tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29374202
Lý luận phê bình văn học
05.11.2018
Vũ Hạnh
Tính yêu đời trong thi văn ta xưa


Dưới chế độ cũ, vào khoảng giữa năm 1964, một bác sĩ tùy viên văn hóa của tòa Đại sứ Tây-Đức tại Sài Gòn có thuyết trình về “Cung Oán Ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều.


Tôi không biết đủ nội dung của bài thuyết trình, nhưng căn cứ sự tóm lược trên đôi tờ báo, thì thuyết trình viên - qua sách cung oán - nói về “tư tưởng bi quan của dân tộc Việt”.


Nếu quả như vậy, thì bài thuyết trình đã gặp rất nhiều ý kiến đồng điệu của khá nhiều nhà làm văn học sử Việt Nam bình giải văn chương nước nhà từ trước. Hầu hết đều xác nhận rằng tư tưởng của Nguyễn Gia Thiều thật là bi quan, và người cung nữ ở trong tác phẩm đã phơi bày một tâm trạng vô cùng sầu não, đã biểu lộ sự tuyệt vọng đến đọ cao nhất và sâu sắc nhất.


Nhưng người cung nữ đã nói những gì, để cho nhiều người đến phải đồng tâm nhất trí trong nhận định ấy?


Mở đầu, nàng cho ta thấy cảnh ngộ hẩm hiu, cô độc của nàng vì nỗi duyên nợ bẽ bàng đến phải kéo dài chuỗi ngày lạnh lẽo trong chốn thâm cung. Rồi sau khi nhắc nhở lại tài sắc tuyệt vời, quán thế của mình, nàng giải bày hết tâm sự buồn chán về đời: Theo nàng, từ bé đến già, con người phải chịu toàn những đau khổ giày vò, không có lúc nào hưởng được thanh nhàn, hạnh phúc. Kẻ nghèo thì bị đói lạnh hành hạ:


 Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da


mà đến những kẻ giàu sang cũng bị cái “mồi phú quí”, cái “bả vinh hoa” lừa bẫy gian nan, như một cánh buồm bị bao sóng gió cợt đùa trên bể mênh mông. Nàng thấy con người chỉ là trò chơi của định mệnh khắc nghiệt, con người bất lực, vô vọng, đi giữa cuộc đời như giữa đêm dài mờ mịt:


Quyền họa phúc trời tranh mất cả


Chút tiện nghi chẳng trả phần ai.


Cái quay búng sẵn trên trời


Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.


Với nàng, con người là bọt, là bèo, là thuyền bào ảnh, trôi giạt lênh đênh, vô nghĩa chừng nào! Nhưng ngoài con người, nàng thấy có gì là tồn tại đâu? Núi sông rồi cũng phong trần, cỏ hoa rồi cũng tang thương, cho đến côn trùng, gỗ đá cũng nát, cũng hư, tất cả đều ở trong vòng hủy diệt. Để thoát ra khỏi cảnh đó nàng muốn đi tu, nhưng nào có được. Rồi nàng được tuyển vào cung, được gần gũi đấng quân vương, được hưởng cho đến cực độ bao nhiêu hoan lạc mà kẻ bề trên ban xuống cho nàng. Nhưng mối tình kia bỗng nhiên “không tát mà vơi”, nhà vua sớm hắt hủi nàng. Bây giờ lạnh lẽo, cô đơn cùng ở với nàng. Có lúc nàng đã “muốn kêu một tiếng cho dài”, hoặc đã muốn “dứt tơ hồng”, muốn “đạp tiêu phòng mà ra”, nhưng cuối cùng đành ngoan ngoãn sống trong cô độc, nhìn cái sắc xuân tàn tạ ở trên đôi má nhăn nheo, chờ đợi vu vơ một ngày nhà vua đoái tưởng đến nàng.


Đại khái nội dung tác phẩm xoay tròn trong bao nhiêu ý, và từ xưa nay một số người đọc vẫn thường nhận định đó là nỗi buồn, nỗi oán kết thành văn chương.


Sự thực có phải như vậy hay chăng? Cung oán chính là nỗi buồn, là niềm tuyệt vọng? Dân tộc chúng ta có những tấm lòng bi thảm đến thế kia sao? Chúng ta cần kiểm điểm lại, bởi lẽ những nhận xét ấy chưa hẳn đã là sự thực, kể cả sự thực ở trong tác phẩm cũng như ngoài đời.


Trong sự thưởng ngoạn văn chương cũng như phán đoán về đời, khi ta nói về niềm vui, nỗi buồn của một người nào, một nhân vật nào, ta ưa quan niệm sự vui, buồn ấy một cách đơn giản, xác định, cơ hồ như không có gì cần phải hồ nghi. Nhưng những gì là cốt tủy cuộc sống là bản chất trong sự vật, chứ không phải là muôn ngàn hiện tượng đủ màu, đủ vẻ phô trương. Nếu ta khổ sở về một người nào là vì ta vẫn còn mối quan tâm đặc biệt đến con người đó, và sự giận dỗi, hờn ghen nhiều khi chẳng là dấu hiệu của lòng thương yêu đấy sao? Những sự oán ghét sôi nổi, những niềm tuyệt vọng chán chường thường là phản ứng của một gắn bó sâu xa không được thỏa nguyện. Có ai đam mê cuộc sống bằng Nguyễn Công Trứ? Trên bốn mươi tuổi vẫn còn lao đao vì bước công danh mà sự xông pha đâu kém nhiệt tình? Lúc tám mươi tuổi, tưởng như gối mỏi chân chồn, vẫn quyết một lòng phụng sự cho dân cho nước. Thật chưa thấy một kẻ nào ca ngợi hành lạc sốt sắng bằng Nguyễn Công Trứ, chưa một kẻ nào tin tưởng ở tương lai mình vững chắc bằng Nguyễn Công Trứ, thế mà khi đối diện với thế thái nhân tình trong lúc mình lâm vào cảnh bần cùng, hoạn nạn, thì chính ở nơi người ấy bộc lộ những lời phỉ báng cuộc đời cay cú, chát chua hơn hết. Khi ông bảo rằng:


