tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24748148
Lý luận phê bình văn học
23.10.2018
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (46)


a.       Tính chất có thể bị tổn thương của danh dự.


Bởi vì danh dự không phải chỉ là cái tôi cảm thấy như thế, mà còn phải tồn tại ở trong biểu tượng của những người khác, và được họ thừa nhận, và những người này đến lượt họ cũng có quyền yêu cầu người ta phải thừa nhận danh dự của họ cho nên danh dự rất dễ bọ tổn thương. Phạm vi và đối tượng của điều tôi yêu cầu là lệ thuộc vào hoàn cảnh và ý muốn võ đoán của tôi. Một sự vi phạm nhỏ nhặt nhất về mặt này có thể là quan trọng đối với tôi. Bởi vì ở trong hiện thực cụ thể, con người ở trong những quan hệ đa dạng nhất với hàng nghìn sự việc và có thể cho là thuộc về anh ta và nhìn thấy danh dự mình ở đấy, cho nên tính chất độc lập của các tác nhân và tíh chất phân chia khô khan của họ dẫn tới hậu quả là những sự tranh giành, những xung đột không bao giờ hết. Chính vì vậy ở trong sự xúc phạm cũng như ở trong danh dự nói chung vấn đề không phải là cái nội dung ở đấy tôi cảm thấy mình bị xúc phạm. Vấn đề ở đây là cái cá tính cảm thấy bị phủ định, và nội dung này được thừa nhận là một bộ phận khăng khít của cái nội dung ấy, và tôi cho rằng chính tôi, chính cái điểm tập trung vô hạn về mặt ý niệm này đã bị xúc phạm.


b.       Sự phục hồi danh dự.


Vì vậy mọi phạm vi danh dự đều bị xem là một cái gì vô hạn ở bản thân nó, và chỉ có thể được hòa giải một cách vô hạn. Có bao nhiêu cách xúc phạm thì có bấy nhiêu cách làm thỏa mãn những điều mà trong phạm vi này tôi cho là bị xúc phạm, bị xúc phạm đến trình độ nào và đòi hỏi sự thỏa mãn, tất cả những điều đó lệ thuộc hoàn toàn vào tính võ đoán của chủ thể là kẻ có quyền đi tới tâm trạng dễ bị cáu gắt nhất. Trong khi yêu cầu được thỏa mãn, tôi phải thừa nhận rằng người đã bị xúc phạm tôi cũng là một người có danh dự chẳng khác gì tôi, bởi vì tôi muốn người ta thừa nhận danh dự của tôi; nhưng muốn cho anh ta thấy rằng tôi có danh dự, tức là phải thừa nhận rằng cá nhân anh ta là một cái gì vô hạn mặc dầu anh ta đã xúc phạm đến tôi và về chủ quan tôi có thái độ thù địch với anh ta.


Như vậy, trong những nguyên lý cơ bản của danh dự đó là ở chỗ không người nào được thừa nhận những gì khác có quyền ưu tiên đối với chính mình trong những hành động của họ. Vì vậy bất kỳ anh ta làm gì và gặp  điều gì, anh ta cũng muốn rằng người ta đối xử và xem anh ta như là có một phẩm chất vô hạn và bất biến.


Bởi vì danh dự với những xung đột mà nó gây nên và những phương tiện thỏa mãn của nó là dựa trên tính chất độc lập của một cá nhân không biết bất kỳ sự hạn chế nào và hành động theo sự thúc đẩy của chính mình, cho nên ở đây chúng ta lại đứng trước cái mà chúng tôi đã nêu lên (kể ra, dưới hình thức đối lập) làm thành đặc trưng chủ yếu của các hình tượng anh hùng ở trong lý tưởng cổ điển: tính độc lập của cá tính. Nhưng ở trong danh dự, vấn đề không phải là tính độc lập thuần túy và đơn thuần, theo nghĩa con người bảo vệ cá tính của mình và hành động theo sở thích của mình. Tính độc lập ở đây là gắn liền với chính mình, và chính khái niệm này làm thành nội dung thực sự của danh dự, thành ra ở trong tài liệu bên ngoài nó làm thành cái biểu tượng về chính mình, và làm cho cái chủ thể thành cái trung tâm và tất cả các biểu hiện của đời sống bên ngoài, tất cả các hành vi, tất cả các lời nói, tất cả các ý định của xung quanh đều hướng về đấy. Như vậy, danh dự là một tính độc lập đã được suy nghĩ, bản chất của nó chính là do sự suy nghĩ này tạo nên, kết quả là vấn đề nội dung của nó là có tính chất luân lý và tất yếu ở bản thân nó hay là ngẫu nhiên và không quan trọng là không đáng kể.


1.       Tình yêu.


Tình yêu là tình cảm thứ hai đóng vai trò chủ đạo ở trong nghệ thuật lãng mạn.


a.       Khái niệm tình yêu.


