tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27653269
Lý luận phê bình văn học
07.12.2018
Vũ Hạnh
"Thành Cát Tư hãn" của Vũ Khắc Khoan


Trong cái không khí tiêu điều của ngành thoại kịch xứ ta, Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan thổi về cơn gió bốc lên từ những chiều đông của miền sa mạc.


Vở kịch gồm có ba hồi và thêm hai màn, một màn giáo đầu, một màn vĩ thanh.


Ba hồi của kịch xảy ra trong chiếc lều vải của vị Đại Hãn, khi tia nắng quái chiều đông gởi vào những màu ánh sáng vàng cọt cuối cùng. Hài màn, mở đầu và kết thúc, khép mở trong đêm tăm tối, chập chờn lửa củi một nơi quán vắng nghèo nàn.


Trong Hồi thứ nhất, người ta được thấy Thành Cát Tư Hãn đối thoại với một ông già, sứ giả của dân Tây Hạ đã thua trận rồi, nhà vua đã chết, kho vàng trống không, ông già kính dâng lên vị Đại Hãn bảo vật cuối cùng là mấy quyển sách để xin Đại Hãn lui quân. Đại Hãn không lui, ngài đang bận tâm mua chuộc Thái Tử Tây Hạ và diệt cho xong những mầm đối kháng cuối cùng. Đại tướng Dương Bân trở về, báo tin thái tử đã bị giết chết bởi Cổ Giả Trường một kẻ tâm phúc của chính thái tử, không muốn Thái tử đầu hàng. Hành hung bí mật của Cổ chỉ có một người biết rõ. Người ấy, trước khi lìa đời Thái tử đã nói, đó là Sơn Ca, em ruột của Cổ. Sơn Ca đã được gọi đến. Sơn Ca không vào. Y xin ba điều: tha chết cho người sứ giả già nua, cho gã nghỉ ngơi được một đêm nữa và ngủ với một đàn bà. Cuối cùng, Thành Cát Tư Hãn chấp thuận ba điểm yêu cầu.


Trong Hồi thứ hai, ông già gặp gỡ Sơn Ca trong lều Đại Hãn. Trong khi chờ đợi nhà vua, hai người cùng nói với nhau để làm sáng tỏ quan niệm của nhau. Ông già luôn luôn nghĩ đến quốc gia, dân tộc, Sơn Ca luôn luôn chỉ biết đến mình. Ông già nói đến cuộc sống cá thể hòa nhịp vào trong đại khối, Sơn ca nói đến lý tưởng cá nhân thoát ly ra khỏi cộng đồng. Cho đến lòi nói yêu cầu tha chết cho ông già kia, đối vói Sơn ca cũng chỉ là một trò đùa. Và khi Dương Bân xuất hiện, Sơn ca đẩy ngay ông già vào giờ hành quyết. Ông già đi rồi Thành Cát Tư Hãn hiện đến. Một già một trẻ lại nói với nhau về rượu và về đàn bà. Giữa lúc ấy một tướng Mông là Thúc Bột Đào mưu phản bỏ đi rồi lại tự ý quay về. Một sự va chạm xảy ra và Thúc bị đưa ra chốn pháp trường. Đại Hãn tiếp tục tra hỏi Sơn Ca về Cổ Giã Trường rồi khoét hai mắt của Sơn, rồi đem hành quyết bao nhiêu mạng của dân Tây Hạ để làm lay chuyển lòng người trẻ tuổi. Cuối cùng công chúa Giang Minh can thiệp xin tha cho bao nhiêu kẻ vô tội và hứa sẽ đưa họ Cổ về làng.


Trong Hồi thứ ba, Dương Bân đến tìm đến Đại Hãn nhưng không được gặp. Đại Hãn đang bận uống thuốc trường sinh, vị Đại tướng phải liều vén rèm mà vào, báo những tin dữ vừa qua cho Đại Hãn rõ: cái chết của Thúc Bột Đào làm cho quân sĩ hoang mang, đào ngũ. Sau khi Dương Bân vạch sự gian trá của môn thuốc tiên, Đại Hãn cho vị đạo sĩ ra chốn pháp trường. Lễ vật của Cổ Giã Trường đưa đến. Giở ra, đầu của quân sư Lý Tử bị Cổ giết chết. Dương Bân muốn lấy thủ cấp của nàng Giang Minh để làm một cuộc đổi chác, nhưng nàng đã đem mạng mình đòi đổi lấy mạng Truật Xích (con của Đại Hãn) vừa bị quân Cổ bắt được. Cuối cùng, Đại Hãn nhượng bộ và nàng Giang Minh ra đi, để lát sau đấy con ngựa của nàng chở về cái xác không hồn của gã Truật Xích. Cuộc phản công của toàn dân Tây Hạ bắt đầu. Dương Bân tử trận. Thành Cát Tư Hãn lầm lì, khốc liệt ngồi yên trên ngai… trở thành một pho tượng đá.


Đó là sơ lược câu chuyện của ba hồi kịch. Nhưng màn giáo đầu đã cho ta thấy Sơn Ca, mù lòa, xuất hiện bắt đầu kể lại ba hồi kịch trên với một số khách đi đường dừng bước trong một quán vắng, và ở trong màn vĩ thanh, nhân vật Sơn Ca lên đường hướng về phía mặt trời mọc.


Thành Cát Tư Hãn là vở kịch lớn. Trên 6, 7 năm văn học, sau vở Thành Cát Tư Hãn của Vi Huyền Đắc xuất bản vào năm 1957, bây giờ mới lại có một kịch phẩm đầy đủ tác phong đứng đắn của một công trình nghệ thuật ra đời.