Thế thái nhân tình gớm chết thay


và phủ nhận hết tất cả giá trị đạo đức của cuộc đời này:


Hễ không điều lợi khôn thành dại,


Đã có đồng tiền dở hóa hay


Khôn kéo chẳng qua ba tấc lưỡi


Hẳn hoi không hết một bàn tay


thì ta vẫn hiểu bản tâm của ông không nghĩ như thế bao giờ. Những sự phủ nhận nghiệt ngã và cực đoan ấy đã cho thấy rõ tấm lòng khát khao vô tận chưa được thỏa mãn, đó là một cái mặt hồ gợn sóng lao xao, nhưng ở đáy sâu vẫn còn y nguyên một khối nước dày, khối nước chỉ đợi tiếp nhận, hòa tan sức sống. Chỉ có khi nào đã thôi gắn bó, người ta mới thấy cõi lòng lạnh nhạt, và cái thái độ thực sự hững hờ, thực sự dửng dưng mới chính là những biểu hiện bi quan hết sức đậm đà. Có những con người như Nguyễn Bỉnh Khiêm, thanh thản ra khỏi cuộc đời:


Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ


Người khôn người đến chốn lao xao


Thu ăn măng trúc, đông ăn giá


Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao


và phán đoán về thế sự bằng một cặp mắt vô tư:


Mặn lạt chua cay lẫn ngọt bùi


thì ta thấy rõ ông đã dứt bỏ được bao hệ lụy của cái cuộc đời phiền tạp. Chỉ có dứt bỏ được những say mê mới đủ bình tĩnh mà nhìn nhận rằng trong cuộc đời này lạt lẽo vẫn đi đôi với mặn mà, và giữa những nỗi đắng cay vẫn có thể tìm thấy được ngọt ngào, bùi bổ trong những mùi vị trần gian. Cái nhìn đã thoát ra khỏi những dây ràng buộc bình thường nên không thiên lệch, cực đoan, ở đây cũng là cái nhìn lạnh lẽo ôm choàng thế sự. Còn yêu hay là còn ghét là còn thiết tha, bởi yêu và ghét chỉ là hai mặt của một vấn đề, vấn đề bảo vệ lấy cuộc sống này. Và yêu hay ghét dễ dàng đưa tới thiên lệch, như lời ca dao vẫn nói xưa nay:


Yêu thì yêu cả đường đi,


Ghét thì ghét cả tông chi họ hàng


Dù người ta thường nói đến một Cao Bá Quát chán đời, nhưng Cao Bá Quát chưa hề thực sự chán đời một lúc nào hết. Đôi khi ông nói những ý buồn nản như sau:


Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy


Kiếp phù du trông thấy cũng nực cười


Thôi công đâu chuốc lấy sự đời…


thì ở tiếng “thôi” đầu câu thứ ba, chúng ta đọc thấy gắng gượng chừng nào! Tiếng “thôi” nặng nề tưởng đến ngàn cân cố gắng, xoay hẳn cái nhìn tác giả về phía nhàn lạc trong khi ông vẫn cố quay ngước lại đăm đăm nuối lấy sự đời. Cái miệng ấy quả có những điều mà lòng ấy chưa cảm nghĩ sâu xa. Cho đến chén rượu của Cao Bá Quát đâu phải là để giải sầu! “Tiêu khiển một vài chung lếu láo” thì có gì là vui đâu? Người uống “lếu láo” chỉ là nhấm nháp cho xong, cơ hồ trong rượu vẫn còn dư vị đắng cay của đời, đâu phải là liều thánh dược giúp cho siêu thoát tâm hồn? Khi Cao Bá Quát hạ xuống câu thơ bằng cái giọng điệu tán thán:


Làm chi cho mệt một đời!


 thì ta có thể mượn ngay câu ấy, đổi làm nghi vấn: “Làm chi cho mệt một đời?” để mà thử hỏi ông xem. Bởi vì làm chi mà phải hăm hở phất cờ khởi nghĩa để cho đến nỗi gông cùm tù tội, tam tôc tru di? Nếu quả cuộc đời chỉ nên nghỉ ngơi cho khỏe - như lời ông nói - thì cứ giữ nguyên cái chức giáo thọ Sơn Tây, bằng lòng với cảnh “một thầy, một cô, một chó cái” có phải hơn không? Nhưng Cao Chu Thần thực tâm đâu có nghĩ thế bao giờ! Suốt đời ông vẫn gắn bó thiết tha với cuộc sống mình, muốn nó tươi hơn, đẹp hơn như lòng sở nguyện, và con đường đi dù có thất bại hay là sai lầm thì bản chất ông vẫn nguyên là một bản chất nồng nhiêt yêu đời. Bao nhiêu thi phẩm có vẻ buồn chán của Cao Bá Quát thường được trình bày ở trong nhà trường như là “Thì giờ thấm thoát”, “Uống rượu tiêu sầu”, “Ngán đời”, v.v… chỉ là những sự phản ứng chốc lát, bên ngoài, của một cuộc sống có nhiều thao thức, băn khoăn mà chưa toại nguyện. Cứ nhất định bảo rằng Cao Bá Quát chán đời thật có khác gì bảo người da vàng chúng ta máu huyết cũng vàng! Như vậy, lấy cái bề mặt hời hợt kia làm chân lý, hay là phải đi vào trong bản chất bề sâu? Lấy cái sự sống đích thực để làm tiêu chuẩn, hay dựa vào những trạng thái nhất thời để làm giá trị? Nhìn cái nụ cười gắng gượng trên môi của kẻ đau khổ nẫu lòng, rồi bảo rằng họ đang cơn vui sướng, thì có gì xa vời hơn và nhẫn tâm hơn. Biết bao nhiêu giọt nước mắt chỉ là dấu hiệu của lòng hoan lạc, biết bao vẻ mặt lạnh lùng ngầm chứa những cơn bão tố bên trong. Người xưa há chẳng thường nói:


Cười như chàng trẻ hỏng thị


Khóc như cô gái ngày đi lấy chồng


Bản chất sự việc vốn là thuần nhất mà những hiện tượng của nó phát biểu ra ngoài vốn là đa dạng. Chỉ một niềm vui nhưng có bao nhiêu là cách phô bày: hoặc một nụ cười, hoặc những tiếng nói, có thể là sự nhảy nhót, là sự lặng yên, hay cả tiếng khóc nữa kia. Văn chương có cái nhiệm vụ phát biểu sự sống một cách cụ thể nên cũng tìm đến với ta bằng sự phô bày hiện tượng, bởi vì cuộc sống vốn được tiếp diễn bằng các hiện tượng muôn hình ngàn vẻ. Như thế, hiện tượng là cách phát biểu của bản chất, chứ không nhất thiết là bản chất. Người xưa nhìn thấy mặt trời mọc sáng lặn chiều, có thể tưởng nó xoanh quanh một cái quả đất đứng yên, nhưng mà khoa học của lớp sơ đẳng ngày nay cũng cho ta biết rằng chính quả đất mới là xoay quanh mặt trời. Sóng biển vẫn cứ lăn tròn một chỗ, nhưng ai lại chẳng bảo nó chạy dài trên mặt bể khơi? Cũng như những kẻ ngồi lên xe chạy vút nhanh dễ nghĩ cây cối bên đường lùi chạy lại phía sau mình. Và biết bao nhiêu phấn son rực rỡ trên một thiếu phụ chỉ là dấu hiệu tiêu điều của một tâm trạng băn khoăn về cái nhan sắc đang độ suy tàn. Hiện tượng có thể đồng nhất với bản chất như kẻ đau đớn trong lòng kêu rên ngoài miệng, như kẻ vui sướng trong ruột cười hát ngoài môi, nhưng hiện tượng có thể phát biểu trái nghịch lại bản chất, tựa hồ như vỏ dưa hấu màu xanh che đậy cái ruột tươi hồng. Cuộc sống đa dạng, phức tạp, cho nên bám vào hiện tượng đã sai, mà chỉ bám vào mỗi một hiện tượng để phán đoán về sự vạt lại càng sai lầm hơn nữa. Chúng ta xuyên qua hiện tượng để tìm bản chất, nhưng mà làm sao tìm được bản chất đích thực nếu không kết hợp lại nhiều hiện tượng và nếu không đem sự kết hợp ấy đối chiếu với lại thực tế cuộc đời? Bản chất - hay là chân lý - không phải thường xuyên trình diện với ta một cách dễ dàng, mà nhiều khi chỉ hiện đến với những kẻ nào thành thực khổ công để tìm kiếm nó.


Trong sự tìm hiểu văn chương từ trước đến nay vẫn còn một thứ hiện tượng chủ nghĩa nặng nề đã được phổ biến, khiến sự bình giảng văn học nhiều khi xa lìa bản chất, làm cho sự thực ở trong tác phẩm trở thành nghễng ngãng đối với sự thực ngoài đời. Bám vào hiện tuợng và dừng bước lại ở đó, người ta rất dễ hoang mang, bởi vì cuộc sống trở thành quá đỗi mênh mông, phức tạp. Và những sự thực cũng thành lạc lõng, xa vời. Khi một nhà thơ cất tiếng thở dài, tất nhiên không thể vội bảo là họ đang buồn, cũng không vội bảo là họ đang vui. Thở dài vốn là hiện tượng phổ biến của sự sầu buồn, nhưng vẫn có thể là sự yêm tâm của một tấm lòng nhẹ nhõm, và cũng có thể là cái bộ điệu giả dối của kẻ đóng vai xúc động não lòng khi tâm trạng họ chai lì, lạnh lẽo. Kết luận bài thơ “Đại hạn”, Trần Tế Xương viết:


Tình cảnh nhà ai nông nỗi ấy,


Quạt mo phe phẩy một mình tôi.


tưởng như là một nụ cười tự đắc, nhưng dễ nhận thấy đó là một tiếng thở dài. Nguyễn Khuyến nói chuyện câu cá mùa thu, rồi bảo:


Tựa gối ôm cần lâu chẳng được


Cá đâu đớp động dưới chân bèo.


nhưng thực ông có băn khoăn về cá một chút nào đâu? Ông đi câu sự nhàn rỗi giữa ao chứ không câu cá dưới ao. Những cái ví dụ khá đơn giản này thật chưa đủ làm sáng tỏ vấn đề. Nhưng lối giảng giải văn chương theo cái tinh thần hiện tượng chủ nghĩa làm cho tác phẩm trở thành bằng phẳng, nghèo nàn, và người học sinh dễ thấy chán nản, lạc loài. Chính sự kiện này đẻ ra một lối giảng văn tán rộng, với những liên hệ bâng quơ, chỉ có ý nghĩa giải khuây nhưng chẳng qui về một cái tác dụng giáo dục rõ ràng nào cả. Chỉ có cố gắng tìm vào bản chất, tức là cốt tủy sự sống, động cơ cuộc sống, chúng ta mới thấy sự sống có những qui luật, có sự nhất trí và cảm thấy hết được sự lớn lao, chặt chẽ vô cùng của nó.