Nếu như đặc trưng chủ yếu của danh dự là tính chủ thể cá nhân tự mình ở trong tính độc lập tuyệt đối của mình, thì ở trong tình yêu cái cao quí nhất lại là một chủ thể phó thác mình hoàn toàn cho một cá nhân thuộc một giới khác, từ bỏ cái ý thức độc lập của mình và sự tồn tại vì mình một cách cô lập. Sự hiểu biết của chủ thể về mình, có thể chỉ xảy ra trong ý thức của người khác. Về mặt này so sự độc lập giữa tình yêu và danh dự. Nhưng mặt khác, ta lại có thể thấy tình yêu là sự biểu hiện của cái đã nằm ở trong danh dự, bởi vì đòi hỏi của danh dự là ở chỗ nó cảm thấy cần được người khác thừa nhận tính vô hạn của cá nhân nó.


Sự thừa nhận này chỉ trở thành chân thực và hoàn toàn khi cá nhân tôi chỉ được người khác tôn trọng một cách trừu tượng, hay trong một trường hợp cụ thể và hạn chế. Nhưng lúc đó, tôi với tính chủ thể của mình, với tất cả cái gì nó chứa đựng, như tình trạng hiện nay, trước đây và sau này ở trong ý thức một người khác và trở thành ý muốn và hiểu biết của anh ta, trở thành sự cố gắng và mong muốn của anh ta. Lúc bầy giờ, cái chủ thể khác chỉ sống ở trong tôi, và tôi sống ở trong anh ta; chúng tôi, tôi và chủ thể kia đều sống ở trong cái tình trạng thống nhất này, chúng tôi biến nó thành cả một thế giới. Tính chất vô hạn bên trong này của chủ thể đem đến cho tình yêu cái tầm quan trọng mà nó có được đối với nghệ thuật lãng mạn, một tầm quan trọng ngày càng tăng do chỗ khái niệm tình yêu càng có một tính phong phú to lớn.


Khác danh dự, tình yêu không dựa trên những suy nghĩ và những suy luận mà xuất phát từ tình cảm. Bởi vì ở đây sự khác nhau về giới cũng đóng một vai trò cho nên đồng thời nó làm thành cơ sở tinh thần của những quan hệ tự nhiên. Nhưng tình yêu chỉ trở thành chủ yếu do chỗ chủ thể bước vào những quan hệ này với tất cả nội cảm của mình, với tất cả tính vô hạn của mình. Chính sự dung hợp hoàn toàn của ý thức mình với ý thức một người khác, chính cái vẻ hi sinh quên mình này không những làm cho chủ thể gặp lại mình và lại trở thành mình, chính thái độ quên mình này làm cho con người yêu không sống và không tồn tại vì mình mà tìm thấy ở trong một người khác những lý do về sự tồn tại của mình. Chính điều này làm thành tính vô hạn của tình yêu. cái đẹp ở đây tóm lại là tình cảm này không phải dừng lại ở trạng thái tình cảm này không phải dừng lại ở trạng thái tình cảm và những ham muốn đơn thuần. Trí tưởng tượng dựng nên cái thế giới của mình xung quanh quan hệ này, biến đổi mọi hứng thú, mọi trường hợp, mọi mục đích của tồn tại hiện thực và của đời sống thành sự tô điểm cho cái tình cảm này; bằng cách kiên quyết đoạn tuyệt với tất cả ở trong lĩnh vực này, hư cấu cấp cho tình cảm cái giá trị chỉ ở trong mối liên hệ này.


Tình yêu biểu lộ đẹp đẽ nhất ở trong các tính cách nữ bởi vì thái độ trung thành, hi sinh ở họ đạt đến diểm cao nhất: tất cả cuộc đời của họ chỉ là một sự chuẩn bị, một sự mở rộng sẽ dẫn tới cái tình cảm này, ở đấy, cuối cùng họ tìm thấy cái điểm cố định và sự vững chắc của sự tồn tại của họ. Và nếu như không may tình yêu tan vỡ thì họ tắt lụi như một ngọn nến tắt khi có ngọn gió đầu tiên.


Nghệ thuật cổ điển không biết đến cái nội cảm có tính chủ thể này của tình cảm. Ở đấy nó đóng vai một yếu tố phụ thuộc ở trong sự miêu tả hay chỉ là một sự hưởng thụ cảm quan. Ở Hômerơ, tình yêu không có tầm quan trọng to lớn nào hết, hay ông thấy sự thể hiện xứng đáng nhất của tình yêu là ở trong hôn nhân, trong phạm vi cuộc sống gia đình, ở trong hình ảnh một nàng Pênêlôp, và của một nàng Anđrômac trong hình ảnh người vợ và người mẹ tận tụy hay được miêu tả với những quan hệ đạo đức khác. Trái lại, mối liên hệ ràng buộc Parit với Hêlen bị xem là vô luân lý, bởi vì nó là nguyên nhân của những điều khủng khiếp và của những tai họa của cuộc chiến tranh Troa; và tình yêu của Asin với nàng Brixêit là một tình cảm không sâu sắc bởi vì Brixêit là một nữ nô lệ mà Asin có thể tự ý sử dụng theo ý mình. Trong các bài tụng thi của Xaphô, tiếng nói của tình yêu kể ra được nâng lên tới trình độ cảm hứng trữ tình, song ở đây nói lên điều sôi nổi nồng cháy của ngọn lửa bắt nguồn trong máu hơn là nói lên cái nội cảm của tâm hồn, sức mạnh của một tình cảm phát xuất từ con tim.


