lớn, từ sinh hoạt ngoài văn học đến sinh hoạt trong văn chương… dường như đều được Vũ Hạnh nói đến dù chỉ trong một bài trên tạp chí mà sự đòi hỏi phải thật cô đọng và tiêu biểu. Mỗi bài viết là một chỉnh thể, một hệ thống sinh động với những quan hệ chặt bền. Nhà nghiên cứu luôn chú ý đến sự hợp lý giữa các yếu tố: Chi tiết và nhận định; nội dung và hình thức; bộ phận và toàn thể… Trong những lời nhận xét khái quát của ông bao hàm một dung lượng lớn các yếu tố trong hệ thống, từ nội dung đến hình thức thể loại và sinh hoạt của nó… Vì thế, những nhận định của ông có một tầm bao quát rộng lớn.


Nhưng đáng nói hơn là năng lực tổ chức một bài điểm sách. Vũ Hạnh luôn tạo cho mình một chỗ đứng giữa hệ thống bên trong với hệ thống bên ngoài tác phẩm. Nhà nghiên cứu thường quy tụ điểm nhìn vào tư tưởng nghệ thuật của tác giả và đặt tư tưởng đó trong sự biến động của các mối liên hệ bên ngoài tác phẩm. Sự gắn kết đó đã tạo cho các bài điểm sách như: Ba tiểu thuyết Dì Mơ, Mùa ảo ảnh, Những người đang tới của Đỗ Thúc Vịnh; kịch Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan và Người viễn khách thứ mười của Nghiêm Xuân Hồng… là những bài điểm sách tiêu biểu. Chúng không đơn thuần chỉ là một bài định giá tác phẩm mà là sự khám phá vào cấu trúc của hệ thống với những vận động nghệ thuật tinh vi với nó.


Ngòi bút phê bình trực diện, mạnh mẽ và kịp thời.


Trong suốt sự nghiệp phê bình của mình, chưa bao giờ Vũ Hạnh có thái độ lảng tránh trách nhiệm của một ngòi bút chiến đấu bảo vệ truyền thống văn hóa và văn học. Trước trào lưu tư tưởng vong bản và cuồng loạn, Vũ Hạnh đã cất lên tiếng nói thẳng thắn, trực diện và kịp thời nhằm lên án và kêu gọi những người có lương tâm và có nhiệt tình với nghệ thuật phải bày tỏ thái độ quyết liệt của mình. Ta có thể thấy thái độ ấy trong các bài tổng kết văn nghệ, những bài phê bình quan điểm, điểm sách… đặc biệt là những bài tranh luận và diễn thuyết văn học. Vũ Hạnh thẳng thắn lên án và kết tội Chu Tử đã “tiêm những nọc độc vào nền văn nghệ”, đã đem tâm lý suy đồi và hưởng thụ vào đời sống đang còn muôn vàn gian khó của dân tộc ta. Ông đả kích những vần thơ trơ trẽn và những vỏ tuồng, xi nê hạ cấp của đám thi sĩ nửa mùa và bọn con buôn văn nghệ. Ông phê phán những loại “tiểu thuyết ái tình đú đởn”, những “cánh thư xanh, thư hồng”, những truyện quái dị, hoang đường, những tác phẩm kêu gọi bản năng… Các bài tổng kết hàng năm, không ít thì nhiều đều tỏ rõ một thái độ không hề khoan nhượng, không hề e sợ đối với những loại văn hóa phẩm đội lốt nghệ thuật.


Ngòi bút sâu sắc và nhạy cảm với các vấn đề văn học.


