tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27611662
Lý luận phê bình văn học
07.12.2018
Vũ Hạnh
"Viết và đọc tiểu thuyết" của Nhất Linh


Đầu năm 61, trước khi cho ra hàng loạt tác phẩm, nào Mối tình “chân”, Dòng sông Thanh Thủy, Thương chồng, nhà văn lão thành Nhất Linh trình bày quan niệm của mình về Viết và đọc tiểu thuyết trong một tác phẩm biên khảo đầu tiên.


Sách in chữ lớn, dày khoảng 100 trang, chia làm ba phần rõ rệt: Phần nhất, nói chung về tiểu thuyết, tác giả kể những lầm lỗi của mình trong khi sáng tác, bàn về lợi ích của tiểu thuyết để cuối cùng dẫn đến một câu định nghĩa về tiểu thuyết hay. Phần hai, nói về cách viết tiểu thuyết, tác giả đi vào chi tiết vấn đề, trình bày đại cương của truyện và cách xây dựng nhân vật. Phần ba, là đọc tiểu thuyết, tác giả nhấn mạnh vai trò độc giả trong sự xây dựng văn hóa.


* * *


Ưu điểm đầu tiên của tác phẩm chính là giá trị hướng dẫn, một sự hướng dẫn cụ thể, giản dị xa hẳn những lối giảng giải uyên bác, khoa đại, thường thấy trong những con người mọt sách vốn dễ sợ hãi tác phong bình dị, lầm tưởng đấy là trạng chứng nghèo nàn nên thích nấp vào trong cõi trừu tượng, trong vỏ cầu kỳ để che đậy sự trống rỗng. Ông Nhất Linh đã cố “tránh dùng những chữ khó hiểu, những câu ý nghĩa tối tăm”, bởi vì ông không viết cho “một số ít ỏi có học thức cao, quen thuộc với những danh từ triết lý”, (trang 7). Sự hướng dẫn của ông nhằm mục đích phổ biến rộng rãi, và thái độ ấy gần như phản ứng lại cái hiện tình văn nghệ vốn ưa những sự kiểu cách, tối tăm. Nhờ đó, người đọc có cái thú vị tìm thấy một sự sống thực đã được đúc kết thành những kinh nghiệm, và dễ có niềm tin tưởng khi nghĩ đến 40 năm từng trải trong nghề của chính tác giả. Người ta không chỉ đọc những lời văn, mà còn thấy được con người, không chỉ đọc những kinh nghiệm, mà còn thấy được sự sống. Vốn đủ tư cách hơn bất cứ ai để đem kinh nghiệm bản thân chứng dẫn cho sự trình bày, tác giả còn thừa mặc cảm tự tôn để làm một cuộc kiểm thảo, nói đến những ưu, khuyết điểm của mình. Do đó, ưu điểm thứ hai là trong lĩnh vực văn học tác giả đã đem vào một tinh thần mới mẻ để mà đóng góp thiết thực, chân thành.


Nhưng quan niệm của một nhà văn lão thành có nhiều nhiệt tâm đối với văn học, ngày nay có thể giúp đỡ chúng ta đến mức độ nào? Và những ý kiến, những kinh nghiệm, dù là nặng về phổ cập, có thể soi sáng cho ta thấy được những gì?


* * *


Trước hết, chúng ta tìm hiểu thiện ý tác giả khi viết về tác phẩm này, là nhằm phục vụ đối tượng đông đảo gồm hai loại người: những người viết văn và những độc giả. Về người viết văn, tác giả phân làm hai hạng: hạng mới vào nghề và hạng có nhiều tác phẩm. Những người mới bước vào nghề, theo như tác giả quan niệm, có thể rất là đông đảo: “Bất kỳ ai biết viết quốc ngữ, cho dẫu người đó viết văn sai mẹo hay không có học thức cao rộng, cũng có thể viết ra những tiểu thuyết có giá trị” (trang 7). Về phần độc giả, theo như tác giả mong ước, cũng không phải ít: “Những ai ít học không nên vì lý do ấy mà bỏ cái thú thanh tao đọc sách (…) và các bạn nghèo - tức là số đông - sẽ là những độc giả thúc đẩy mạnh nhất nền văn hóa nước nhà” (trang 10).


Như thế, đối tượng của tác phẩm thật là vô cùng rộng rãi, bao gồm cả người sáng tác và người tiêu thụ ông mọi tầng lớp dân chúng. Nhằm một đối tượng như thế là vì tác giả có niềm tự tin và được thúc đẩy bởi một tinh thần trách nhiệm: “Sau gần bốn mươi năm kinh nghiệm viết tiểu thuyết, trải qua bao nhiêu phen lầm lỗi và tìm tòi, tôi tự thấy có trách nhiệm giúp đỡ một phần nào vào sự cố gắng của hàng nghìn hàng vạn các anh chị em…” (trang 8).


Đối với những thiện ý ấy, chúng ta đều muốn bày tỏ tấm lòng quý mến chân thành. Nhưng chúng ta không ngăn được nỗi hoài nghi ở trong nhiều điểm.


Chúng ta dễ dàng đồng ý với tác giả rằng “chỉ có những người thợ, người dân quê mới dễ viết tiểu thuyết về đời sống của họ” (trang 9) và muốn viết văn “cái chính là cần có khiếu riêng, cái khiếu ấy có thể có ở bất cứ giới nào, người làm thợ hay người làm ruộng, nhưng xưa nay không nẩy nở ra được chỉ vì cái thành kiến trưởng giả cho văn nghệ, tiểu thuyết là một thứ cao siêu dành riêng cho một hạng người” (trang 8). Trên một nhận thức thuần lý, những ý kiến này thực là xác đáng, tiến bộ. Nhưng giá trị của một nhận thức chỉ có thể kiểm chứng ở trên thực tế mà thôi.


Thiết tưởng, vấn đề chính yếu không phải chỉ là nói lên cái thành kiến ấy, cái sự thực ấy, bởi vì bao nhiêu điều đó đã được nói đến từ lâu lắm rồi. Hiện tình văn nghệ đòi hỏi thanh toán cái thành kiến ấy, chứng minh cái sự thực ấy, và những người có ý thức xây dựng xã hội - trong số đó các người cầm bút là một lực lượng đáng kể - phải thành tâm góp sức giải quyết vấn đề một cách thiết thực bằng những phương tiện có thể đạt được của mình.