Trong những bài ca ngắn duyên dáng của Anakrêôn, tình yêu đóng vai một thích thú chung, không biết đến những điều đau khổ vô tận, là sự phó thác của một tâm hồn bị bóp nghẹt, đau buồn và chịu đựng sự bất hạnh mà không than vãn, trong lúc đó tất cả cuộc đời đều gắn liền với tình cảm này. Không, Anakrêôn nói về tình yêu với lời lẽ trong sáng, như một nguồn lạc thú trực tiếp, như một cái gì tự nhiên mà người ta có thể đạt tới bằng những con đường khác. Có được người con gái này hay một người con gái khác ở đây không có ý nghĩa vô hạn cơ bản, bởi vì theo cái nhìn tu sĩ thì nói chung, tránh các quan hệ tính giao.


Bi kịch vĩ đại của những người cổ đại cũng không biết đến tình yêu theo cái nghĩa lãng mạn của nó. Nhất là Etsilơ và Xôphôklơ không cho nó tầm quan trọng chủ yếu. Antigôn sẽ là vợ của Hêmôn, và Hêmôn can thiệp để bênh vực Antigôn trước cha mình và thậm chí tự sát vì nàng, nhưng chàng cũng nêu lên cái trước Krêôn những hoàn cảnh khách quan chứ không nêu lên cái sức mạnh chủ quan của dục vọng của mình, là cái mà chàng không cảm thấy theo cái nghĩa mà một chàng si tình ngày nay cảm thấy. Oripit, chẳng hạn trong “Pheđrơ” đã xem tình yêu là một cảm hứng cơ bản nhất của dục vọng. Song ở đây, tình yêu làm thành một tình cảm gần như tội lỗi, một dục vọng có tính chất xác thịt, do Vênut gây nên: Nữ thần muốn giết Hippôlit vì Hippôlit không dâng vật hiến tế cho nữ thần. Và mặc dầu nữ thần Vênut ở Mêđixi là một hình ảnh tạo hình của tình yêu có vẻ duyên dáng và có vẻ tuyệt vời, song ở đây hoàn toàn thiếu hẳn nội cảm, điều mà nghệ thuật lãng mạn đòi hỏi. Người ta cũng gặp lại tình hình này trong thơ La Mã, ở đấy sau khi nền cộng hòa bị lật đổ và đời sống đạo đức bị tan rã, tình yêu xuất hiện ít nhiều với tính cách một lạc thú xác thịt.


Pêtrac là người cho rằng các xonnê của mình là trò chơi và nghĩ rằng mình sẽ trở thành bất tử bằng những bài thơ và những tác phẩm văn xuôi. Trái lại, ông đã trở thành bất tử chính nhờ cái tình yêu này do trí tưởng tượng tạo ra và dưới bầu trời Ý, tình yêu này trở thành có tính chất tôn giáo do cái nhiệt tình nghệ thuật của tâm hồn. Đantê cũng đã nhờ tình yêu của mình đối với Bêatrixơ mà thành bất tử. Tình yêu này đã được hoán cải, biến thành tình yêu có tính chất tôn giáo. Đồng thời, nhờ tinh thần dũng cảm và táo bạo, ông ta đã đạt đến một quan niệm tôn giáo về nghệ thuật, nhờ đó ông đã làm được một điều trước đây chưa ai làm: tự mình đóng vai vị quan tòa của loài người, và đưa người này xuống địa ngục, đưa người khác đến tĩnh thổ hay lên thiên đường. Đối lập lại ông, Bocaxiô miêu tả tình yêu một phần với tính cách một dục vọng mãnh liệt, một phần hoàn toàn hời hợt, ở đây không nói gì đến đạo đức, bằng cách bộc lộ trước mắt các phong tục của thời đại, của đất nước, ở trong các truyện ngắn của mình.


Trong các bài ca của Đức, tình yêu là đa cảm, dịu dàng, nói là nghèo nàn về mặt tưởng tượng, có tính chất một trò chơi buồn bã, đơn điệu. Ở những người Tây Ban Nha, tình yêu nổi bật bởi một ngôn ngữ giàu hình ảnh; nó có tính chất hiệp sĩ, hóm hỉnh trong việc đi tìm và bảo vệ những quyền lợi và những nhiệm vụ của mình, như danh dự cá nhân và nó có tính chất mơ màng ở trình độ cao nhất. Ở trong văn học Pháp sau này nó trở thành hào hoa hơn và phù phiếm hơn. Ở trong thơ nó thường trở thành một tình yêu giả tạo, được tạo nên bằng những điều ngụy biện hết sức khéo léo. Khi thì nó là một sự hưởng thụ cảm quan không có dục vọng, khi thì nó là dục vọng, tình cảm được nâng cao, đầy những suy nghĩ và lý tính.