Trở lại với người cung nữ của Ôn Như Hầu, có lẽ trước hết ta nên tìm xem vì sao mà nàng đau khổ. Chính là vì chút hạnh phúc mà nàng ước ao, không được vẹn toàn, vì những niềm vui mà nàng hưởng thụ không còn tiếp nối. Xét cho đến cùng thì tiếng kêu than của nàng dấy lên từ sự tha thiết yêu đời. Bởi vì cung nữ chính thực là kẻ yêu đời rất đỗi thiết tha.


Chúng ta đều rõ yêu đời là cái tình cảm phát khởi từ sự mến yêu cuộc sống bản thân, bởi mọi tình cảm hướng ngoại bao giờ cũng xuất phát từ cơ sở tự vệ. Người con khóc cha bắt nguồn từ cái nỗi lòng xót xa cho cảnh mồ côi của mình. Người vợ khóc chồng bắt nguồn từ sự đau đớn về cái cảnh tình góa bụa mà mình trải chịu. Khi nàng Thúy Kiều nhìn thấy nấm mộ Đạm Tiên và nhỏ những giọt nước mắt thương tâm thì chính là vì nàng đã cảm nghĩ về mình:


Thấy người nằm đó, biết sau thế nào!


Những tình cảm ấy không phải là những biểu hiện ích kỷ, trái lại nó đã đi từ nơi ta mà đến tha nhân, vượt khỏi những sự tính toán cá nhân chật hẹp mà hòa hợp được giữa ta và người. Tất cả những tình cảm tốt, xứng đáng, đều đã diễn biến như thế, vì sự tốt đẹp, xứng đáng vẫn là tạo được hòa hợp thỏa đáng giữa ta và người. Nguyễn Du thật đã có lý khi viết trong Kiều: “Mà trong lẽ phải có người, có ta”, bởi chính cái thật sự là lẽ phải không thể giành hết phần lợi cho ta, hay là nhường hết phần lợi cho người. Không thể nào quan niệm có những người yêu đời mà không yêu mình, không thấy tự quí mến mình. Những kẻ tuyệt vọng tự vận từng là những kẻ đã quá yêu đời cho đến khi va chạm với sự thực phũ phàng bỗng hết niềm tin, nỗi quí về mình, như lời Nguyễn Du nhận xét:


Đã không thấy sống là vui


Tấm thân nào biết thiệt thòi là thương,


Người cung nữ của Ôn Như Hầu là người yêu mình đến độ kiêu hãnh, tự phụ một cách kỳ quặc. Chỉ nghe nàng nói về tài sắc nàng, nhiều người đã thấy đỏ mặt lên rồi. Người đâu mà lại có người quái dị đến mức tự phong cho mình những cái giá trị khác thường làm vậy? Nàng thấy nàng đẹp, không chỉ đẹp như bao nhiêu người đẹp đã được truyền tụng từ xưa - như là Hằng Nga, Tây Thi - mà còn đẹp hơn họ nhiều, đẹp cho đến nỗi:


Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình.


Yêu đời còn là bám vào hiện tượng, hình thể, bám vào cái lẽ “sắc sắc” mà tiếng nhà Phật thường dùng. Nhưng cái hình thể, ở đây, lại chính là mình, như thế lòng yêu đời ấy chẳng phải cao độ hay sao? Cung nữ thấy được cái sức quyến rũ phi thường của mình, khiến cho:


Chìm đáy nước, cá lờ đờ lặn,


Lửng da trời, nhạn ngẩn ngơ sa.


Loài người mới nghe nói đến về nàng:


 Bệnh Tề Tuyên đã nổi lên đùng đùng


và chỉ mới thấy bóng nàng thấp thoáng:


 Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa.