Ở đây, tác giả chỉ nêu lên sự kiện đó với một thái độ hoàn toàn không có trách nhiệm. Sau khi nêu lên, cơ hồ tác giả như thấy quần chúng đã làm văn nghệ được rồi, có thể tìm ra cái thú thanh tao đọc sách được rồi. Và tác giả vội vàng góp sức chỉ vẽ cách đọc, cách viết. Nhưng giữa vấn đề tác giả quan niệm và sự thực hiện quan niệm còn có một khoảng cách xa thăm thẳm. Khoảng cách xa ấy, tác giả không chịu đi cùng chúng ta mà vội đằng vân giá võ lướt qua rất chóng. Vì thế, trong khi tác giả đứng bên kia bờ truyền đạo thì đa số chúng sinh chưa đóng kịp bè vượt biển mà sang.


Một sự dẫn giải phần lớn rơi vào hư vô vì không nhằm đúng đối tượng, không phải là thiếu nhiệt thành, nhưng mà phí nhiều sức lực, chỉ đưa đến cái tác dụng giải tỏa lương tâm của chính bản thân người viết. Nói thế là vì chúng ta thảy đều thấy rằng ở trong hiện tình, vấn đề phải được đặt ra cách khác, giải quyết bằng một cách khác. Xét trên thực tế, người làm thợ, người làm ruộng thiếu hẳn đồng tiền mua sách, không có thì giờ đọc sách, nói gì đến chuyện viết văn? Phỏng họ viết được, thì ai sửa chữa, ai chịu đăng tải, ai chịu xuất bản? Và xuất bản được thì bán cho ai? Chính ngay quyển Viết và đọc tiểu thuyết đã được mấy người bình dân biết đến? Và với số trang thế ấy, giá tiền thế kia, vị tất đã có mấy người mua được? Và mua được rồi, chưa hẳn hiểu ý trong sách, mặc dầu tác giả đã nói ở ngay trang đầu: “Đây là cuốn sách viết để bất cứ người nào cũng có thể hiểu được miễn là biết đọc chữ quốc ngữ”. Chúng ta khó lòng mà tin như thế, bởi vì hiểu được và đọc được, là hai việc khác nhau xa lắm. Một quyển sách dễ hiểu không phải ở chỗ dễ đọc (sách nào mà chẳng dễ đọc, nếu in rõ ràng?) mà ở quan niệm trong sách, ý tưởng trong sách và ở cách thức lập luận, trình bày.


Nói thế, thực không có ý phủ nhận giá trị tác phẩm mà chỉ muốn xác định rằng, đối tượng theo như tác giả quan niệm là một đối tượng hoàn toàn không tưởng. Tác giả chỉ muốn tìm đến chứ chưa đi đến. Giá trị của nhận thức làm đầu mối cho tác phẩm chỉ là giá trị của sự mong đợi chứ không phải một giá trị thực hiện. Cho nên xét trên thực tế, tác phẩm có thể dẫn đến hai cái hiện tượng trái ngược: một là, về phần tác giả, một số vấn đề bị đơn giản hóa, trở thành khó khăn trong sự diễn tả, hai là, về phần độc giả thì đa số mà tác giả nhắm vào có lẽ không thể đọc được tác phẩm, nhưng chính thiểu số tác giả ít chú tâm đến, lại đi tìm hiểu tác phẩm.


Tác giả có thể trả lời cho chúng ta rằng: đứng trên cương vị nhà văn, tác giả chỉ nên trình bày những gì liên thuộc trực tiếp đến nghề cầm bút mà thôi. Làm cho quần chúng có ăn, có học, có sách và có thì giờ để xem là phần việc của nhà chính trị, của nhà xã hội, tác giả không thể ôm đồm, bao biện, ra khỏi biên giới của mình. Tác giả chỉ hướng về phía tương lai, nghĩ được những cái sẽ có, phải có, là quá đủ rồi.


Câu “anh hàng giày xin chớ lên trên hàng dép” của chàng họa sĩ Apelle ngày xưa không phải là một quan niệm hoàn toàn đúng đắn. Nhất là ở trong lĩnh vực văn nghệ mà nhiệm vụ chính là mô tả con người và các phương thức sinh hoạt của nó thì cái ý thức văn chương thuần túy không còn tồn tại được nữa. Hơn nữa, một tác phẩm biên khảo có nhiệm vụ hướng dẫn cụ thể cho một đối tượng thì phải nhìn thấy cái đối tượng ấy rõ rệt, cũng như một người thợ may không thể ước lượng ni tấc về một khách hàng tưởng tượng. Nhưng ở đây, vấn đề không phải đơn giản là vậy. Sở dĩ chúng ta nhận xét đối tượng tác phẩm có cái tính chất không tưởng là vì sự nhận định về đối tượng có tương quan mật thiết đến vấn đề đặt ra cho đối tượng ấy. Nói cụ thể hơn, tác giả quan niệm về người độc giả của mình thế nào thì cái quan niệm sáng tác của chính tác giả vạch ra cho họ cũng mang tính chất phù hợp. Và kẻ độc giả đã là trừu tượng, thì lẽ dĩ nhiên quan niệm văn nghệ cũng thành trừu tượng.


Do đó, ngay từ đầu tác phẩm, nói về lầm lỗi của người cầm bút, tác giả cho rằng khuyết điểm lớn nhất là không lấy sự viết hay làm điều chính yếu. Kể ra nếu chỉ có bấy nhiêu thôi, thì là quá đúng. Quá đúng y như câu nói của ông thầy võ trong hài kịch Molière: “Bí quyết nghề võ là làm thế nào đánh trúng kẻ khác và để kẻ khác đừng đánh trúng mình”. Nhưng làm thế nào đánh trúng, cũng như phải làm thế nào viết hay là chuyện thiên nan vạn nan có thể đánh đổi cả một cuộc đời mà chưa đạt được. Chắc rằng ngày xưa không phải tác giả không nghĩ như thế, (bởi vì đã viết thì ai chẳng muốn viết hay), nhưng vì chưa biết cách nào để làm cho hay đấy thôi.


