tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24280773
Lý luận phê bình văn học
07.08.2018
Nguyễn Phương Thảo & Nguyễn Thị Minh Thương
Thơ Nguyễn Bính nhìn từ góc độ giao thoa thể loại


Trong phong trào Thơ mới (1932 - 1945), Nguyễn Bính đã xác lập được một phong cách thơ không thể trộn lẫn, đó là một hồn thơ chân quê, đậm đà tình quê, hồn quê. Chúng ta nhận thấy thơ Nguyễn Bính dễ đi vào lòng người, dễ nhớ, dễ thuộc và có sức hấp dẫn bạn đọc nhiều thế hệ. Có nhiều nguyên nhân tạo nên khả năng cộng hưởng, lan tỏa đó, trong đó không thể không kể đến sự có mặt dày đặc của các yếu tố tự sự, tạo nên tính tự sự đậm nét trong thơ ông. Chính sự góp mặt của tính tự sự này khiến thơ Nguyễn Bính gần với văn học dân gian, gần với truyện Nôm, khiến những bài thơ của ông có dạng một câu chuyện nhỏ dễ đi vào lòng người. Bài viết xuất phát từ góc độ giao thoa thể loại, tìm hiểu vấn đề sự giao thoa giữa tự sự và trữ tình trong thơ Nguyễn Bính, chủ yếu khảo sát trên hai phương diện sự kiện, nhân vật, từ đó góp phần giải mã thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bính.


1. Sự kiện và nhân vật trong thơ Nguyễn Bính


Đọc thơ Nguyễn Bính, ta dễ dàng bắt gặp nhiều câu chuyện: chuyện chàng trai lo sợ người yêu phai nhạt tình quê khi đi tỉnh về, chuyện người mẹ già tiễn con gái đi lấy chồng xa, chuyện giấc mơ quan Trạng in đậm vào trong tiềm thức từ gã thư sinh đến anh lái đò, chuyện người thiếu nữ với tâm trạng bồi hồi xao xuyến khi đến nơi hò hẹn rồi lại buồn tủi thất vọng khi người kia không tới, chuyện chàng trai thôn Đoài tương tư cô gái thôn Đông,… Để tạo nên câu chuyện như thế cần có hai yếu tố cơ bản: sự kiện và những số phận gắn với những sự kiện đó. Trong thơ ca nói chung, thơ Nguyễn Bính nói riêng, sự kiện và nhân vật mang dấu ấn của loại tác phẩm tự sự, nhưng nó đã không hoàn toàn giống với sự kiện, nhân vật trong tác phẩm tự sự, mà là sự kiện, nhân vật của thơ trữ tình. Sự kiện trong thơ Nguyễn Bính đã là sự kiện tâm trạng, giữ chức năng biểu hiện tâm tư tình cảm của nhân vật trữ tình. Nhân vật trong thơ trữ tình Nguyễn Bính cũng như vậy, không được chú trọng khắc họa tính cách, hành động, lời nói, số phận tỉ mỉ như trong tác phẩm tự sự, mà là nhân vật chủ yếu được khắc họa qua đời sống tình cảm. Tuy nhiên, nếu hoàn toàn chỉ là sự bày tỏ tình cảm thì không có dấu ấn của tự sự, nhân vật trong thơ Nguyễn Bính vẫn có những số phận, gắn với các sự kiện, do đó, người đọc có thể tìm thấy dấu ấn của nhân vật tự sự, hay nói đúng hơn, ở nhân vật trong thơ Nguyễn Bính có dấu ấn của sự giao thoa thể loại.


Yếu tố sự kiện được Nguyễn Bính đưa vào thơ có nội dung khá đa dạng. Có sự kiện hiện thực, gắn danh tính, thân phận cụ thể, xác thực hoặc thậm chí của chính tác giả; sự kiện hư cấu, tưởng tượng được “biên soạn” bởi một tâm hồn đa sầu đa cảm. Những sự kiện ấy có thể gắn danh tính, thân phận cụ thể, xác thực, nhưng nhiều khi lại là tiếng lòng chung, câu chuyện chung của nhiều người. Thơ Nguyễn Bính giàu tính tự sự, tác giả kể chuyện bằng ngôn ngữ thơ trữ tình.