Tất nhiên những kẻ yêu đời không cần phải quyến rũ ai, nhưng sự quyến rũ vẫn là một thứ biểu hiện của lòng ham sống. Nói về tài năng, nàng cũng có một giọng điệu phô trương như thế. Về thơ, nàng là đàn anh của Lý Bạch; về họa, nàng là bậc chị của Vương Duy; cho đến đánh cờ nàng cũng ngang tài với tiên Đế Thích; uống rượu - lại uống rượu nữa - cũng sánh với bợm Lưu Linh. Nói chung, cái gì nàng cũng hơn người, cho đến tiếng đàn, tiếng sáo, điệu múa, câu ca, cũng vượt lên trên những bậc tài danh lừng lẫy, hơn cả thiên tiên trên trời. Muốn vượt hơn người là những ý tình háo thắng, mà đã háo thắng là hàm ngụ ý tranh đua, và đã tranh đua là còn muốn sống, ham sống. Ý thức quá đầy đủ về tài sắc mình nên nàng nhằm trước một cái địa vị cao sang trong xã hội nàng. Dù nàng không nói thật rõ ước vọng được làm hoàng hậu, khi nàng còn chưa đến tuổi dậy thì, nhưng kiểu nói xa nói gần của nàng cũng quá lộ liễu để ta hiểu nàng muốn gì. Đối với tầng lớp công hầu, khanh tướng “rắp ranh bắn sẻ”, “mở lối tìm hương”, nàng đều nhìn họ khinh khi, coi họ là lũ mặt phàm không sao đến được thiên thai là chỗ ở nàng. Thế mà giữa lúc như vậy nàng nói cuộc đời đáng chán, chúng ta có thể tin được hay không? Nhiều kẻ gọi rằng thoát tục, khoác áo nâu sồng mà vẫn hãy còn náo nức về những quyến rũ của đời, huống thay là nàng chỉ lo chải tóc cho trơn và mặc áo quần cho đẹp! Cũng có những kẻ bệnh hoạn bỗng dưng chán ghét cuộc đời, sớm chiều có thể coi thường sự sống một cách đột ngột. Nhưng nàng không thuộc vào trường hợp ấy. Nàng nói đến những éo le, tàn khốc của cuộc đời này một cách cực đoan vô tả, tỏ rằng nàng không có lấy kinh nghiệm mảy may. Theo nàng, con người là trò chơi của định mệnh, “cái quay búng sẵn trên trời”, con người trói tay, chịu sự hành hạ của một tạo hóa khắt khe. Nếu hiểu định mệnh là một khả năng huyền bí chi phối đời ta, mà ta không sao hiểu nổi bao nhiêu tác động nhiệm mầu, thì ở trong đó vẫn có một số khả năng, dù ta không kiểm soát được bởi vì ở ngoài ý muốn chúngta, nhưng ta vẫn nhạn diện được và vẫn có thể cố gắng để mà góp phần cải thiện ít nhiều. Những khả năng đó, chính là yếu tố di truyền, hoàn cảnh xã hội, điều kiện thiên nhiên. Nói về yếu tố di truyền, con người phải chấp nhận một hình thể từ khi sinh ra với một điều kiện sức khoẻ nào đó mà mình không thể chọn lựa từ trước, nhưng không vì thế mà mình không thay đổi được ít nhiều thực trạng cơ thể của mình. Về cái hoàn cảnh xã hội hay là điều kiện thiên nhiên cũng vậy, con người không thể lựa chọn từ lúc sinh ra, nhưng khi con người ý thức được cảnh ngộ mình, vẫn có thể góp phần làm xã hội thêm phần tươi đẹp, chế tác thiên nhiên phong phú, thuận lợi nhiều hơn. Bên cạnh sự ràng buộc nghiệt ngã của định mệnh, vẫn còn tự do của ý chí mình, và cái tự do của ý chí ấy tùy thuộc ở sự cố gắng từng giờ từng phút để mà thay đổi đời mình theo chiều hướng tốt. Khi André Malraux cho rằng “Nghệ thuật là một sự chống định mệnh”([1]) thì ta vẫn hiểu bất luận sự cố gắng nào của người, từ một miếng vải che thân, nụ cười xã giao, cho đến những hoạt động lớn như là chính trị, quân sự, cũng có ý nghĩa như thế. Ấy vậy mà đối với người cung nữ cái gì cũng tan nát hết, cũng tiêu điều hết, cũng hủy diệt cả trong sự thụ động, đầu hàng, là nghĩa làm sao? Nàng đã bất chấp thực tế mà nói như vậy. Khi người ta không dựa vào một sự kiện nào có thực mà chỉ nói theo cảm tính phản ứng nơi lòng, người ta dễ rơi vào sự cực đoan rất đỗi lạ lùng. Cái cực đoan ấy chỉ là một sự bù đắp vào cái thực tế thiẹt thòi, và bởi sự thực vốn nặng cân hơn nên sự trả thù về mặt tâm lý trở thành nghiệt ngã. Đau buồn như bà Huyện Thanh Quan trước cảnh tang thương, thấy lối ngựa xe đi lại ngày xưa - tượng trưng cho những công trình nhân thế - bây giờ tiêu điều như hồn hoa cỏ mùa thu ([2]), thế mà vẫn còn nhìn nhận “đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt”. Thôi Hiệu buồn cho một thời vàng son tan biến như chiếc hạc vàng bay mất từ xưa, nhưng vẫn còn nhìn thấy được mây trắng ngàn năm hãy còn bay lượn ở trên đầu mình, và ở bãi xa Anh Vũ, cỏ non vẫn cứ xanh dày mơn mởn ([3]) cùng với thời gian. Dù xác nhận vòng hủy diệt chi phối nhân sinh, các tác giả ấy vẫn còn thừa nhận thiên nhiên tồn tại đời đời. Còn người cung nữ thì không như thế. “Sơn hà cũng ảo, côn trùng cũng hư”, thiên nhiên của nàng cũng không thoát lẽ phong trần. Cơ hồ như nàng đã hết tin tưởng ở một cái gì vĩnh viễn, cặp mắt của nàng chỉ thấy toàn sự điêu tàn. Sự từ chối ấy khiến ta nghĩ đến một đứa trẻ thơ, trong lúc dỗi hờn, cứ mải lắc đầu mà bảo “không chịu, không nghe” một cách bướng bỉnh, dù ai muốn dỗ khuyên gì. Đến lúc nàng kết luận về cảnh tình bi đát của đời, cho rằng:


Trăm năm còn có gì đâu


Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì


thì càng thấy rõ nàng nói liều lĩnh cho thỏa ý tình bất mãn của nàng. Phải chăng cuối cùng cuộc sống nhân sinh rồi chỉ còn trơ lại có mỗi một nấm mồ xanh rì cỏ mọc? Nhưng có biết bao nhiêu người trong cuộc chiến tranh ngày nay, và cả ngày xưa, đâu tìm thấy được một nấm mồ nào? Tuy vậy, những hy sinh ấy vẫn không bao giờ mất mát. Cái gì còn lại của chúng ta đây, không phải là cái nấm mồ buồn thảm nhiều khi quên lấp trong một nghĩa địa xa xôi, mà chính là những đóng góp vật chất hay là tinh thần mà chúng ta còn lưu lại trên đời. Đồng ruộng, phố phường, và những hình hài, tim óc của ta, chẳng là do người đi trước giao lại đấy sao? Một người cầm bút nào đó đã quan niệm rằng “kẻ nào đã trồng lấy một cái cây cũng đã không sống vô ích”, bởi vì đó cũng là một đóng góp cho xã hội này. Thế nào chúng ta lại chẳng gây nên một ảnh hưởng gì - hoặc tốt, hoặc xấu - đối với tha nhân? Chắc không mấy người biết được nấm mộ của Nguyễn Gia Thiều hiện ở nơi nào, và không mấy ai tha thiết đến nấm mộ ấy, nhưng đa số vẫn quí trọng tác phẩm “Cung Oán Ngâm Khúc” của người, trải bao thế hệ qua rồi, tác phẩm vẫn được học hỏi một cách công phu. Ý tình bi đát mà không dựa vào căn nguyên xác thực, nếu chẳng là loại ảo tưởng, cũng là một sự tự lừa dối mình đó thôi, không chứng tỏ được bản chất tâm hồn. Khi cung nữ bảo cuộc đời chán quá, nàng muốn đi tu để tìm một sự giải thoát, và nói:


Lấy gió mát trăng thanh kết nghĩa


Mượn hoa đàm đuốc tuệ làm duyên


Thoát trần một gót thiên nhiên


Cái thân ngoại vật là tiên trong đời


thì ta biết chắc là nàng sẽ chẳng tu được bao giờ. Bởi vì trong cái ước vọng tu hành của nàng cũng thấy thấp thoáng nào là “kết nghĩa”, “làm duyên”, toàn những tình ý tục phàm, dù muốn “thoát trần một gót thiên nhiên” mà vẫn nuôi sự hoan lạc “làm tiên trong đời”, chứ đâu có phải trên đời. Quan niệm một kiểu tu trì như vậy thật trái ngược với giáo lý đòi hỏi khắc khổ không biết bao nhiêu. Đó cũng chỉ là mơ tưởng viển vông của một con người thực tâm không muốn xa lìa cuộc sống. Và chẳng một ai tin được những nỗi buồn chán của nàng ở đây là thực, cũng chẳng một ai sợ hãi về sự doạ dẫm thoát ly thế tục của nàng. Có lẽ trong chuyện tình duyên nàng nuôi quá nhiều ước vọng cao xa, nhưng vì không được toại nguyện nên nàng hờn lẫy cuộc đời. Đến khi điều mơ ước ấy đã gõ cửa nàng, thì nàng sẽ lại hớn hở quên đi những cơn nhăn nhó vừa qua. Bản chất của nàng là sự tin yêu cuộc sống. Mà quả như vậy. Khi nàng được tuyển vào cung, thì nàng hết buồn, hết chán. Nhưng vừa nói chuyện bi quan, vừa tỏ ý định thoát trần, nay lại vồ vập chạy đi lấy chồng, coi sao cho tiện? Y như một số các cô, khi chưa có duyên nợ nào xứng ý, vẫn thường hay bảo một cách có vẻ chán chường: “Chồng con mà làm gì. Em ở vậy thôi”. Đến lúc nhận xong lễ cưới, lại bảo là vì “tuân lệnh cha mẹ”, là bởi “chẳng qua duyên số”. Cung nữ cũng cứ một hai bảo do kiếp trước của nàng chỉ định, ông Trời sắp xếp, viện đến cái lẽ âm dương chi phối muôn loài:


Kìa điểu thú là loài vạn vật


Dẫu vô tri cũng bắt đèo bòng


Có âm dương, có vợ chồng


Dẫu từ thiên địa cũng vòng phu thê


Ôi, từ loài vật nhỏ chim muông cho đến trời đất mênh mông, cao rộng, cũng có phu thê, thì một con người bé bỏng như nàng làm sao mà thoát cho xong cái lẽ vợ chồng!


Càng ngày ta càng rõ hơn là nàng không chán cuộc đời. Hôm tuyển vào cung, người con gái ấy không còn nghĩ đến mẹ cha, không còn nhìn thấy thềm vàng, điện ngọc, chỉ nhắc nhở mãi “cái đêm hôm ấy đêm gì”. Từ đó, thao thao bất tuyệt, nàng gợi tả lại cuộc đời cực kỳ hoan lạc của nàng. Không một kẻ nào gọi rằng chán nản sự sống mà lại mô tả những phút vui tươi của mình một cách say sưa như thế. Đời sống vật chất, đối với cung nữ, còn nhiều hấp dẫn và nàng thiết tha đến nó chừng nào! Hãy nghe những lời nàng nói, những tiếng nàng dùng tả sự thân mật lứa đôi mới thấy tấm lòng gắn bó của nàng. Nào là “cợt đào, ghẹo mai”, “tả tơi trước gió”, “lấp ló trong trăng”, “mây mưa mấy giọt chung tình”, “cái thân Tây Tử lên chừng điện Tô”, đưa đến say đắm tột cùng:


Càng đàn, càng địch, càng mê


Càng gay gắt điệu, càng tê tái lòng.


Có một kẻ nào chán đời mà lại tự hào về những cảnh sống của mình như thế và nói về những hoan lạc thích thú đến thế? Tưởng như qua mỗi câu thơ, nhìn thấy được đôi mắt nàng long lanh, miệng nàng hớn hở tươi cười, cùng với tấm thân uốn éo của nàng. Người đàn bà ấy tự phụ về duyên nợ mình, vui mừng thấy có người yêu che chở, lấy làm mãn nguyện đã lên tột đỉnh vinh quang, khinh thường những chị em khác cùng trong một kiếp phi tần:


Đã duyên hương lửa cùng nhau


Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào.


