tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23990311
Những bài báo
26.06.2018
Nhiều tác giả
Xung quanh đề thi môn Ngữ Văn THPT 2018


Tranh luận về nhầm lẫn khái niệm trong đề Ngữ văn THPT quốc gia 2018


Thầy Nguyễn Văn Thuật, giảng viên bộ môn Địa lý, ĐH Đồng Nai, cho rằng người ra đề thi Ngữ văn đã nhầm lẫn giữa yếu tố tự nhiên và thành phần tự nhiên trong câu số 2.


Thí sinh nhận xét đề thi Ngữ văn Sau 2/3 thời gian làm bài, một số thí sinh rời phòng thi nhưng không được mang đề ra ngoài.


Ngày 25/6, gần một triệu thí sinh trên cả nước đã hoàn thành ngày thi THPT quốc gia đầu tiên với hai môn Ngữ văn (120 phút), Toán (trắc nghiệm 90 phút).


Trong đó, đề thi môn Ngữ văn nhận được nhiều ý kiến tranh luận xung quanh hai câu nghị luận văn học và nghị luận xã hội.


Đề thi có sai sót?


Theo thầy Nguyễn Văn Thuật, câu 2 phần đọc hiểu yêu cầu: “Trong đoạn trích, tác giả đã nhắc đến các yếu tố nào thuộc tiềm lực tự nhiên của đất nước?”.


Giảng viên này cho rằng người ra đề đã nhầm lẫn khái niệm thành phần tự nhiên và yếu tố tự nhiên.


"Ai học địa lý cũng đều biết đất, khí hậu, địa hình, khoáng sản, biển, sông ngòi, rừng là các thành phần tự nhiên. Mỗi thành phần tự nhiên lại có các yếu tố tự nhiên. Ví dụ, nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa… là các yếu tố trong thành phần khí hậu. Như vậy, đề thi yêu cầu kể ra các yếu tố tự nhiên của đất nước trong đoạn trích nhưng đoạn trích không hề có yếu tố tự nhiên nào ngoài từ phù sa", ông Thuật nêu ý kiến.


Ông cho rằng đây là nhầm lẫn đáng tiếc, vì đề thi THPT quốc gia cho gần một triệu sĩ tử phải chính xác về khái niệm khoa học.


Theo thầy Thuật, vì đề nhầm lẫn nên dù thí sinh không kể được yếu tố tự nhiên nào, người chấm cũng phải cho một nửa số điểm của câu này. Trường hợp thí sinh kể được từ phù sa thì phải cho số điểm tối đa của câu đó, vì các em quá giỏi.


Ngoài ra, giảng viên này còn lưu ý hai cụm từ tiềm lực tự nhiên và nguồn lực tự nhiên. Theo ông, từ điển và môn Địa lý không dùng tiềm lực tự nhiên mà chỉ dùng nguồn lực tự nhiên.


"Đề thi cấp quốc gia không nên dùng những từ lạ, đánh đố thí sinh như thế", ông Thuật nói.


Thí sinh vẫn có thể hiểu đề


Trái với ý kiến của ông Thuật, một giáo viên Địa lý ở trường THPT chuyên Vĩnh Phúc (đề nghị giấu tên) khẳng định đề thi không sai sót.


Tối 25/6/2018, trao đổi với Zing.vn, ông Mai Văn Trinh - Cục trưởng Cục Quản lý Chất lượng, Bộ GD&ĐT - cho biết ông vừa nắm được thông tin và sẽ xem xét, xử lý (nếu có sai sót) trong thời gian sớm nhất.


Cô giáo này lý giải hai khái niệm yếu tố tự nhiên và thành phần tự nhiên giống nhau, đều là bộ phận lớp vỏ cảnh quan, địa lý. Như vậy, với câu hỏi "Trong đoạn trích, tác giả đã nhắc đến những yếu tố nào thuộc về tiềm lực tự nhiên của đất nước?", khoáng sản, châu báu, rừng, phù sa, ... đều phù hợp yêu cầu.


Cùng ý kiến với giáo viên trên, cô Trần Thị Thái, từng là giáo viên môn Địa lý trường THPT Bùi Thị Xuân (TP.HCM), cho rằng lâu nay, học sinh vẫn hiểu yếu tố tự nhiên và thành phần tự nhiên là như nhau và khoáng sản, sông ngòi, rừng, biển... vẫn được hiểu là yếu tố tự nhiên.


