tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23990214
Lý luận phê bình văn học
05.07.2018
Anh Chi
Vũ Trinh - tác giả Lan Trì kiến văn lục - một dấu ấn lớn trong văn xuôi Việt Nam


 Vũ Trinh tự là Duy Chu, có ba tên hiệu là Lai Sơn, Nguyên Hanh và Lan Trì Ngư Giả, người làng Xuân Lan, huyện Lương Tài, trấn Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Ông sinh năm 1759 trong một một gia đình trí thức quan lại, từ nhỏ đã được lên Thăng Long học hành chu đáo. Năm 17 tuổi, Vũ Trinh thi đỗ Hương tiến, rồi được bổ chức Tri phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây xưa, nay thuộc Hà Nội, và bắt đầu theo đường hoạn lộ. Vợ ông là con gái Nguyễn Khản (anh Nguyễn Du), ngụ tại phường Bích Câu, Thăng Long. Là cháu rể Nguyễn Du nhưng nhiều hơn bảy tuổi, nên hai ông có giao tình với nhau. Năm 1787, Vũ Trinh được vời vào làm quan trong triều. Do được sống trong chốn cung đình, hiểu nhiều về các cung nhân, nên ông đã viết tập Cung oán thi. (Có thuyết cho rằng tác giả Cung oán thi là Nguyễn Huy Lượng, lại có người nói là của Nguyễn Hữu Chỉnh). Dưới triều Lê mạt, Vũ Trinh làm quan tới chức Tham tri chính sự. Nhưng, thời kỳ này, giặc Thanh ùa sang xâm chiếm Thăng long; rồi Quang Trung kéo quân ra bắc đánh bại chúng... Trước những biến động lớn về chính trị và binh lửa, Vũ Trinh không thể thích ứng nổi, nên đã lui về ẩn cư, mười năm trời nương thân ở vùng Hồ Sơn. Tại đây, ông vừa dạy học vừa thu thập những tư liệu về phong tục, những truyền thuyết trong dân gian. Thực ra, ẩn sâu trong tấm thân một Vũ Trinh quan lại là cái phần hồn của một văn nhân, đến lúc này bắt đầu trỗi dậy, nó thôi thúc ông viết. Do vậy mà văn chương nước Việt ta lại có thêm tác gia lớn Lan Trì Ngư Giả với tác phẩm Lan Trì kiến văn lục.     


Đến cuối năm 1802, Vũ Trinh lại được gọi ra làm quan cho nhà Nguyễn với chức Thị trung học sĩ. Đến quãng này, chí ông đã để vào trứ tác văn chương, nên hai năm sau ông xin từ quan, nhưng không được chấp nhận. Năm 1807, ông làm Giám thị trường thi Sơn Tây. Năm 1809, được cử đi sứ nhà Thanh, ông có viết tập thơ Sứ yên thi tập, rất tiếc đã bị thất lạc mất. Đi sứ trở về, Vũ Trinh được giao cùng với Nguyễn Văn Thành và Trần Hựu soạn bộ Hoàng Việt luật lệ. Vào năm 1816, Vũ Trinh bênh vực một học trò là Nguyễn Văn Thuyên (con trai Nguyễn Văn Thành) bị tố cáo làm thơ có ý phản nghịch. Do vậy, ông bị đi đày vào Quảng Nam. Sau 12 năm lưu đày, được trở về nhà, và chỉ ít ngày sau thì ông qua đời, đó là năm 1828. Đường hoạn lộ của Vũ Trinh đầy thăng trầm, cũng không ít đau đớn. Còn sự nghiệp văn chương trứ tác của ông, dẫu viết cả thơ, soạn cả luật, nhưng thực sự chỉ đạt đến đỉnh cao với tác phẩm Lan Trì kiến văn lục. Nghĩ cho cùng, thật may mắn khi đời ông có  một thời gian náu mình ở Hồ Sơn và viết được tác phẩm đặc sắc này!