Nguyễn Bính thường sử dụng lặp lại một số sự kiện quen thuộc để phát triển câu chuyện tình yêu đôi lứa, như đi xem chèo, đi nghe hát…. (Mưa xuân, Đêm cuối cùng,…). Kể chuyện tình yêu, Nguyễn Bính cũng có một số ít bài viết về những chuyện tình viên mãn, hạnh phúc như trong bài Truyện cổ tích, Thời trước,… Câu chuyện tình nghĩa vợ chồng trong Thời trước là một chuyện tình có cái kết đẹp hiếm hoi trong thơ Nguyễn Bính với sự kiện quan Trạng về làng:


Chồng tôi cưỡi ngựa vinh qui


Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng


Tôi ra đón tận gốc bàng


Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem


Ở đây, các sự kiện liên kết lại với nhau thành một cốt truyện có nội dung rất gần gũi với những câu chuyện dân gian. Người chồng dùi mài kinh sử, mong ngày đỗ đạt vinh quy để được “Võng anh đi trước võng nàng theo sau”. Người vợ không chê khi lấy anh học trò nghèo, mà chịu thương chịu khó, tảo tần chắt chiu, âm thầm hi sinh vì chồng: “Vì tằm tôi phải chạy dâu/ Vì chồng tôi phải qua cầu đắng cay”. Và tình nghĩa vợ chồng thắm thiết của họ đã có một cái kết viên mãn đúng như nguyện ước. Thế nhưng, những chuyện tình yêu cho “hoa thơm, trái ngọt” như vậy chỉ đếm trên đầu ngón tay! Phần lớn trong thơ Nguyễn Bính là tình lỡ dở. Cũng sự kiện chàng trai đỗ đạt về làng vinh quy bái tổ nhưng trong Quan Trạng chẳng có cảnh đôi lứa giữ vẹn ước thề, thay vào đó là sự kiện người yêu đi lấy chồng - một motif trở đi trở lại nhiều lần trong thơ Nguyễn Bính (Lỡ duyên, Qua nhà, Người hàng xóm,….).


Thơ Nguyễn Bính có những sự kiện rất chân thực, cụ thể gắn với chuyện tình cảm gia đình. Trong Lỡ bước sang ngang, tình cảm gia đình, đặc biệt là lòng cảm thương mà nhân vật người em dành cho người chị của mình được thể hiện qua sự kiện người chị đi lấy chồng. Vì gia cảnh nghèo khó, người chị vâng lời mẹ cha chấp nhận lấy người mình không yêu. Từ đó, “chuyện” được dẫn dắt đến cảnh chị dặn dò em, mẹ tiễn con, em tiễn chị về nhà chồng trong nghẹn ngào nước mắt:Chị tôi nước mắt đầm đìa/ Chào hai họ để đi về nhà ai”. Tình cảm gia đình có khi được Nguyễn Bính khắc họa qua hệ thống sự kiện gắn với hình ảnh người mẹ. Trong Tết của mẹ tôi - một bài thơ giàu chất tự sự, tác giả kể chuyện người mẹ vất vả lo toan mỗi khi Tết về; lời thơ gần như kể lể, liệt kê một loạt công việc mà người mẹ dự liệu, gánh vác. Lại có lúc Nguyễn Bính miêu tả tình gia đình qua mộng tưởng của người tha hương (Hoa và rượu).


Chuyện trong thơ Nguyễn Bính không chỉ là chuyện tha hương, chuyện tình yêu, chuyện gia đình, mà bằng thơ, Nguyễn Bính còn kể cho người đọc nhiều câu chuyện về cuộc nhân sinh, thậm chí còn đặt ra vấn đề truyền thống bị mai một. Một trong những bài thơ tiêu biểu cho thiên hướng đó là Chân quê. Ở đây, sự kiện “em đi tỉnh về” là sự kiện quan trọng nhất, chi phối những sự kiện phụ khác. Cô gái quê đi tỉnh về, chàng trai đợi chờ phát hiện sự thay đổi trong trang phục của cô gái. Từ sự đổi thay đó, anh không khỏi lo lắng cái “chân quê”, tình quê mộc mạc đã phôi pha. Anh thậm chí còn “van em” giữ nguyên bản chất con người thôn quê của mình, nét đẹp truyền thống có từ thờithầy u mình”. Chân quê như là lời tuyên ngôn ngắn gọn nhưng thiết tha, sâu lắng của Nguyễn Bính: Hãy giữ lấy hồn dân tộc đang bị phôi phai bởi nền văn minh đô thị.


Nhìn chung, thơ Nguyễn Bính kể nhiều câu chuyện - chuyện tình yêu, chuyện tình cảm gia đình, chuyện tha hương và chuyện thế sự nhân sinh. Trong đó, sự kiện đóng vai trò là hạt nhân để tạo dựng nên những câu chuyện ấy.