Cùng song hành với con người sáng tác (với bút danh Vũ Hạnh), con người phê bình Cô Phương Thảo và Nguyên Phủ đã đưa con người nghệ thuật lên một trình độ mới, sắc sảo và đầy bản lĩnh. Các bài điểm sách của ông đều ghi nhận một năng lực thẩm bình nhạy bén và tinh tế. Từ bài điểm sách Thi nhân Việt Nam hiện đại của Phạm Thanh đến phê bình cuốn Lược khảo văn học I của Nguyễn văn Trung; từ những nhận xét về ba tiểu thuyết của Đỗ Thúc Vịnh đến những ghi nhận về kịch Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan… đều thể hiện sự cần cù sáng tạo với một tinh thần trách nhiệm rất cao. Ngòi bút Vũ Hạnh không chịu dừng lại ở những phát hiện về nhân vật và thế giới nghệ thuật mà luôn luôn hướng tới những khám phá về đời, tìm kiếm những giới hạn của chiều sâu tác phẩm. Sự chu đáo, sắc sảo của nhà nghiên cứu ở một thời điểm như xã hội miền Nam đương thời, là một tinh thần rất đáng trân trọng. Bằng công tác phê bình, Vũ Hạnh đã tự “làm mới” chính mình.


Ngôn ngữ phê bình giàu sắc thái biểu cảm.


Nếu trong sáng tác văn học, ngôn từ được chú ý ở tính hình tượng và khả năng giải phóng ý nghĩa của từ thì với ngôn từ phê bình văn học, người ta chú ý đến tính hàm súc và khả năng lập luận. Trong các công trình nghiên cứu phê bình văn học của Vũ Hạnh cũng thế, ông đã sớm xác định cho mình một hệ thống ngôn từ mang đậm dấu ấn cá nhân.


Người ta có thể thấy trong ngôn ngữ phê bình của Vũ Hạnh, ngoài sự khách quan trong điểm nhìn, lúc cần thiết, ông vẫn tạo cho mình một thái độ riêng, thẳn thắn và giàu cảm xúc. Qua các bài viết, ta nhận thấy trong ngôn ngữ phê bình của Vũ Hạnh có một thái độ mỉa mai hết sức rõ ràng. Nó được thể hiện bằng một ngôn ngữ giàu sắc thái. Điều đó đã tạo cho các bài điểm sách của ông một ấn tượng riêng biệt. Những cụm từ như “kẻ gây ra tai nạn”, “những vần thơ trơ trẽn”, “bới móc dĩ vãng”, “tiểu thuyết đú đởn”… được Vũ Hạnh thể hiện bằng một cái nhìn bi phẫn nên có sức công phá vô cùng mạnh mẽ, nó đánh thẳng vào lòng tham, thói sĩ diện, vẻ tự phụ, sự giả dối… của con người văn nghệ.


Bên cạnh đó, Vũ Hạnh cũng không thiếu những từ ngữ và hình ảnh giàu tính hình tượng. Đây là điều không thường thấy trong phê bình. Đọc các bài viết của ông, ta thấy hình ảnh tượng trưng ở khắp nơi. Lời văn vì thế trở nên khoáng đạt và đa nghĩa. Chẳng hạn, khi giới thiệu Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan, Vũ Hạnh viết: “Trong cái không khí tiêu điều của ngành thoại kịch xứ ta, Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan thổi về cơn gió bốc lên từ những chiều đông của miền sa mạc”. Tìm hiểu về những nhân vật của Sơn Nam, Vũ Hạnh thấy: “Cô đơn tất cả, và những nhân vật của Sơn Nam đi qua còn để lại một niềm hoang vắng mênh mông”… Ngôn ngữ phê bình ấy không chỉ hàm chứa nội dung phong phú mà còn gợi mở những liên tưởng và tưởng tượng thú vị. Sự phê bình, vì thế, đã có được sức sống nội tại, sức sống từ một tâm hồn tràn trề nhiệt tình và một ý thức nghệ thuật sâu sắc.


Có thể nói, với lĩnh vực nghiên cứu phê bình, nhà nghiên cứu đã bỏ vào đấy nhiều tâm lực. Việc Vũ Hạnh sớm xác định cho mình một lý tưởng nghệ thuật chân chính đã giúp ông có được niềm tin, sự hứng khởi và lòng đam mê nghiên cứu, sáng tạo. Những bài tổng kết tình hình văn học, những bài phê bình các công trình biên khảo, đánh giá về các sáng tác mới trong suốt thời kỳ này của ông, đã giúp cho chúng ta có một cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn về nền văn nghệ miền Nam. Từ đó, ta có thêm cơ sở để nhìn lại nó, nhận lại những gương mặt đã góp phần tạo nên sự đa dạng, phức tạp của nền văn nghệ nước nhà…


 


N. X. H.


Tạp chí Nhà Văn của  Hội Nhà văn Việt Nam, số 4/2006


 


“NGƯỜI VIỆT CAO QUÝ” TRONG  MỘT NGƯỜI VIỆT ĐÁNG YÊU


Lê Phú Khải


 


Có tác giả đã viết trên giấy trắng mực… in về Vũ Hạnh như sau: “… Những người tuyệt vọng gặp Vũ Hạnh sẽ thấy bớt bi quan”!