Vậy thì muốn hay phải làm thế nào? Trước hết, tác giả gián tiếp trả lời trong câu định nghĩa: “Một cuốn sách hay phải có giá trị trong không gian và thời gian”. (trang 39)


Thực ra, câu đó không phải là một tiêu chuẩn hợp lý. Chưa nói tính chất mơ hồ, nghi-nghĩa của tiếng “không gian” và tiếng “thời gian”, (bao nhiêu dặm đất mới tạo nên không gian ấy, bao nhiêu năm tháng cho thời gian kia?) câu định nghĩa trên chỉ có tác dụng đối với tác phẩm đã qua chứ không tác dụng đối với tác phẩm hiện tại. Với định nghĩa này, người ta đành phải bó tay trước những công trình trước mắt và đành trối trăng cho lớp con cháu về sau phê bình tác phẩm bây giờ. Nhưng một khi tác phẩm còn được truyền tụng đến con đến cháu chúng ta thì nhất định nó hay rồi, cần gì phải có cái tiêu chuẩn ấy! Bởi vậy yêu cầu trước nhất là phải xác định cho được giá trị hiện tại, vì mọi sự vật đều có giá trị tương đối và chính giá trị trước mắt trực tiếp liên hệ đến cái đời sống chúng ta, cho nên nó là quan trọng hơn cả. Chúng ta quả có yêu mến đồ cổ nhưng chính các đồ cổ ấy sở dĩ tồn tại về sau là vì thời nó người ta không đập vỡ đi, bởi đã biết rằng nó là xứng đáng để lại. Tóm lại, một định nghĩa như vậy chỉ có ý nghĩa đối với những người ham chơi đồ cổ mà thôi. Và không có một kẻ nào lại đem câu ấy để mà tiên đoán cho những tác phẩm hiện tại, bởi vì chưa ai ở trên đời này có cái tự kiêu vô lối đem mình thay thế lịch sử và quần chúng được.


Có lẽ tác giả cũng thấy một câu định nghĩa như thế thật là khó lòng đứng vững, trải qua không gian và qua thời gian, vì nó thoát ly thực tế trước mắt, cho nên tác giả dẫn đến một câu định nghĩa thứ hai tỉ mỉ hơn nhiều. Chúng ta có thể nhắc lại sau đây:


“Những cuốn tiểu thuyết hay là những cuốn tả đúng sự thật cả bề trong lẫn bề ngoài, diễn được một cách linh động các trạng thái phức tạp của cuộc đời, đi thật sâu vào sự sống với tất cả những chuyển biến mong manh, tế nhị của tâm hồn bằng những chi tiết về người và việc để làm hoạt động những nhân vật cùng hành vi, cảm giác và ý nghĩ của họ.


Những cuốn đó cần phải do sự thành thực của tác giả cấu tạo nên, viết bằng một lời văn giản dị, không giảng giải nhiều và không phải hay chỉ vì cốt truyện” (trang 45).


Câu định nghĩa này vừa làm tiêu chuẩn cho người thưởng thức cũng như cho người sáng tác, có một tính chất qui nạp công phu chứng tỏ giá trị của sự suy nghiệm tìm tòi. Nhưng vì xuất phát trên một quan niệm trừu tượng, cho nên nó vẫn mang nhiều khiếm khuyết căn bản.


Tác giả nói đến “sự thực cả bề trong lẫn bề ngoài” “trạng thái phức tạp của cuộc đời” “đi thật sâu vào sự sống” “biến chuyển tế nhị của tâm hồn” nhưng làm sao thấy được sự thực ấy, trạng thái ấy, biến chuyển ấy, thì suốt tác phẩm tác giả không giúp cho ta được ý kiến nào. Đọc câu định nghĩa trên đây ta tưởng chừng như những tiếng “sự thực”, “tâm hồn”, “sự sống” đều có tính cách mơ hồ tổng quát, bất chấp không gian lẫn cả thời gian. Đành rằng nhà văn có tài phải đạt cho được tính chất trường tồn vĩnh cửu cho tác phẩm mình, nhưng một tác phẩm muốn đạt tính chất vĩnh cửu phải được xuyên qua thời đại của mình. Không có con người trừu tượng, cuộc đời trừu tượng, mà chỉ có con người cụ thể, tâm hồn cụ thể, cuộc đời cụ thể mà thôi. Nhưng sở dĩ có cái quan niệm “con người muôn thuở”, là vì người ta nhìn thấy những nét tương đồng ở trong một số vấn đề căn bản của người, chẳng hạn vấn đề ăn uống, yêu đương, thù hận… Thật ra, trên một điều kiện sinh hoạt nào đó có những tương quan giống nhau thì cách quan niệm vấn đề có thể giống nhau, nhưng sự biểu hiện đều mang thể cách suy cảm của thời đại ấy và sự phản ứng của cá tính ấy. Nếu không gắn liền với thời đại mình và sống thiết tha với nó, nhất định người ta không sao thông cảm sâu xa sự sống chung quanh, không đi vào được những người đồng thời và nhất định là tác phẩm không có sự sống, chỉ tạo được những nhân vật ước lệ, hời hợt. Như thế, yêu cầu trước hết của tác phẩm là thời đại tính. Tính chất thời đại ở đây không phải là cái tinh thần phục vụ chính trị cấp thời, giai đoạn, mà chính là sự trình bày những con người cụ thể, tiêu biểu đang sống. Có qua khỏi cửa thời đại mới mong đi vào cái cửa trường cửu. Bỏ thời đại tính, nhất định giá trị tác phẩm chỉ là hư vô. Người ta không thể quan niệm tính chất trường cửu ngoài cái tính chất thời đại, cũng như không thể quan niệm có ngọn mà không có gốc. Trong một đoạn, tác giả nhắc lại tác phẩm Đoạn tuyệt và lấy làm tiếc là mình ngày xưa không có viết hay cho nên “sự hoan nghênh của những chuyện đó, nhất là Đoạn tuyệt, những lời khen ngợi của các nhà phê bình đã làm tôi sau này khó chịu một cách thành thực” (trang 20). Tác giả khó chịu một cách thành thực, nhưng sự khó chịu ấy có hợp với sự thực khách quan không, lại là một điều khác nữa. Ở đây, chúng ta có thể thấy rằng sự khó chịu ấy nói lên hai cái sự kiện tâm lý: một là khát khao tuyệt đối, như tâm trạng chung của người văn nghệ chân chính luôn luôn bất mãn với mình; hai là sự phản ứng với xã hội hiện tại, âm thầm từ chối một cái thái độ gắn bó đối với thực tại, bởi vì Đoạn tuyệt chứng tỏ rõ rệt thái độ gắn bó, bênh vực cuộc đời. Do hai sự kiện tâm lý này phối hợp nên sự khó chịu của tác giả có hơi quá đáng, bởi vì khách quan mà xét, thì sự hoan nghênh của các nhà phê bình không phải là không chính đáng. Lý do là một chừng nào Đoạn tuyệt đã đạt tính chất thời đại. Nếu tác giả mô tả linh hoạt hơn thì hẳn tác phẩm sẽ còn hiệu lực nhiều hơn đối với người đọc, nhưng Đoạn tuyệt cũng đã thể hiện cao độ những sự cố gắng ngày xưa của chính tác giả. Ngày nay, Đoạn tuyệt đã thành ra một tác phẩm lịch sử, chiếm một chỗ ngồi ở trong chương trình giáo dục, và lựa chọn ấy không phải là không hợp lý. Mãi về sau này, cái gì còn lại của ông Nhất Linh, sẽ là Đoạn tuyệt, mặc dù nó còn khá nhiều khuyết điểm, mặc dù ông còn khó chịu nhiều thêm.


