tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30140284
Lý luận phê bình văn học
23.10.2019
Phan Quang
Thời gian không đổi sắc màu (5)


Tôi vừa nhận được cuốn sách in đẹp chỉnh chu của nhà báo Phạm Quốc Toàn gửi biếu - thật khó có món quà nào tao nhã hơn thế. Tên sách nghe ngồ ngộ: Tôi nói bằng mồm tôi (Nxb Hội nhà văn). Trong khoảnh khắc ba năm, Phạm Quốc Toàn trình làng bốn cuốn sách. Chuyện nghề, chuyện đời, chuyện tình nghĩa ấm lạnh buồn vui đều có cả. Nay đến “Tôi nói bằng mồm tôi”. Nhìn qua bìa sách, tôi nghĩ chắc lại đề cập chuyện nghề, bởi liên tưởng ngay trong số nhà báo nổi tiếng như cồn, mà thiếu chi người nói bằng miệng mình nhưng ý tưởng, nội dung toàn giật tạm của người khác.


Lật mấy trang mục lục, qua những 125 dòng - tìm dòng có cái tít được dùng làm tên sách. Thì ra câu chuyện quá đỗi ngày thường: Có fif đâu! Tại một viện an dưỡng nọ, các bác sĩ, y tá, nhân viên kháo chuyện trong giờ làm việc ồn ào y như ngoài chợ, đến nỗi có cụ bệnh cao niên không sao chịu nổi, lựa lời góp ý. Vậy là bà bác sĩ tung luôn một câu: “Chúng tôi nói bằng mồm chúng tôi. Chúng tôi làm bằng tay, nói bằng mồm, mắc mớ gì đến ông?”.


Vâng, chuyện quá bình thường, chẳng mấy khác “chuyện thường ngày ở huyện” thời Liên Xô ngày trước hay “chuyện ra ngõ gặp phiền hà” ở nước ta ngày nay, kể cả đời không hết. Ít lâu nay, từ diễn đàn Quốc hội, các phiên họp thường kỳ của Chính phủ đến trang đầu các báo chí, truyền thông  vẫn chẳng bàn dài dài chuyện văn hóa bệnh viện, văn hóa trường học, văn hóa cửa công, văn hóa ứng xử  đó sao?


Đi sâu vào cuốn sách, mới vỡ nhẽ vậy mà không phải vậy. Đâu chỉ chuyện vặt ấy. Đến đại sự quốc gia, bang giao quốc tế cũng y chang. Có một vị tướng chóp bu nọ, tướng T. thứ thiệt (T viết hoa), ngang nhiên đối đáp với người đồng cấp nhân dịp ông mang chuông đi đấm nước ngoài, khi bị cật vấn về mưu đồ của Trung Quốc hạ đặt Giàn khoan trái phép tại Biển Đông, ông tướng đã lớn tiếng tuyên ngôn: “Chúng tôi nói bằng mồm chúng tôi, chuyện của chúng tôi, can hệ chi mà các vị chõ vào?”.


Bàn tới đây, Phạm Quốc Toàn hạ bút: Hết nói! Tác giả đã bảo vậy thì độc giả đành vâng, tuy nhiên nó vẫn không làm sao ngăn tôi không nhớ đến một kỷ niệm thời thơ ấu. Mấy tháng nghỉ hè, tôi hay theo chị gái la cà ra xem chợ làng quê năm ngày mới họp một phiên đông vui lắm. Và lần nào tôi cũng giật thót người, tim như thắt lại khi nghe bà hàng cá sa sả mắng người đồng cấp - tức là các bà vẫn ngồi dàn hàng một dãy bán cá, bán lươn cạnh nhau: “Tao nói bằng mồm của tao, căn cứ chi mà mi chõ cái mõm thối của mi vô!”. Quả đúng như lời cô giáo vẫn giảng ở lớp học, con người là loại sinh vật dù sinh ra ở đâu vẫn có những nét tương đồng!


Tác giả gọi các bài viết của anh là tiểu phẩm, đúng kinh sách. Tuy nhiên đọc anh, tôi những muốn gọi các bài in trong tập ấy bằng nhiều tên khác nữa: tạp bút, ngẫu hứng, ghi nhanh, thời luận, phiếm luận..., và tại sao không, thông tin thời sự. Mách có chứng cứ hẳn hoi. Này nhé. Vẫn bài vừa đề cập ở trên, đáp ứng đầy đủ yêu cầu 5 chữ W của báo chí hiện đại.


Who - Tướng X. (Họ tên đầy đủ kèm cấp bậc, chức vụ hoành tráng).


When - Ngày 15-5-2014.


Where - Washington D.C., Hòa Kỳ.


Why - Trả lời một chính khách Mỹ chất vấn.


What - Về mưu đồ của ai đó biến biển cả thành ao nhà.


Who, Which... đủ cả. Vậy chẳng phải thông tin thời sự là gì? Hơn nữa, viết tiểu phẩm, phiếm luận người ta thường phiếm chỉ, phiếm danh, không ít bài trong cuốn sách của Phạm Quốc Toàn bàn chuyện vĩ mô hay vi mô vẫn có người, sự kiện, thời gian, không gian rành rọt.


Vĩ mô, đại thể như chuyện vị lãnh đạo bộ nọ điều trần trước phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Rằng Đề án đổi mới sách giáo khoa tốn phí đến 34 725 tỉ đồng. Nhiều người ngỡ ngàng: Ngân sách Nhà nước đang thời kinh tế khó khăn, liệu có kham nổi. May quá, chỉ mấy hôm sau, đích thân ngài bộ trưởng bộ ấy giải trình trước quốc dân đồng bào qua màn ảnh truyền hình quốc gia rằng, bộ tôi chưa bàn kỹ và chưa bao giờ trình Chính phủ khoản chi tiêu 34.725 tỉ đồng đó cả. Hay là chuyện một vị lãnh đạo bộ khác ráng thuyết phục Ủy ban Thường vụ Quốc hội rằng, ASIAD-18 (Đại hội thể thao châu Á) bốn năm mới có một lần, mà nước ta lần này trúng đăng cai, là tạo được cơ hội vàng cho Việt Nam tỏa sáng trước bạn bè quốc tế. Và do ý thức được nước ta còn nghèo, cho nên bộ chúng tôi dự kiến kinh phí chỉ vào khoảng 150 triệu USD, trong đó ngân sách Nhà nước bỏ ra 28%, còn lại bao nhiêu là từ nguồn xã hội hóa. Nhiều ý kiến phản biện: Từ trước tới nay chưa một quốc gia nào chi cho một kỳ ASIAD dưới 2 tỉ đô la, gần đây nhất là ASIAD-17 tổ chức tại Quảng Châu, Trung Quốc đã tiêu tốn đến 27 tỉ đô la Mỹ. Vậy là người đọc có thể hiểu, con số 150 triệu USD mới là dự toán sơ sơ, hãy hăng hái bắt tay vào việc đi, đã ngồi lên lưng hổ rồi, ra thực địa cần đến đâu chi đến đó.


Đó là chuyện vĩ mô, còn những chuyện vi mô thì làm sao có thể dẫn hết trong một bài. Từ việc đào đường, phí gửi xe máy, thủ tục một cửa, lương bổng lộc… đến cái phong bao quen thuộc với cuộc sống đương đại trước kia có dày cũng vẫn đựng trong cái phong bao, nay đã phát triển thành chiếc va ly, trong tiền đô la Mỹ bảng giấy nhưng lại nặng cân cho nên cái va lý ấy phải kéo chứ ai làm sao xách nổi - trích lời của bị can Dương Chí Dũng khai trước tòa.


Từ những cảm nhận về chủ đề, tính cách, hình thức các bài viết, tôi muốn kiến nghị tác giả gọi tác phẩm “còn thơm tươi mùi mực” của anh, tiếp sau chuyện nghề, chuyện đời, chuyện nghĩa tình, nay là “chuyện thế gian”. Chuyện thế gian vô biên, gì chẳng bao gồm trong đó, và “thế sự du du”, biết đâu rồi đây sẽ chẳng có chuyện tồn tại dài lâu như... ngàn năm bia miệng.


 


Đọc cuốn Tôi nói bằng mồm tôi, nhiều lần tôi cảm thấy mặt mình rần rần. Chắc chắn không phải hội chứng tăng huyết áp, cho nên chẳng phải vội vàng buông sách nuốt một viên thuốc định thần, an thần chi đó theo đúng lời dặn của mẹ hiền. Chẳng qua một thoáng ngượng ngùng. Nhiều thói tật Phạm Quốc Toàn đề cập với cái giọng tỉnh bơ mà chua cay đáo để của anh, sao hình như thấp thoáng có mình trong đó. Hay là ông bạn định chơi xỏ nhau?


Mặc cảm buộc tôi thay đổi ý định. Thú thật, khi mới nhận được cuốn sách, tôi định bụng chuyến này ta sẽ không viết bài điểm sách, cho dù thú vị đến đâu. Mấy cuốn trước của bạn, ta đều có đôi điều cảm nhận. Có bao suy nghĩ đều đã nói ra rồi, nay còn gì trong đầu nữa mà điểm mà bình. Hơn nữa, biết đâu thế gian chẳng có người bảo hai ông bạn này đánh bóng nhau. Mà thời này việc ấy dễ ợt. Chỉ cần phun một lớp vàng son rồi tung lên mạng, là đủ cho thiên hạ chiêm ngưỡng chân dung đồng bóng ông bạn vàng của mình.


Khốn nỗi, đọc sách tôi lại thấy có hình như bản thân mình hiển hiện trên trang sách. Liền nghĩ bụng: Nếu lần này ta không viết thì có khác chi lạy ông tôi ở bụi này. Rồi sẽ có ai đó bỉu môi: lão già bị chạm nọc cho nên miệng câm như hến. Vậy là tôi ngồi luôn xuống bàn viết. Hơn nữa, và đây mới là thực chất: đọc đến trang cuối, thâm tâm tôi cảm thấy vừa nảy ra một số ý tứ mới toanh, muốn sẻ chia với người khác. Thôi thì coi như ta tập làm phiếm luận về một tập phiếm luận bàn chuyện thế gian, hay là xếp một tiểu phẩm qua quýt cạnh mớ tiểu phẩm căn cơ của Phạm Quốc Toàn.


 


HỒI ỨC NẰM VÙNG


                                                                                     


            Ông năm nay bước vào tuổi tám mươi. Tên ông là Lê Văn Hoan. Mười sáu tuổi vào dân quân, rồi bộ đội. Đảng viên khi chưa đủ tuổi thành niên. Hoạt động ở vùng tạm bị chiếm tỉnh Quảng Trị từ đầu năm 1947. Tháng 7 năm 1954, thi hành Hiệp định Genève, bộ đội, cán bộ ta ở phía Nam vĩ tuyến 17 tập kết ra Bắc. Ông được phân công ở lại, “sinh sống làm ăn như mọi người dân bình thường”.  Và ông đã ở lại, đã công tác suốt ba mươi năm, từ 1954 cho đến khi nước nhà thống nhất. Ba mươi năm bám trụ dải đất hẹp miền Trung, trừ mấy lần được cấp trên ra miền Bắc học tập, chữa bệnh định kỳ.