Nhưng lớn hay nhỏ, tác phẩm đều phải có một linh hồn. Linh hồn vở kịch Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan chính là nhân vật Sơn Ca. Vấn đề của nhân vật ấy tức là chủ đề, nội dung tác phẩm.


Tất cả những nhân vật khác - từ vị Đại Hãn cho đến Dương Bân, từ nàng Giang Minh đến Cổ Giã Trường, từ vị sứ giả già nua của dân Tây Hạ đến vị đại tướng mệt mỏi nổi loạn là Thúc Bột Đào, tất cả chỉ là cái cớ để mà xác nhận Sơn Ca.


Vì vậy, nói đến Thành Cát Tư Hãn không thể không nói Sơn Ca, không thể không thấy Sơn Ca, và tưởng chỉ cần tìm hiểu mỗi nhân vật ấy là đủ để hiểu nội dung tư tưởng cũng như trình độ nghệ thuật của tác phẩm.


Sơn Ca là người thế nào?


Sơn Ca gần như có mặt hầu hết suốt năm màn kịch. Sơn Ca là một người trẻ, gần như điên rồ, sống đời lang thang. Sơn Ca cho cuộc sống mình vô nghĩa, bởi vì: “Không có cuộc sống nào đáng sống cả. Lỡ sống thì đành nhận lấy cuộc sống. Nhưng phải tìm lấy cách sống riêng biệt cho mình” (trang 83). Và sống riêng biệt theo như Sơn Ca là “tìm mọi cơ hội để chứng tỏ rằng mình sống, rằng mình làm chủ cuộc sống của mình”, không muốn bắt chước ai hết “không muốn làm thứ tượng đất đúc khuôn, dầu là khuôn vàng”. (trang 83)


Nhưng Sơn Ca có làm chủ được cuộc sống của mình như gã đã từng tuyên bố với vẻ kiêu hãnh cố làm ra dáng lạnh lùng? Thật ra, tác phẩm đã cho ta thấy một sự trái ngược. Sơn Ca từ đầu đến cuối, chỉ là một kẻ lệ thuộc, một thứ nạn nhân, cố tìm lối thoát một cách tuyệt vọng. Sơn Ca bị bắt đến trại quân Mông và xin ngày mai mới vào yết kiến Đại Hãn, đấy là làm chủ cuộc sống đó chăng? Hay chỉ là một trò đùa độc ác ở giữa hai hạng lệ thuộc, một hạng đang được ưu đãi và hạng đang bị bạc đãi? Sơn Ca làm chủ cuộc sống mình, hay chỉ là kẻ bị người bắt đến, bị người móc mắt cho thành mù lòa, bị người coi như phế nhân và không còn muốn giết đi vì lòng thương hại mà thôi? Không, từ đầu đến cuối, Sơn Ca không hề làm chủ bao giờ. Sơn Ca còn sống là vì Sơn Ca là kẻ tàn tật, là vì những hạng lớn mạnh ở trong cuộc đời (Đó là Thành Cát Tư Hãn và có thể là ông già và Cổ Giã Trường) đã xem Sơn Ca như một trẻ con không đáng kể đến, không cần phải giết cũng đã chết rồi.


Sơn Ca dã tách ra ngoài cuộc đời để đi con đàng của mình, nhưng đi về đâu khi đã mùa lòa? Làm sao mà gã tìm tới cái quán bên đường giữa đêm đen tối khi không có người dắt dẫn? Tác giả đã giúp đưa gã tới đó. Nhưng chính gã không đóng nổi cánh cửa và phải kêu lên “Đóng hộ cho tôi. Mắt tôi bị hỏng, không nhìn được nữa” (trang 24) kia mà? Rồi gã về đâu? Gã bảo “đi về phía mặt trời mọc,ánh sáng mặt trời soi sáng cho tôi” (trang 25) nhưng tác giả cũng đã nói rằng mắt gã “trừng trừng nhìn thẳng mà như chỉ thấy bóng đen dày dặc”. (trang 23)


Tóm lại, Sơn Ca xác nhận nhựng điều mà tác giả không chịu thừa nhận, Sơn Ca không chịu thừa nhận những điều mà chính tác giả xác nhận. Giữa người sáng tác và nhân vật chính của mình tưởng như có sự cảm thông, nhưng thật có sự đuổi bắt lẩn quẩn, chỉ vì tác giả không hiểu rõ mình nên không hiểu rõ nhân vật.


Đó là đầu mối của biết bao nhiêu mâu thuẫn ở trong tác phẩm. Sơn Ca nói rằng làm chủ nhưng bị đẩy mãi vào sự lệ thuộc, nói rằng đi tìm ánh sáng nhưng chỉ nhìn thấy bóng tối đen dày, Sơn Ca tỏ ra coi thường phụ nữ nhưng rất thèm thuồng đàn bà, từ chối quá khứ với vị sứ giả già nua nhưng lại nhận mình có một quá khứ với vị Đại Hãn… Sơn Ca còn nhiều mâu thuẫn khác nữa, những mâu thuẫn ấy chung qui vẫn là thống nhất.