Kẻ viết bài báo xuân năm Đinh Hợi 2007 này chưa bao giờ tuyệt vọng cả nhưng nhiều lúc đang trong cơn nóng giận đến tột cùng, có cảm giác như phải đập phá một cái gì đâu đó quanh mình mới hả giận… thì bỗng dưng chuông điện thoại leng reng… ở đầu dây đằng kia là giọng Quảng trầm ấm, ngọt ngào, thủ thỉ mà cứng rắn, da diết mà hùng hậu, chân tình… của Vũ Hạnh, cứ nghe, cứ nghe… thế là cơn giận dữ mất tiêu, tan vào bầu “khí quyển” quanh tôi là tình người ấm áp. Không phải chỉ tôi mới có “nhận định” đó, nhiều người cũng có nhận xét như tôi về ông. Để chứng minh Vũ Hạnh là một con người chân thành và nhiệt huyết, tác giả Trần Áng Sơn đã viết: “… Ông sẵn sàng trồng chuối ngược theo phương pháp Yoga ở ngay trong câu lạc bộ để chứng minh làm thế nào mà mình có… một cơ thể bự sự, một phong độ bất tri lao dù tuổi đã ngấp nghé bước vào cuối đường thu muộn…” (Những trang sách khép mở - NXB Trẻ 2002). Vũ Hạnh là như thế - một “Người Việt cao quý” (NVCQ) đúng như tên cuốn sách bất hủ của ông xuất bản giữa Sài Gòn đảo điên văn hóa thực dụng ngoại lai trước 1975. Một tác phẩm chưa đến 100 trang, thật như tờ truyền đơn (lời tác giả) mà đã tái bản hơn mười lần một hai năm sau đó. NVCQ lấy tên một tác giả người Ý là A. Pazzi cho “dễ bề kiểm duyệt”!, đồng thời để tránh mọi sự nghi ngờ, tác giả còn nhờ một cô bạn “tương đối có bề nhan sắc” tên là Hồng Cúc, đóng vai người dịch; Vì “thiếu nữ đẹp người ta ít dám hạch sách”, khi đem tác phẩm đến kiểm duyệt sẽ hưởng sự dễ dàng”(!)


Cũng chính vì cái lý lịch ly kỳ của tác giả NVCQ và dịch giả của nó nên sau này có đến 1001 câu chuyện ly kỳ không kém, làm cho NVCQ trở thành một tác phẩm độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam về xuất xứ có nhiều giai thoại.


Nhưng ngay với Vũ Hạnh, chuyện nhuận bút tác phẩm NVCQ cũng đầy “kịch tính”! Lần đầu in NVCQ, tác giả Vũ Hạnh ra điều kiện với nhà xuất bản “không lấy nhuận bút”! (Tất nhiên là để cho mau ra sách). Nhưng đến năm 1970, Vũ Hạnh ra tù, bị bao vây kinh tế, báo không ai mời viết, trường không ai mời dạy, nhà hư sập, mưa nước dội vô như ở ngoài trời, ba năm liền vợ con đều ăn thứ gạo nuôi heo. Nhưng biết NVCQ vẫn đang bán chạy nên rao giá bán đứt bản quyền cho Cảo Thơm. Nhưng nhà xuất bản không mua. Tình cờ Vũ Hạnh gặp một người bạn và nhờ rao bán dùm NVCQ với giá một trăm ngàn đồng, tương đương với 5 lượng vàng lúc đó. Đó là cái giá phải chăng thời đó. Hai ngày sau bạn ông nhắn đến gặp ông Khai Trí, chủ một tiệm sách lớn nhất Sài Gòn bấy giờ. Sau khi ký bán bản quyền, ông Khai Trí đưa tác giả một xấp bạc, Vũ Hạnh đếm thấy 120.000 đồng, thừa 20.000! Người mua nói: - Xin ông cứ cầm cả 120.000 ngàn vì giá trị quyển sách lớn hơn 120 ngàn rất nhiều lần!!!