Còn bộ Dòng sông Thanh Thủy chắc rằng chỉ vài năm nữa là không mấy ai còn nhớ tới sự có mặt của nó. Điều đó thật là giản dị. Nếu Loan và Dũng ở trong Đoạn tuyệt chừng nào đã phản ảnh được tâm trạng thời đại của mình, thì Ngọc và Thanh trong bộ Dòng sông Thanh Thủy và những tâm trạng vá chắp buồn cười. Các nhân vật này mang cái hình hài của những con người thời tiền Cách mạng, nhưng chứa tâm trạng của một tầng lớp trí thức sau ngày hiệp định Genève.


Tóm lại, khiếm khuyết thứ nhất trong câu định nghĩa về tiểu thuyết hay của tác giả Viết và đọc tiểu thuyết là không xác định tính chất thời đại, không thấy được tầm quan trọng và cái vai trò quyết định của nó. Ngoài ra, tính chất thời đại đòi hỏi nơi người cầm bút một tính chất khác hết sức thiết yếu, đó là tính chất tiêu biểu. Nhân loại đã trải qua 3 giai đoạn văn học lớn lao và mỗi giai đoạn có một quan niệm riêng biệt về xây dựng con người ở trong tác phẩm. Văn học cổ điển chỉ có mục đích chở đạo, cốt dùng văn chương làm một lợi khí truyền bá đạo đức, cho nên nhân vật của tác phẩm xưa chỉ là những thứ ước lệ, rất đỗi hoàn toàn để mà tượng trưng trung hiếu tiết nghĩa. Tác phẩm cổ điển không có những con người thực mà chỉ có con người kiểu, những con người giả, con người tiêu chuẩn mà thôi. Cho nên muốn thấy những con người thực trong tác phẩm xưa có lẽ phải tìm trong các nhân vật phụ thuộc, nghĩa là trong những loại người mà tác giả ít quan tâm hơn, và cái trách nhiệm luân lý của họ không có bao nhiêu, chứ khó lòng tìm trong nhân vật chính, bởi vì loại nhân vật này phải chở đạo đức lút đầu lút cổ khiến những quả tim, khối óc của họ bẹp nát cả rồi. Cũng bởi lẽ đó mà nàng Thúy Kiều - một nhân vật chính có nhiều vẻ sống hơn cả - đã bị các cụ ta xưa mắng lên mắng xuống nhiều phen, mặc dù đáy lòng các cụ có thể ấp ủ hình ảnh của một Kiều-nhi tương tự.


Khi nền văn nghệ lãng mạn trỗi dậy thay thế cho nền văn nghệ cổ điển, thì các nắp lò tình cảm được mở tung ra, và những con người ẩn ức bấy lâu bị sự chèn ép của các tiêu chuẩn đạo lý, bây giờ vồ vập đón lấy sự sống, a-sầm vào các ngõ ngách cuộc đời. Những con người tạm gọi là tự do ấy, có vẻ đông đảo hơn xưa nhiều lắm. Các tiểu thuyết mặc tình nói đến con người yêu đương, con người đau khổ, con người mơ mộng và bệnh hoạn, và chết chóc, nghĩa là chỉ cốt chú trọng khía cạnh cảm xúc phóng túng của những cá nhân riêng lẻ, cho nên nhân vật ở trong tiểu thuyết không còn phải làm mẫu mực, không còn phải làm tiêu chuẩn, nên có tính chất cá biệt, và sự cá biệt làm họ trở nên khuất lấp ở trong số đông vạn trạng thiên hình.


Nhưng nền văn nghệ ngày nay đã cùng tiến với khoa học, chính trị trong sự tìm hiểu con người, lấy sự tả thực làm một phương pháp chính yếu. Giá trị của một tác phẩm văn nghệ cao hay thấp, thâu hẹp hay tỏa rộng là do tác phẩm ấy phản ảnh sâu sắc, trung thực về các con người trong xã hội hay không, có giúp người đọc tự hiểu thêm mình cũng như hiểu thêm về các cảnh đời hay không. Nhưng làm sao thấy được những con người thực, làm sao để cho nhân vật trở nên sống động, có một sự sống lâu bền? Và trong cuộc đời đông đảo, biết chọn lựa ai mà nói bây giờ? Đến đây, vấn đề trở nên phức tạp, đòi hỏi một sự nhận định thật là dứt khoát, cu thể.