Lan Trì kiến văn lục gồm 45 truyện, viết về nhiều đề tài khác nhau, từ tình yêu trai gái, đạo đức thi cử, đến báo ứng luân hồi, và các chuyện kỳ quái... Phần lớn những truyện đó được nhà văn viết dựa trên những truyền thuyết trong dân gian mà ông thu thập được ở vùng Hồ Sơn nói riêng và vùng Sơn Nam Hạ nói chung. Những truyện truyền kỳ này được Vũ Trinh viết bằng ngôn ngữ văn chương đẹp dung dị, dồi dào xúc cảm và hết sức cuốn hút. Có thể nói, Lan Trì kiến văn lục là tác phẩm văn chương quan trọng nhất đời văn Vũ Trinh, cũng là một đóng góp lớn cho nền văn học Việt Nam ta.   


Truyền kỳ là một thể tài văn chương, thường được gọi là “văn ngôn đoản thiên tiểu thuyết” hay “cổ điển tiểu thuyết”, xuất hiện ở Trung Quốc vào cuối đời Tùy (581- 618). Đến đời Đường (618-907), văn chương truyền kỳ phát triển rất mạnh mẽ. Truyện truyền kỳ có đặc điểm là nhiều tình tiết mang tính thần dị, lạ thường, bắt nguồn từ chuyện chí quái thời Lục triều. Loại hình truyền kỳ có vị trí quan trọng trong văn học sử Trung Quốc, nhất là truyện truyền kỳ đời Đường. Thời nhà Đường, truyền kỳ được giới văn nhân chia thành tiểu thuyết phúng dụ, tiểu thuyết ái tình, tiểu thuyết hiệp nghĩa và tiểu thuyết chính trị. Những người sáng tác truyện truyền kỳ phần lớn là các sử gia, văn nhân danh tiếng, như Lý Triều Uy, Tưởng Phòng, Nguyên Chẩn, Thẩm Ký Tế, Bạch Hành Giản... Văn chương của họ giản dị, đẹp đẽ, với những tình tiết sống động được trình bày khúc chiết và đầy cuốn hút. Sức tưởng tượng của họ vô cùng phóng túng, táo bạo. Nhiều tác gia truyện truyền kỳ đã tạo nên những nhân vật có hành tung rất lạ thường bằng ngôn ngữ văn chương thật tươi sáng. Nội dung nhiều truyện truyền kỳ thời Đường không chỉ mang đậm sắc thái thần dị, mà còn chứa đựng những ý nghĩa xã hội sâu sắc, thể hiện những cung bậc thế thái nhân tình, và qua đó, nhà văn bày tỏ thái độ nhân sinh của mình.


Văn chương truyền kỳ thời Đường ảnh hưởng rất lớn đến văn chương các đời sau của Trung Quốc. Nội dung các truyện truyền kỳ thời Đường, sau này được người đời Tống, đời Nguyên khai thác, sử dụng trong hí kịch, tạp kịch, văn chương thuyết xướng. Đời Tống, đời Nguyên không có được những tác gia truyện truyền kỳ có bút lực mạnh mẽ như đời trước. Nhưng sang đầu đời Minh, văn chương truyền kỳ lại hưng thịnh. Người mở đầu cho sự hưng thịnh trở lại của truyện truyền kỳ là Cù Hựu, tác giả tập Tiễn đăng tân thoại bất hủ. Và tới đời Minh, đời Thanh, truyền kỳ lại được cải biên thành hình thức hí khúc phổ biến rất rộng rãi... Văn chương truyền kỳ, từ Trung Quốc, đã ảnh hưởng đến văn chương thời trung đại của các nước phương Đông, và dần dần trở thành một thể loại văn cổ điển phổ biến mang đặc trưng cho truyện ngắn phương Đông. Nhiều trường hợp, cùng một cốt truyện, một đề tài, các nhà văn ở nhiều nước dùng để tạo nên những tác phẩm khác nhau với những sắc thái tâm lý, phong tục, ngôn ngữ, địa danh riêng biệt của mỗi nước. Đó chính là một giá trị văn hóa lớn mà văn chương truyền kỳ đóng góp cho văn hóa nhân loại. 