            Quá nhiều người ở làng quê ông biết mặt, thuộc họ tên, gia đình tung tích tay Việt cộng Lê Văn Hoan, tên thật là Lê Đình Mỵ. Ông bị đối phương săn lùng dữ dội, ngay từ đợt 1 “tố cộng”. Tỉnh Quảng Trị, phần từ phía Nam sông Bến Hải trở vào đến bờ bắc sông Mỹ Chánh, năm 1954 có 8400 đảng viên ở lại làng quê làm ăn sinh sống cùng gia đình. Sau hai năm, đến cuối 1956, tứ quá cái mốc hiệp thương tổ chức tổng tuyển cử ở cả hai miền nhằm thông nhất đất nước trong hòa bình, như quy định tại Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954, chỉ còn lại 506 đồng chí, kể cả đồng bằng và vùng núi. Gần 7900 đảng viên đã hy sinh hoặc bị bắt bớ, tra khảo, đày ải trong các nhà tù. Năm 1958, khi Lê Văn Hoan được điều về huyện Hải Lăng làm Phó bí thư Huyện ủy, cơ quan huyện lúc này chỉ còn lại bí thư và mỗi một huyện ủy viên.


Tháng 8 năm 1965, sau khi tình hình ổn định dần , Đảng bộ tỉnh Quảng Trị họp đại hội tại Ba Lòng, chiến khu thời chống Pháp ở thượng nguồn sông Thạch Hãn. Ngày 13-8-1965, Mỹ cho máy bay lên ném bom rải thảm xuống Ba Lòng. Bom rơi xuống sông, “cá chết trắng cả khúc sông, trôi theo dòng về xuôi” (Đất quê hương, Nxb Thuận Hóa 2009). Lê Văn Hoan được bầu vào Tỉnh ủy, trở về với địa bàn quen thuộc của mình, làm Bí thư thị xã Quảng Trị.


Hồi ký Lê Văn Hoan viết: “Sống và chết, chết và sống đã trở thành quen thuộc với chúng tôi. Chúng tôi xem thường cái chết và đã quên nó đi, bất cần nghĩ đến. Sống thì công tác, hoạt động, và chết cũng vậy thôi, đồng đội chết nhiều rồi, đồng chí đồng bào đã chết quá nhiều rồi. Bây giờ đến lượt anh, có sao đâu. Tất nhiên, mỗi lần có đồng đội hy sinh, cũng làm cho bản than tôi chùng lại, nỗi buồn như đám mây đen qua bầu trời. Những rồi công việc và cuộc sống lại cuốn hút đi…”.


Trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, diệu kỳ sao ông vẫn lành lặn cho đến ngày hòa bình. Ông bảo tại số mình gặp may, mình nhiều lằn “trúng số độc đắc”, thoát chết gang tấc trong khi đồng đội bên cạnh hy sinh. Bí quyết giúp ông tồn tại là bám chắc vào dân. Sống trong và hoạt động trong lòng địch, phải bám vào dân, càng ở sát nơi trọng yếu của địch, chúng càng ít ngờ, ta càng có nhiều cơ may không bị lộ, thoát chết để làm việc. Đó là bài học Lê Văn Hoan tự mình rút ra để sống còn.


 


Hồi ký Lê Văn Hoan không nhằm kể lể công lao đóng góp lẽ dĩ nhiên không đến nỗi quá nhỏ bé của một cán bộ suốt đời lăn lộn với phong trào. Nó được tác giả viết ra nhằm tôn vinh và tạ ơn sâu của đồng bào, liệt sĩ ân nhân đã cưu mang đùm bọc cán bộ, “cảm ơn bạn hữu, đồng đội đã gánh chịu hy sinh mất mát cho tôi được sống đến ngày hôm nay” - ông viết từ những dòng đầu. Ông không hề quên một ai trong tổng số 69 gia đình cơ sở đã nuôi sống và tận tình giúp đỡ ông trong suốt ba mươi năm. Họ mở rộng vòng tay cưu mang cán bộ trong khi cầm chắc rồi mình mang tai họa, mình phải gánh chịu tra tấn, tù đày, tan cửa nát nhà, thậm chí bỏ mạng nữa, nếu chẳng may bị lộ.


Tác giả rành rọt kể nhiều kỷ niệm. Ông nhớ kỹ, bởi ông không quên ơn ai. Sau ngày thắng lợi, ông nhiều lần tìm về chốn cũ thăm hỏi người còn, đốt nén hương tưởng niệm người quá cố. “Đó là gia đình bà Trần Thùy, gọi là bà Dật ở thôn Đại Nại, ngay từ năm 1954, hiệp định ký chưa ráo mực, kẻ thù đã trở mặt phá hoại. Tôi bị săn lùng. Gia đình bác Dật đã mở rộng tấm lòng đón tôi, dành cho tôi những gì quý báu nhất từ lậm (lẫm) lúa, cái sạp đựng đồ đạc… Bác đã phá cái lậm, làm thành hai ngăn, cho tôi có nơi ở an toàn. Đâu chỉ đơn thuần trốn tránh, mà đi về thất thường, cơn ăn nước uống và trăm sự phiền hà…”.


Đó là chị Mãn và đứa con trai 11 tuổi ở xóm Rôộc bờ sông Vĩnh Định, làng Nại Cữu. Một người đàn bà góa, làm nghề bán cá tươi ở chợ. Sáng tinh mơ, chị mang quang gánh từ về mạn biển chờ mua cá của ngư dân vừa đánh bắt, rồi hối hả gánh chạy về chợ Sãi (nay thuộc thị xã Quảng Trị) bán. Ngày nào cũng như ngày nào, chị chạy bộ 30km, gánh cá trên vai. Chị là “đường dây” của thị ủy: “Chị đào hầm trong vườn nhà nuôi chúng tôi, nhiều khi đến năm người, lo ăn ngày hai bữa. Và đứa con trai, được chị dạy bảo làm tai mắt cho mẹ… Cho đến khi hầm bí mật bị lộ, chị Mãn bị an ninh ngụy bắt đánh đập tra tấn hết sức dã man mà không khai, cứ một mực tôi đâu có biết. Nhưng cái hầm sờ sờ ra đó. Chị vẫn khăng khăng: “Họ ở họ đi” tôi đâu có hay. Gà gáy tôi đã về miền biển mua cá, chạy lên chợ bán đến tối mịt  mới về nhà. Nấu cơm cho con ăn xong là ngủ. Một năm mười hai tháng, một tháng ba mươi ngày tôi làm như vậy…”. Nhờ đức kiên trung của người phụ nữ, lần ấy cán bộ thị ủy không ai bị bắt.


Đó là người đàn bà ngoan đạo ở “thánh địa La Vang” nổi tiếng của đồng bào theo đạo Thiên chúa. Bà xuất hiện như vị thánh cứu tinh khi mạng sống anh cán bộ ngàn cân treo sợi tóc: giữa ban ngày xáp mặt địch đi lùng. Bà bảo cán bộ vô ngay trong nhà. Nhà trống trơ, chỉ có đứa con trai nhỏ mắc chứng thiểu năng trí tuệ. “Vô ngay nơi thờ Chúa mà ngồi!”. Bà ra lệnh. Tôi chui vào dưới bàn có phủ tấm khăn đã cũ. Bà đội nón đi ra ngang qua trước mặt bọn lính, như thể đi làm việc đồng áng ngày thường… Sau này nhờ  “cơ sở” tìm hiểu, Lê Văn Hoan mới biết họ tên đầy đủ người đàn bà theo đạo này tên là Trần Thị Hiệp. Một người đàn bà bất hạnh. Chồng chết đã lâu, nhà nghèo khó, con cái ốm đau, người đàn bà ấy “đã mở rộng tấm lòng che chở một cán bộ không hề quen biết”. Bà còn dặn: “Chú về công tác vùng này, đến nhà tôi, đơn sơ vậy mà an toàn”.


Nhưng rồi nhà bà Hiệp cũng bị lộ. Ông sang một ấn náu tại sơ sở khác ở xóm Phường Sắn (thuộc xã Hải Phú ngày nay) cũng chỉ cách nhà thờ La Vang chừng năm trăm mét…


Tháng 10 năm 1959, Ngô Đình Diệm ban bố Luật 10/59, “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”,  Lê Văn Hoan sống tại thôn Long Hưng, cận kề thị xã Quảng Trị, nhà chị Văn Thị Kiếm. Chị Kiếm có anh trai, chị gái tập kết ra Bắc trong khi một người anh trai khác làm sĩ quan quân đội Sài Gòn. Gia đình chỉ có mỗi hai cha con sống với nhau. Một lần, chị hỏi: Anh có muốn gặp mẹ, chị giúp cho. Ngày mai, ông cụ đến nhà bà con ăn giỗ cả ngày. Chị sẽ nhắn mẹ anh Lê Văn Hoan, bảo đến chị cho vay tạm ít lúa. Nhà Lê Văn Hoan quanh năm nghèo thiếu, cảnh bà già mẹ anh tòn ten cây đòn gánh trên vai treo hai đầu hai cái thúng trốn trơn, đi hỏi bà con quen biết ai có vay tạm ít lúa là chuyện quá bình thường, chẳng ai buồn để ý. Đã bốn năm rồi, mẹ con không gặp mặt nhau dù sống cùng xóm, cùng làng. Nhìn thấy đứa con trai chui lủi xác xơ quá, bà mủi lòng. Trước khi chia tay, bà dặn: “Nếu có khổ cực quá, không chịu đựng nổi, thì xin cấp trên cho ra Bắc, chớ có về đầu hàng, nghe con!”. Lời mẹ dặn, ông ghi nhớ suốt đời.


Cứ vậy, Lê Văn Hoan… hồi ký. Câu chuyện nào cũng có nhiều tình tiết làm người đọc xúc động đến khó cầm nước mắt. Nhưng, nếu miên man, có lẽ tôi đến phải chép lại hơn nửa cuốn sách dày 300 trang cho bài báo này. Vậy mà, dường như vẫn sợ mình còn bỏ sót một ai, tác giả dành cả chương cuối “liệt kê” tên tuổi, gia đình, con cái, ai còn ai mất của 69 cơ sở đã cưu mang ông. Nhiều người được phong Bà mẹ anh hùng, Gia đình có công, nhưng có không ít người hy sinh trước khi kịp hưởng chút tưởng lệ nào của Nhà nước. Hòa bình trở lại đã lâu, hoàn cảnh không ít gia đình vẫn khó khăn, thiếu thốn. Ông trầm ngâm nhớ lại câu nói của Lênin: “Hãy cho người nông dân một pút lúa mì, còn hơn tặng họ cái bằng khen”.