"Riêng nguồn lực tự nhiên hay tiềm lực tự nhiên, thầy cô và học sinh vẫn quen dùng nguồn lực tự nhiên hơn. Tuy nhiên nếu dùng tiềm lực tự nhiên vẫn chính xác, chỉ là ít dùng hơn mà thôi", cô Thái nói.


Đề thi còn hạn chế


Theo một chuyên gia trong lĩnh vực Văn học, ý kiến dưới góc độ khái niệm địa lý của ông Thuật có thể đúng, có thể sai nhưng trong trường hợp một đề thi Ngữ văn thì không phải điều gì quá quan trọng, không ảnh hưởng cách hiểu đoạn thơ. Vì thế, không nên xét nét quá chi tiết về kiến thức khoa học địa lý trong đề thi Ngữ văn.


Tuy nhiên, người này cho rằng đề thi Ngữ văn năm nay có hạn chế lớn ở phần đọc hiểu.


"Người ra đề dường như không phân biệt được đề đọc hiểu văn bản văn học khác yêu cầu đọc hiểu các kiểu loại văn bản khác như thế nào. Điều không ổn nhất là các câu hỏi trong phần đọc hiểu không bám vào đặc trưng của thể loại thơ", ông nêu quan điểm.


Theo chuyên gia này, thay vì yêu cầu thí sinh đọc hiểu một đoạn thơ, người ra đề lại sa vào việc yêu cầu thí sinh đọc hiểu như một văn bản thông tin. Đề sa vào việc hỏi về nhiều nội dung, kiến thức xã hội một cách không cần thiết hoặc ít giá trị.


Chẳng hạn: Câu 1 hỏi đây là thể thơ nào chẳng có ích gì. Học sinh biết điều này để làm gì? Trong khi đó, đặc trưng quan trọng nhất trong thơ phải hiểu là cái tôi trữ tình, chủ thể trữ tình của đoạn thơ, tức là học sinh cần hiểu ai là người phát ngôn trong đoạn thơ này? Mạch cảm xúc và cảm hứng chủ đạo ở đây là gì? Người ấy muốn nhắn gửi điều gì ẩn kín trong đoạn thơ?


Thứ hai là sự độc đáo trong cách thức biểu đạt, cần hiểu nhà thơ đã dùng hình thức nào (câu chữ, biện pháp tu từ...) để nói lên tâm tư và gửi gắm thông điệp cần nói. Cách biểu đạt đó có gì đặc biệt, độc đáo thì lại không được chú ý đúng mức trong yêu cầu đọc hiểu văn bản văn học. Không phải là hỏi tất cả nội dung vừa nêu mà phải lựa chọn trong đó để nêu câu hỏi thì mới đúng yêu cầu của đọc hiểu văn bản văn học.


Mặt khác, TS Trịnh Thu Tuyết - cựu giáo viên trường THPT Chu Văn An, Hà Nội, cho hay đề thi có phần một đưa ra ngữ liệu đọc hiểu là đoạn trích trong bài thơ “Đánh thức tiềm lực” của Nguyễn Duy - một đoạn thơ từ thập kỷ 80, không chỉ giữ được tính thời sự mà còn có thể chạm tới những trăn trở, suy ngẫm của con người thời hiện đại với tiềm lực/thực tế tiềm lực/thực tế khả năng phát triển tiềm lực của đất nước.


Ngoài 3 câu hỏi đầu khá đơn giản với học trò ở mức độ nhận biết và thông hiểu, câu hỏi 4 có lẽ đặt ra vài suy ngẫm. Cụm từ lệnh trong câu 4 “có còn phù hợp với…” là câu lệnh có tính định hướng khiến học sinh có thể nhận ra ý nghĩa phủ định/phản biện với quan điểm của tác giả trong đoạn thơ “ta ca hát…/tiềm lực còn ngủ yên”.


Vì vậy, tính định hướng sẽ làm giảm phần nào tính tích cực, chủ động của học sinh trong tư duy. Điều đó sẽ thay đổi nếu câu hỏi xóa bỏ từ “còn” trong câu lệnh. Khi đó, học sinh sẽ được phép trình bày những suy nghĩ của mình một cách chủ động nhất mà không phải băn khoăn đến yếu tố “định hướng”.


Nội dung giải thích "vì sao" ở vế sau của câu hỏi sẽ có thể đưa tới những ý kiến trái chiều của học trò về tiềm lực và thực trạng "đánh thức tiềm lực" của đất nước.