Và rất hãnh diện:


Dẫu mà ai có ngàn vàng


 Đố ai mua mua được một tràng mộng xuân.


Thế mà trước kia nàng dám bảo rằng từ bé đến già con người chỉ có toàn những đau khổ mà thôi! Như vậy, có phải mâu thuẫn hay không? Nhưng chính sự mâu thuẫn ấy xác nhận bản chất hồn nhiên của nàng, và nàng đáng được thông cảm như một con người vô tư, phát biểu không cần dựa vào kinh nghiệm của đời.


Để xứng đáng với hạnh phúc mà nàng được hưởng, cung nữ đã phải tô lục, chuốt hồng, uốn éo làm duyên:


Thân này uốn éo vì duyên


và chỉ có những con người bằng lòng đầy đủ về mình mới tự chăm chút như vậy. Cái mặc cảm của phụ nữ thời xưa bị sự rẻ rúng, khinh khi trong một xã hội bất công cũng không còn có nơi nàng. Nàng là đàn bà, nhưng là đàn bà ưu đãi, nên nàng không có chút gì oán hận về số kiếp mình. Hơn thế, nàng đã khoe khoang:


Cam công mang tiếng thuyền quyên với đời.


Nhưng rồi cuộc đời không mãi phát triển theo lòng sở nguyện của nàng. Hoa nở rồi có lúc tàn, trăng tròn rồi có lúc khuyết, tình yêu rồi cũng có lúc nhạt phai. Nhưng hoa tàn để mà kết trái thơm ngon, trăng khuyết để rồi mọc lên tươi sáng, tình yêu nhạt phai để biến thành những nghĩa vụ gắn bó cao hơn và vững vàng hơn. Trong khi duyên nợ giữa vua và nàng chỉ là tương quan vật chất nhất thời của kẻ tự thấy có quyền hưởng thụ và kẻ tự biết mình phải phục tùng như kiểu tôi đòi. Khi đóa lê đã không còn “ngon mắt cửu trùng” thì những ràng buộc bản năng cũng vội rã tan, chút lửa ân tình vụt tắt như một ngọn đèn sớm đã cạn dầu. Sự tan vỡ của hạnh phúc nàng - nếu có thể gọi đó là hạnh phúc - cũng chỉ là điều dễ hiểu. Nhưng nàng đã không muốn hiểu như thế. Bởi lẽ còn ham sự sống, còn nguồn hi vọng chứa chan, nên nàng ngạc nhiên, nàng thấy đau buồn. Bởi lẽ nàng còn thương nàng nhiều lắm. Những kẻ vẫn còn băn khoăn vì chút tự ái là còn thương yêu sự sống, vì lòng tự ái cũng là biểu hiện của một khả năng tự vệ, khả năng đòi sống đó thôi. Lòng tự ái của con người có cả trăm ngàn biểu hiện khác nhau ở trong cuộc sống thường ngày. Có khi nó biến thành một khả năng tự hủy diệt mình vì không muốn mình phải chịu đựng một thực tế phũ phàng, có khi nó là động lực cầu tiến vô song, vì không muốn để cho bản thân mình chìm lấp. Từ sự buồn bã cực độ, lòng tự ái của cung nữ đã chuyển thành ra tức giận ồn ào, lắm lúc hùng hổ muốn đạp tan tành tù ngục thâm cung hay thét những tiếng căm hờn dài dặc cho nhẹ nỗi lòng, tưởng như nàng đã nhìn rõ sự thật về cảnh ngộ nàng. Khi nàng thấy mình chỉ là cái “thân câu trõ” mà vua chỉ là loại “cá no mồi”, khi nàng thấy chốn quyền môn nhơ bẩn và miếng cao lương thật đáng buồn nôn, quay ra ca ngợi đời sống thanh đạm của miền thôn dã, ca ngợi ái tình tự do, đầy đủ của người dân quê:


Thà rằng cục mịch nhà quê


Giàu lòng nũng nịu nguyệt kia hoa này


thì tưởng như tâm trạng nàng đã vượt khỏi những ám ảnh phồn hoa. Nhưng không, đó cũng là những phản ứng của lòng giận dỗi đó thôi, chứ giá cho nàng trở về sống đời thôn dã, e nàng cũng đến từ chối, than van. Nàng vẫn mơ màng một ngày tái họp, vẫn sống với những kỷ niệm hoan lạc vừa qua, vẫn ngước đôi mắt u buồn về phía nghiêm lâu đợi chờ một lời kêu gọi ân tình. Thèm sống cao độ như nàng mới có cái cảnh suốt quãng đêm dài “lần nương vách quế ”, đi giữa âm thầm. Đi đâu mà sờ soạng vậy? Đi tìm một bóng hạnh phúc đã vỡ tan rồi, nhưng vẫn tin rằng đang còn ẩn hiện đâu đây, đang đợi chờ mình. Cung nữ, suốt trong thời gian bị thất sủng rồi, sống bằng ảo tưởng, nhiều khi ảo tưởng đưa đến thác loạn não nề khiến nàng chợt nghe tiếng gió trong cây đã vội:


Mơ hồ nghĩ tiếng xe ra


Đốt phong hương hả mà hơ áo tàn.


và khi vừng trăng chợt sáng bừng soi trên nóc, tưởng nghe một lời giục giã từ trên, vội vàng:


Nghiêng bình phấn mốc mà giồi má nheo.