Một lần ông về thăm lại một cơ sở ở thôn An Tiêm (huyện Triệu Phong), có mấy con đi tập kết: bác Đoàn Phong và vợ là Phan Thị Lều. Hai bác đã qua đời. Ngôi nhà cũ của bác nay chình ình con đập thủy lợi. Lê Văn Hoan chỉ còn biết cúi đầu tưởng niệm: “Thưa hai bác kính mến… Hai bác đã trọn đời vì đất nước cho đến ngày đất nước hoàn toàn tự do thì hai bác không còn nữa. Hai bác chưa được hưởng một chế độ chính sách gì, mà phải ra hai bác ngàn lần xứng đáng được hưởng. Lê Văn Hoan là con cúi đầu trước vong hồn hai bác, xin lạy tạ tấm lòng hai bác, xin ghi lòng tạc dạ các gia đình đã che chở và nuôi giấu con… Xin tạ ơn sông núi quê hương trường tồn cùng đất nước Việt Nam kính yêu”.


Cuốn Hồi ký Đất quê hương kết thúc ở đây.


*


Sẽ thiếu sót nếu không nói thêm đôi lời về tác giả. Lê Văn Hoan không phải là người bi lụy. Ông suốt đời lạc quan. Không có tính chất ấy, làm sao tồn tại qua nổi những ngày gian khổ tận cùng. Đã đành công tác trong lòng địch, dựa vào dân, liên lạc với nhau qua hòm thư bí mật chỉ có người gửi và người nhận biết mà thôi, tuy vậy vẫn không thể thiếu cái hầm bí mật. Anh đã đào nhiều hầm trú ẩn, mỗi hầm một kiểu, và cho mỗi loại một tên riêng. “Nhà lộng gió” là cái hầm đào gần bến sông, tốt nhất là nơi có bụi cây sum suê tỏa bóng, chỉ riêng mình biết với mình. “Mùa hè ngủ hầm này mát rượi. Chỉ cần một túi nylông đựng nước uống cùng một mo cơm muối hay mấy củ sắn khoai, có thể yên chí  ngủ cho lại sức”. “Lầu hai tầng” cũng đào ở bờ sông, nhưng muốn vào phải lặn xuống nước chui vào tần dưới, rồi mới ngoi lên chỗ khô ráo, coi như tầng trên của ngôi nhà lầu. “Lầu vạn thuở” là các miếu thờ cô hồn. Miếu, không phải đền. Có nghĩa là thấp nhỏ, chỉ có mỗi một cái cửa hẹp ra vào thường xuyên buông kín bằng tấm sáo tre, ba bề còn lại là tường gạch. “Lầu vạn thuở” an toàn bởi mọi người nghĩ, chẳng ai dại gì trốn trong đó, nhỡ bị phát hiện thì không có lối thoát thân. “Lầu” mà chật chội, suốt ngày đêm chỉ có thể ngồi khom lưng co ro trên bàn thờ. Từ đây, nghe rõ tiếng địch tra khảo đồng bào tìm Việt cộng nằm vùng, đau đứt ruột, tuy nhiên vào ngày rằm, mùng một đôi khi bỗng dưng mình được hưởng trọn lộc thần…


Ông là người yêu đời. Tôi nhớ mãi bốn câu thơ Tết (không có trong hồi ký), ông làm vào những ngày gian khổ, khi một mình chui lủi trong rừng xanh:


Tết đến ai ai cũng chơi hoa


Thì ta cũng có, thiếu chi mà


Hoa rừng nở thắm một trời núi


Thích thú còn hơn cắm lọ nhà.


 


Năm 1972 “mùa hè đỏ lửa”, ta giải phóng toàn tỉnh Quảng Trị. Quân đội Sài Gòn phản công, tái chiếm thị xã. Cuộc chiến đấu giữ Thành cổ diễn ra 81 ngày đêm vô cùng ác liệt. Trung tướng Sùng Lãm, Tư lệnh Sư đoàn 320B, người chỉ huy tại chỗ, nhớ lại: “Bí thư Huyện ủy Lê Văn Hoan luôn có mặt ở những nơi nóng bỏng, sát cơ sở, động viên, phối hợp, giúp đỡ bộ đội chiến đấu…” (Hồi ký tập thể Khúc tráng ca thành cổ, Nxb Văn hóa Thông tin, 2008).


 


Đất nước thống nhất, ông Lê Văn Hoan đảm nhận nhiều trọng trách. Được bầu làm Đại biểu Quốc hội hai khóa, làm Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tỉnh, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Trung ương Mặt trận Tổ quốc mấy nhiệm kỳ. Lê Văn Hoan nổi tiếng là người nói năng mèm mại, có lý có tình, nhiều sức thuyết phục.  Có lần, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương  cho mời anh lên gặp, thông báo ý kiến Ban Bí thư muốn giao ông trách nhiệm đứng đầu một cơ quan trực thuộc Chính phủ mà công việc cần giao tiếp rộng. Ông giải trình: “Thưa anh, tôi thiết nghĩ đất nước đang đòi hỏi chúng ta mau chóng đổi mới. (Cương vị ấy) anh nên chọn người có học hàm học vị cao, thông thạo ngoại ngữ. Tôi văn hóa thấp, ngoại ngữ gần như mù tịt, chỉ có nhiệt tình thôi không đủ…”.


Nghỉ hưu tại địa phương, Lê Văn Hoan lao vào công việc từ thiện. Ông dốc sức lực còn lại của tuổi già, mong góp phần làm vợi bớt nỗi đau của đồng bào bất hạnh đang gánh chịu hậu quả chiến tranh: chất độc da cam, con cháu bị di họa, thương tật, bệnh khó chữa, nghèo thiếu, đi làm ruộng làm nương kiếm sống lại dẫm phải bom mìn Mỹ… Báo Tuổi trẻ, số mới xuất bản mới gần đây, dành cả một trang đăng bài và ảnh của phóng viên kể chuyện “Ông Hoan từ thiện”.


 


 




DÒNG CHẢY QUÊ HƯƠNG


 


Tiếp sau Đất quê hương, hồi ký của Lê Văn Hoan1, Chuyện kể về một thời của Lê Hữu Thăng là cuốn hồi ký thứ hai về xã Hải Thượng và vùng đất lửa anh hùng cận kề Thành cổ Quảng Trị, nơi từng diễn ra bao kỳ tích làm thế giới ngạc nhiên, thán phục.


Hai tác giả đều là con cháu họ Lê thôn An Thái, một thôn nhỏ cách Thành cổ chừng hai cây số theo đường chim bay, tên làng đã có trong sách Ô châu cận lục của Dương Văn An từ đời nhà Mạc (1555). Theo phả hệ họ Lê thôn An Thái, ông Lê Văn Hoan thuộc hệ trên (bác), ông Lê Hữu Thăng thuộc hệ dưới (cháu). Ông bác ra đời vào đầu thập niên 1930, những năm đen tối nhất nhưng đã lóe tia sáng ban đầu trong lịch sử dân tộc ta, ông kịp lớn để hòa nhập vào cao trào Cách mạng tháng Tám 1945, tham gia kháng chiến, bám trụ vùng đất quê hương trong suốt hai cuộc chiến chống Pháp, chống Mỹ cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Cậu cháu chào đời năm dân tộc ta “chín năm làm một Điện Biên” (1954). Cha tập kết ra Bắc, cậu bé được mẹ cùng bà con nội ngoại quê hương nuôi dạy, tôi luyện trong truyền thống Quảng Trị kiên cường để sớm trở thành một “Việt cộng nhí” bị đối phương ráo riết săn lùng. Diễm hạnh của Lê Hữu Thăng là kịp đến tuổi thành niên để khi quê hương giải phóng năm 1973, làm một cán bộ lãnh đạo xã Hải Thượng dạn dày kỳ tích, cùng bà con làng xóm vươn lên từ dải đất nghèo lại bị đạn bom thiêu đốt xác xơ suốt ba chục năm, cùng thắp nén hương dâng mồ các liệt sĩ rồi cùng bắt tay xây dựng cuộc sống mới. Anh trở thành một cán bộ lãnh đạo năng động của huyện rồi tỉnh từ bấy đến nay.


Hồi ký của ông bác Lê Văn Hoan kết thúc với nỗi lòng đau đáu nghĩ về những về những bà mẹ, những người chị, những cụ già, những em bé… đã chăm nuôi ông ba chục năm trường cho ông còn sống và có được ngày hôm nay - để giữ bí mật, cán bộ vùng sau lưng địch khi nói về họ thường dùng một từ rất chung là “cơ sở”. Đất nước rất quan tâm, vẫn chưa sao đền đáp xứng đáng công ơn những người còn sống và những người đã mất; không được những người ấy chí tình đùm bọc, che giấu, chỉ dẫn - hành động mà họ cầm chắc phải trả giá bằng tính mạng của mình nếu chẳng may bị phát hiện - thì làm sao cán bộ “nằm vùng” có thể sống còn và hoạt động hiệu quả ben cạnh chiếc máy chém kéo lê và dưới đạn bom rải thảm. Hồi ký của ông cháu, sau khi kể lại những sự tích anh hùng của quê hương, đã dành đến phân nửa cuốn sách nói về những thành tựu mà quê hương đạt được từ ngày hòa bình và thời đổi mới, và kết thúc bằng những trang viết về “Hạnh phúc”. Hạnh phúc không riêng của tác giả, của một gia đình thành đạt. Lớn lao hơn, ấy là hạnh phúc của họ mạc, cộng đồng đã nuôi dạy ông, đã góp phần cùng nhân dân cả nước lập nên nhiều thành tựu. Hai cuốn hồi ký là là hai mảnh sáng tiếp nối nhau, tạo thành khúc lấp lánh trong dòng chảy không ngừng của lịch sử quê hương.


 


…Viết hồi ký là chép lại dưới cái nhìn của hôm nay hồi ức của mình về những người ta đã gặp, đã cùng ta chia sẻ trên bước đường đời, là thuật lại những việc mình từng chứng kiến, trải nghiệm với vui mừng hay trăn trở… Cái thuận, theo nhận thức của tôi, là ở chỗ đã có độ lùi nhất định về thời gian để cái nhìn của ta qua trải nghiệm, chín chắn hơn so với cảm giác ban đầu; là nhờ có thời gian, ta nhìn lại bối cảnh xưa trọn vẹn và khách quan hơn cái thực tại trong mắt ta buổi ban đầu. Cái không thuận của hồi ký cũng chính là ở chỗ đó. Viết hồi ký rốt cuộc là kể chuyện mình, là từ đôi mắt của mình mà nhìn nhận lại thực tại đã qua, mà bình tĩnh nhớ lại những sự kiện hồi nào nóng hổi, mà cảm nhận con người toàn bích hơn khi ta vừa thoạt gặp... Tuy nhiên, bằng cách nào đi nữa thì mọi sự trước sau đều được lọc qua lăng kính của đôi mắt hôm nay. Mà mắt con người, cho dù người ấy là vĩ nhân đi nữa, tầm nhìn vẫn có hạn. Thêm vào đó, thời gian trôi qua, dù muốn hay không hồi ức chúng ta cứ lẫn chen nhớ nhớ quên quên, cho dù tư liệu viết ra có được kiểm tra, cân nhắc, chưa thể bảo đảm mọi bề chuẩn xác. Chính vì vậy, xưa nay hồi ký của các nhân vật càng quan trọng, kể về những sự việc càng lớn lao, thì càng dễ gợi lên luận bình đa chiều của người đương thời và cả của hậu thế. Cái cần thiết để bù đắp phần nào những khiếm khuyết tiềm ẩn nơi hồi ký là động cơ trong sáng, tấm lòng trân trọng và thái độ khiêm nhường của người cầm bút.