Thống nhất ở vào điểm nào? Thống nhất ở cái tinh thần không chịu trách nhiệm, và một mặc cảm tự tôn giả tạo để che đậy sự thấp kém của mình. Khi vị tác giả già nua của dân Tây Hạ viện đến quá khứ để đòi hỏi sư hy sinh, Sơn Ca vội vàng từ chối quá khứ để khỏi bị ràng buộc vào trách nhiệm. Gã nói: “Kẻ hậu sinh này chưa chớm hai mươi, làm gì mà có quá khứ” (trang 81). Khi gặp Đại Hãn quân Mông khinh miệt Sơn Ca là đồ con trẻ thì gã lại quàng cái quá khứ ấy vào mình để có một chút hãnh diện. Gã nói: “Ta già hơn người Mông Cổ. Các ngươi không có quá khứ. (trang 95)


Sơn Ca lệ thuộc quá khứ, dựa cậy quá khứ như thế mà không tự biết. Sơn Ca là một kiểu loại vong ân bội nghĩa chỉ vì mải lo nghĩ đến cho mình. Đó là hiện thân của một tinh thần ích kỷ phát hiện đến độ tột cao, đến mức điên loạn. Nhưng tưởng nên thấy điều này: nếu Sơn Ca có cái gì là Sơn Ca, có ít ảo tưởng về sự làm chủ cuộc sống của mình, là nhờ ở một điểm tựa, đó là dân tộc. Chính Cỗ Giã Trường làm nên Sơn Ca mà người em út lạc nòi không dám tự nhận. Sở dĩ Sơn Ca dám nói vài lời yêu sách xì xằng với tên Đại Hãn Mông Cổ là vì Đại Hãn cần biết chỗ ở của Cổ Giã Trường. Không có họ Cổ để cho Sơn Ca đầu cơ chỗ ở mà kiếm người đứa tớ gái quân Mông vui vầy một đêm, thì liệu Sơn Ca là cái thứ gì trước mặt Đại Hãn? Do đó Sơn Ca vẫn không dám nói chỗ ở của Cỗ Giã Trường, một kẻ anh hùng dân tộc, bởi vì ở trong thâm tâm gã vẫn hiểu rằng đó là chỗ dựa vĩnh viễn của gã. Đã không có thể từ chối quốc gia dân tộc, tại sao lại không chống đối Thành Cát Tư Hãn? Là vì gã đã gặp gỡ Đại Hãn ở điểm ích kỷ tột độ của mình. Cả hai người ấy gặp nhau không phải ở chỗ vinh quang lớn lao, không phải ở sự gan dạ phi thường gì hết mà họ chính là biểu hiện khác nhau của một tư tưởng duy ngã hết sức hẹp hòi. Một đằng là sự ích kỷ đang độ hăng say, muốn tóm thâu hết về mình, một đằng là sự ích kỷ đang độ chán chường muốn từ chối hết. Sơn Ca quả thật già hơn Thành Cát Tư Hãn, nhưng chính cái quá khứ ấy, ở đây, phải hiểu là do Thành Cát Tư Hãn tạo nên. Nói một cách khác, Sơn Ca là một hiện thân của vị Đại Hãn ở giai đoạn chót. Sơn Ca giễu cợt Thành Cát Tư Hãn là diễu cợt cái con người đầu tiên của mình và Thành Cát Tư Hãn tha cho Sơn Ca vì Sơn Ca là hình ảnh thoát xác của đời Thành Cát Tư Hãn về sau. Hãy nghe hai con người ấy đối thoại:


Thành Cát Tư Hãn: Nhà ngươi đã yêu ai bao giờ chưa?


Sơn Ca: Yêu là yêu nhau. Hiện thời ta chỉ nghĩ đến ta.


Thành Cát Tư Hãn: Đúng. Giống ta.


Sơn Ca: Ta hiểu. (Hai người nâng bát) (trang 95)


Cứ xem cung cách điệu tuồng họ nói rõ ràng là hai con người tri kỷ hay là hai kẻ đồng tâm đồng chí một phút gặp nhau. Tuy nhiên ở trong nghịch cảnh mà họ lâm vào, đáng lẽ thì phải một còn một mất, nhưng kẻ mạnh hơn chỉ làm thiệt thòi cho kẻ yếu hơn đến mức độ nào, vì trên căn bản, ở đây, họ không hề chống đối nhau.


Sự thiệt thòi ấy (khoét hai con mắt) chỉ có mục đích giữ vững uy tín cho nhau. Thành Cát Tư Hãn do đó còn có một chút khoan dung, còn có một vẻ trí thức gặp người đồng điệu và gã Sơn Ca, dù muốn, dù không, cũng đã hy sinh đôi mắt cho Cỗ Giã Trường. Cả hai người ấy sở dĩ còn đứng ở trên sân khấu, cũng như đứng giữa cuộc đời, là vì hai điểm vừa nói - tác phong tri thức và tinh thần dân tộc - dù cái màu sắc trí thức và dân tộc ấy mờ nhạt hết sức, gượng gạo hết sức.