Xét thế giới nhân vật. Thơ Thế Lữ, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng,… nhân vật trữ tình hầu như chỉ có “tôi” và “em”. Ở Nguyễn Bính, nhân vật có số lượng lớn hơn và cũng đa dạng hơn xét trên nhiều góc độ: anh lái đò, cô hàng xóm, bà tiên, người con gái ở lầu hoa… Kiểu vai mà các nhân vật trữ tình đóng phần nhiều là vai chàng trai, cô gái chân quê. Trong đó, vai nam (chàng trai) chiếm đa phần, bởi tâm tư của họ với tác giả có nhiều điểm tương đồng, gần gũi nên tác giả dễ dàng nhập vai, nhập giọng. Một đặc điểm làm nên tính độc đáo của tính tự sự trong thơ Nguyễn Bính là hiện tượng nhập vai nữ. Nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn trong bài viết “Nhà thơ nam giới hư cấu giọng nữ” đã lí giải rằng: “Nguyễn Bính đã quyết định giúp các cô gái quê phá vỡ sự im lặng bấy lâu để cất tiếng nói thổ lộ nỗi lòng sâu kín của họ[1]. Quả đúng như vậy, nhìn lại những sáng tác văn học trung đại hay kể cả những sáng tác cùng thời Nguyễn Bính, nhân vật nữ ít khi được cất lời, được có cơ hội bày tỏ tâm tư, khát vọng tình yêu và hạnh phúc. Nguyễn Bính đã nói hộ tiếng lòng thầm kín của những cô gái truyền thống quen với cuộc sống an phận, cam chịu, hi sinh cái riêng tư.


Mỗi nhân vật trong thơ trữ tình Nguyễn Bính được khắc họa thường gắn với một hoàn cảnh, một tình huống nhân sinh cụ thể nào đó. Họ có thể là cô gái thi nhân mới gặp gỡ lần đầu, cũng có thể là người đã quen biết từ lâu, hay thậm chí là người trong giấc mộng, trong trí tưởng tượng của thi nhân. Đáng chú ý là họ không được tả quá cụ thể dù là nhân vật trữ tình có vai trò kể chuyện cũng chỉ hiện ra thấp thoáng qua đôi nét ngoại hình, như ánh mắt, bàn tay,… hay chỉ hiện lên qua vài hành động đơn giản, chẳng hạn như hành động đem quần áo ra phơi của bà lão lưng còng xóm Tây trong bài “Không đề”. Tất cả những tình huống, chi tiết miêu tả ngoại hình, hành động đó đều là cái cớ để miêu tả tâm trạng. Mỗi nhân vật gắn với một tình huống, sự kiện, câu chuyện cụ thể trong đời sống tạo chất xúc tác cho nhà thơ bộc lộ tâm trạng.


2. Sắp xếp sự kiện và nhân vật trong thơ Nguyễn Bính


Sự sắp xếp các sự kiện là một trong những phương pháp quan trọng trong nghệ thuật kể chuyện của tác phẩm tự sự. Có điều, khác với tác phẩm tự sự, mục đích của sự sắp xếp sự kiện trong thơ ca nói chung, thơ Nguyễn Bính nói riêng, không nhằm gây kịch tính, tái hiện số phận, tính cách, mà chủ yếu thực hiện chức năng kể tâm trạng, bộc lộ những suy tư của nhân vật. Nguyễn Bính thường sắp xếp các sự kiện theo trình tự thời gian tuyến tính, dòng hồi tưởng và theo lối song hành.


Sắp xếp sự kiện theo trình tự thời gian tuyến tính là một lối tổ chức sự kiện khá phổ biến. Nhiều bài thơ của Nguyễn Bính cũng tuân theo trình tự này, sự việc xảy ra trước nói trước, xảy ra sau nói sau, ví dụ bài Mưa xuân. Thơ Nguyễn Bính lặp lại khá nhiều của cấu trúc tổ chức sự kiện như sau: nhân vật trữ tình hồi tưởng những việc đã diễn ra trong quá khứ, đắm chìm trong đó; rồi sực tỉnh khi quay trở về đối diện với thực tại, thất vọng, buồn bã; chẳng hạn như trong bài Trường huyện. Mở là sự kiện hồi tưởng: “Học trò trường huyện ngày năm ấy/ Anh tuổi bằng em lớp tuổi thơ/ Những buổi học về không có nón/ Đội đầu chung một lá sen tơ”. c cảm dịu dàng cứ vương vấn tâm hồn “anh”. Tiếp đến, câu thơ như trùng xuống khi nhắc tới thực tại “ngày em đi”: “Em đi phố huyện tiêu điều lắm/Trường huyện giờ xây kiểu khác rồi/ Mà đến hôm nay anh mới biết/ Tình ta như chuyện bướm xưa thôi”.