Đáp án có chấp nhận những ý kiến tâm huyết đó không khi học sinh có thể đề cập tình trạng chảy máu chất xám (tiềm lực con người)/tình trạng cạn kiệt tài nguyên rừng, biển, sông, đồng... của quê hương đất nước? Đáp án có cho điểm không nếu trò nói câu thơ của Nguyễn Duy không còn phù hợp vì không còn tiềm lực gì để đánh thức?


Theo TS Tuyết, câu nghị luận văn học đã đề cập những vấn đề cơ bản của 2 tác phẩm. Tuy nhiên, cách diễn đạt vấn đề nghị luận lại vi phạm tiêu chí logic khi các hình ảnh đối lập trong cả 2 tác phẩm đều không đặt cùng trên một hệ quy chiếu so sánh. Đó là yêu cầu so sánh sự đối lập giữa chiếc thuyền và gia đình hàng chài; giữa phố huyện và đoàn tàu. Sự thiếu logic đó sẽ làm giảm tính mạch lạc, hệ thống trong việc triển khai các luận điểm trong bài làm của học trò.


Đề thi hoàn toàn có thể thay bằng cách diễn đạt logic khi yêu cầu học trò phân tích sự đối lập giữa vẻ đẹp của ngoại cảnh khi chiếc thuyền ở ngoài xa và bức tranh hiện thực cuộc sống khi chiếc thuyền tới gần. Từ đó, anh/chị hãy liên hệ với sự đối lập giữa thế giới của phố huyện lúc đêm khuya và "thế giới khác" mà đoàn tàu đem đến để nhận xét về cách nhìn hiện thưc của hai tác giả.


Đề thi Văn THPT quốc gia 2018 có độ phân hóa cao Cô Hà Thị Thu Thủy, Tổ trưởng tổ Ngữ văn, THPT Anhxtanh Hà Nội, đánh giá đề thi không nặng kiến thức thuộc lòng. Để làm bài tốt thí sinh phải hiểu tác phẩm, có kiến thức thực tế.


Nhóm phóng viên zing.vn


Bài giải môn Ngữ văn THPT quốc gia 2018


Zing.vn giới thiệu bài giải môn Ngữ văn do thầy Nguyễn Phi Hùng, cô Hà Thị Thu Thủy - giáo viên trường THPT Anhxtanh Hà Nội thực hiện.


Đề thi Văn THPT quốc gia 2018 có độ phân hóa cao Cô Hà Thị Thu Thủy, Tổ trưởng tổ Ngữ văn, THPT Anhxtanh Hà Nội, đánh giá đề thi không nặng kiến thức thuộc lòng. Để làm bài tốt thí sinh phải hiểu tác phẩm, có kiến thức thực tế.


I. ĐỌC HIỂU


Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ tự do


Câu 2. Các tiềm lực tự nhiên của đất nước được nhắc đến trong bài thơ: khoáng sản nơi núi non, châu báu dưới thềm lục địa, rừng đại ngàn và phù sa của những dòng sông.


Câu 3. Xác định câu hỏi tu từ được sử dụng trong đoạn trích:


+ Còn mặt đất hôm nay em nghĩ thế nào?


+ Lòng đất giàu mặt đất cứ nghèo sao?


- Nêu tác dụng của câu hỏi tu từ: Khơi gợi niềm tự hào về sự giàu có của thiên nhiên đất nước và ý thức trách nhiệm của mỗi chúng ta trong việc phát huy, khai thác những tiềm năng đất nước để thoát nghèo, để dựng xây cuộc sống no ấm, để phát triển đất nước mạnh giàu.


Câu 4. Học sinh giải thích rõ quan điểm của tác giả được thể hiện trong hai câu thơ và nêu ý kiến cá nhân về vấn đề đó. Câu trả lời cần trình bày ngắn gọn, nêu rõ được quan điểm cá nhân, có những lí lẽ thuyết phục.


- Giải thích quan điểm của tác giả: đất nước ta tuy giàu có tài nguyên, đó là tiềm lực mạnh mẽ, quý giá để phát triển đất nước, nếu như không biết cách tận dụng, cứ mãi hát ca, tự hào mà không bắt tay làm việc, không có cách để đánh thức những tiềm năng thì nó sẽ mãi ngủ yên, không thể giúp cho đất nước phát triển, đời sống mỗi người dân được nâng cao.


- Nêu quan điểm cá nhân: Đồng tình với ý kiến trên (nêu rõ lý do)


Bổ sung: Tài nguyên đất nước, qua nhiều năm chiến tranh, cũng như do ý thức kém của con người, đã bị hao hụt nhiều, không còn là “rừng vàng biển bạc” nữa. Do đó, cần phải chú ý trân trọng và có cách khai thác hợp lý, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.