Ở Việt Nam ta, loại hình văn chương truyền kỳ có thể kể mốc giới thành tựu đầu tiên là tác phẩm Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, đời Trần. Tiếp đó có thể kể tới Lĩnh Nam chích quái, tương truyền là của Trần Thế pháp, thề kỷ XV, và Vũ Khâm Lân, một tác gia lớn ở thế kỷ XVIII đã có đóng góp quan trọng là bổ sung đầy đủ các truyện cho tập Lĩnh Nam chích quái như chúng ta được đọc hôm nay. Tác phẩm Thánh Tông di thảo gồm 19 truyện, tương truyền là của vua Lê Thánh Tông, do đời sau sưu tầm lại được, là một tác phẩm truyền kỳ khá sâu sắc và đậm đà phong vị Việt Nam, đặc biệt là có nhiều truyện mang tính ngụ ngôn. Thánh Tông di thảo là tác phẩm được viết với bút pháp đại gia, một dấu mốc quan trọng về sự trưởng thành của văn xuôi viết bằng chữ Hán của người Việt ta cuối thế kỷ XV. Sang giữa thế kỷ XVI, tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ lại tạo nên một thành tựu lớn cho văn xuôi nước Việt ta. Văn chương truyền kỳ của Nguyễn Dữ đã được coi là giá trị mẫu mực, đã được tác gia cùng thời là Nguyễn Thế Nghi, dịch ra văn Nôm. Có thể nói, văn học nước ta từ khi có tác phẩm thành văn cho đến thế kỷ XIX vô cùng hiếm tác phẩm văn xuôi viết bằng quốc âm, duy nhất có trường hợp Truyền kỳ mạn lục được dịch ra quốc âm cách nay năm thế kỷ. Nhiều danh sĩ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII đã bình phẩm cái hay, cái lạ, khen ngợi bút lực Nguễn Dữ, trong đó có Vũ Khâm Lân đã ca ngợi Truyền kỳ mạn lục là “thiên cổ kỳ bút”... Và rồi, đến cuối thế kỷ XVIII, văn chương truyền kỳ Việt Nam lại có thêm thành tựu mới, là Lan Trì kiến văn lục của Vũ Trinh!