Song tôi phải chấm dứt những nhận xét này bởi vì ở đây không có chỗ để phát triển một cách chi tiết những nhận xét ấy.


 


b.       Những sự xung đột do tình yêu gây nên.


 


Các hứng thú trần tục chia ra thành hai phương diện. Một bên là những hứng thú trần tục thực sự: đời sống gia đình, đời sống nhà nước, các quan hệ công dân, pháp luật, quyền lợi, đạo đức v.v. Mặt khác, chúng ta thấy xuất hiện ở trong cuộc sống cố định và vững chắc này, trong những tâm hồn cao thượng hơn và nồng nhiệt hơn, tình yêu, cái tôn giáo trần tục của con tim, cái này trong khi kết hợp đa dạng với tôn giáo, bắt tôn giáo phải phục tùng mình, phải bị bỏ quên và tuyên bố tình yêu là cái hứng thú chủ yếu, thậm chí duy nhất và cao nhất ở cuộc đời. Không những nó có thể từ bỏ tất cả những cái gì tồn tại và cùng người yêu trốn vào sa mạc, mà trong biểu hiện cực đoan và xấu xa của nó, nó còn đi đến chỗ hi sinh phẩm giá con người một cách nô lệ, thú vật, như ta thấy chẳng hạn trong “Kethen ở Gailơbrom” mục đích của tình yêu do sự phân chia này không thể thực hiện ở trong hiện thực cụ thể mà không có sự va chạm, bởi vì bên cạnh tình yêu người ta đưa ra những đòi hỏi và những quyền lợi của họ, cũng như các quan hệ khác của đời sống, và do đó, có thể làm thiệt hại tới cái dục vọng tình yêu thống trị tất cả.


(a)      Xung đột đầu tiên, thường thấy hơn cả mà chúng ta bắt gặp ở đây, đó là xung đột giữa tình yêu và danh dự. Danh dự cũng có cái tính chất vô hạn như tình yêu, và vì vậy có thể đưa ra một sự cản trở tuyệt đối chống lại tình yêu. Nhiệm vụ của danh dự thường có thể đòi hỏi phải hi sinh tình yêu. Chẳng hạn theo một quan điểm nào đó, một người đàn ông thuộc một giai cấp xã hội cao hơn lấy một cô gái thuộc một giai cấp xã hội thấp hơn sẽ là trái danh dự. Những sự khác nhau  về giai cấp về tất yếu và do bản chất của sự vật cao hơn. Nếu như đời sống trần tục vẫn chưa được tái sinh bởi cái khái niệm vô hạn bởi cái khái niệm vô hạn của tự do chân thực, ở đấy đại vị xã hội, nghề nghiệp v.v… đều bị qui định bởi việc tự do lựa chọn của một chủ thể tự do, thì mặt khác, bản tính, nguồn gốc xuất thân cấp cho con người địa vị và ngôi thứ của nó, và mặt khác những sự khác nhau nảy sinh giữa người đời là có tính tuyệt đối và vô hạn do sự can thiệp của danh dự và nhân danh danh dự người ta yêu cầu và bênh vực cái quyền bất khả xâm phạm của địa vị họ, của giai cấp họ.


(b) Thứ hai, ngoài danh dự ra, có thể có những sức mạnh vĩnh viễn cốt tử cũng xung đột với tình yêu: thí dụ các quyền lợi của nhà nước, tình yêu tổ quốc, nhiệm vụ gia đình v.v… Đây là một đề tài yêu quí, đặc biệt ở trong những tác phẩm miêu tả gần đây nhất, ở đấy các điều kiện khách quan của cuộc sống được khẳng định với một sức mạnh to lớn hơn bao giờ hết. Ở đây tình yêu đối lập lại các đạo đức và các nhiệm vụ khác với tính cách mặt trong những quyền lợi quan trọng nhất của tâm hồn chủ thể, bởi vì hoặc con tim từ chối không chịu theo những nhiệm vụ này, hoặc chúng có một ý nghĩa phụ thuộc, bởi vì con tim thừa nhận chúng và phải đấu tranh với chính mình cũng như với sức mạnh của dục vọng mình. “Nàng trinh nữ thành Ooclêăng” chẳng hạn, lấy loại xung đột này làm cơ sở.


(c) Thứ ba, tình yêu có thể gặp phải sự kháng cự của những cản trở và những hoàn cảnh bên ngoài: sự diễn biến bình thường của sự vật, cái nôm na của cuộc đời, những trường hợp bất hạnh, các dục vọng, các thành kiến, tư tưởng chật hẹp, tính ích kỷ của người khác, các biến cố hết sức đa dạng. Ở đây thường xen lẫn nhiều điều xấu xí, kỳ quặc, hèn hạ; trong những trường hợp này vẻ đẹp dịu dàng có tính tinh thần của tình yêu gặp sự chống đối của những dục vọng thô bạo, độc ác, dã man khác. Ở thời hiện đại, trong các vở kịch, các truyện ngắn và các tiểu thuyết, chúng ta thường bắt gặp những sự va chạm bên ngoài như vậy làm chúng ta quan tâm tới những đau khổ, những hi vọng, những danh dự bị sụp đổ của những người yêu bất hạnh. Ngoài ra, các tác phẩm này cần phải làm ta cảm động hay thỏa mãn bằng một kết thúc vui vẻ hay đau khổ, hay nói chung chỉ để giải trí cho chúng ta. Nhưng những xung đột thuộc loại này do những điều ngẫu nhiên thuần túy gây ra là một tầm quan trọng thứ yếu.