Các tác giả Lê Văn Hoan, Lê Hữu Thăng đều tự cho là những người may mắn và hạnh phúc. Nhờ những may mắn diệu kỳ mà hai ông nhiều lần thoát chết hay sa vào tay địch. Hạnh phúc, bởi nhờ còn được sống cho nên các ông mới có điều kiện tiếp tục góp phần và góp phần và chứng kiến những thành tựu mới của quê hương.


Đọc hồi ký của bạn cùng quê viết về làng quê thân yêu, tôi cũng tự cho mình là một người diễm hạnh. Trước hết bởi tôi cũng là một người con của Quảng Trị. Cũng như bác Hoan, anh Thăng hay bà con, bạn bè người còn người mất, tôi chào đời trên đất xã Hải Thượng. Tôi không được sống nhiều tại làng quê, vậy mà trong suốt cuộc đời ơn trời cho đã vượt xa cái mốc cổ lai hy, cứ mỗi lần được đến bất kỳ gốc bể chân trời nào, được tạm thời cư trú những nơi cực kỳ sang trọng, đêm khó ngủ tôi vẫn tưởng như nghe vẳng đâu đây tiếng hò đập bắp1, nam thanh nữ tú ở làng quê đối đáp nghĩa tình qua những câu hò ngẫu hứng; tôi vẫn nghe vọng tiếng hò diết da của chàng trai đơn chiếc cần mẫn giắt trâu đạp lúa2 thâu đêm trên sân nhà. Làm sao tôi có thể quên ngày cùng cha và chị gái tôi trở về nhà, thu dọn vớt vát chút gì may ra còn sót lại sau khi làng quê bị giặc Pháp thiêu hủy hoàn toàn để mang lên chiến khu; tâm can tôi như còn nghe rõ bước chân mình lạo xạo dẫm lên những đống ngói vụn nát của ngôi nhà tổ tiên để lại gnay đã thành than bụi. Làm sao tôi quên, ngày tôi ghé về làng từ biệt người thân để đi công tác xa, cha tôi dặn: “Con yên tâm đi, chớ có lo chi việc nhà”. Chị gái tôi tiếp lời cha: “Cậu cần đi đâu cứ đi. Cha già đã có chị”.


Người xã Hải Thượng chúng tôi là như thế đó.


 


Thật diễm hạnh, chúng tôi còn sống qua chiến tranh để được nhìn thấy cả nước vượt khó “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” - như niềm tin của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước ngày đế quốc dã tâm dội bom chùm, bom thảm xuống thủ đô Hà Nội năm nào, để được chứng kiến nước Việt Nam bắt đầu “rạng rỡ với năm châu” trong phát triển và hội nhập, - đúng như kỳ vọng của Bác Hồ khi Bác ân cần dạy bảo các cháu thiếu nhi đêm trung thu đầu tiên trên nước nhà độc lập… Trong hạnh phúc ấy, làm sao không thâm tạ quê hương ở đó qua chiến tranh bao bà con thân yêu của tôi đã vĩnh viễn ra đi mỗi người một cách…


 


THỰC TẾ NÓ LÀ NHƯ THẾ                                                 


                                                                                


Sau hai cuốn sách liên tiếp ra mắt bạn đọc trong năm 2011 đề cập mấy vấn đề lớn: Báo chí, truyền thông hiện đại (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội), Báo chí và dư luận xã hội (NXB Lao động), Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Dững vừa trình làng giáo trình cập nhật hóa của ông: Cơ sở lý luận báo chí (NXB Lao động, 2013).


Riêng môn học cơ bản đào tạo cử nhân báo chí này vài chục năm lại đây ở nước ta đã có cả một loạt tác phẩm trùng tên. Một hiện tượng đáng mừng, bởi đời sống báo chí ta từ ngày đổi mới đến nay luôn sôi động, quá trình hội nhập quốc tế tạo điều kiện mở rộng giao lưu, hợp tác văn hóa, học thuật với nước ngoài. Chưa bao giờ báo chí Việt Nam có những bước tiến mạnh bạo như hiện nay. Trong tình hình đó mỗi thầy, cô giáo từ điểm xuất phát và mẫu số chung, có cách tiếp cận khoa học, nhìn nhận thực tiễn của riêng mình là chuyện đương nhiên. Từ một góc nhìn khác, có thể thấy hiện tượng ấy phản ánh quá trình dân chủ hóa xã hội ta nơi đời thường cũng như ở chốn hàn lâm.


 


Trong quá trình tiến hóa của nhân loại, công cụ lao động cải tiến không ngừng, dẫn tới đổi thay từ từ hoặc đột biến kỹ năng, phương thức làm ra sản phẩm, để cho con người được hưởng lợi nhờ chất lượng và số lượng những thứ mình làm ra. Quá trình ấy diễn biến chậm chạp. Chẳng cần phải đi đâu xa, hãy trở lại làng quê ta nhìn đủ rõ. Tổ tiên ta từ ngày dựng nước và cả thời gian dài trước đó, đã tồn tại dựa vào hai nghề cơ bản: chăn nuôi, trồng trọt. Những con thú con cầm hoang dã được thuần dưỡng ủn ỉn trong chuồng, tục tác gọi con, con chó giữ nhà con mèo bắt chuột, con trâu dẫn đầu cơ nghiệp... Rồi cái cảnh con trâu đi trước cái cày theo sau, bám mặt cho đất bán lưng cho trời của bao thế hệ... Phải chờ cả mấy nghìn năm, con người mới ứng dụng được cơ học, hóa học, sinh học, vi sinh học… vào nông nghiệp, tạo nên những đột phá. Tuy nhiên đó là chuyện nước ngoài, ta còn chậm chân hơn nhiều. Này, bạn vẫn cùng gia đi lên vùng núi nghỉ mấy ngày lễ kéo dài, bạn có để ý tiếng mõ tre nhịp nhàng vào lúc hoàng hôn từ những con trâu đi kiếm ăn trên đồi thủng thẳng trở về chuồng nhai lại? Tiếng mõ tre gợi cảm ấy xuất hiện từ thuở nào mà nay còn tồn tại kia?


Trưa nay tôi vừa nhìn trên tivi phóng sự tỉnh Thái Bình được mùa lúa. Hào hứng ngó theo chiếc máy gặt bon bon hút những chuỗi hạt vàng vào bụng, cạnh đấy là cảnh mấy người đàn ông xếp các bao tải đầy ắp thóc lên xe. Hiện đại đấy chứ. Nhưng chỉ vài tích tắc sau trên màn ảnh hiện lên cảnh mấy chị lom khom gặt lúa bằng cái hái cái vằng thời tổ tiên ta để lại.


 


So với nhiều ngành nghề khác, nghề báo ra đời muộn rất nhiều. Có người bảo tờ trát của quan trên dán trước điếm canh đê, tiếng loa anh mõ thông báo quyết định của các cụ lão làng, đó là báo chí hay tiền thân báo chí. Vâng, nhưng phải chờ đến khi hội đủ mấy điều kiện tối thiểu như mục tiêu xác định, sự ổn định về hình thức, định kỳ về thời gian, vv... thì thì báo chí mới thật sự là báo chí, nghề báo chuyên nghiệp mới thật sự ra đời, và từ bấy đến nay nhiều lắm cũng bốn trăm năm là cùng. Bốn trăm, so với nhiều nghìn thậm chí cả chục nghìn năm của hái lượm, săn bắt, trồng tỉa... Vậy mà trong khoảnh khắc thời gian ấy, sự biến chuyển theo hướng đi lên của báo chí thế giới nhanh không có bất kỳ nghề nào khác có thể sánh bằng. Chỉ cần một đời người cầm bút thôi, đủ cảm nhận những bước đổi thay, quá trình tiến hóa. Xin được hỏi các đồng nghiệp trẻ ra đời sau chiến tranh: các bạn có bao giờ nhìn thấy các bát chữ in đúc rời mà các bác công nhân tay lấm dầu mực ngày đêm cần mẫn xếp từng chữ từng dòng để làm ra những cột báo vào thời lớp chúng tôi hành nghề, mà nay nhiều người còn sống cả đây.


Tôi có dịp gặp và chuyện trò với một nhà báo cao tuổi làm việc cho hãng NHK Nhật Bản, chuyên gia về Việt Nam. Ông cho biết năm 1954 bay từ Tokyo sang Genève thông tin về Hội nghị lập lại hòa bình ở Việt Nam, ông phải mang theo không dưới 40kg đồ nghề lỉnh kỉnh cùng mấy người phục vụ. Đến phiên kết thúc Hội nghị bốn bên tại Paris năm 1972 cũng về Việt Nam, dụng cụ phóng viên mang theo đã gọn nhẹ hơn nhiều. Còn đến nay thì..., ông nhún vai cười tủm, chẳng cần nói tiếp.


Lại nhớ những năm 1980, tôi được cấp trên giao làm việc với Khoa Báo chí Trường Tuyên huấn TƯ (nay là Học viện Báo chí - Truyền thông). Khoa chỉ có một cuốn sách in typo duy nhất và không hẳn giáo trình, đó là tập hợp những bài nói của một số nhà báo đàn anh về phóng sự, xã luận, thông tấn, thời cuộc… thiên về kinh nghiệm thực tiễn nhiều hơn lý thuyết. Còn các giáo trình đích thực mới có in ronéo, các giảng viên chưa ai đồng ý cho ra sách bởi khiêm tốn cho những cái mình làm ra chưa xứng tầm, chủ yếu lặp lại các giáo trình học được ở nước ngoài là chính. Sau Đại hội VI của Đảng năm 1986, vấn đề đặt ra cấp bách: Muốn đổi mới tư duy, đổi mới phong cách báo chí, phải đổi mới việc đào tạo cán bộ báo chí và như vậy, trước hết phải đổi mới giáo trình. Ai làm công việc ấy nếu không phải là các thầy, cô giảng viên đương nhiệm?