Tác giả Viết và đọc tiểu thuyết đã bày tỏ gì về các điểm này? Trước hết, xét trên tính chất căn bản, tác giả thừa nhận phải nói sự thực, nghĩa là tán thành lập trường tả thực. Và tả những ai, tác giả cho rằng cứ việc lựa chọn trước mắt và chung quanh ta, vì ta có cả hàng trăm hàng nghìn mẫu người ở trong cuộc đời. Làm sao để cho nhân vật linh động, sâu sắc, có một sự sống lâu bền, tác giả khuyên ta quan sát cho kỹ vì về hình thức thì “không có một người nào giống người nào cũng như có muôn ức triệu lá cây không có lá nào giống một lá nào” (trang 52), còn về ỷ-tình của họ, thì “ta đem chính lòng ta mà suy nghĩ. Câu “suy bụng ta ra bụng người” phải là câu châm ngôn của các tiểu thuyết gia” (trang 52).


Thiết tưởng viết tiểu thuyết là tả cuộc đời trong đó hầu hết là tả con người (trang 52) mà quan niệm theo như tác giả thì không tránh khỏi những điều mơ hồ và những lầm lẫn.


Mơ hồ là vì người viết không có một chỗ dựa nào cụ thể để mà quan sát nhân vật, nhất định phải bị hoang mang trong sự lựa chọn.


Lầm lẫn là vì quan sát con người, tác giả đặt nặng vấn đề hình thức mà không chú trọng nội dung. Theo lập luận tác giả thì chỉ có cái bên ngoài là khác nhau thôi - cũng như muôn triệu cái lá không có cái nào giống với cái nào - còn về nội dung thì sự khác biệt không gì đáng kể cho nên mới “lấy bụng ta để suy bụng người”. Đó là quan điểm hình thức, chỉ phản ảnh được những cái vỏ ngoài đa dạng một cách hời hợt, không sao thấu triệt được hết con người - Thật ra, vấn đề nội dung nhân vật được chỉ định rất nhiều bởi những điều kiện sinh hoạt và cùng một lối sinh hoạt như nhau người ta mới dễ có mối tương đồng trong sự cảm nghĩ. Sự cảm nghĩ ấy được biểu hiện ra bằng lời nói, bằng cử chỉ, bằng cách phục sức, nghĩa là hình thức của một nhân vật vẫn biểu hiện được nội dung nhân vật một cách cụ thể, đồng thời cũng giới thiệu luôn tầng lớp sinh hoạt của nhân vật ấy. Cái vỏ bên ngoài của một công chức vẫn giúp cho ta thấy rõ chừng nào tinh thần của công chức ấy và nói lên được chừng nào những nét tiêu biểu của giới công chức. Một người lơ xe đò, một người học sinh mẫu mực, một tên du đãng, một cô con gái nhà lành, đều có những cái hình thức riêng biệt của họ, và hình thức ấy biểu hiện nội dung của nhân vật ấy, đồng thời cũng giúp cho ta thấy được ít nhiều về hạng học sinh mẫu mực, hạng lơ xe đò, hạng gái nhà lành… Trong khi quan sát con người, quan điểm hình thức của ông Nhất Linh đã thoát ly hẳn sinh hoạt, không lấy điều kiện sinh hoạt làm tiêu chuẩn chính để mà nhận định nhân vật.


Chúng ta đều thấy, mỗi một con người đều có hai phần riêng biệt: một phần gồm những màu sắc cá biệt, một phần gồm những màu sắc xã hội, tức là màu sắc do sự sinh hoạt tạo thành. Vậy muốn mô tả con người cho thật sâu sắc, linh động, tất nhiên phải phân biệt rõ được hai điều ấy ở trong một người, tức là phải thể hiện được cái cá biệt tính đồng thời với xã hội tính.


Về xã hội tính, muốn tả nhà giáo ta phải quan sát nhiều nhà giáo khác chứ không thể đi quan sát phiêu lưu, chỉ tạo nên những chiếc áo tạp sắc của Arlequin. Phải lấy tiêu chuẩn sinh hoạt để mà quan sát, Gustave Flaubert bàn về tả thực cũng đã nhấn mạnh điều này. Sự quan sát về nhiều con người chung một điều kiện sinh hoạt cũng sẽ cung cấp bao nhiêu tài liệu quí giá về loại người ấy, về lớp người ấy, bởi vì trong khi quan sát ta sẽ loại bỏ những gì không tiêu biểu được cho điểm chung ấy.


Sở dĩ ta phải quan sát nhiều người cùng trong điều kiện sinh hoạt tương tự để lấy những nét tiêu biểu cho sinh hoạt ấy, tổng kết lại trong một người, là cốt để cho người đọc - ở những loại hạng khác nhau, trình độ khác nhau - dễ gặp lại mình qua nhân vật ấy (nếu cùng chung một sinh hoạt) hoặc dễ nhìn ra kẻ khác qua nhân vật ấy (nếu không cùng chung sinh hoạt). Thiếu một khả năng tổng quát hóa trong khi thể hiện, nhân vật trở nên lờ mờ, thiếu sót. Nói một cách khác, phải đạt đến xã hội tính, nhân vật mới có chiều rộng, mới tạo nên sự cảm thông và chỉ cần một ít nhân vật tiêu biểu đủ dựng được một cảnh đời bề bộn, phức tạp. Nếu không, nhân vật sẽ bị mất hút trong đám nhân sinh hỗn độn và không nói lên được một cảnh nào cho thật rõ ràng.


Nhưng chỉ đạt đến xã hội tính, tức là chỉ vẽ được nét tiêu biểu trong một nhân vật, thì nhân vật ấy có thể trở thành một thứ công thức trừu tượng, một thứ nhân vật ước lệ kiểu mới. Gọi ước lệ kiểu mới là để phân biệt với những con người ước lệ kiểu cũ ở trong văn học cổ điển. Ngày xưa, tính chất ước lệ hoàn toàn dựa vào tính tình, tư tưởng một cách trừu tượng, và nhân vật được chia làm kẻ trung, người nịnh, kẻ xấu, người tốt ở một tổng số loại hạng nào đó mà thôi. Còn ngày nay, sự ước lệ dựa vào những thói quen, những nề nếp cảm nghĩ và những phản ứng tất nhiên của nó, tạo thành bởi cuộc sinh hoạt thiên hình vạn trạng, cho nên tương đối phong phú, cụ thể hơn nhiều.