… Bây giờ vào xuân Đinh Hợi 2007, thử nhìn nhận giá trị của NVCQ lớn đến cỡ nào? Tôi muốn trích ra đây một nhận xét của một cây bút cùng thời với Vũ Hạnh, vẫn đang là người đồng thời với ông hôm nay:


“Thập niên sáu, bảy mươi, tiểu thuyết miền Nam được mùa, bên cạnh tác phẩm của những nhà văn đã định vóc định hình như Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Mai Thảo, Doãn Quốc Sĩ, Chu Tử, Nhật Tiến, Thanh Tâm Tuyền v.v…, một lớp nhà văn trẻ đầy triển vọng xuất hiện như: Nguyễn Thụy Long, Duyên Anh, Dương Nghiễm Mậu, Nguyên Vũ, Phan Nhật Nam, Cung Tích Biền và một hàng ngũ đông đảo các nhà văn nữ, mỗi cây bút là một văn phong rất riêng, táo bạo, sắc sảo, nhân ái, tàn nhẫn, tỉnh táo và mê muội… Không riêng gì trong tiểu thuyết, mà hầu như tất cả các loại hình nghệ thuật đều mang chung sắc thái, vẽ lên diện mạo xã hội đương thời họ ngụ cư, trong ấy sự xuất hiện của một nhà văn cá biệt, cùng với một tác phẩm như bắt nguồn từ một nền văn hóa khác, nhà văn Vũ Hạnh với tiểu thuyết Ngôi trường đi xuống như một lời nhắc nhở cái xã hội đảo điên kia hãy nhìn lại bản thân mình, sống cho ra một con người có trách nhiệm, tình thương đối với đồng loại. Tôi chú ý đến Vũ Hạnh kể từ ngày ấy, đến ngòi bút có khuynh hướng xã hội của ông. Nhân vật mụ Tư Cò trong truyện ngắn cùng tên đăng trong tạp chí Văn càng thêm một minh chứng.


Chúng ta không thể tìm thấy trong tác phẩm của Vũ Hạnh những tư tưởng cao siêu theo các trào lưu triết học Tây phương, không phải Vũ Hạnh không đủ khả năng dung nạp các triết thuyết lúc nào cũng là thời thượng đối với đa phần các nhà trí thức, các nhà văn hóa sùng bái các nền văn hóa tư tưởng rực rỡ của nước ngoài. Cũng không phải Vũ Hạnh có tư tưởng bài ngoại, trong văn chương của Vũ Hạnh, sứ mệnh ngòi bút thể hiện rất rõ rệt, nhất quán và có hệ thống. Cho dù đôi khi ông đề cập đến vấn đề muôn thuở: tình yêu, cũng chẳng phải là thứ tình yêu tự nhiên, bản năng. Tình yêu trong văn chương của Vũ Hạnh chuyển tải một vấn đề nào đó, từ tác phẩm nhìn ra xã hội một loại tình yêu của lý trí, có chủ đề. Người Việt đáng yêu là mối tình lớn của Vũ Hạnh, một tình yêu trong sáng, lành mạnh, lạc quan, đôi lúc mang tính phiêu lưu, phóng đại một cách đáng mến. Đó là Vũ Hạnh mà tôi biết, theo dõi và tìm đọc trong thấp niên 60 và nửa thập niên 70”. (Những trang sách khép mở, Trần Áng Sơn - NXB Trẻ 2002).