Ngày nay, muốn đưa nền báo chí nước ta tiến lên chuyên nghiệp cao hơn, vươn tới hiện đại kịp các nước phát triển, nhất thiết càng phải đào tạo, nâng cao đội ngũ nhà báo có bản lĩnh và ngang tầm thời đại. Nói đào tạo là nói giáo trình. Sinh viên thực tập cũng tựa vào kiến thức thu nhận từ các giáo trình. Sự nở rộ và cập nhật hóa nội dung và cách giảng dạy nghề báo tại các học viện, trường đại học nước ta hiện nay là hệ quả sự kiên trì thực hiện một chủ trương lớn đã có từ lâu của Đảng và Nhà nước.


Có một yêu cầu thường trực hiển hiện trước mọi ký giả đang hành nghề. Rõ ràng không thể chỉ học một lần là đủ, có cái bằng trong tay là cứ thế bươn chải cả đời. Tu nghiệp, nâng cao là yêu cầu xuyên suốt đời nghề của bất kỳ ai làm báo chí, truyền thông. Hãy nhìn kia, lứa em út chúng ta - nói về tuổi đời - đang chuẩn bị vào nghề, các em được học và tập nhiều điều chúng ta mấy ai từng được biết!


 


Trở lại giáo trình của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Dững. Tôi không có điều kiện và cũng không đủ trình độ đi sâu luận bình, phản biện, đánh giá nội dung tác phẩm của ông cũng như bất kỳ giáo trình nào. Tôi chỉ muốn nói lên cảm giác thú vị và thoải mái khi đọc Cơ sở lý luận báo chí. Các vấn đề mang tính hàn lâm được PGS.TS Nguyễn Văn Dững trình bày có hệ thống, cấu trúc mạch lạc, cân đối, ngôn từ dễ tiếp nhận, không quá nhiều thuật ngữ cao xa hay đi sâu quá vào chuyên ngành. Giáo trình gồm 9 chương, toàn những đại vấn đề: Khái quát về truyền thông, Quan niệm chung về báo chí, Tổng quan các loại hình báo chí, Công chúng báo chí, Chức năng xã hội của báo chí, Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động báo chí, Tự do báo chí, Lao động báo chí, và cuối cùng Nhà báo - chủ thể hoạt động báo chí. Mỗi chương phân làm ba tiết, nhiều lắm bốn tiết là cùng.


Điểm khác biệt của giáo trình này với các cuốn sách khác, là tác giả đã có cách tiếp cận báo chí hiện đại rất rõ ràng, có lối đi riêng, theo hướng lý thuyết báo chí – truyền thông hiện đại. Ví dụ như, trên nền tảng lý thuyết truyền thông tác giả mở lối vào truyền thông đại chúng; và từ đó tiếp cận các vấn đề lý luận báo chí ngày nay. Có lẽ vì vậy, cuốn sách đề cập đến vấn đề tự do báo chí vừa rất “phóng khoáng” nhưng lại bảo đảm tính nguyên tắc, vừa rất kinh điển, nhưng lại đầy ắp hơi thở cuộc sống báo chí hôm nay.


Tác giả cập nhật hóa kiến thức cho sinh viên từ nguồn tổng hợp đến cách luận bàn, phân tích các luận điểm khác nhau của nhiều học giả trong nước và nước ngoài về cùng một chủ đề, từ đó trình bày kiến giải của mình. Cũng có trường hợp, ông đặt cạnh nhau một loạt ý kiến rồi định hướng để sinh viên tự mình nghĩ suy, lựa chọn.


Đọc giáo trình của PGS.TS. Nguyễn Văn Dững cũng như một số giáo trình khác tình cờ tiếp cận được, bao giờ tôi cũng cảm nhận mình vừa học thêm được nhiều điều mới. Và lần nào cũng vậy, tự nhiên trong lòng nảy ra một cái gì giống như sự ganh tị các bạn trẻ: Giá mà mình có cơ hội được học sớm những điều này ngay khi vào nghề, có phải đỡ tốn biết bao thời gian và công sức mày mò! Nghĩ buồn cười, và rõ ràng lẩm cẩm nữa, nhưng thực tế nó là như thế.


Tôi vẫn nghĩ các giáo trình, các chuyên khảo báo chí truyền thông không chỉ dành cho sinh viên nhập môn hay muốn có trong tay bằng cấp cao hơn. Thưa các đồng nghiệp thân quý của tôi đang năng nổ hành nghề, tiếng tăm nổi sóng triều cường, nên chăng thi thoảng chúng ta bớt chút thời gian ngàn vàng để “ngó lại”, từ đấy nhìn nhận sáng tỏ cái vốn kiến thức bản thân nay đến đâu và kinh nghiệm tác nghiệp của mình đã đủ để ganh đua cùng đồng nghiệp năm châu? Nói vậy nghe cũng khó xuôi tai, nhưng yêu cầu của báo chí truyền thông hiện đại, của cuộc sống ngày nay, thực tế nó là như thế.


 


 ĐÃ MANG LẤY NGHIỆP VÀO THÂN


 


Nhận được cuốn sách mới in của nhà văn Đoàn Minh Tuấn gửi từ Thành phố Hồ Chí Minh, tôi thoáng ngạc nhiên và rất mừng. Ngạc nhiên vì thi thoảng thăm nhau qua điện thoại, tôi hỏi dạo này có viết đều không, thường nhận được hai từ đáp giọng hơi buồn: “Đọc thôi!” Mừng vì ông đã bước vào tuổi 85, lại nghe nói người không được khỏe - đến tuổi này ai chẳng bệnh - hóa ra ông vẫn túc tắc viết.


Về lại Gò Công, tập truyện ngắn chọn lọc gồm truyện ngắn bình thường, truyện ngắn lịch sử và truyện cực ngắn. Truyện mới nhất, “Ông tướng làng Tó”, nhân vật chính là danh sĩ Ngô Thời Nhậm, vừa in trên tạp chí Cẩm Thành tỉnh Quảng Ngãi hồi đầu năm (2016). Đọc truyện này, nhà thơ Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam thốt lên: “Lần đầu tiên trên văn đàn, đọc truyện Ông tướng làng Tả Thanh Oai viết về Ngô Thời Nhậm, chưa có tác giả nào khái quát thành công như vậy. Đoàn Minh Tuấn đã khắc họa và dựng được hình tượng một vị tướng tài ba, văn võ song toàn, hào hùng như thế. Cảm ơn tác giả”. (Trích “Lời thưa” của tác giả in đầu tập truyện). Và Chủ tịch Hội đã quyết định tài trợ cho việc xuất bản tác phẩm.


Nhà văn Đoàn Minh Tuấn quê tỉnh Quảng Ngãi, tham gia công tác sớm, từ tháng 8 năm 1945. Xuất thân Trường võ bị Liên khu 5, nhưng tập kết ra Hà Nội lại chộp luôn cái bằng cử nhân văn chương ở ngôi trường danh giá nay là Đại học Quốc gia Hà Nội. Làm việc tại Đài Tiếng nói Việt Nam, báo Thống nhất, Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh, Tổng biên tập Tạp chí Toàn cảnh của Bộ Văn hóa - Thông tin trước ngày nghỉ hưu.


Ông viết nhiều, viết khoẻ, đa dạng. Cuốn “Bác Hồ cây đại thọ” gồm những mẩu truyện bình dị, lời văn trong sáng, phản ánh được phần nào phong cách của lãnh tụ kính yêu, vì vậy được bạn đọc trẻ cả nước ưa chuộng, đến nay đã tái bản 19 lần.  Cũng như vậy, bộ truyện “Núi sông hùng vĩ” gồm ba tập tái bản 5 lần. Giáo sư Hoàng Như Mai nhận xét: Đoàn Minh Tuấn đã bắc một nhịp cầu từ quá khứ sang hiện tại, trình bày được mối liên quan mang tính quy luật giữa truyền thống với cách mạng và cho ta thấy được con đường tiến hóa chứa chan hy vọng của dân tộc ta...”. Cuốn “Với Bác Nguyễn” cũng đã tái bản 5 lần. Nhà văn Tô Hoài nhận xét: “Những giai thoại của Đoàn Minh Tuấn viết về Nguyễn Tuân cho thấy được một cách viết giai thoại chân thực, tình cảm của một nhà văn với người bạn văn tiền bối thân quý. Qua những kỷ niệm đôi khi nho nhỏ và hằng ngày mà sâu sắc, Đoàn Minh Tuấn đã cung cấp cho bạn đọc thấy được tính cách Nguyễn Tuân bằng những sự việc và số liệu có giá trị khoa học, nhân văn và nghệ thuật”. Nhiều bài vê thời cuộc của ông, i văn hoạt bát, sắc sảo. Viết ra giấy trắng mực đen còn cân nhắc, phát biểu tại hội nghị thì lời lẽ thường thẳng đuột, có khi ngang như cua. Mấy lần nghe ông đăng đàn tranh luận tại các đại hội Hội Nhà văn Việt Nam, tôi nghĩ bụng: “Ông này đúng chất dân vùng Ngũ Quảng nhà mình: “Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co...”, thoạt nghe xốc nổi mà cũng thâm trầm ra phết”.


Nghĩ sao nói vậy, chẳng nể vì ai, nhưng cư xử với bạn hữu thì đầy tình nghĩa. Ông giao du rộng, bạn bè đủ lứa, trong Nam ngoài Bắc. Nghe nói một lần, tại cuộc họp hay hội thảo gì đó về nhà văn quá cố Nguyễn Tuân, ban tổ chức trân trọng giới thiệu: “Nhà văn Đoàn Minh Tuấn, bạn của Nguyễn Tuân, ông đứng lên hướng về cử tọa nói không cần micro: “Tôi không phải là bạn của Nguyễn Tuân. Tôi thuộc lớp đàn em, chơi với cụ là để điếu đóm cho cụ thôi”.


Mỗi lần nghe tin tôi vào Nam, Đoàn Minh Tuấn thường tìm đến thăm hỏi chuyện trò. Trước còn lai rai với nhau mỗi người một vại bia, nay hai anh em chia nhau một lon mà cái ly của ông có hôm không cạn. Ông lắc đầu: “Con nó không cho đi xe máy nữa. Gần hay xa cũng taxi thôi”. Đoàn Minh Tuấn kém tôi mấy tuổi, mỗi lần bắt tay tạm biệt tôi thường chọc: “Này, nếp sống văn minh phải xếp hàng thứ tự, không được phép chen ngang đi trước, nhớ nghe!”. Ông cười: “Chuyện này xin nhường nhịn tất”.