Một lối sắp xếp sự kiện nữa mà Nguyễn Bính sử dụng đó là đặt các sự kiện (thường là hai sự kiện) ở thế song hành, đăng đối để bổ sung cho nhau hoặc đối nghịch nhau. Khi đó, bài thơ cũng được chia ra làm các phần rõ ràng tương ứng với các sự kiện. Ví dụ, tâm tư của chàng trai với người con gái mình thầm thương trộm nhớ trong bài Qua nhà được thể hiện qua hai mốc sự kiện: trước và sau khi nàng đi lấy chồng. Đối với những bài có từ hai nhân vật trong thơ trữ tình trở lên, mối quan hệ giữa các nhân vật này thường là quan hệ bổ sung, hỗ trợ nhau. Chẳng hạn như trong những bài thơ viết về tình cảm gia đình của Nguyễn Bính thường xuất hiện những nhân vật thành viên trong gia đình như bà, cha, mẹ, cô,… Nếu có hai nhân vật trong thơ trữ tình, họ thường có mối quan hệ đối chiếu để làm nổi bật cảm xúc, thái độ và dụng ý nghệ thuật của tác giả. Thi nhân từng nhắc đến hai người phụ nữ là cô Oanh và chị Trúc trong đôi câu thơ của mình: “Nghỉ học, cô Oanh lòa một mắt/ Lấy chồng, chị Trúc bó hai tay”. Một người đại diện cho mối tình đắm say nhưng nhiều phần chua xót của tác giả, một người là người chị mà tác giả vẫn quý mến, cảm thương. Ở đây, câu chuyện những người phụ nữ hồng nhan bạc mệnh, tình duyên lỡ dở đã bổ trợ cho nhau góp phần thể hiện một nét giá trị nhân đạo trong thơ Nguyễn Bính. Mối quan hệ đối chiếu, bổ sung còn được thể hiện qua nhân vật người cha và người mẹ (tên Dung) trong bài Oan nghiệt. Tác giả chua xót khi nhắc đến cảnh ngộ bi thương của những người cùng hội cùng thuyền: thi nhân - ca xướng: “Đời cha lưu lạc quê người mãi/ Kiếp mẹ đêm đêm bán khóc cười/ Có mẹ, có cha mà đến nỗi/ Miệng đời mai mỉa gái mồ côi”.


Nguyễn Bính còn sắp xếp nhân vật theo quan hệ đối lập. Thơ ông thường viết về những nhân vật có sự đối lập nông thôn - thành thị, hiện đại - truyền thống. Trong bài Tình tôi, tình cảm của “tôi” thì luôn mặn mà, vẹn tròn, thủy chung trước mọi sóng gió cuộc đời, trái lại, “tình cô” sớm nở chóng tàn, dễ dàng đổi thay, phôi pha: “Tình tôi là giọt thủy ngân/Dù nghiền chẳng nát dù lăn vẫn tròn/ Tình cô là đóa hoa đơn/ Bình minh nở để hoàng hôn mà tàn”. Nguyễn Bính đã rất khéo léo, tinh tế trong việc lựa chọn hình ảnh, sử dụng ngôn từ tạo ra sự đối lập. Cặp nhân vật “tôi” - “” không chỉ tương phản trong chuyện tình cảm mà còn hiện lên như hai đại diện của tư tưởng nông thôn và thành thị, của truyền thống và hiện đại: “Hồn tôi giếng ngọt trong veo/ Trăng thu trong vắt biển chiều trong xanh/ Hồn cô cát bụi kinh thành/ Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe”. Nếu như chàng trai giữ tâm hồn mộc mạc, dung dị, trong sáng của hồn quê thì cô gái bị hấp dẫn bởi lối sống chốn phồn hoa kinh kì.


Thơ Nguyễn Bính còn xây dựng những cặp nhân vật đối lập trong quan niệm, tư tưởng giữa hiện đại và truyền thống, đối lập trong lối sống thành thị và nông thôn. Tương tự, ở bài “Chân quê”, nhân vật cô gái đi tỉnh về mang theo làn gió văn minh đô thị với “khăn nhung quần lĩnh”, “áo cài khuy bấm” được đặt trong một mối quan hệ tương phản về tư tưởng với nhân vật chàng trai chỉ yêu thích hình ảnh trang phục truyền thống với “áo tứ thân”, “khăn mỏ quạ”, “quần nái đen”. Sự tổ chức nhân vật theo quan hệ tương phản ở đây tuy không đẩy hai nhân vật về hai cực quá đối nghịch nhau nhưng lại có hiệu quả trong việc thể hiện thông điệp của tác giả: hãy giữ lấy hồn cốt dân tộc đang dần phôi pha.