Để tránh một thứ ước lệ kiểu mới chỉ tạo nhân vật có mỗi thứ xã hội tính, tức là những loại nhân vật đại diện khái quát, không đúng với con người thực, cần phải thêm vào trong nhân vật ấy tính chất cá biệt. Nghĩa là, trong mỗi nhân vật, ngoài cái nhãn hiệu chung nói lên hoàn cảnh sinh hoạt nào đó, còn có cái nhãn hiệu riêng làm bằng cấu tạo di truyền riêng biệt, phản ứng riêng biệt. Chính cá tính này làm cho nhân vật có cuộc sống riêng ở giữa một cuộc sống chung, y như mọi con người thực ngoài đời. Điểm quan trọng nhất là xã hội tính của nhân vật phải được biểu hiện qua cái màu sắc cá biệt, chứ không tách rời một cách trừu tượng. Chẳng hạn, bản sắc mực thước của ông công chức A không thể giống như của ông công chức B, tinh thần sách vở của ông giáo X cũng khác với ông giáo Y.


Nhận định như vậy, tức là không thể tách rời hình thức ra khỏi nội dung, cũng như không thể quá thiên về một bên nào. Hình thức (tức là biểu hiện của nội dung) vẫn có tính chất cá biệt và cái tính chất xã hội của nó, y hệt như nội dung vậy. Chẳng hạn trong ba bốn người thợ máy vẫn có người lùn, người cao, người mập, người gầy, đó là một nét cá biệt về phần hình thức, nhưng trong thể cách ăn mặc, nói năng, đi lại, ngoài những sở thích cá biệt, cốt cách cá biệt, ta vẫn tìm thấy những điểm tương đồng, quen thuộc của lớp thợ máy, tức là tính cách xã hội của họ.


Ông Nhất linh đứng trên quan điểm hình thức và trên quan điểm cá nhân chủ nghĩa chỉ nhìn thấy những con người ở cái bề ngoài rời rạc, nên có nhận định trừu tượng, chủ quan, về mặt nội dung.


Câu “suy bụng ta, ra bụng người”, trước khi muốn thành một cái tiêu chuẩn cho người học viết, cần được hạn chế rất nhiều. Khác hẳn thể cách sinh hoạt, con người không sao cảm nghĩ hoàn toàn như nhau. Tục ngữ Tây phương có câu: “Jl semble à un larron que tout le monde lui ressemble” có thể tạm dịch bằng câu tục ngữ của ta “Bụng mình có thói gian tà. Mà mình lại nghĩ người ta như mình” đủ chứng tỏ rằng, nếu suy bụng ta ra bụng người, thì sẽ phạm phải không biết bao nhiêu lầm lẫn.


Có thể nói rằng lập luận trên đây của ông Nhất linh gián tiếp thừa nhận quan điểm nghệ thuật tháp ngà, nghĩa là có thể ngồi yên một chỗ để mà suy tưởng ruột gan thiên hạ. Không, người ta cần phải từng trải, tìm sống, tiếp xúc để mà cảm thông nhiều cảnh, nhiều người, mới mong nói lên được những tâm trạng kẻ khác. Do đó, viết tức là sống, sống cả chiều rộng và cả chiều sâu của cuộc đời mình. Văn nghệ là sự trao đổi kỳ diệu, nghiệt ngã, nhưng mà công bình. Nghiệt ngã là vì khó lòng “làm chơi ăn thiệt” mà những tác phẩm lớn lao đòi hỏi đánh đổi rất nhiều sự sống. Công bằng là vì người ta chỉ tìm thấy được những gì người ta mang đến mà thôi. Nhưng một khi sự sống đã được nhồi đúc trong lò sáng tạo thì đã biến hóa khí chất để thành một cuộc sống mới có những khả năng, quyền phép, tạo sự kỳ diệu của những công trình nghệ thuật.


Nếu ta liên hệ đến nhân vật chính trong bộ tiểu thuyết mới nhất, lớn nhất của ông Nhất Linh - tác phẩm Dòng sống Thanh Thủy ­- chúng ta nhận thấy cậu Ngọc cô Thanh chỉ có đôi nét cá biệt mà thiếu nhiều nét xã hội, tức là tiêu biểu. Người đọc không biết Ngọc là trí thức hay là công nhân, cách mạng hay là lãng tử, cũng như cô Thanh ở vào một tầng lớp nào rõ rệt. Các nhân vật ấy không có nguồn gốc xã hội cụ thể, và chỉ là những nhân vật không thực, khiến cho người đọc khó chịu, không giúp cho ta tìm gặp gì hết ngoài cái vấn đề gượng ép, mơ hồ mà chính tác giả bắt các nhân vật chuyên chở.


Nhưng thấy được các con người ở trong hoàn cảnh thời đại cụ thể, thấy được tính chất xã hội, tính chất cá biệt cùng những cảm nghĩ của các nhân vật, vẫn chưa thể hiện sâu sắc nếu không nhìn thấy vấn đề của các nhân vật.


Vấn đề của các nhân vật là những tương quan quyền lợi vật chất hoặc tinh thần đã ràng buộc các nhân vật ở vào những thế tranh đối, va chạm, cần phải tìm cách giải quyết cho được thỏa đáng. Vấn đề phát sinh từ sự bất ổn trong các điều kiện nhân sinh, luôn luôn hướng về một thể quân bình tương đối. Mỗi người phải bị ràng buộc vào nhiều vấn đề, nào là sinh kế, yêu đương, chính trị, văn hóa… và trong một vấn đề lớn lại có không biết bao nhiêu là vấn đề nhỏ. Chẳng hạn, trong một vấn đề yêu đương còn có vấn đề liênệac, vấn đề tín nhiệm, vấn đề sức khỏe… cho nên có thể nói rằng cuộc sống là một quá trình liên tục của sự phát hiện và sự giải quyết vấn đề. Chính khả năng phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề làm nên giá trị của một con người. Kẻ sống an nhàn ít phải tiếp xúc vấn đề hơn là người ham hoạt động, một kẻ nhu nhược để mặc cho điều kiện khách quan của những vấn đề quyết định lấy họ, khác hẳn với nghị lực, sáng suốt, luôn luôn tìm cách làm chủ tình thế, làm chủ vấn đề.