Vì vậy, chủ đề của vở Thành Cát Tư Hãn là một vấn đề trí thức: Ở đây không phải là kịch, mà là một tấn bi kịch, một thứ bi kịch hãnh diện của một tầng lớp trí thức, một sự sa đọa cao ngạo của một số người. Sự sa đọa ấy bắt nguồn tứ cái chủ nghĩa duy kỷ, cộng với quan niệm nhân sinh ảo mộng (thể hiện trong những câu nói về sau của vị Đại Hãn) chế thêm tư tưởng hưởng lạc (rượu và nhất là gái được nhắc nhở mãi; trong 3 hồi chính thì đến hai hồi kết thúc bằng cách đưa gái vào buồng) pha vào ít nhiều tư tưởng của phái hiện sinh. Tính chất cao ngạo, hãnh diện chẳng qua là cái vỏ ngoài tự tôn, cốt mượn tinh thần khi-biếm (cynique) để mà cố tự thừa nhận, đó là một thứ bong bóng sặc sỡ nhưng khá mong manh dùng làm chiếc phao cho kẻ cảm thấy mình đang chết đuối. Vì quá ích kỷ, và thiếu trách nhiệm, Sơn Ca cố tình từ chối lịch sử, tuy vẫn góp phần ít nhiều cho nó một cách bị động, và cố thoát ly ra khỏi sinh hoạt chung quanh. Sơn Ca không đi với những khách trọ trong quán - vốn là tượng trưng cho đám quần chúng luôn luôn thiết tha đối với lịch sử - mà tin ở sự sáng suốt mù lòa của mình. Sơn Ca không muốn sống như mọi người, nhưng thích làm kẻ điên rồ lang thang đây đó - sống bằng đàn bà của bọn cướp nước, uống rượu của giặc và xin củi lửa, cơm gạo của kẻ qua đường (trang 23) - nghĩa là chỉ muốn sống nhờ hơn là làm việc. Sơn Ca lệ thuộc như thế mà còn tự chủ nỗi gì? Sơn Ca mượn tên của một loài chim “càng bay cao hót càng hay” (trang 56) để làm biệt hiệu, nhưng liệu bay cao sẽ hót hay chăng? Tính chất véo von nhờ sự cách bức tạo nên, chính là một thứ tài năng giả hiệu lấy sự xa cách kiểm tra quần chúng làm một giá trị. Những thứ tài năng vào kiểu loại đó, xét theo yêu cầu quốc gia xã hội ngày nay, thật là phù phiếm, nếu không nói là độc hại. Do đó quan điểm của chính Sơn Ca chỉ là quan điểm hình thức. Bất cứ đối diện với một cảnh nào, với một người nào Sơn Ca không dám nhìn vào bên trong - bởi vì gã sợ nội dung,bởi lẽ nội dung đòi hỏi trách nhiệm - nên chỉ ngắm nhìn hời hợt bên ngoài. Gã xin hoãn lại cái chết ông già một ngày, chỉ vì gã “sợ lịch sử lại phải ghi thêm tên tuổi một vị anh hùng” (trang 82) và nói về quân Mông Cổ, kẻ thù xâm lược của tổ quốc gã: “Thương cho quân Mông Cổ, tự nhiên lặn lội đến đây, đâm đâm chém chém để chỉ làm giàu thêm cho lịch sử thiên hạ” (trang 82) gã đã cố làm một kẻ chủ động, một kẻ dửng dưng, nhưng nào có được! Ông già sứ giả vẫn cứ phải chết và chết oanh liệt như thường cho đến phút cuối. Chính sự chết trễ một ngày đã làm ông lão thêm phần sắt đá, thêm sự anh hùng đó thôi. Gã có cản ngăn được lịch sử không? Quân Mông mà gã làm bộ thương xót, đã khoét mắt gã và khiến cho gã bất lực trong sự mù lòa sau này. Trong khi gã cố đóng kịch, làm ra con người thản nhiên không biết run sợ và phá lên cười (để tránh tiếng khóc?) “người ta nhận thấy từng cố gắng in hằn lên nét mặt héo hắt, mồ hôi nhỏ giọt” (trang 112) của gã, bởi vì gã tuyệt vọng rồi, đã biết lỡ dại đùa chơi với lửa, bây giờ phỏng tay không dám xuýt xoa, phải cố gượng cười để giữ thể diện. Thể diện, sĩ diện, đó là một thứ mặt nạ khủng khiếp che giấu bao nhiêu bi kịch. Quan điểm hình thức của con người gã chỉ khiến cho gã luôn luôn có cái mặc cảm che đậy, cố tạo một cái bề ngoài của con người khác để tự dối mình, đã khiến gã không làm sao thấy được sự thực, chẳng hạn sự thực về sự tàn ác của quân Mông Cổ. Gã chỉ làm bộ giễu cợt người này, thương xót kẻ nọ để che giấu sự bất lực, hèn yếu của mình đó thôi. Không sự hiện diện của gã, ông già vẫn phải hy sinh, không sự phẩm bình của gã quân Mông cũng cứ tàn sát dân tộc Tây Hạ, gã đứng như kẻ đui mù ở trong lịch sử, quờ quạng nói lời vô nghĩa, không hề tác động đến ai, vai trò của gã không thay đổi gì động tác chính yếu của kịch. Thành Cát Tư Hãn và Dương Bân, công chúa Giang Minh và Cỗ Giã Trường, những nhân vật chính cứ đóng vai trò của mình và đẩy lịch sử đi tới, gạt gã ra ngoài đêm tối. Gã đã hoàn toàn vô dụng đối với tất cả, thế mà gã có thể tưởng gã là tất cả! Bi kịch và cả hài kịch, lại là ở đấy.


Tất cả thái độ tự tôn giả tạo ấy như trên đã được trình bày - chỉ là một thứ tình cảm duy kỷ luôn luôn cố tạo cho mình một cái dáng điệu khác người, để mình trở nên đặc biệt. Sơn Ca cho mình “vốn không có tài bắt chước…, không muốn làm thứ tượng đúc khuôn, dầu là khuôn vàng”. (trang 83) Nhưng liệu Sơn Ca có giống một kẻ nào không? Sơn Ca có lập lại những tư tưởng cũ kỹ, lỗi thời của một đôi nhà triết học hiện sinh hay không? Và vì cớ gì mà gã Sơn Ca lại sợ mình giống kẻ khác đến thế? Sơn Ca lo rằng sẽ bị khuất chìm ở trong đám đông hay chăng? Nhưng nếu Sơn Ca quả thật có tài, quả thật có đức, Sơn Ca sợ gì chung lẫn và lo gì sự lầm lẫn với một kẻ khác? Chẳng qua Sơn Ca bất tài, kém đức nên cố khư khư giữ lấy một thứ ảo tưởng độc lập về bản thân mình để làm giá trị, một thứ giá trị làm bằng mặc cảm tự ti. Chẳng qua Sơn Ca ích kỷ sợ sự chia xẻ với người, phải hao tốn quá cho mình cho nên bo bo giữ lấy cái vốn càng ngày càng thêm nghèo nàn của mình. Cuối cùng, bỏ hết mọi người, là vì lẽ đó. Sơn Ca không đi về phía mặt trời, Sơn Ca đâu thấy mặt trời, cho đến cánh cửa trước mắt, Sơn Ca cũng không nhìn thấy.