Thầy Nguyễn Phi Hùng - Hiệu phó trường THPT Anhxtanh và cô Hà Thị Thu Thủy - Tổ trưởng tổ Ngữ văn trường THPT Anhxtanh giải đề thi tại tòa soạn Zing.vn. Ảnh: Duy Anh.


II. LÀM VĂN


Câu 1.


* Yêu cầu về hình thức:


- Đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ


- Giải thích rõ vấn đề cần nghị luận, lập luận chặt chẽ, thuyết phục, có các dẫn chứng phù hợp.


* Yêu cầu về nội dung:


Học sinh được thể hiện quan điểm riêng về vấn đề nhưng cần trình bày ngắn gọn, mạch lạc và giàu sức thuyết phục. Có thể triển khai bài viết với các ý lớn sau:


- Giải thích vấn đề:


+ “Tiềm lực đất nước” là gì: tiềm lực tự nhiên, tiềm lực con người (truyền thống, lịch sử, văn hoá, trí tuệ, thể chất…)


+ Sứ mệnh đánh thức tiềm lực đất nước là gì: Là trách nhiệm của mỗi con người trong việc góp phần khơi dậy, phát huy những tiềm năng của đất nước.


- Từ đó khẳng định, sứ mệnh của mỗi cá nhân là phải góp phần đánh thức những tiềm năng, tiềm lực của đất nước để góp phần cho đất nước ngày càng phát triển.


+ Tiềm năng mới chỉ ở dạng thức tiềm tàng, chưa được hiện thực hoá, chưa trực tiếp góp phần vào sự phát triển. Do đó, phải biết cách đánh thức các tiềm năng ấy.


+ Làm thế nào để đánh thức các tiềm năng đất nước: trước hết phải hiểu rõ những tiềm năng ta có, những thế mạnh về thiên nhiên, về con người trong bối cảnh của hội nhập và phát triển hiện nay. Từ đó, có những giải pháp, hành động cụ thể để khai thác, sử dụng hợp lý các tiềm năng đất nước.


+ Đánh thức tiềm năng đất nước là sứ mệnh chung của mỗi người Việt Nam yêu nước.


- Bàn luận mở rộng:


+ Nhiều nguồn tài nguyên đất nước đang bị khai thác đến cạn kiệt mà chưa mang lại hiệu quả cao, ổn định, lâu dài cho nền kinh tế. Trong khi, những tiềm lực khác của đất nước, nhất là tiềm lực con người, nguồn chất xám, trí tuệ của người Việt lại đang bị lãng phí, bị “chảy máu”.


+ Trong bối cảnh hiện tại, tiềm năng, nguồn lực con người mới chính là nguồn sức mạnh giúp phát triển đất nước.


- Bài học nhận thức và hành động: biết sử dụng tiết kiệm tài nguyên, khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên quý giá để phát triển bền vững, đồng thời mỗi người cần nỗ lực học tập, rèn luyện để cống hiến cho đất nước.


Câu 2.


1. Yêu cầu hình thức:


- Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: Mở bài giới thiệu vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khái quát được vấn đề.


- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt.


2. Yêu cầu nội dung:


a. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: sự đối lập giữa vẻ đẹp của chiếc thuyền ngoài xa và cảnh bạo lực ở gia đình hàng chài (truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” - Nguyễn Minh Châu) và liên hệ với sự đối lập giữa cảnh phố huyện lúc đêm khuya và hình ảnh đoàn tàu (truyện “Hai đứa trẻ” -Thạch Lam).


b. Triển khai vấn đề


* Mở bài


- Giới thiệu nhà văn Nguyễn Minh Châu, tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.


- Giới thiệu sự đối lập giữa vẻ đẹp của chiếc thuyền ngoài xa và cảnh bạo lực ở gia đình hàng chài, liên hệ với sự đối lập giữa cảnh phố huyện lúc đêm khuya và hình ảnh đoàn tàu (truyện “Hai đứa trẻ” - Thạch Lam) để thấy cách nhìn hiện thực của hai tác giả.


* Thân bài


- Sự đối lập giữa vẻ đẹp của chiếc thuyền ngoài xa và cảnh bạo lực ở gia đình hàng chài:


+ Vẻ đẹp của chiếc thuyền ngoài xa - một vẻ đẹp tuyệt mĩ, một “cảnh đắt trời cho”: mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào bờ vẻ đẹp đơn giản, toàn bích khiến Phùng xúc động, hạnh phúc vô ngần.