3. Kết luận


Giao thoa thể loại là một hiện tượng của thơ Việt Nam hiện đại. Trong giai đoạn Thơ mới (1932 - 1945), chúng ta thấy yếu tố “chuyện” xuất hiện trong sáng tác của nhiều tác giả như Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính, Thế Lữ, Trần Huyền Trân,... Sự gia tăng của yếu tố tự sự trong thơ trữ tình giai đoạn này có nhiều lí do, trong đó có sự hạn chế của những hình thức nghệ thuật cũ đối với việc biểu đạt những nội dung cảm xúc mới. Thơ mới ngày càng có xu hướng thoát khỏi thơ điệu ngâm truyền thống để hướng đến lối thơ điệu nói hiện đại, yếu tố “kể” vì thế đóng vai trò đắc lực trong việc dịch chuyển thơ về gần với đời sống, là một dấu hiệu quan trọng trong tiến trình hiện đại hoá thơ ca. Yếu tố kể không chỉ dừng lại ở những chi tiết cụ thể mà thậm chí ở một số bài thơ trữ tình, chúng được phân bố xuyên suốt theo mạch cảm xúc của chủ thể. Cách đưa yếu tố tự sự vào thơ trữ tình cũng ngày càng tự nhiên, linh hoạt; làm cho tác phẩm trở nên chân thực, gần gũi với đời sống và dễ đi vào lòng người.


Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới. Nếu như Huy Cận đứng đầu dòng Đường, Xuân Diệu đứng đầu dòng Pháp thì Nguyễn Bính được mệnh danh là chủ soái của dòng Việt. Ông đã tiếp nhận nguồn mạch của ca dao, dân ca ngọt ngào, đằm thắm mà vẫn thể hiện được cái tôi Thơ mới với những nỗi niềm bâng khuâng của thời đại mình. Nguyễn Bính kể bằng thơ những câu chuyện thấm đượm hồn quê, tình quê mộc mạc, nhuần nhị và đưa vào thơ những nét đẹp đặc trưng của làng thôn nước Việt. Dòng chảy sự kiện trong thơ ông cũng thường có sự đan xen giữa chiêm nghiệm thời hiện tại và hồi tưởng về quá khứ, đôi khi biến đổi đột ngột về thời gian. Các sự kiện chủ yếu được sắp xếp theo hai trình tự chính đó là sắp xếp theo hồi tưởng của nhân vật trữ tình và theo trật tự thời gian tuyến tính. Bên cạnh hệ thống sự kiện, Nguyễn Bính còn tạo dựng một thế giới nhân vật khá phong phú, đa màu sắc. Các nhân vật có tương tác với nhau, tạo ra những mối quan hệ đối chiếu hoặc đối lập, góp phần thể hiện nội dung “câu chuyện” và bộc lộ cảm xúc. Có thể nói, hiện tượng giao thoa thể loại trong thơ trữ tình Nguyễn Bính đem lại những giá trị thẩm mỹ và nhân văn rất riêng.


Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả. Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học & Trường Đại học Văn Lang tổ chức. NXB Hội Nhà văn, 07-2018.


www.trieuxuan.info


 







[1] Trần Nho Thìn: “Nhà thơ nam hư cấu giọng nữ (Thi học văn hoá và bài thơ Mưa xuân của Nguyễn Bính)”, ngày 31/12/2016. Nguồn: http://vanvn.net/ong-kinh-phe-binh/nha-tho-nam-gioi-hu-cau-giong-nuthi-hoc-van-hoa-va-bai-tho-mua-xuan-cua-nguyen-binh-/1007


 




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Mỹ học Hegel (44) Lĩnh vực tôn giáo của nghệ thuật lãng mạn - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.10.2018
Mỹ học Hegel (43) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.10.2018
Tư tưởng chủ đạo của những người viết sử - Trần Văn Giàu 11.10.2018
Những mùa hoa Tú nói - Đỗ Quyên 11.10.2018
Mỹ học Hegel (42): Sự tan rã của hình thức nghệ thuật cổ điển - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 07.10.2018
Mỹ học Hegel (41) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 07.10.2018
Mỹ học Hegel (22) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 07.10.2018
Tây Nguyên trong thơ Đặng Bá Tiến - Nguyễn Minh Khiêm 04.10.2018
Nghiên cứu xã hội học về trường hợp Trần Dần (tiếp & hết) - Phùng Ngọc Kiên 02.10.2018
Nghiên cứu xã hội học về trường hợp Trần Dần (1) - Phùng Ngọc Kiên 02.10.2018
xem thêm »