Nếu tất cả nhân vật của kịch sáp xếp theo một hệ thống ý thức của chính tác giả, người ta có thể nhận thấy toàn bộ các nhân vật ấy là một con người. trong con người ấy, thì Cổ Giã Trường chính là trạng thái ý thức cao nhất, sáng nhất (nhưng xa vời, không có mặt trên sân khấu), Thành Cát Tư Hãn và gã Sơn Ca là tượng trưng cho dục vọng (một thứ dục vọng từ điểm bộc phát đến mức suy đồi, biến thể, hoạt động trong những khung cảnh u tối của nắng chiều thoi thóp, bóng tối nhấp nhem), Dương Bân là một trạng thái ý thức lệ thuộc dục vọng (nên dù sáng suốt cũng không thay đổi gì được hoàn cảnh), ông già sứ giả là biểu hiện cho nghị lực, một thứ nghị lực cô độc bị lòng dục vọng (Thành Cát Tư Hãn) đàn áp và bị biến thể của lòng dục vọng (Sơn Ca) cợt đùa, rốt cuộc phải bị hủy hoại. Còn nàng Giang Minh là thứ lương tri cố gắng vùng dậy, ngoi lên dưới sự đàn áp của dục vọng (Thành Cát Tư Hãn) và hướng về phía ý thức sáng nhất, cao nhất là Cổ Giã Trường. Rốt cuộc ở trên sân khấu của vở Thành Cát Tư Hãn, chỉ còn sót lại một thứ lương tri yếu ớt, tuy bị ô-uế song vẫn còn đủ sáng suốt để hướng về phía lẽ phải, và rõ hơn hết là một biến thể của lòng dục vọng trở thành đui mù, cố gắng tự xác nhận mình giữa đám quần chúng đã thành xa lạ là những người khách ở trong quán trọ. Do đó, trong con người ấy - con người giả định của toàn bộ vở kịch - đã có một thế bất ổn, một sự lệch lạc, một cái ý hướng phát triển không được đồng đều, khi tỉnh, khi say và say nhiều hơn tỉnh. Cũng vì vậy, trong con người ấy đã có một thứ bi kịch nội tại, nói một cách khác, tác phẩm Thành Cát Tư Hãn có thể phản ảnh một tấn bi kịch ở trong tâm hồn của Vũ Khắc Khoan.


Nhưng qua các nhân vật, một điểm rất đáng chú ý là sự hiện diện thường trực của gã Sơn Ca không khiến người ta chú ý bằng sự khiếm diện hoàn toàn của Cổ Giã Trường. Có thể nói rằng Cỗ Giã Trường là điểm thiếu nhất mà đầy đủ nhất, mờ nhất mà sáng tỏa nhất ở trong vở kịch. Tất cả nhân vật ở tr6n sân khấu của vở Thành Cát Tư Hãn, dù muốn dù không, cũng bị chỉ huy, điều động bởi Cổ Giã Trường. Từ sự lo lắng của Dương Bân, đến sự cuồng nộ hay ngọt ngào của Thành Cát Tư Hãn, sự vững lòng tin của viên sứ giả, sụ chán nản của quân Mông, sự khôn ngoan gan dạ của nàng Giang Minh, tất cả những trạng thái ấy đều bị chi phối hoặc ít hoặc nhiều bởi một sức mạnh, là Cổ Giã Trường. Cho đến nhân vật Sơn Ca - như trên đã được trình bày - dù có yêu sách, dù có mỉa mai cũng là nương tựa vào cái uy tín của Cổ. Và sau này, khi Cổ thành công, con người đã mỉa mai Cổ,đã uống rượu chung với giặc, ngủ chung với gái của giặc, đã tự cho mình giống với kẻ thù của cả dân tộc, con người ấy phải ra đi quờ quạng giữa đêm tăm tối, là lẽ dĩ nhiên. Bởi vì, Sơn Ca không sao chịu nổi ánh sáng huy hoàng của Cổ Giả Tường, dù Sơn Ca đã mù lòa rồi. Bởi vì Sơn Ca là một con người giàu lòng tự ái và nhiều sĩ diện, xuất phát từ điểm cá nhân chủ nghĩa nên thích dối mình là đi để tìm ánh sáng mặt trời - khi mình đã mù - hơn là chấp nhận sự thực.


Nhưng mà sự thực vẫn là sự thực. Người đọc đều yêu mến Cổ Giã Trường như nàng Giang Minh đã yêu mến Cổ, như những người khách trong quán đã ca ngợi Cổ. Chính Cổ mới là ánh sáng mặt trời, Sơn Ca còn tìm đâu nữa, trong sự mù lòa cô độc của mình?