Khi người cầm bút viết lên một cảnh tình nào là đã thể hiện vấn đề rồi đó. Một khi tác phẩm có một vấn đề đóng vai trò chủ điểm và buộc một sự giải quyết cụ thể, dứt khoát thì đấy là loại tác phẩm luận đề. Văn chương cổ điển hầu hết gồm những tác phẩm luận đề, nhưng luận đề ngày xưa có tính phiến diện, tổng quát, thiên về luân lý, khác với luận đề ngày nay đề cập đến nhiều sự kiện phức tạp và có nhận định cụ thể, sát thực nhiều hơn.


Một số tác phẩm luận đề sở dĩ bị sự công kích là vì người viết khi phát hiện vấn đề cũng như giải quyết vấn đề đã quá gò ép nhân vật chạy theo quan niệm của mình, bất chấp cả những qui luật khách quan chi phối sự sống nhân vật. Nhà văn sau khi tạo ra nhân vật thì vừa điều khiển nhân vật lại vừa lệ thuộc nhân vật. Xưa nay có một số người cầm bút chỉ thấy mỗi phần điều khiển mà quên hẳn phần lệ thuộc. Không có sự điều khiển nào thật sự hiệu quả mà không gắn liền với sự vâng lời. Chính nhận định này nói lên tinh thần dân chủ ở trong văn nghệ, bởi vì trong các tác phẩm cổ điển ý thức xây dựng nhân vật thật là hết sức độc tài. Gọi rằng độc tài là vì nhà văn toàn quyền quyết định nhân vật, nhà văn tự do ban phước giáng họa dựa theo sở thích chủ quan của mình và bất chấp đến điều kiện thực tế của các nhân vật. Một người đáng yêu như nàng Thúy Kiều hay nàng Nguyệt Nga thì dù có nhảy xuống sông, xuống biển cũng vẫn ngâm câu trường thọ, còn một Lý Thông hay một Trịnh Hâm thì đi bất cứ nơi nào, mùa nào cũng bị sét đánh hay là cá xơi.


Ngoại trừ một loại tác phẩm luận đề máy móc như vậy, chúng ta có thể suy rộng hơn nữa để xác định rằng tất cả tác phẩm văn chương đều là tác phẩm luận đề, gồm trong hai loại: tác phẩm luận đề gián tiếp và tác phẩm luận đề trực tiếp.


Gọi là luận đề trực tiếp hay tích cực là những công trình nghệ thuật có một chủ điểm khá rõ và mọi chi tiết đều qui về chủ điểm ấy, lấy sự thực hiện chủ điểm, giải quyết vấn đề làm một băn khoăn chính yếu. Ngoài ra, các tác phẩm khác, bất luận là tác phẩm nào cũng đều nói lên một số vấn đề, và dù không có giải quyết cụ thể, ít nhất nhà văn cũng có thái độ trong cách trình bày hoặc là phản đối, hoặc là tán thành, hoặc là lưng chừng, hoài nghi không có ý kiến dứt khoát. Như thế, trong các tác phẩm loại này, phần luận đề không được nhận diện rõ ràng nơi phần kết thúc mà được khám phá ở trong toàn thể công trình, nên ta có thể gọi đó là những tác phẩm luận đề gián tiếp hay là tiêu cực.


Chúng ta phải đi khá xa như vậy chỉ cốt xác nhận sự quan trọng đặc biệt của vấn đề ở trong tác phẩm, và đấy là điểm mà ông Nhất Linh không đề cập đến trong tập biên khảo của mình. Vấn đề của những nhân vật chi phối nhân vật và có sự sống độc lập ngoài các nhân vật. Người ta có thể cho rằng không có con người trừu tượng, con người lẻ loi mà chỉ có con người của các vấn đề. Tách rời nhân vật ra khỏi vấn đề, tức là tách rời ra khỏi sự sống và cũng là chuyện phi lý, không thể thực hiện. Bởi vậy, dù không còn thích viết loại truyện tiểu thuyết luận đề, Dòng sông Thanh Thủy lại là tác phẩm luận đề, một thứ luận đề thụ động, giả tạo. Thực ra, vấn đề của tác phẩm đã được ông Nhất Linh nêu lên trong mục các việc xảy ra (để tránh dùng chữ “cốt truyện”) nhưng ông không thấy đúng tầm quan trọng của nó và mối liên hệ của nó đối với nhân vật. Ông bảo “cốt truyện không có gì là quan trọng (…) cần có cái đại cương là đủ rồi”. (trang 65). Những tiếng không có gì là quan trọng cũng như có cái đại cương quả là hết sức mơ hồ.


Nhận xét thực tế văn nghệ hằng ngày, ta có thể thấy hai cái sự kiện mâu thuẫn sau đây: một số nhà văn chuyên nghiệp viết những truyện dài đăng các nhật báo thường bịa đặt những câu chuyện tình tiết éo le, gay cấn để mà câu dẫn người đọc và họ tách rời ra khỏi thực tế trước mắt, vì chỉ chú trọng vấn đề mà không chú trọng con người. Ngược lại, một số nhà văn không phải chuyên nghiệp, quá thiên về sự phân tích tỉ mỉ con người, dẫn dắt độc giả lan man vào trong ngõ ngách tâm hồn và cũng tách rời tác phẩm ra khỏi sự sống vì chỉ chú trọng nhân vật mà không chú trọng vấn đề. Vậy thì quá thiên về những vấn đề mà quên con người cũng là sai lầm như quá thiên về con người mà quên vấn đề. Nhà văn có tài thể hiện đầy đủ con người và vấn đề của con người một cách sống động, và tùy theo từng vấn đề mà nên có nhiều tình tiết hay ít tình tiết đó thôi. Không thể lẩn thẩn nói rằng đừng nên chú ý cốt truyện mà cũng không thể nông nổi cho rằng phải nên chú ý cốt truyện. Tả những va chạm éo le ở trong xã hội, làm sao mà không có cốt truyện được? Tả một nỗi buồn, một niềm vui, ít nhiều thắc mắc tâm tư, cần gì phải xây dựng nhiều tình tiết? Ông Nhất Linh đặt nhẹ cốt truyện là đã nhận định vấn đề một cách phiến diện. Cốt truyện Thủy Hử rắc rối là vậy mà vẫn không kém nghệ thuật là vì nhân vật cùng với vấn đề của tác phẩm ấy đã được xây dựng trong một nhận thức tổng hợp, bằng những chi tiết điển hình. Nếu gạt bỏ cốt truyện ấy đi, thử hỏi còn lại cái gì về các con người? Chỉ là một đoàn quân ma biểu diễn mờ nhạt dưới cái lá cờ buồn thảm là đầu đề sách mà thôi. Và chính vấn đề ở trong Dòng sông Thanh Thủy quan niệm không được rõ ràng, hợp lý, cho nên cậu Ngọc cô Thanh đều là nhân vật giả tạo.