 


c.        Tính chất ngẫu nhiên của tình yêu


 


Nếu xét theo tất cả những phương diện này thì tình yêu mang một phẩm chất cao cả bởi vì nó không dừng lại ở trạng thái tính dục đơn thuần mà bộc lộ một tâm hồn đẹp đẽ, giàu có, cao thượng để đi đến sự hợp nhất với một tâm hồn khác. Nó sống, hành động biểu lộ tinh thần dũng cảm, sẵn sàng hi sinh mình v.v… nhưng đồng thời tình yêu lãng mạn cũng có những giới hạn, nội dung của nó thiếu tính phổ biến tồn tại tự mình và cho mình. Tình yêu chỉ là tình cảm cá nhân của một chủ thể cá biệt, tràn ngập không phải những quyền lợi vĩnh viễn và cái nội dung khách quan và sự tồn tại của con người (gia đình, những mục đích chính trị, tổ quốc, những nhiệm vụ nghề nghiệp, địa vị, lòng khao khát tự do, tính chất tôn giáo). Trái lại, nó chỉ tràn ngập cái tôi của mình muốn có được mình ở trong một cái tôi khác, muốn được phản ảnh bởi một cái tôi khác.


Cái nội dung này của một nội cảm có tính hình thức không tương ứng với tính toàn vẹn chân thực cần được biểu hiện cụ thể của cá nhân. Trong gia đình, trong hôn nhân, trong nhiệm vụ, trong nhà nước, trong cái tình cảm chủ quan thực tế, cũng như sự kết hợp với người này chứ không phải bất kỳ người nào khác nảy sinh từ tình cảm này không phải là cái chính mà người ta cần phải nói đến. Trái lại, trong tình yêu lãng mạn thì tất cả điều xung quanh tình yêu của một người đàn ông nào đó với một người đàn bà nào đó chứ không phải với một người nào khác. Lý do duy nhất khiến người ta yêu người đàn ông này hay người đàn bà này là ở trong tính cách cá biệt của nhân loại này, ở trong tính ngẫu nhiên của sự võ đoán.


Mỗi người đàn ông đều thấy người yêu của mình (cũng hệt như mỗi người đàn bà đều thấy người yêu của mình) là xinh đẹp nhất, kỳ diệu nhất trên đời, mặc dầu những người khác có thể thấy là hết sức bình thường. Bởi vì đối với tất cả hay đối với nhiều người tính chất đặc biệt này là tiêu biểu, cho nên đối tượng của tình yêu không còn là bản thân Aphrôđit, một vị thần duy nhất, mà trái mỗi người đều có nàng Aphrôđit yêu quí của mình, và chính vì vậy cho nên có nhiều cô gái có giá trị ngang nhau. Ai cũng biết rằng trên đời có nhiều cô gái đẹp hay tốt, ưu tú, tất cả những người này, hay ít nhất là đa số, đều có những kẻ say mê họ, những người tôn thờ họ và có chồng v.v… và những người này thấy họ là đẹp, đạo đức, đáng yêu v.v… Trường hợp một người đàn ông nào đó dành ưu tiên tuyệt đối cho một người đàn bà duy nhất và chỉ cho người này thôi, do đó chỉ là việc riêng của một tâm hồn của chủ thể, là điểm độc đáo hay là tính đồng bóng của chủ thể. Thái độ bướng bỉnh vô hạn bắt anh ta chỉ muốn lấy người đàn bà này mà thôi và tất cả cuộc đời mình phải lệ thuộc vào đấy, đã có một tác dụng mạnh mẽ làm cho tính võ đoán vô tận này trở thành một điều tất yếu. Ở đấy quyền tự do của chủ thể và tính tuyệt đối của sự lựa chọn được thừa nhận và bảo vệ, nhưng quyền tự do này không phải ở chỗ phục tùng cái khát vọng, phục tùng một thần linh nào như Ơripit đã làm ở hình tượng Pheđrơ; nhưng do chỗ sự lựa chọn chỉ bắt nguồn từ ý chí cá nhân, cho nên đồng thời nó làm thành một điều đồng bóng và một điều bướng bỉnh của ý chí cá nhân.