Cho nên xét về chủ đề tác phẩm, người ta nhận thấy một sự trớ trêu - không phải là của định mệnh, mà của sự thực: trong khi cố làm nổi bật Sơn Ca ở trên bình diện ý thức, tác giả đã phủ nhận nó trong cõi tiềm thức. Và khi gác ra vòng ngoài một Cổ Giã Trường, tác giả đã phủ lên đấy một lớp hào quang sáng chói. Chính đấy là điểm mà người ta còn có mối cảm tình đối với tác giả, sau khi tưởng như có thể bất bình. Bởi vì, trước hết tác giả còn là một người thành thực. Dù phải bênh vực cho nhân vật chính Sơn Ca, tác giả vẫn không giảm sự đề cao một Cổ Giã Trường. Trong khi Thành Cát Tư Hãn chỉ là con người “Lầm lì, khốc liệt, hầu như vô giác” (trang 3) và Sơn Ca “gầy guộc bước đi lểnh khểnh như chiếc nai tơ”… với “mắt nhìn sâu thẳm, nét cười héo hắt mỉa mai…, không đẹp không thường” (trang 78) thì tác giả vẫn dành cho Cổ Giã Trường những tiếng đẹp nhất để mà mô tả một kẻ phi thường. Đó là con “người cao mà thẳng như cây dừa sa mạc. Vai như vai con gấu núi. Tay vươn ra như tay vượn. Mũi thẳng như trái mật heo. Đôi lông mày là hai nét mác. Đôi mắt sáng ngời như sao Hôm, sao Mai…, văn võ kiêm toàn, tính tình cương trực (trang 41)… ẩn hiện như người nhà trời” (trang 42) và suốt tác phẩm, tất cả động tác đều hướng về con người ấy như khối từ thạch vĩ đại lôi cuốn bao nhiêu chất sắt rời rạc.


Tất cả những sự kiện này không hề phản bội tác giả, nó chỉ làm cho vở kịch còn được chấp nhận phần nào và đã nói lên những phần sự thực vốn có ở trong tác giả. Chính nhờ điểm đó người ta biết được ở nơi sâu kín tâm hồn tác giả vẫn còn tàng ẩn những thứ ý tình cao cả. Ngoài ra, ở Vũ Khắc Khoan còn có cái nhìn khoan dung nhân hậu đối với con người. Ông dễ nhận thấy những khía cạnh tốt cũng như những sự hư hèn bất lực ở trong nhân vật, do đó đối với bất cứ kẻ nào ta vẫn có thể chia xẻ một phần ưu ái. Thành Cát Tư Hãn không còn là kẻ đáng sợ dưới mắt chúng ta, Dương Bân thật là một người đáng quí và Thúc Bột Đào dễ thương không biết chừng nào. Nói gì đến vị sứ giả già nua, đến nàng Giang Minh, đến Cổ Giã Trường, là những con người rất đẹp, rất tốt đáng nên quí mến lâu dài. Chỉ có mỗi gã Sơn Ca, xét trên lề lối ra vào, nói năng của gã là có nhiều vẻ tàn nhẫn, vô lương nhưng ngoài tính cách bê tha phóng túng và sự kiêu hãnh vô lối ta vẫn thấy gã đáng thương, nhất là khi gã than thở “tôi không có tiền” (trang 23) và nhờ người khác đóng hộ cánh cửa (trang 24) quờ quạng một mình trong đêm tăm tối. Ngoài sự phiền hà vô ích mà nhân vật ấy gây cho cuộc đời, ta vẫn có thể tìm thấy bên trong Sơn Ca một số đặc điểm để mà yêu mến, đó là ít nhiều tác phong trí thức và cái tinh thần dân tộc đã nói trên kia. Sau cái nụ cười khi-biếm, sau cái vẻ mặt chán chường, còn có con người ham sống, khao khát đi tìm mới lạ. Lương tri của con người ấy vẫn còn, chứng cớ là dù thấy mình giống với Thành Cát Tư Hãn, Sơn Ca vẫn không khai rõ chỗ ở của Cổ Giã Trường. Sơn Ca đã hy sinh cho dân tộc mình đôi mắt, nhưng Sơn không muốn tự nhận như thế. Sơn sợ danh từ to lớn để khỏi có cái mặc cảm bị lừa, để có kiêu hãnh thỉnh thoảng làm vài hành động phi thường một cách rất là giản dị. Sơn Ca đùa cợt ông già, lạnh lùng trước những cái chết bao người vì chính Sơn không có thể làm gì hơn được để tự bảo vệ cho mình và bảo vệ cho lẽ phải. Sơn Ca không thể khẳng khái chửi rủa quân thù vì Sơn còn phải để dành mạng sống (Sơn chỉ hy sinh đến một mức độ nào đó mà thôi, nếu làm anh hùng thì có thể bị đòi hỏi hy sinh tất cả là điều mà Sơn nhận thấy nguy hiểm) nhưng Sơn vẫn không khuất phục, vẫn không đầu hàng, đó là một kiểu đáng kể. Ở nơi Sơn Ca đúng ra chỉ có mỗi thứ mặc cảm tự ti của một tư tưởng cá nhân chủ nghiã đang độ phá sản lung lạc, khiến Sơn khó tự uốn theo lẽ phải vốn thuộc về của số đông, khó tự hòa trong đại thể dễ dàng vì bị ảo ảnh của một cái “Tôi” sặc sỡ làm chướng ngại vật. Người ta vẫn thương Sơn Ca là thương con người quá trẻ (quá trẻ ở trong cuộc sống tập thể) nên nhiều dục vọng, thương một trạng thái tinh thần không còn giữ vững quân bình, thương một cuộc sống tươi tốt đã bị quan điểm hình thức biến thành con người cô độc, con người lập dị, con người hờn dỗi…


Nếu thay vì quá săn sóc đến Sơn Ca, tác giả làm cho nhân vật chính này trở nên gàn dở hơn nữa, bị sự khinh miệt và sự thương xót “tội nghiệp” (trang 24) nhiều hơn, để đến cuối cùng quờ quạng ra đi giữa vùng tăm tối chứ không phải giữa “tia nắng sớm chớm lên” (trang 90) thì nội dung của vở kịch mới phản ảnh đúng sự thực. Bởi vì Sơn Ca không phải là người tạo ra lịch sử, chính Sơn Ca cũng tự thấy thế - Sơn không thể chiếm cảm tình cũng như tâm trí của những kẻ khác. Mãi mãi, Sơn sẽ đi giữa đêm dày, nếu Sơn không từ chối hẳn cái phần duy kỷ nặng nề của mình. Lịch sử vĩnh viễn thuộc về quần chúng và Cổ Giã Trường, hãy dành chỗ ngồi sáng sủa, vinh quang cho họ.