Tôi dông dài như trên để hiểu thêm phong cách cuốn sách mới in của Đoàn Minh Tuấn, “Về lại Gò Công”. Có một số truyện hay, nhất là truyện viết về nhân vật lịch sử như Ngô Thời Nhậm, Trương Định gốc Quảng Ngãi, hay ông Cử á nguyên Lê Trung Đình bị hành quyết bên sông Trà Khúc ở tuổi 22 vì chống Pháp. Có những truyện thú vị, cốt chuyện giản đơn mà ý nghĩa, lời văn ngắn gọn, tự nhiên. Cũng có một vài truyện cực ngắn, giao thoa giữa văn học và báo chí, tuy vậy vẫn đậm chất văn Đoàn Minh Tuấn. Tôi lại nghĩ: “Tay này cao tuổi mà không mắc cái tật nói dai, nói dài, nói dại như mình lắm khi”.


Đọc xong cuốn sách, tôi hơi tiếc cho ông. Có lẽ tại mãi bôn ba công việc, ông đã không dành thời gian làm theo lời khuyên thân tình của cụ Nguyễn tác giả “Vang bóng một thời” nhắn từ Hà Nội ít lâu sau ngày đất nước thống nhất: “Này ông Đoàn Minh Tuấn, ông là người thuộc lịch sử ta và những giai thoại lịch sử Việt Nam - ờ, tại sao ông không viết một truyện dài, truyện vừa lịch sử nhỉ. Tôi chờ cuốn ấy của ông để “bình” trên báo đó” (thư đề ngày 20-7-1976). Tiếc nhưng vẫn mừng cho bạn. “Đã mang lấy nghiệp vào thân”, đến tuổi này mà vẫn làm nên mấy truyện ngắn lịch sử khiến ông Chủ tịch Hội Nhà văn đọc và hào hứng đến thế, đủ gọi là đến đáp thủy chung với nghiệp với nghề rồi.


 


THỜI LUẬN MÀ CUỐN HÚT


 


Thiên nhiên và lịch sử chẳng rõ ưu ái hay trớ trêu, đã sắp xếp đất nước ta vào một vị thế đặc thù. Ưởn ngực ra Thái Bình Dương, ta ngẩng đầu đối mặt mọi ngọn sóng triều cường, mọi xung chấn đột biến của tụ nhiên cũng như của các nền văn minh lớn, xung đột gần xa cùng những hệ lụy phũ phàng của chúng. Chẳng phải là hằng năm ta phải hứng chịu ít ra cũng mươi trận bão táp, cuồng phong; rồi bao đợt gió mùa Đông Bắc tràn về mang theo giá lạnh băng tuyết; những mảng không khí khô nồng từ hướng Tây đến hẹn lại thè cái lưỡi lửa khổng lồ hun nóng một vùng đất từ Tây Bắc vào tận Nam Trung Bộ; những trận gió mùa Tây Nam từ rìa Ấn Độ dương mang theo mưa mùa nhiệt đới thốc lên làm chao đảo thuyền bè trên biển cả? Chẳng phải là một cơn địa chấn xảy ra rất sâu trong lòng đất dưới đáy đai dương ở đâu đó cách ta cả mấy ngàn cây số, sóng thần vẫn có khả năng quệt cái đuôi của nó vào bờ biển nước ta? Bù lại, từ thời thuợng cổ, theo đường biển với gió mùa Tây Nam, tàu thuyền thương nhân lục địa Nam Á mang theo, cùng hàng hoá vật chất đổi trao, ánh sáng tinh thần nền một văn minh lớn và lâu đời nhất hành tinh, bao gồm trong đó các đạo giáo Bà la môn, Ấn Độ, Phật... Đạo Phật nguyên thuỷ  theo đường biển truyền đến nước ta trước, từ đây tỏa lan lên tận bờ sông Dương Tử. Và như thể hùa theo giá rét gió mùa Đông Bắc, tai hoạ ngàn năm Bắc thuộc ập xuống, buộc ta phải chịu đựng, phải chấp nhận trong khổ đau nhưng có chắt lọc nền văn minh Trung Hoa cổ đại trộn pha Lão, Phật, Khổng, để rối Khổng học chiếm ưu thế, khắc dấu ấn đậm sâu của nó vào suốt chiều dài chế độ phong kiến Việt Nam. Các nền văn minh lớn Ấn Độ, Trung Hoa giao thoa, tiếp biến cùng văn minh tại chỗ tạo lập một nền văn hóa bản địa đậm đà bản sắc, tuyệt nhiên không lẫn với ai. Thời cận đại, chủ nghĩa thực dân phương Tây ùa sang. Các nước công nghiệp hóa Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp…giành giật dải đất màu mõ và đông dân cư, để cuối cùng Pháp trụ lại nhờ có tay trong Giám mục Bá Đa Lộc phù trợ chúa Nguyễn Ánh, sau khi nhường nơi khác cho các đối thủ chia phần… Cùng với ách đô hộ thực dân áp bức, bóc lột nhân dân ta đến kiệt cùng, nền văn minh Âu Tây cũng có mang chút ánh sáng nào đó rọi vào bản địa, làm đảo lộn thang bậc giá trị truyền thống nền văn hóa cổ truyền, dù sao cũng tạo điều kiện cho người trí thức Việt nhận biết cái “ta” nó sẽ hòa nhập trong “chúng ta” để làm nên nghiệp lớn. Nói nước Việt Nam thời nào cũng là một “giao lộ” chắc không sai.


Dù sao cũng phải chờ đến Cách mạng tháng Tám mới mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc. Rồi, như mọi người đều biết, chủ nghĩa thực dân cũ và mới mang tới dải đất này mấy cuộc chiến tranh đẫm máu nhất, lâu dài nhất thế kỷ sau Đại chiến thứ hai. Mọi thế lực thù địch cuối cùng đều phải nuốt hận thất bại, nhưng để lại hậu quả nặng nề lên vai dân tộc ta, rất gian nan ta mới xử lý được phần nào, tạo tiền đề mở ra trang sử mới phát triển, hội nhập thời toàn cầu…


Tôi dông dài ngẫm ngợi sau khi đọc xong tập thời luận Việt Nam trước làn sóng thời cuộc của Hồ Quang Lợi. Cuốn này cũng như các tác phẩm khác đã in của anh, tác giả thường hướng về cụm chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều người. Dường như từ khi vào nghề cho tới nay Hồ Quang Lợi luôn nhạy cảm và sắc sảo luận bình mọi “làn sóng, “xung chấn”, “ngọn trào (tên các tác phẩm đã in), anh cốgiải mã các “ẩn số” của thời cuộc qua cái nhìn khoa học, nhờ đó nắm được chìa khóa đi dần đến thành công.


 


Hồ Quang Lợi là cây bình luận thời cuộc sắc sảo của báo chí nước ta ba chục năm nay. Anh thuộc thế hệ nhà báo trưởng thành sau chiến tranh chống Mỹ. Anh vào nghề khi hòa bình đã trở lại, đất nước liền một dải. Hòa bình là hết chiến tranh, là kẻ xâm lăng cuốn cờ về nước, song Việt Nam chưa phải được “thái bình muôn thuở” như ước vọng ngàn đời của dân tộc ta. Chúng ta phải đối mặt biết bao vấn đề khẩn thiết. Chàng trai tốt nghiệp đại học từ châu Âu về nước đúng vào năm 1979, khi biên giới phía Bắc nước ta bị xâm lăng. Hồ Quang Lợi sung vào quân ngũ, qua một khóa đào tạo cấp tốc để nhập cuộc luôn. Tuy nhiên, vũ khí cấp trên trao cho anh không phải khẩu súng mà là cây bút. Anh làm phóng viên báo Quân đội nhân dân tại các đơn vị tiền tiêu. Tình hình tạm lắng dịu, Hồ Quang Lợi vẫn tiếp tục làm làm báo quân đội và nhanh chóng trở thành cây bút viết về thời sự có hơi văn riêng. Các bài thời luận của anh lập luận chặt chẽ, ngôn từ nghiêm cẩn song luôn truyền cảm. Văn anh đậm tính nhân văn, bản chất Quân đội nhân dân Việt Nam.


Rời quân ngũ, anh được chuyển sang làm làm Tổng biên tập báo Hà Nội mới, rồi được bầu vào Thường vụ Thành ủy, làm Trưởng ban Tuyên Giáo.


 


Có lẽ tại anh có nhiều bài viết có chất lượng về thời sự quốc tế, cho nên còn không ít người chưa rõ Hồ Quang Lợi đồng thời có nhiều thời luận, tùy bút, tạp văn… về các vấn đề đối nội. Tập tác phẩm chọn lọc Việt Nam trước làn sóng thời cuộc của anh tập hợp chủ yếu các vài viết các vấn đề trong nước. Đã bàn về “thời” về “cuộc” thì ai cũng có thể “luận” có thể “bình”, qua lăng kính của mình mà kiến giải vấn đề. Nhà báo chuyên nghiệp khác nhà sử học ở chỗ, khi sự kiện* vừa xảy ra, nhà báo tiếp cận luôn, lật qua lật lại, mổ xẻ, xem xét và kịp thời thông tin, sẻ chia kiến giải, trong khi nhà sử học chờ đến khi sự kiện tấu khúc vĩ thanh mới vào cuộc. Nhà báo bình luận thời cuộc không đơn thuần phản ánh ý kiến số đông, chạy theo dư luận mà có trách nhiệm định hướng dư luận. Sứ mệnh nặng nề của báo chí là ở chỗ ấy.


Viết về những sự kiện lịch sử như “Ngàn năm Thăng Long Hà Nội”, “Bảo vệ di sản”, “Phát huy cốt lõi văn hóa cội nguồn”…, bài của Hồ Quang Lợi mềm mại mà súc tích, có chiều sâu. Phải chăng chất kiên cường, uyên bác…, những đức tính phổ biến nơi con người xứ Nghệ gốc gác của anh đã được hòa quyện cùng chất hào hoa, thanh lịch của người dân Kẻ Chợ, nơi anh đã sống bốn mươi năm, chung sức tạo nên đặc trưng nhiều bài viết của anh trong tập sách này?


 


MỘT TẤM LÒNG THÀNH, NHIỀU TƯ LIỆU QUÝ


 


Cuốn sách Bác Hồ với Đài Tiếng nói Việt Nam của Vĩnh Trà (Nxb Chính trị quốc gia) chứa nhiều tư liệu quý, là tấm lòng của cán bộ nhà Đài kính dâng Bác Hồ, người sáng lập đài phát thanh quốc gia, nhân kỷ niệm 70 năm ngày đài phát sóng đầu tiên: 7.9.1945 – 7.9.2015. Nó tập hợp ký ức, ghi chép và hiện vật của nhiều người gộp lại, đặc biệt là các vị có công đặt nền móng cho Đài những ngày Cách mạng Tháng Tám vừa mới thành công, đất nước đối mặt vô vàn gian nguy, giặc ngoài thù trong, nạn đói, nạn dốt, rồi tiếp đó là hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Rất hiếm tổ chức, cơ quan ở nước ta được Bác Hồ đến thăm, làm việc và chỉ dạy đến sáu lần. Đài TNVN là cơ quan thông tin duy nhất trực tiếp truyền đi giọng nói Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình sáng 2-9-1945 ngay đầu giờ chiều ngày hôm ấy, qua làn sóng phát thanh đến với nhân dân Thủ đô Hà Nội, rồi năm hôm sau, đến với đồng báo cả nước và bạn bè trên thế giới.