Những xung đột do tình yêu gây nên khi tình yêu đối lập trong cuộc đấu tranh với các quyền lợi cốt tử khác, bao giờ cũng có cái vẻ những cuộc xung đột do ngẫu nhiên mà ra và không có căn cứ gì hết. Sở dĩ thế, là vì ở đây tính chủ thể thực sự với những đòi hỏi của y vốn không quan trộng ở bản thân, đối lập lại những cái mà ta phải thừa nhận là hết sức cốt tử. Trong bi kịch cổ đại cao cấp, những cá nhân như Agamemnôn, Klitemnet, Oxextơ, Ơđip, Antigôn,Krêôn v.v… theo đuổi những mục đích cá nhân, song yếu tố cốt tử, cái khát vọng làm thành nội dung các hành vi của họ là tuyệt đối chính đáng và vì vậy có một hứng thú chủ yếu ở bản thân nó. Nếu số phận họ gặp làm chúng ta cảm động, thì không phải bởi vì đó là một số phận bất hạnh mà bởi vì nó làm thành một điều bất hạnh được người ta tôn trọng, một khát vọng không chịu dừng lại hễ còn chưa đạt tới sự thỏa mãn, vì bản thân nó có một nội dung tất yếu. Nếu như tội của Klitemnet không bị trừng phạt, nếu như điều xúc phạm mà Antigôn với tính cách một người con gái đã phải chịu không bị xóa bỏ thì bản thân điều này là bất công.


Song những đau khổ do tình yêu gây nên, những hi vọng tan vỡ, và nói chung những đau khổ vô biên, tình yêu tha thiết mà một người yêu cảm thấy, cũng như cái hạnh phúc vô biên và nỗi hoan lạc mà anh ta mơ màng, thực ra đều không có giá trị phổ biến và không phải là một cái gì chỉ liên quan tới anh ta mà thôi. Người nào cũng có một con tim có thể yêu đương, và có quyền tìm thấy hạnh phúc ở trong tình yêu. Nhưng nếu như ở trong một trường hợp cụ thể, trong những hoàn cảnh nào đấy, anh ta không đạt được mục đích của mình đối với một cô con gái nào đấy thì điều đấy cũng chẳng có gì là bất công, bởi vì không có cái gì tất yếu ở chỗ sở thích đồng bóng của anh ta là nhằm vào cô gái này, và tuy vậy người ta muốn chúng ta phải quan tâm tới cái điều hết sức ngẫu nhiên với tính võ đoán của tính chủ thể là chẳng có tính phổ biến cũng chẳng có tầm quan trọng rộng lớn. Chính vì vậy, mặc dầu dục vọng mà người ta miêu tả là sôi nổi, chúng ta vẫn không khỏi có thái độ lạnh lùng đối với nó.


 


2.       Lòng trung thành.


 


Lòng trung thành làm thành yếu tố quan trọng thứ ba đối với tính chủ thể lãng mạn ở trong cái thế giới phạm tụ. Song ở đây, chúng ta không nên quan niệm danh từ trung thành theo nghĩa giữ trọn những lời thề thốt yêu đương hay tình bạn không thể lay chuyển, mà tấm gương đẹp đẽ nhất ở những người Hy Lạp cổ là Asin và Patrôklơ, và ở một trình độ cao hơn nữa là Orextơ và Pilat. Tình bạn theo nghĩa này toòn tại ở thời trẻ tuổi. Người nào cũng phải tự mình đi qua con đường đời của mình, phải xây dựng cho mình một hiện thực và giữ cái hiện thực ấy. Nhưng vào lúc trẻ tuổi, khi các cá nhân vẫn còn sống ở trong tình trạng mơ hồ chung chung của những quan hệ thực tế, là thời họ dễ gần nhau và gắn liền nhau một cách chặt chẽ, có một cách suy nghĩ chung, một ý chí chung và một hoạt động chung, thành ra việc làm của người này lập tức trở thành việc làm của người kia.


Ở trong tình bạn của những người đứng tuổi thì không còn tình trạng ấy nữa. Các hoàn cảnh của đời sống người lớn đi theo con đường riêng của nó, không chấp nhận sự thực hiện những mục đích của nó trong sự thống nhất chặt chẽ với những người khác khiến cho họ không thể làm điều gì nếu không có người khác. Vào lúc vãn niên, người gặp nhau rồi lại chia tay, hứng thú vào việc làm của họ khi thì gặp nhau khi thì khác nhau. Tình bạn, mối liên hệ chặt chẽ của những cảm nghĩ, của những nguyên tắc, cái hướng chung vẫn còn, xong đây không phải là tình bạn tuổi trẻ ở đấy việc gì người này quyết định và thực hiện lập tức trở thành công việc trực tiếp của một người khác. Cái nguyên lý của đời sống xâu xa hơn của chúng ta yêu cầu nói chung mỗi người và lo đến thân mình tức là mỗi người bắt gặp cái lĩnh vực thực tế của riêng mình.


 


a.       Sự trung thành trong việc phục vụ.