Nhưng chữ nếu ấy thực là vô lễ. Bởi vì, như thế, là muốn tác giả đổi thay quan điểm của mình.


Xét những yêu cầu về nội dung ấy, tức là tìm hiểu đặc tính nghệ thuật của của vở Thành Cát Tư Hãn.


Vì bận dành cho Sơn Ca một tia nắng sớm vào lúc cuối cùng (chỉ một tia nắng mà thôi, vì Sơn không thể có được quá nhiều, e đó cũng là một sự khiêm tốn của tác giả) cho nên các màn lớp khác đều phải chìm trong nắng chiều, bóng tối. Màu sắc tàn tạ, thê lương của thời gian này là một màu sắc tượng trưng cho quan điểm của tác giả. Tác giả muốn từ chối thế giới của Thành Cát Tư Hãn và Cổ Giã Trường, hay ít ra cũng âm thầm cầu mong cho nó suy tàn chóng vánh, để gã Sơn Ca sớm được dễ chịu một mình trong cảnh mù lòa. Và muốn phát huy Sơn Ca, tất nhiên phải tạo một Cổ Giã Trường để có cái cớ cho Sơn gặp vị Đại Hãn và tạo một sự suy đồi về sau cho quân Mông Cổ. Cổ không thể nào hiện diện ở trên sân khấu, bởi lẽ Cổ thuộc vể thế giới khác, thế giới của sự hùng mạnh, của sự chiến thắng, Cổ sẽ gây nên lỗi điệu bằng sự có mặt của mình. Hơn nữa, và đây là điểm chính yếu, Sơn Ca không dám gặp Cổ, đúng hơn, không thể gặp Cổ. Hai con người này tuy là anh em nhưng ở hai đầu thái cực. Nói một cách khác, họ không cùng một lập trường, gặp nhau Sơn Ca sẽ bị thương tổn quá nhiều. Cứ thấy bà chị Giang Minh ở trên sân khấu khi đối diện với cậu em Sơn Ca đã bị mù lòa, mà cả hai người không hề quen nhau lấy một chút nào, không chịu tỏ ý cảm thông lấy một mảnh nào thì ta đủ rõ họ không thể nào hợp nhất. Sơn Ca chỉ có thể hợp với Thành Cát Tư Hãn nhưng phải là một Thành Cát Tư Hãn về già, bắt đầu mệt mỏi, tự tố cáo mình. Và để phục vụ Sơn Ca, cả vị Đại Hãn, cả Thúc Bột Đào đều phải thấm mệt, đều muốn yên nghỉ, đều thích ca hát, làm thơ, sống đời lẩn thẩn biếng lười, chẳng hạn “nằm dài nốt quãng đời thừa trên bãi cỏ để ngắm dòng sông chảy” (trang 103) hoặc “nghĩ ngợi hoài đến người đàn bà Mông Cổ ấm nồng như men rượu” (trang 104). Cho đên ông già Sứ Giả cũng có góp phần củng cố luận điệu Sơn Ca khi cứ nói mãi về sự già nua, chết chóc.


Tất cả sự kiện này đã khiến cho sự xây dựng nhân vật có được một điểm tập trung, hướng cả về một nội dung rõ nhất nhưng vì cái nội dung ấy khó lòng được đa số người chấp nhận cho nên nhân vật bị đơn giản hóa hẳn đi, thành những con người gia tạo, gượng ép. Do đó, trong sự đối đáp họ không tránh được những điệu làm tuồng (chẳng hạn Thành Cát Tư Hãn hát điệu trẻ thơ) hoặc đối đáp nhau dấm dẳng như những con người trí thức làm dáng, ra vào cửa ngõ hiện sinh. Những ví dụ này không thiếu, nhất là ở trong hồi hai, qua sự đối đáp của vị Đại Hãn với gã Sơn Ca.


Thiết tưởng, dù chỉ là những cái cớ, nhân vật còn là con người có những bản sắc của sự sống họ. Tác giả lặp lại nhược điểm của một số người viết những tác phẩm luận đề là quá nghĩ đến nhân vật chủ luận của mình mà đặt nhẹ đi cái phần sự thực, nhãn hiệu sự thực cần thiết để gây dựng một không khí lịch sử, dù là lịch sử giả tạo, hầu cho người đọc có thể đi vào vở kịch mà không bỡ ngỡ, sượng sùng. Vì có lắm lúc người ta tưởng lạc vào một hí viện Tây phương, nghe những nhân vật La Mã, Hi Lạp tân thời, những loại nhân vật đã bị màn ảnh cải hóa, đối thoại cùng nhau.