Sáu lần Bác Hồ đến Đài TNVN trùng hợp với sáu sự kiện lịch sử.


Lần đầu Bác đến Phòng bá âm của Đài đặt tạm tại số 4 phố Phạm Ngũ Lão, Hà Nội, phát biểu trực tiếp trước micro, giải thích với nhân dân về sự cần thiết phải  ký “Tạm ước ngày 6-3-1946”. Ngày nay, hầu như mọi người đều biết, việc Việt Nam ký với Pháp bản Tạm ước là bước đi tuyệt vời, lùi để tiến, hòa hoãn nhằm tranh thủ thời gian, tránh sự đổ vỡ trước mắt dẫn đến hậu quả khôn lường, trong bối cảnh miền Bắc nước ta có mặt 18 vạn quân Tưởng Giới Thạch với danh nghĩa được sự ủy nhiệm của các nước Đồng Minh chiến thắng chủ nghĩa phát xít Đức và quân phiệt Nhật là Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp, cùng 30.000 quân Nhật được vũ trang tận răng, tiếng là đã đầu hàng nhưng vẫn đồn trú tại nhiều nơi trong khi chờ giáo nộp vũ khí. Cùng lúc, đầu tháng 3 năm 1946, vẫn theo uỷ nhiệm của Đồng Minh, đạo quân viễn chinh Pháp do tướng Lederc chỉ huy đã rập rình ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, chuẩn bị đổ bộ lên miền Bắc thay quân Tưởng đã có chủ trương rút dần về nước. Có một điều rất ít người tường tận, kể cả hôm nay, là vào thời điểm ấy, do nhất thiết phải tranh thủ đợt triều cường thì các các chiến hạm to đùng của quân đội Pháp mới có thể cập bến cảng Hải Phòng, cuộc đổ bộ dự kiến của quân Pháp nhất thiết phải diễn ra trong nội ba ngày, từ 5 đến 7 tháng 3 năm 1945, cho dù hai bên Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Pháp có đạt được thỏa thuận hay không. Hãy tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra khi ba đạo quân nước ngoài cùng có mặt trên đất nước ta mà không được sự thỏa thuận của Chính phủ Việt Nam, trong khi nhân dân nước ta từ Bắc chí Nam đang sùng sục căm thù và quyết tâm chiến đấu, không cho phép Pháp áp đặt lần nữa ách đô hộ của họ lên đầu dân tộc ta, mà binh lực ta lúc này thì kém xa đạo quân xâm lược!


Để tránh mưu đồ các phần tử xấu tay sai của nước ngoài tìm cách phá hoại, cuộc đàm phán giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và phía Pháp do cao ủy Jean Sainteny được uỷ quyền làm đại diện, tiến hành thật khẩn trương nhưng kín đáo. Lễ ký kết chính thức được tiến hành hồi 16 giờ 30 ngày 6 tháng 3. Cùng tiếp ký với Hồ Chủ tịch có nhà lãnh đạo Việt Nam Quốc dân đảng hồi đó là ông Vũ Hồng Khanh.


Tình hình miền Bắc lúc này hết sức phức tạp. Các đảng phái phản động ra sức xuyên tạc, cho là Chính phủ Việt Minh thỏa hiệp với Pháp, thậm chí còn xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho là Bác “bỏ rơi Nam Bộ”, là người “con trai của Pháp”, “đồng lõa của Lederc”, thậm chí “bán nước”. Trên thực tế, trước đó, ngày 5-3-1945 Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng họp tại làng Canh, tỉnh Hà Đông, đã nhất trí quyết định chủ trương tạm thời hòa hoãn với Pháp.


Chính vì vậy, ngay cuối buổi chiều ngày 6 tháng 3 và trong đêm hôm ấy, bọn phản động đồn loạt đặt điều nói xấu Việt Minh, kích động và làm phân tâm một số người dân Hà Nội.


Giáo sư Pháp Paul Mus, cựu thành viên Trường Viễn đông Bác Cổ, Hà Nội, thời gian này bị sung quân và làm trợ lý cho Thượng sứ Pháp tại Đông Dương là đô đốc D’Argenlieu, phân tích tại tác phẩm nổi tiếng của ông nhan đề Vietnam, Sociologie d’une guerre, khẳng định sự cần thiết của bản Tạm ước ký ngày 6.3.1946. Ông viết: Trong trường hợp hai bên Việt Nam và Pháp không thỏa thuận được với nhau, tướng Lederc và tướng Lư Hán sẽ ký riêng tại chỗ một hiệp định, quân Tàu đồng ý án binh bất động cho quân Pháp an toàn đổ lộ lên cảng Hải Phòng. “Giữa hai gọng kìm ấy cùng một lúc xiết lại, Việt Minh sẽ bị dập nát tan tành” – tác giả hấn mạnh.


Thế nhưng ngay cuối buổi chiều 6-3-1946, khi bản Tạm ước vừa được công bố và trong đêm hôm ấy, bọn phản động tìm mọi cách đặt điều kích động, giống “như những làn sóng ngầm” làm phân tâm một số người dân thủ đô. Sáng 7-3-1946, thành phố Hà Nội tổ chức cuộc mít tinh lớn tại Quảng trường Nhà hát lớn nhằm giải thích với nhân dân về sự cần thiết phải ký Tạm ước, và kêu gọi nhân dân ta bình tĩnh. Nhà báo Pháp Jean Lacouture, phóng viên nước ngoài duy nhất có mặt tại cuộc mít tinh, kể lại tóm tắt như sau: Một biển người mênh mông, nôn nóng, trong đó luồn lách những dòng chảy ngầm kích động bạo lực và manh động. Từ ban công Nhà hát lớn, các thành viên Chính phủ Việt Nam lần lượt nói chuyện với đồng bào, nhưng không ai đủ sức thuyết phục. Giữa lúc ấy xuất hiện một cụ già mảnh dẻ, mái tóc bắt đầu ngả bạc phất phơ trong gió, lưng hơi còng dưới chiếc áo khoác ngoài cũ kỹ: vị lãnh tụ lão thành Hồ Chí Minh. Cụ đưa hai tay về phía quần chúng như thể nhằm làm giảm bớt ngọn trào phấn chấn hoan hô Cụ, và bắt đầu giải thích vì sao cần có Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3. Cuối cùng cụ nói: “Tôi, Hồ Chí Minh, tôi suốt đời đấu tranh vì tự do của đồng bào, vì độc lập của Tổ quốc, đồng bào biết tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước. Đồng bào hãy tin tôi, Hồ Chí Minh không phải là người bán nước!”. Một người bạn và tôi - lời Jean Lacouture - lúc ấy chúng tôi đứng quá xa khán đài để có thể nhìn thấy nước mắt Cụ Hồ chảy, nhưng nghe rõ nước mắt cụ tràn trề qua giọng nói. Những người dự mít tinh đều xúc động tận tâm can. “Bản Hiệp định sơ bộ vậy là được thông qua từ cơ sở” (hai từ “cơ sở” tác giả đóng trong ngoặc kép)[1].


 


Đúng. Bác Hồ đã thuyết phục nhân dân thủ đô. Nhưng còn đồng bào cả nước, đặc biệt đồng bào Nam Bộ thường xuyên hiện hữu trong trái tim người, thì bằng cách nào đây? Và Bác Hồ đến luôn Phòng bá âm Đài Tiếng nói Việt Nam giữa trưa ngày 9.3.1946. Nhà báo Vĩnh Trà kể: “...Ông Lê Quang Lân, công nhân kỹ thuật đầu tiên của Phòng bá âm nhớ lại: Lúc bấy giờ ông Nguyễn Văn Nhất, biên tập viên kiêm phát thanh viên của Đài đang chuẩn bị đọc thẳng bản tin trưa thì được tin Bác Hồ đến phát biểu trực tiếp. Bác đến bất ngờ, chỉ có cận vệ đi theo. Ông Nhất không biết nội dung Bác sắp nói là gì nên chỉ giới thiệu vắn tắt: “Mời đồng bào lắng nghe Hồ Chủ tịch nói chuyện!”. Nói xong ông Nhất lặng lẽ rời khỏi ghế, nhường chỗ cho Hồ Chủ tịch. Bác Hồ nhẹ nhàng ngồi trước micro, giọng bác ấm và xúc động: “Thưa đồng bào, chiến sĩ Nam Bộ, thưa đồng bào cả nước!”. Bác giải thích ngắn gọn vì sao phải có Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3. Bác khuyên đồng bào bình tĩnh, không nghe kẻ địch xuyên tạc, phải đoàn kết rộng rãi, tin tưởng Chính phủ sẽ chèo lái con thuyền Việt Nam qua cơn sóng gió này. Hãy cùng nhau muôn người như một, đồng lòng đồng sức xiết chặt hàng ngũ xung quanh Chính phủ, đưa cách mạng đến thắng lợi. Cuối cùng Bác dừng lời, nhìn một lượt mọi người có mặt trong Phòng bá âm lúc ấy rồi xúc động nói: “Đồng bào hãy tin, Hồ Chí Minh không phải là người bán nước!”.


Nói theo cách của Jean Lacouture: “Khi Bác Hồ rời Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, bản Hiệp định sơ bộ ngày 6.3.1946 đã được cả nước thông qua từ cơ sở”!.


 


Nhà báo, nhà văn Vĩnh Trà (Trần Đức Nuôi) có 35 năm làm việc ở Đài TNVN. Anh đã xuất bản hơn chục tác phẩm: phóng sự, bút ký, truyện ngắn, tiểu thuyết. Cuốn Bác Hồ với Đài Tiếng nói Việt Nam, dày vỏn vẹn một trăm trang, có lẽ là cuốn anh đầu tư nhiều công sức và tâm huyết nhất. Mở đầu với chuyến đi cách đây 15 năm sang thành phố Quảng Châu, Trung Quốc thăm nơi Bác Hồ mở lớp đào tạo cán bộ và làm báo Thanh niên (1925). Rời nhà lưu niệm, nhìn trời thu Quảng Châu ngập tràn sắc hoa phượng vàng quyện trong nắng nh, Vĩnh Trà cảm nhận: “Mùa thu. Mùa thay lá. Mùa của những đổi thay. Mùa thu cách mạng!”.