 


Nếu như ở trong tình yêu và tình bạn, sự trung thành chỉ tồn tại giữa những người bình đẳng, thì cái điều chúng ta phải xét ở đây đó là thái độ trung thành đối với người cầm đầu, người cao hơn mình, đối với người chủ. Trong thời cổ đại chúng ta đã tìm thấy lòng trung thành của những người đầy tớ đối với gia đình, đối với cái nhà của chủ. Tấm gương đẹp đẽ nhất đó là người chăn lợn của Ođixê, lo chăn lợn không kể đêm hôm mưa gió, đau buồn cho số phận của chủ mình, và sau này giúp đỡ tích cực chống lại những người cầu hôn muốn lấyPênêlôp. Người ta tìm thấy một hình ảnh tương tự một hình ảnh tương tự của lòng trung thành cảm động nhưng ở đây đã hoàn toàn trở thành một tình cảm nội tâm trong “Vua Lia” của Sêchxpia. Vua Lia (hồi 1, cảnh 4) khỏi Kentơ là người muốn phục vụ ông: “Hỡi người kia, ngươi biết ta không?” Kentơ trả lời: “Thưa ông không, nhưng ở trong gương mặt của ông khiến tôi không thể không gọi ông là ông chủ”. Điều này đã hoàn toàn gần cái mà chúng tôi sẽ giới thiệu là lòng trung thành có tính chất lãng mạn, bởi vì lòng trung thành lãng mạn không phải là lòng trung thành của một người nô lệ hay của một nông nô, lòng trung thành này có thể là đẹp đẽ và cảm động những ở đây nó vẫn thiếu tính độc lập tự do của cá nhân, của các mục đích và các hành vi của cá nhân, cho nên điều đó chỉ có thể làm giảm bớt tầm quan trọng của nó.


Lòng trung thành chúng tôi nói ở đây là lòng trung thành của người thần bộc trong chế độ hiệp sĩ. Ở đây, chủ thể mặc dầu trung thành với người cao hơn mình (vương công, vua chúa, hoàng đế) vẫn giữ tính độc lập tự do của mình. Ở thời kỳ chế độ hiệp sĩ lòng trung thành này đóng vai trò quan trọng, bởi vì ở đây là mối liên hệ chính của những quan hệ qua lại và của cái trật tự xã hội tương ứng với nó; ít nhất ở những bước đầu tình hình là như vây.


 


b.       Tính đối lập của chủ thể ở trong lòng trung thành.


 


Nhưng cái mục tiêu có tính chất nội dung bộc lộ ở trong sự hợp nhất mới mẻ này của các cá nhân không phải là lòng yêu nước với tính cách một quyền lợi chung khách quan, mà đây là sự gắn bó của một chủ thể với ông chủ của mình. Vì vậy, lòng trung thành bị qui định bởi danh dự cá nhân, bởi lợi ích cá nhân, bởi ý kiến của chủ thể. Lòng trung thành chói sáng trong một thế giới hỗn độn, tàn nhẫn, không có quyền lợi cũng không có pháp luật thống trị. Ở trong một thực tế không có pháp luật như vậy, những người mạnh hơn, những người lỗi lạc hơn đóng vao trò những người trung tâm vững chắc, người lãnh tụ vf những người khác theo họ sau khi đã tự do lựa chọn.


Quan hệ này, sau đó, đã phát triển thành mối liên hệ bình đẳng với chế độ phong kiến trong mỗi thần bộc tự do bênh vực những quyền lợi của mình và những đặc quyền của mình. Nhưng cái nguyên lý cơ bản, làm cơ sở cho quan hệ này phù hợp với sự xuất hiện của nó, đó là sự lựa chọn tự do cả về mặt chủ đề của sự gắn bó này cũng như về thời gian gắn bó. Ở trong lòng trung thành, chế độ hiệp sĩ vẫn giữ  tài sản, quyền lợi, sự độc lập cá nhân và danh dự cá nhân. Vì lòng trung thành không được xem là một nhiệm vụ thực sự mà người ta phải thực hiện, ngay dù cho nó trái với ý muốn của chủ thể. Trái lại, mỗi cá nhân cho sự tồn tại của lòng trung thành và do đó sự tồn tại của trật tự chung là lệ thuộc vào sở thích của mình vào các thiên hướng và ý kiến cá nhân.


 


c.        Những xung đột do lòng trung thành gây nên.


 


Lòn trung thành và sự vâng lời lãnh chúa có thể dễ dàng xung đột với những dục vọng có tính chủ thể với sự ngờ vực đã xúc phạm tới danh dự, với tình cảm mình bị lăng nhục, với tình yêu và những biến cố ngẫu nhiên khác của đời sống bên ngoài. Vì vậy, chúng trở thành một cái gì hết sức mong manh. Chẳng hạn, một hiệp sĩ trung thành với ông vua của mình nhưng đột nhiên xảy ra một sự xung đột giữa người bạn của chàng và ông vua. Người hiệp sĩ phải lựa chọn giữa hai thái độ trung thành, không những thế, anh ta có thể trung thành với chính mình, với lòng danh dự, với lợi ích umình. Tấm gương đẹp đẽ nhất của một sự xung đột như vậy chúng ta tìm thấy trong “Xit”. Xit trung thành với vua và trung thành với mình. Khi nhà vua là đúng, Xit phục vụ nah vua, nhưng khi nàh vua làm một điều bất công hay xúc phạm tới Xit, thì Xit rút bỏ sự ủng hộ quan trọng của mình đối với nhà vua. Các công tước của Saclơ vĩ đại cũng làm như vậy. Trước mắt ta, là mối quan hệ giữa họ và hoàng đế, một mối liên hệ giữa sự thống trị tối cao và sự phục tùng giống như điều tồn tại giữa Dơt và các vị thần khác mà chúng tôi đã giới thiệu mối liên hệ ấy: vị thủ lĩnh tối cao ra lệnh, quát tháo và mắng nhiếc, nhưng các cá nhân độc lập tràn đầy sức mạnh chống lại ông ta tùy theo ý thức của họ.