Thật khác với điều nhận xét của Nhất Linh, trong Viết và đọc tiểu thuyết cho rằng ông Vũ Khắc Khoan viết rất Việt Nam, chúng ta nhận thấy tác giả Thành Cát Tư Hãn viết rất Tây phương. Nơi ông có sự sáng sủa, rõ ràng thật là đặc biệt, nhưng quá gọn ghẽ, đơn giản nên khó phát biểu một cái sắc thái dân tộc rõ rệt. Đành rằng trong sự đối thoại của kịch, tất cả phải được đo lường, nhưng thể cách nói của chính tác giả vẫn thiếu một cái màu mè cần thiết về những cá tính, về những tâm hồn nhân vật. Nhiều khi tác giả chỉ nghĩ phần lý mà quên phần tình, chỉ nghĩ đến cái điều nói mà đặt nhẹ hẳn cách nói. Chính cái tinh thần Sơn Ca đã quyết định hẳn lời văn, cho nên ở đâu ta cũng gặp lại ít nhiều lạnh lẽo khô khan của miền sa mạc. Ở nơi Thành Cát Tư Hãn, những lúc phẫn nộ, ta không gặp lại bão tố cuồng phong ngày trước, ta tưởng gặp một con người kiêu hãnh, thông minh, quyết đoán thì ta chỉ gặp một kẻ muốn già, ban đầu làm vẻ hung bạo nhưng sau nói toàn những lời vẩn vơ thắc mắc, lẩn thẩn tìm thuốc trường sinh, và thương và muốn đàn bà, tuy cứ một hai bảo rằng chẳng biết yêu đương gì cả. Ở nơi Dương Bân cũng những lời nói êm xuôi, phục tòng, ở nơi ông già cũng những kiểu cách trong sự khẳng khái. Nội dung đã không sôi nổi, lớn lao, thiếu hẳn say sưa, quyết liệt, thì những sắc màu nghệ thuật cũng không có cái khả năng lôi cuốn khác thường nào được. Do đó, lời văn nhiều khi mất hẳn cái đà hứng khởi, sau nhiều câu nói thiếu một hơi dài trợ lực, khiến cho người đọc bực tức khi cảm thấy mình bị chận nghẹn lại bởi một ý tình đáng lẽ chưa xong, đáng lẽ còn được tiếp nối, còn được đổi thay. Rất nhiều trường hợp nhân vật bị suy nhược hẳn, đã nói những câu quá thường, không hợp với cái tạng chất mà người đọc sách trông chờ ở họ.


Nhiều người không muốn xét đến cái nội dung ấy, có thể vội trách tác giả đã quá chăm sóc tác phẩm khiến cho ngôn từ quá đỗi mực thước, khô khan. Nhưng những cây dừa ốc đảo, nếu ít lá cành, là vì mặt trời sa mạc chứ không phải vì gió cát.


Ngoài lời văn, chính nội dung kịch đã khiến cho phần bố cục tác phẩm trở nên nặng nề. Hai màn giáo đầu, vĩ thanh là để gây một ấn tượng đặc biệt về Sơn Ca đã làm không khí sân khấu trở nên u tối và có một sự cồng kềnh, nặng nề quá đáng vì phần thực chất về gã Sơn Ca không phù hợp với bề thế của phần kiến trúc dành riêng cho gã, ở trong toàn bộ tác phẩm.


Nhưng để bổ túc cho một nội dung khô héo, tác giả đã vận dụng được khá nhiều thủ thuật, tiểu xảo để gây bất ngờ, hồi hộp khiến cho người đọc được dẫn dắt đi trong sự chờ đợi. Từ quyển sách mà vị sứ giả dâng lên, ở trong hồi đầu đến viên ngọc quí mà vị Đại Hãn thưởng cho kẻ ấy, để rồi cuối cùng về tay một gã bất lực, từ cái dùi kiểng đưa lên để rồi dừng lại, đến món lễ vật của Cổ Giã Trường… tác giả đã khéo gia vị để lôi cuốn được người đọc, chứng tỏ những sự từng trải sân khấu và nhiều điêu luyện trong một phương thuật thôi miên văn nghệ của một ngòi bút.


Tóm lại, trên một ý thức cầu toàn, tất nhiên người ta phải nhìn thấy những khuyết điểm của vở Thành Cát Tư Hãn. Nói lên những điểm chưa toại nguyện chỉ là bày tỏ một sự mong đợi và nhiều đòi hỏi ở một ngòi bút đã gây được nhiều uy tín và nhiều cảm tình trong những tầng lớp bạn đọc. Chúng ta dễ đồng ý rằng dù có tài năng tuyệt vời, tác giả cũng khó vượt qua những sự chỉ định mệt mỏi của một nội dung chật hẹp. Nhưng ở vở Thành Cát Tư Hãn không chỉ là cái cớ, đó là một sự thử thách, hơn thế, là một đố thách đối với cuộc đời của một tâm trạng có thừa chán nản và thừa kiêu hãnh.


Như thế, Thành Cát Tư Hãn cũng đã chiến thắng và chiến bại rồi. Dù lầm lì, khốc liệt bao nhiêu, Thành Cát Tư Hãn bây giờ cũng đã trở thành một pho tượng đá.


(Tạp chí Bách Khoa, số 135, ngày 15/8/1962)


(còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn. Bản thảo biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người say trong tỉnh, tỉnh trong say - Vũ Từ Trang 12.06.2019
"Sau đám mây đen là mặt trời rực rỡ” – Giọng thơ nhân ái giàu tính triết luận - Nguyễn Văn Hòa 12.06.2019
“Mùa xa nhà” và những góc nhìn khác đối với chiến tranh - Nguyễn Văn Hòa 12.06.2019
Viết về Bùi Giáng - Nhiều tác giả 09.06.2019
Bình bài thơ Em sẽ đến của Bùi Hải Đăng - Nguyễn Lan 08.06.2019
Tuổi mưa trong thơ Nguyễn Thị Việt Nga - Nguyễn Lan 08.06.2019
Cảm thức thời gian trong “Dòng sông năm tháng” của Hà Cừ - Nguyễn Lan 08.06.2019
Kính biệt nhà thơ Tô Thùy Yên – “Cảm ơn hoa đã vì ta nở” - Tư liệu sưu tầm 07.06.2019
Ta về một bóng trên đường lớn… - Thảo Dân 06.06.2019
Phác họa Trịnh Công Sơn - Thảo Dân 06.06.2019
xem thêm »