+ Cảnh bạo lực của gia đình hàng chài: hai con người xấu xí, thô kệch bước ra từ chiếc thuyền khi nó tiến vào bờ; người đàn ông dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, người đàn bà chỉ cam chịu nhẫn nhục; thằng Phác - đứa con trai, đã lao đến giật thắt lưng đánh bố bảo vệ mẹ và bị người đàn ông “thẳng cánh” cho hai cái tát; người mẹ ôm đứa con và khóc.


=> Đó là sự đối lập giữa cái đẹp và cái xấu, cái thiện và cái ác, giữa cái bề ngoài và bản chất bên trong của hiện thực cuộc sống.


- Sự đối lập giữa cảnh phố huyện lúc đêm khuya và hình ảnh đoàn tàu:


+ Cảnh phố huyện lúc đêm khuya: bóng tối, sự tịch mịch ngự trị “đường phố và các ngõ con chứa đầy bóng tối”, “tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhàm các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa”. Trong khung cảnh ngập tràn bóng tối ấy, những cư dân phố huyện hiện ra nhỏ bé, leo lét, nhọc nhằn giữa cuộc mưu sinh.


+ Hình ảnh đoàn tàu: là một thế giới hoàn toàn khác chứa đầy ánh sáng “các toa đèn sáng trưng…”, âm thanh “tiếng xe rít mạnh vào ghi”, “tiếng hành khách ồn ào khe khẽ…”


=> Đó là sự đối lập giữa bóng tối và ánh sáng, giữa tĩnh lặng và sống động, giữa u buồn và vui vẻ huyên náo... qua đó thể hiện nổi bật sự đối lập giữa hiện thực và ước mơ, càng tô đậm thêm cho cuộc sống nghèo khổ, tăm tối của những kiếp người phố huyện.


- Nhận xét cách nhìn hiện thực của hai tác giả:


+ Giống nhau: Cả hai nhà văn đều có cái nhìn hiện thực một cách đa diện, nhiều chiều, trong các mối tương quan đối lập giữa cái đẹp và cái xấu, giữa bóng tối và ánh sáng để thấy bề sâu của bức tranh hiện thực cuộc sống. Từ cái nhìn sâu sắc đó, người đọc thấy được tấm lòng nhân đạo của các nhà văn.


+ Khác nhau:


Nguyễn Minh Châu: Hiện thực cuộc sống luôn ẩn chứa nhiều bộn bề, đằng sau cái đẹp vẫn có thể là cái xấu, cái ác. Người nghệ sĩ đừng chỉ nhìn đời từ xa mà phải gắn bó với cuộc đời để có cái nhìn sâu sắc, thấu hiểu để có thể phát hiện ra vẻ đẹp khuất lấp.


Thạch Lam: Trước hiện thực cuộc sống tù túng, quẩn quanh, bế tắc, con người luôn hướng tới một cuộc sống tươi đẹp hơn. Qua cái nhìn đó, nhà văn thể hiện niềm tin vào con người: dù ở trong bất kì hoàn cảnh nào, con người cũng luôn có khát khao hướng tới nhiều gì tốt đẹp.


* Kết bài: Khẳng định giá trị của tác phẩm cũng như tài năng, tấm lòng của nhà văn.


zing.vn


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyễn Phúc Lộc Thành: Sự trở lại của một bản ngã - Huyền Trang 18.09.2018
Nguyễn Văn Vĩnh là ai? Câu hỏi thảng thốt đến đau lòng! - Vũ Viết Tuân 18.09.2018
Đọc "Tiểu luận và phê bình văn học" của Mai Quốc Liên - Nguyễn Văn Thức 18.09.2018
Người thông minh và người trí huệ khác nhau thư thế nào? - Tư liệu sưu tầm 17.09.2018
Cách mạng công nghiệp thứ tư - Tư liệu sưu tầm 16.09.2018
"Thi tướng" Huỳnh Văn Nghệ trong trong ký ức con trai - Tư liệu 14.09.2018
Đỗ Đức Dục – Nhà Chính trị “chọc trời khấy nước” - Kiều Mai Sơn 14.09.2018
Bức thư của một con cún - Nguyễn Quang Thiều 14.09.2018
Truy tìm xuất xứ mấy câu ca dao - Vũ Bình Lục 13.09.2018
Hai Bà Trưng và ý niệm Chung một Quốc gia - Nguyễn - Chương 13.09.2018
xem thêm »