Song tính mong manh và sự lỏng lẻo này của mối liên hệ được nêu lên một cách trung thành nhất và hấp dẫn nhất ở trong “Con chồn Rơma”. Cũng giống như ỏ trong trường ca này, những vị quan cao cấp của đế chế thực ra chỉ phục vụ bản thân họ và chỉ lo duy trì sự độc lập của họ; cũng vậy, các vương công và các hiệp sĩ trung cổ bao giờ cũng vắng mặt khi phải làm một cái gì có ích cho cái chung và cho hoàng đế của họ. Hình như thời trung cổ được đánh giá cao chính bởi vì trong hoàn cảnh này mỗi người được xem là một người có danh dự khi họ chỉ nghe theo ý muốn võ đoán của mình. Điều này anh ta không thể nào làm ở trong một nhà nước được tổ chức một cách hợp lý.


Cơ sở của ba trình độ này – lòng danh dự, tình yêu và lòng trung thành – đó là tính độc lập bên trong của chủ thể, của tâm hồn. Tính độc lập này không ngừng mở rộng bao quát những hứng thú ngày càng rộng rãi hơn và phong phú hơn; ở đấy nó hòa giải với bản thân. Ở trong nghệ thuật lãng mạn, điều này làm thành cái phần đẹp đẽ nhất của cái lĩnh vực ở ngoài phạm vi tôn giáo thực sự. Những mục đích mà nó theo đuổi đó là những cố gắng của con người, và ít nhất, xét về mặt quyền tự do của chủ thể, chúng ta có thể đồng tình, trong lúc đó ở trong lĩnh vực tôn giáo, các đề tài được miêu tả và cách miêu tả thường đối lập lại những quan niệm của chúng ta. Nhưng trong nhiều trường hợp, lĩnh vực này có thể gắn liền với tôn giáo, và lúc đó những hứng thú tôn giáo đan chéo với những chế độ hiệp sĩ có tính chất trần tục như trong cuộc phiêu lưu của các hiệp sĩ Bàn Tròn lo đi tìm cái Graan thiêng liêng. Tình trạng đan chéo này đưa vào trong thơ có tính chất hiệp sĩ nhiều yếu tố thần bí, quái đản và phúng dụ. Nhưng cái lĩnh vực trần tục của tình yêu, danh dự và lòng trung thành có thể xuất hiện hoàn toàn độc lập đối với mục đích và những ý nghĩ, bởi vì đối với cái nhìn của chúng ta đó chỉ là sự vận động của tâm hồn ở trong tính chủ thể phàm tục có tính chất nội cảm.


Song giai đoạn này vẫn còn thiếu một nội cảm có nội dung cụ thể của những quan hệ nhân tính, những tính cách, những dục vọng và của đời sống hiện thực nói chung. Vì thiếu tính đa dạng này, cái nội cảm mặc dầu bản thân là vô tận, vẫn là trừu tượng và hình thức, và do đó, nó có nhiệm vụ tiếp thu cái tài liệu rộng rãi này và miêu tả nó theo hình thức trau chuốc một cách nghệ thuật.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Tác giả: Georg Wihelm Hegel. Phan Ngọc dịch & giới thiệu. NXB Văn học, 1999.


www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người Nga Nghĩ và Viết lịch sử Văn học - Lã Nguyên 18.11.2018
Thơ thời Hồng Đức, những đóng góp văn hoá - Nguyễn Thanh Tú 14.11.2018
Nguyễn Du từ “một ai đó” đến “không ai cả” - Đỗ Lai Thúy 09.11.2018
Du Tử Lê: Nguyễn Ngọc Tư, hiện tượng tiêu biểu của 40 năm văn xuôi Việt - Du Tử Lê 09.11.2018
Cái nghèo trong muôn hình vạn trạng bi kịch - Tần Tần 09.11.2018
Liệu có thể xem Phan Khôi (1887-1959) như một tác gia văn học quốc ngữ Nam Bộ? - Lại Nguyên Ân 07.11.2018
Vài ý nghĩ nhân một hội thảo về Tố Hữu - Lại Nguyên Ân 07.11.2018
Tiểu thuyết Trở lại cố hương của Thomas Hardy - Nguyễn Thành Nhân 06.11.2018
Vũ điệu [Ký hiệu] của phượng hoàng - Phượng Hoàng 06.11.2018
Tiểu thuyết Nguyên Hồng từ cái nhìn đương đại - Bùi Việt Thắng 05.11.2018
xem thêm »