Với 45 truyện trong Lan Trì kiến văn lục, nhà văn hầu như đã tránh được cái hạn chế của các cây bút nho gia là thường cứ thấy gì ghi nấy. Trong văn chương Vũ Trinh đã có sự nhất quán về tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật riêng biệt. Đọc ông, ta thấy một nhà văn rất nhậy cảm trước những vận động mới mẻ trong đời sống xã hội đương thời. Bằng văn chương truyền kỳ phong phú chi tiết đời sống và dồi dào cảm xúc, Vũ Trinh trình bày cái xã hội đầy nhiễu nhương, đang xuống cấp về đạo đức. Trong xã hội đó, có những kẻ lạm dụng quyền uy, sống hoang dâm ghê gớm (truyện Hầu). Có kẻ tàn ác, mất hết nhân tính đến mức giết cả con (truyện Hiệp hổ)... Viết về loại nhân vật đó, ngọn bút Vũ Trinh là ngọn bút phê phán nghiêm cẩn. Trong cái xã hội đầy bi kịch, nhà văn vẫn nhìn thấy có những con người giữ được phẩm giá cao quý, và ngọn bút Vũ Trinh thật trân trọng khi viết về những con người như vậy. Tình cảm và tư tưởng của nhà văn thực sự mạnh bạo, có thể nói là rất mới so với văn chương đương thời. Những nhân vật nữ luôn được ông yêu mến, quý trọng. Người đàn bà dệt vải khao khát yêu đương, dù bị chồng ghen tuông đánh chết vẫn giữ trọn tình với người cũ (truyện Tái sinh). Một số kiếp khổ đau tột cùng, đến mức chết đi mà vẫn không thể nhắm mắt được vì còn mang thai trong bụng, phải sinh nở dưới mồ và ngày ngày lên dương thế mua đường nuôi con (truyện Sản dị)... Các nhân vật Vũ Trinh tạo nên có tình yêu vô cùng say đắm, đến mức nồng nàn nhục cảm, và ông trình bày nó như là niềm hạnh phúc chính đáng của người phụ nữ. Đấy là tư tưởng rất đặc biệt trong văn chương nước ta thế kỷ XVIII. Chuyện tình ở Thanh Trì, có cốt truyện gần như chuyện Trương Chi trong dân gian, kể về cô gái con của một phú ông. Cô đẹp người, đẹp nết mà bạc mệnh, ôm mối tình oan trái, đau đớn. Cô chết, được hỏa táng, thi thể hóa thành tro, nhưng còn lại một khối nhỏ “to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc, cũng chẳng phải vàng, nó trong như gương, lấy búa đập không vỡ...” Người yêu cô, một anh lái đò nghèo, đẹp trai, hát hay, về sau gắng gỏi vươn lên trong trường đời, trở nên khá giả, đến xin phú ông cho được xem khối thi thể còn lại của cô. Và, khi dòng nước mắt của anh trào ra, nhỏ xuống, khối đỏ đó “tan thành nước, giọt giọt biến thành máu tươi...” Có thể nói, hình tượng đó là một sáng tạo đặc sắc của nhà văn Vũ Trinh. Truyện Ca nữ họ Nguyễn kể về cuộc đời một nữ ca kỹ tư phong đoan chính, có tình yêu chủ động và một tấm lòng vị tha lạ thường. Tình yêu của nàng dành cho một người đàn ông, là một nhân vật thật trong lịch sử văn hóa nước Việt ta, đó là Vũ Khâm Lân mà chúng tôi có nhắc ở trên, đã đánh giá Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là “thiên cổ kỳ bút”. Cuộc đời ca nữ họ Nguyễn thật buồn và thật đáng kính trọng. Một truyện khác, Lan quận công phu nhân, nhà văn kể câu chuyện tình của cô cháu gái quan Thượng thư họ Đàm với Nguyễn Thực, thật khác thường và cao đẹp. Nguyễn Thực cũng là một người thật trong lịch sử văn hóa cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Còn Trạng nguyên họ Nguyễn, là câu chuyện duyên tình đặc biệt giữa một tiểu thư khuê các và Nguyễn Đăng Đạo, người sau đó đã đỗ Trạng nguyên, và là một nhà thơ được trọng vọng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII... Qua những truyện đó, ta thấy Vũ Trinh rất trọng thực tế đời sống khi cầm bút viết văn. Nói một cách khác, những tác phẩm của ông rất cuốn hút độc giả, bởi họ thấy trong Lan Trì kiến văn lục, ngoài những yếu tố khác thường, còn có những chuyện thật trần đời. Bút pháp của Vũ Trinh rất mực tinh giản, đến mức những truyện ông viết hầu như không có dấu vết của sự bay bướm, rườm rà. Đáng trân trọng nhất là, văn chương của ông chứa đựng một lý tưởng thẩm mĩ thật cao. Bạn đọc phổ thông trong nửa thế kỷ qua, đọc các bản dịch của Hoàng Lâu, Ưu Đàm... vẫn có thể hứng thú với văn chương của Vũ Trinh. Điều đó cho thấy sức sống lâu bền của văn ông!