Cuốn sách kết thúc với lời kể của một công nhân, cán bộ kỹ thuật đã qua mốc xưa nay hiếm. Ông tên là Lê Võ, hồi nhỏ học trường Collège Cần Thơ, làm việc tại Đài Phát thanh Nam Bộ kháng chiến đóng giữa Đồng Tháp Mười từ đầu kháng chiến chống Pháp. Tập kết ra Bắc, ông làm công nhân Phòng bá âm Đài TNVN, và nhiều lần được gặp Bác Hồ với nhiệm vụ ghi âm thơ chúc Tết của Người. Ấn tượng sâu đậm nhất trong đời ông Lê Võ là lần ông được cùng Giám đốc Đà Trần Lâm và mấy nghệ sĩ ngâm thơ lên Phủ Chủ tịch trực tiếp ghi âm lời Bác phát biểu mừng xuân 1968.


“... Bác Hồ đến! Bác hồng hào, mạnh khoẻ. Tôi nhìn Bác thật lâu như ngắm thay cho bà con miệt vườn, sông nước Nam Bộ chưa một lần may mắn được gặp Bác... Bác đọc thư chúc mừng năm mới rồi nhẹ nhàng hỏi: Các cô, các chú có ý kiến gì đóng góp cho bài của Bác?


Trước khi chúng tôi ra về, Bác tặng anh Trần Lâm lẵng hoa tươi và thiệp hồng Chúc mừng năm mới đến cán bộ, nhân viên Đài, cùng gói kẹo cho các chị, bảo mang về chia cho các em, các cháu ở nhà. Cánh đàn ông chúng tôi có mặt hôm ấy được Bác cho mỗi người một điếu thuốc lá thơm.


Đúng giao thừa, sau lời thơ của Bác: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua... Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!” truyền qua làn sóng Đài TNVN, quân dân miền Nam nhất tề nổ súng, tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công... Tôi tâm đắc, tôi nhớ mãi lời bình sau bản tin thời sự chiều mùng một Tết Mậu Thân 1968: Lời Bác gọi ấy là lời sông núi. Lời Bác gọi ấy là mùa xuân đến.


Cụ già đã qua cái mốc xưa nay hiếm Lê Võ kể lại kỷ niệm trên cho tác giả Vĩnh Trà nghe giữa thành phố Cần Thơ đang đổi mới từng ngày, từ ngôi nhà nhìn ra dòng sông Hậu miệt mài chở phù sa cùng hoa lục bình tím lãng đãng trôi về biển. Kể xong, bác thợ già thành kính đứng lên chắp tay trước chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh...”.


 


ĐẸP MÃI TÌNH NGƯỜI NỢ ĐỜI


                                                                                                  


Tập văn tuyển Có một ngày như thế - Đẹp mãi của Nguyễn Xuân Lương vừa ra mắt bạn đọc là một cuốn sách đẹp. Đẹp về hình thức đã đành, đẹp về nội dung, đẹp ở tấm lòng của tác giả đối với người, với đời. Hơn chục năm trở lại đây tôi được đọc Nguyễn Xuân Lương khá nhiều qua những bài anh đăng trên các báo, đọc xong lần nào cũng có thoáng chút băn khoăn. Lần này đọc tập văn tuyển của anh, nói đọc lại cũng được, ấn tượng ấy đậm hơn bao giờ. Mừng anh nhiều mà cũng có tiếc cho anh. Giá mà... Cuộc đời không có giá mà. Lịch sử càng không có giá mà. Bản thân tôi từng qur quyết như vậy. Thế nhưng có phải trong cuộc sống thường ngày của mỗi chúng ta, lòng ai chẳng có lúc áy náy Giá mà?


Giá mà… cây bút Nguyễn Xuân Lương được đời dành cho nhiều thời gian vật chất hơn để anh thoải mái rong ruổi theo đam mê của mình từ khi còn là anh bộ đội Cụ Hồ phơi phới tuổi hai mươi đã bộc lộ năng khiếu văn chương qua nhật ký hành quân, mấy năm sau vào nghề báo tại Đài phát thanh. Đời đây là... tổ chức. Nguyên nhân sâu xa, tôi nghĩ tại cốt cách của chính Nguyễn Xuân Lương. Anh chịu đọc, chịu ghi, chịu học, thường xuyên tích luỹ kiến thức. Cách làm việc của anh bài bản chu đáo. Hành xử của anh có lý có tình. Anh thành thạo chế độ, chính sách văn phòng, bang giao quốc tế. Và anh sẵn sàng phục vụ. Có phải vì vậy mà tổ chức thường giao cho anh những công việc đòi hỏi trước hết cái nghiêm túc, chỉnh chu: chánh văn phòng, trưởng ban đối ngoại… Phân công anh phụ trách những việc ấy thì có thể yên tâm, không lo vấp những sơ xuất ngoài ý muốn đối với bạn bè gần xa. Giao anh viết báo cáo tổng kết hoặc chuẩn bị cuộc họp thì dù thời gian hạn hẹp, cầm chắc tập thể sẽ khỏi phải chỉnh lý nhiều. Đã có lần tổ chức phân công anh phụ trách một tờ báo. Vừa làm xong đề án, anh đã phải giã từ đi nhận nhiệm vụ khác.


Trở lại với tập Có một ngày như thế... Tôi vừa nói mừng anh nhiều mà cũng hơi tiếc cho anh. Giá anh có nhiều thời gian vật chất hơn, hẳn cống hiến của Nguyễn Xuân Lương cho báo chí còn đồ sộ gấp mấy. Thế nhưng chẳng phải ông cha ta thường dạy: văn hay chẳng lọ ngắn dài. Còn thiên hạ chẳng tâm niệm “quý hồ tinh” đó sao?


Từ sau ngày được nghỉ hưu, nhà báo Nguyễn Xuân Lương viết nhiều, và càng viết, bút lực anh càng thêm khởi sắc, đọc càng thấy ngon lành, nói như lời nhà văn Đoàn Minh Tuấn “càng già trái càng ngọt”.


Ở trên tôi có nói tập văn tuyển của Nguyễn Xuân Lương tập đẹp ở tấm lòng. Ngẫm ngợi một chút về bố cục tập sách, ta sẽ thấy cung cách và tâm tình người viết. Bắt đầu tác giả dành bảy bài nói lên lòng biết ơn Bác Hồ và những thu hoạch khi học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh. Tiếp đó, kỷ niệm về đại tướng Võ Nguyên Giáp. Và không thể thiếu, ân đức vị danh tướng thời vua Lê Lợi đánh đuổi quân Minh: Thái bảo Huân quận công Nguyên Tuấn Thiện, mà Xuân Lương là một hậu duệ.


Phần hai chọn một số bài tác giả viết về quê nhà, xứ sở: từ cái làng quê nơi có bà ngoại cùng ngôi nhà cổ ông cha để lại, con hói Trùa và sông Ngàn Phố đến, Điện Biên Phủ và Điện Biên Phủ trên không.


Như thể chờ trả xong nghĩa với quê hương, tác giả mới dành phần kể chuyện mình vi vu các nẻo đường xa xứ người. Và cũng cần xuất hành từ Hương Sơn và Ngàn Phố, có Phố Hiến có Mai Châu trong người, mới đàng hoàng ngửa mặt nhìn Paris và Thành Đô, Seoul hay Bangkok, Berlin hoặc Praha..., tôi nghĩ vậy có phải, thưa nhà báo Nguyễn Xuân Lương?


Phần tiếp, tác giả dành cho nghề và đồng nghiệp. Từ các nhà báo liệt sĩ và những tên tuổi thế hệ trên mà anh có dịp tiếp xúc: Hoàng Tùng, Quang Đạm, Trần Công Mân, Trần Lâm... đến bạn bè cùng lứa hoặc trẻ hơn anh, với bất kỳ ai dường như Xuân Lương cũng đằm thắm nghĩa tình.


Và như một sự tất nhiên, phần cuối tập văn tuyển là cơ hội để tác giả trải lòng qua những vần thơ làm vào lúc xế bóng cuộc đời.


 


Tôi nhất trí với nhận xét của ông bạn già ở thành phố Hồ Chí Minh, nhà văn Đoàn Minh Tuấn: Văn Nguyễn Xuân Lương chân thực, nhạy bén thời sự, sắc sảo chính kiến, phong phú nội dung. Và còn biết nói gì hơn ngoài việc lặp lại nhận xét của cây đại thụ văn học, báo chí nay đã đi xa, nhà văn Tô Hoài. Ông viết: Đọc ký của Nguyễn Xuân Lương ta cảm như có cái gì đó cuồn cuộn bồng bềnh như dòng nước sông La, như câu mở đầu bài hát để đời của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý phỏng lời thơ nhà cách mạng lão thành Nguyễn Xuân Linh: “Đi mô cũng nhớ về Hà Tịnh...: Xin mạn phép: “Tịnh” theo giọng nói dân gian chứ không phải “Tĩnh” viết đúng văn bản pháp quy, thì mới thấm hết cái bồng bềnh của sóng nước sông La.


Đã đi vay thì vay cho trót. Tôi vay luôn ý của tác giả Nguyễn Xuân Lương làm đầu đề đôi điều cảm nhận sau khi gấp lại tập sách này: “Nghề báo là nợ đời, tình người”. Đúng vậy, và đẹp mãi cái tình cái nợ của bất kỳ ai đã trót mang cái nghiệp này vào thân.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Thời gian không đổi sắc màu. Tập Phê bình – Tiểu luận của Phan Quang. NXB Văn học, 6-2017.


www.trieuxuan.info







1 Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2009, tái bản 2010.




1 Dùng gậy tre ngắn, đập những bắp ngô xếp trên dàn cho rơi hạt ngô xuống đất.




2 Dắt trâu dẫm dàn lúa xếp trên sân cho hạt lúa rụng khỏi bông.




* “Sự kiện” trong báo chí học, được hiểu là một việc đáng quan tâm vừa mới xảy ra, có quá trình diễn biến, và sẽ tạo nên hệ quả nhất định.




[1] Ghit theo sách “Hô Chi Minh”, Nxb Seuil, Paris 1967 (PQ) .




 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sóng lừng (VN. Mafia), tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Giao thông Vận tải, 1991. - Nguyễn Bích Thu 12.11.2019
Về Bogdanov và tiểu thuyết “Tinh cầu Đỏ” - Vũ Đình Phòng 07.11.2019
Một Week end ở Điện Biên Phủ - Phan Quang 07.11.2019
Ngụ ngôn giữa đời thường: Việt Nam giữa Canada; Ta giữa Tây; Dân tộc giữa nhân loại - Đỗ Quyên 01.11.2019
Đào Duy Anh nói về sự "Hán hóa" (1950) - Đào Duy Anh 31.10.2019
Sự kiêu hãnh quá đáng là dấu hiệu cho thấy nhiều điều không tốt đẹp - Vương Trí Nhàn 31.10.2019
Chỉ là đợt thử mắt bên phải - Đỗ Quyên 28.10.2019
Có một cuốn sách hay đang giảm giá - Mạc Yên (Phạm Thành Hưng) 25.10.2019
Hà Nội, một mảnh hồn xưa - Phan Quang 25.10.2019
Hiện đại và nhân văn - Phan Quang 25.10.2019
xem thêm »