Má nhăn, phấn mốc, còn gì tàn tạ cho bằng, thế mà ở đây lại là biểu hiện sốt sắng của niềm hy vọng chứa chan. Còn chạy đuổi theo ảo tưởng cuộc đời là còn tham vọng, nghĩa là vẫn còn tha thiết yêu đời. Cuộc sống chúng ta đâu chỉ làm bằng sự thực mà còn làm bằng mơ ước miên man trên mỗi bước đường. Trong buổi xế chiều nhan sắc, cung nữ vẫn không dứt bỏ ảo tưởng của mình, và vẫn đợi chờ. Đợi chờ cũng là biểu hiện của lòng ham sống, đợi chờ ngầm chứa hy vọng, lạc quan, đợi chờ - dù trong một cảnh ngộ nào - cũng đòi hỏi bao cố gắng phi thường, và chính đợi chờ cũng là một nghệ thuật sống lớn lao. Giá người cung nữ của Ôn Như Hầu chấp nhận những cảnh tình ấy mà không kêu than, giá nàng mặc kệ sự việc và giữ thái độ lạnh lùng, hoặc là đi tìm cái chết để sớm xa lánh cuộc đời thì ta còn nhìn thấy được tấm lòng bi quan thực sự của nàng. Những kẻ còn đòi hỏi ở cuộc đời, còn ước mơ, hi vọng, còn nhìn thấy một lối thoát trong cơn đau khổ, đâu phải là kẻ chán đời! Lẽ nào lấy cái trạng thái nhất thời làm cái bản chất vĩnh viễn?


Tóm lại, cung nữ có những lúc gào, lúc oán, và những tiếng gào, tiếng oán hướng về hạnh phúc, yên vui, tiếng gào, tiếng oán càng cao, càng lớn, có nghĩa là lòng thiết tha cuộc sống càng thêm sôi nổi, thiết tha. Tất nhiên trong cái đề tài cung nữ, sự ham sống ấy bị đóng khung trong những thứ dục vọng tầm thường, nhưng vượt qua khỏi một cái khuôn khổ đề tài ràng buộc để đi tìm vào bản chất vấn đề ta thấy tác phẩm của Ôn Như Hầu ngầm chứa một lòng yêu đời dào dạt, vô biên, biểu lộ một niềm khát khao sự sống cho đến tuyệt đối. Nếu ta chấp nhận hình ảnh nhà vua, hoàng hậu ở một thời đại nào đó chỉ có ý nghĩa tượng trưng cho một giá trị cao nhất, giá trị lý tưởng mà thôi, thì ước vọng về cuộc sống ở trong tác phẩm của Ôn Như Hầu là một ước vọng rất cao, đó là giấc mơ tuyệt đẹp về đời.


Chính qua hình thái những lời tự mãn - khi cuộc sống được thuận chiều - và qua hình thái những lời bất mãn - khi cuộc sống gặp trái nghịch - mà ta nhìn thấy được nhiệt tình kia. Tự mãn cùng với bất mãn có thể xem như hai mặt của một vấn đề, vấn đề thiết tha đối với cuộc sống, đó là hai thứ hiện tượng có vẻ trái nghịch của một bản chất đồng nhất. Tất nhiên đi vào thực tế, chúng ta chỉ tiếp xúc với hiện tượng nhưng chưa thể chấp nhận nó như một giá trị trước khi phân tích và tổng hợp nó để tìm bản chất. Trên cơ sở nhận thức ấy, chúng ta thấy niềm khát khao hạnh phúc mênh mông trong một truyện Kiều, vì tiếng nói mới về sự đau khổ - qua cái tên sách “Đoạn-trường Tân-thanh” - chính là tiếng kêu thảm thiết nhưng không tuyệt vọng của những con người có những ước ao chân chính về đời. Nhiều tác phẩm của dân tộc chúng ta có lời kêu than như thế, bởi vì dân tộc chúng ta đã trải nhiều phen đau khổ nhưng bao giờ cũng tin tưởng ở tương lai mình, bao giờ cũng biết nghệ thuật của sự đợi chờ tích cực. Qua lịch sử của dân tộc, và qua những tác phẩm lớn của nền văn học cổ điển chúng ta, mỗi người Việt Nam lại nhìn thấy được rõ hơn tiềm năng của quốc gia mình, tiềm năng mênh mông, vững mạnh của lòng tin yêu ngày mai tốt đẹp, tin yêu hết sức nhiệt tình.


17/ 8/ 1967


(Văn, 15/ 8/ 1970)


(còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn. Bản thảo biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.


www.trieuxuan.info







([1]) L’Art est un anti-destin (André Malraux)




([2]) Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo” (Thăng Long hoài cổ, B. H. T. Q.)




([3]) Phương Thảo thê thê Anh vũ châu” (Hoàng Hạc Lâu, Thôi Hiệu). (Bãi xa Anh vũ xanh dày cỏ non, Tản Đà dịch).




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sóng lừng – Một tác phẩm tốt (Lật lại Hồ sơ vụ tiểu thuyết Sóng lừng - VN. Mafia bị thu hồi năm 1991) - Xuân Thiều 13.09.2019
“Sóng lừng” – Cuốn tiểu thuyết về Mafia ở Việt Nam - Bùi Quang Huy 13.09.2019
Ở Việt Nam có Mafia không? - Đỗ Ngọc Thạch 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Giấy trắng” của Triệu Xuân - Lê Phú Khải 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Đâu là Lời phán xét cuối cùng” - Trần Bảo Hưng 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết "Cõi mê" của Triệu Xuân - Nguyễn Sĩ Đại 12.09.2019
Cõi mê - Hiện thực sâu sắc, tận cùng nỗi đau, đầy lòng nhân ái - Hoài Anh 12.09.2019
Cuộc sống kinh tế năng động trong “Giấy trắng” - Ngọc Trai 12.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Giấy trắng” của nhà văn Triệu Xuân - Nguyễn Sĩ Đại 12.09.2019
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
xem thêm »