Tóm lại, bàn về xây dựng nhân vật, tác giả Viết và đọc tiểu thuyết vấp phải bốn sự thiếu sót sau đây: một là chỉ thấy tính chất trừu tượng mà không nhìn thấy tính chất thời đại, hai là chỉ thấy con người riêng lẻ mà không nhìn thấy con người xã hội, ba là chỉ thấy cảm nghĩ cộng đồng mà không nhìn thấy cảm nghĩ cá biệt, bốn là chỉ thấy con người mà không nhìn thấy được vấn đề của những con người. Tác giả khuyên bảo người ta phải viết cho hay nghĩa là phải viết cho sâu sắc, nhưng trong phương pháp đề ra, thiếu thốn quá nhiều điều kiện căn bản để tạo nên sự sâu sắc. Cho nên, người ta không phải ngạc nhiên khi nhận thấy rằng tiểu thuyết của ông Nhất Linh - nhất là những sáng tác phẩm sau này - không hề có sự sâu sắc chút nào mà chỉ có được những nét tinh tế lẻ tẻ trong cách quan sát bên ngoài nhân vật.


* * *


Thiết tưởng chỉ cần tìm hiểu trên câu định nghĩa về tiểu thuyết hay chúng ta đủ nhận định rõ toàn bộ quan niệm văn nghệ của ông Nhất Linh có một giá trị thế nào. Tác giả bị cái tinh thần cá nhân chủ nghĩa hạn chế mọi sự suy tưởng nên chỉ nhìn thấy vấn đề văn nghệ một cách thụ động, tách rời ra khỏi sinh hoạt, thoát ly ra khỏi nội dung, rơi vào các vết xe cũ của những quan điểm hình thức, quan điểm cục bộ, quan điểm không tưởng, biến đổi văn chương thành một khu vực an toàn của kẻ dư nhàn hưởng thụ. Cố nhiên là một quan niệm văn nghệ như vậy khó lòng mà được chấp nhận, nhất là đối tượng tác giả nhằm vào là quần chúng đông đảo. Do đó nói về cách viết và đọc tiểu thuyết - tức là phần hai, phần ba - ở trong tác phẩm, tác giả phải bị lệ thuộc vào nhận định trên nên không tránh được khuyết điểm tương tự. Cũng như bố cục tác phẩm, ngay trong phần đầu, đã có nhiều sự lộn xộn, phản ảnh tình trạng nhận thức thiếu sót. Nếu tác giả khởi sự nói rõ vì sao người ta viết những tiểu thuyết rồi liên hệ với trường hợp của bản thân mình để cho vấn đề được thêm cụ thể, lý thú, sau đó sẽ nói đến ích lợi của tiểu thuyết, và thế nào là tiểu thuyết hay, rồi cuối cùng nêu lên những điều lầm lẫn của mình trong khi sáng tác, thì chắc độc giả dễ dàng lĩnh hội vấn đề hơn cả. Đằng này tác giả bắt đầu bằng cái tiểu đề Những điều lầm lỗi nhưng lại không thấy một lỗi lầm nào, đến cái tiểu đề Tiểu thuyết hay nhưng chẳng thấy sự hay ấy ra sao, rồi mới đến các phần khác, không theo một trật tự nào hợp lý.


Tuy vậy, nếu không tán thành quan niệm văn nghệ của ông Nhất Linh người ta vẫn chẳng vì thế mà không nhìn thấy thiện chí của một ngòi bút không hề ngừng nghỉ, tác phong trung thực của một con người biết mổ xẻ mình, thái độ khiêm tốn của một nhà văn có nhiều uy tín và trên hết là tinh thần tích cực của một con người tuổi tác không muốn rời xa bạn trẻ, không quên trách nhiệm đối với tiền đồ văn nghệ.


(Tạp chí Bách Khoa,


số 122, ngày 1/2/1962)


(còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn. Bản thảo biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người say trong tỉnh, tỉnh trong say - Vũ Từ Trang 12.06.2019
"Sau đám mây đen là mặt trời rực rỡ” – Giọng thơ nhân ái giàu tính triết luận - Nguyễn Văn Hòa 12.06.2019
“Mùa xa nhà” và những góc nhìn khác đối với chiến tranh - Nguyễn Văn Hòa 12.06.2019
Viết về Bùi Giáng - Nhiều tác giả 09.06.2019
Bình bài thơ Em sẽ đến của Bùi Hải Đăng - Nguyễn Lan 08.06.2019
Tuổi mưa trong thơ Nguyễn Thị Việt Nga - Nguyễn Lan 08.06.2019
Cảm thức thời gian trong “Dòng sông năm tháng” của Hà Cừ - Nguyễn Lan 08.06.2019
Kính biệt nhà thơ Tô Thùy Yên – “Cảm ơn hoa đã vì ta nở” - Tư liệu sưu tầm 07.06.2019
Ta về một bóng trên đường lớn… - Thảo Dân 06.06.2019
Phác họa Trịnh Công Sơn - Thảo Dân 06.06.2019
xem thêm »