Còn bây giờ, trong căn phòng làm việc vô cùng bề bộn sách vở, tài liệu, quần áo vắt… vẻo của ông tại đường Ngô Đức Kế, quận Bình Thạnh, TPHCM, tác giả nhớ lại… và kể vào băng ghi âm của tôi: “Cuối 65, Mỹ đổ quân qua, tôi được gọi ra mật khu. Đồng chí Trần Bạch Đằng bảo: Cậu ráng viết cái gì đề cao tinh thần dân tộc để góp phần chống Mỹ. Chỉ nói bấy nhiêu thôi. Tôi cho đó là một cái chỉ thị, một mệnh lệnh. Rồi ông nói thêm, trước lúc tôi về: Đảng mình không bao giờ tán thành chủ nghĩa Sô-Vanh, nhưng cậu có quyền Sô-Vanh ít nhiều khi viết cuốn đó. Trong lòng tôi lâu nay muốn đề cao Dân tộc lắm nên nhận được chỉ thị đó tôi mừng lắm… Vì lúc đó nói đến Việt Nam là nói đến thân phận da vàng, thấp kém. Đưa cái “tít” NVCQ là gây “sốc” lắm! Vì thế, tôi mới viết thử trên báo Đất Tổ về “Đôi mắt và nụ cười người Việt”. Vừa đăng xong thì sáng hôm sau tôi gặp Lê Tất Điều, hồi đó cũng là nhà văn, trầm trồ khen quá… Bởi vậy, tôi mới lấy tên người nước ngoài cho khỏi lộ. Người Việt mình xưa nay bị chà đạp quá nên ở trên chỉ thị rất đúng. Vấn đề là mình làm một cách sáng tạo chỉ thị cấp trên. Vì ôm ấp nỗi lòng yêu quý dân tộc nên tôi chỉ viết có một tuần là xong cuốn sách!”


Tới đây, tôi muốn đưa ra một nhận xét: đâu phải cứ viết theo chỉ thị của cấp trên, đâu phải cứ “minh họa” là dở. Vấn đề là chỉ thị đúng hay sai. Khi một chỉ thị đồng nghĩa với cái phải, cái đúng, nó sẽ chấp cánh cho những nung nấu chứa chất trong lòng người nghệ sĩ đa cảm, đa linh, làm “bùng” lên ngọn lửa bất diệt của nghệ thuật.


Với các tập: Bút máu, Chất ngọc, Vượt thác, Người chồng thời đại, Lửa rừng, Cô gái xà niêng, Ngôi trường đi xuống, Con chó hào hùng, Cú đấm, Con tê giác cô độc, Bóng đen tà nguyệt… và đặc biệt là NVCQ… và còn các bút chiến, tiểu luận, phê bình tung hoành trên các nhật báo, tuần báo thời đó, Vũ Hạnh xứng đáng là “Một cây bút nòng cốt, tâm huyết trong dòng văn học yêu nước, cách mạng vùng bị Mỹ - ngụy tạm chiếm” (Từ điển Văn học - NXB Khoa học Xã hội)…


L. P. K.


Tạp chí Truyền hình VTV, số xuân Đinh Hợi 2007



(còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn. Bản thảo biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Về nhà phê bình Đỗ Lai Thúy - Nhiều tác giả 24.06.2019
Hội Nhà văn Séc vinh danh dịch giả Việt Nam Đỗ Ngọc Việt Dũng - Tư liệu 21.06.2019
Tiểu thuyết Huế từ sau 1986 đến nay - Hoàng Thụy Anh 20.06.2019
Giới trẻ Thành phố Hồ Chí Minh thích đọc sách gì nhất? - Tư liệu 20.06.2019
Những bài viết về nghệ sỹ Quang Thái - Nhiều tác giả 19.06.2019
Hoàng Xuân Hãn: Nhà “Tây học” nặng hồn “dân tộc học” - Lê Văn Nghệ 19.06.2019
Dược sĩ Nguyễn Thị Bính – “Madame Hoàng Xuân Hãn”: Một trí thức một thiên hương - Kiều Mai Sơn 19.06.2019
Stefan Zweig - Không đợi được bình minh - Huyền Anh 10.06.2019
Nhà văn Áo Stefan Zweig và người vợ cả - Lê Ngọc Báu 10.06.2019
Khai mạc Tuần phim Kafka 2019 - Tư liệu 10.06.2019
xem thêm »