Viết bài tiểu luận này, chúng tôi cũng nghĩ đến đời sống văn học Việt Nam hiện đại, nhất là từ nửa sau của thế kỷ XX đến nay. Bước vào thời kỳ hội nhập văn chương quốc tế, các tác gia cùng giới quan tâm đã biết đến nhiều trường phái văn chương thế giới, như các chủ nghĩa Hiện thực, Lãng mạn, rồi Ấn tượng, Siêu thực, Hiện sinh... của các nước Âu-Mỹ, và cả chủ Hiện thực huyền ảo của Mỹ Latinh. Nói chung, nền văn chương hiện đại của ta đã chịu ảnh hưởng từ các trường phái đó, và nói riêng, một số tài năng lớn của Việt Nam đã tiếp thu được những gía trị văn hóa của những trường phái văn chương lớn đó. Và, thực tế cũng đã cho thấy, trước những trường phái Văn học hiện đại thế giới mà chúng tôi nêu ở trên hai thế kỷ, đời sống văn chương Việt Nam ta đã có Ngô gia văn phái, đích thực là một trường phái văn chương như tên gọi của nó, là Văn phái nhà họ Ngô. Họ Ngô ở làng Tả Thanh Oai (tên Nôm là Tó tả), huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam xưa, nay thuộc Hà Nội. Tác gia đầu tiên của văn phái này là Ngô Thì Ức (1709-1736), thân phụ của Ngô Thì Sĩ (1726-1780), cho đến Ngô Thì Giai (1818-1881). Chừng một thế kỷ rưỡi trứ tác và nghiên cứu, Ngô gia văn phái đã có những văn tài lỗi lạc trong lịch sử văn học nước Việt ta, tiêu biểu là Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm... và đã đóng góp vào kho tàng văn chương nước Việt ta những tác phẩm sáng giá, như Anh ngôn thi tập, Ngọ Phong văn tập, Bang giao hảo ngoại...; có cả những tác phẩm triết học danh tiếng, như Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh...; và đặc biệt, bộ tiểu thuyết ký sự lịch sử Hoàng Lê nhất thống chí, một thành công đỉnh cao của Văn học trung đại Việt Nam! Chúng tôi nhắc một chút đến Ngô gia văn phái, là muốn bày tỏ một suy nghĩ của mình với những nhà văn Việt Nam hiện đại cùng giới quan tâm rằng: Sự trỗi lên các trường phái văn chương hiện đại trên thế giới là những hiện tượng văn hóa, chúng ta cần tiếp thu những phẩm giá văn hóa trong văn chương của họ. Nhưng, cũng nên ý thức được rằng, nước Việt ta cũng đã có trường phái văn chương từ đầu thế kỷ XVIII, như Ngô gia văn phái, một hiện tượng đẹp đẽ trong lịch sử văn học nước Việt ta! Xin mở ngoặc thêm: Trường phái Hiện thực huyền ảo Mỹ La tinh từ gợi ý ban đầu năm 1946 của nhà văn Miguel Asturias (1899-1974) và chính thức khởi phát bởi nhà văn Alejo Carpentier (1904-1980); còn Ngô gia văn phái khởi lên từ đầu thế kỷ XVIII và tiến triển đến nửa cuối thế kỷ XIX.


Ở đây, chúng tôi đang nói về Vũ Trinh, một tác gia văn chương Việt Nam thời Trung đại. Sống và viết cùng thời với Ngô Thì Nhậm, tác gia hàng đầu của Ngô gia văn phái. Nhưng khác biệt một chút, Vũ Trinh đứng riêng ra một cõi, là cõi văn chương truyền kỳ với những thủ pháp dị thường không kém phần đặc sắc so với thủ pháp của trường phái Hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh. Và, bằng tài năng của mình, ông đã tạo nên bước tiến mới cho văn xuôi Trung đại Việt Nam! Tác gia văn chương này kinh qua những năm tháng đầy biến loạn, đường đời ông nhiều thăng trầm, đôi khi vào tù ra tội, có những khúc thật đau đớn. Đặc biệt, ông sống rất cô đơn trong làng văn bút, duy nhất có Nguyễn Du là bạn văn, và cũng là chú vợ, thì sớm về náu mình ở Thái Bình, rồi phiêu dạt theo cát bụi đường đời. Viết về Vũ Trinh, một văn tài với vị thế như đứng riêng ra như thế, đôi khi trong chúng tôi nẩy sinh ý nghĩ: Giá như Vũ Trinh có những người bạn tâm huyết và đồng chí hướng, biết đâu họ đã cùng tạo nên một văn phái nữa cho văn chương Việt Nam. Tuy nhiên, chúng tôi cũng hiểu, dòng chảy cuộc sống đâu có bị tác động gì bởi hai chữ “giá như”... Vậy nên, cứ phải nhìn nhận cho đúng những gì Vũ Trinh đã tạo nên, đóng góp vào kho tàng văn chương dân tộc, đó là Lan Trì kiến văn lục bất hủ, một dấu ấn lớn trên tiến trình văn xuôi nước Việt ta. Qua văn chương Vũ Trinh, chúng ta có thể hình dung được cái xã hội đầy tao loạn đương thời, trong đó, thân phận và hạnh phúc của con người được nhà văn đặt ra như một vấn đề cấp thiết cho đạo lý cuộc sống. Đó là lòng thương yêu cõi con người, là tư tưởng nhân văn của Vũ Trinh, thông qua Lan Trì kiến văn lục, ông gửi lại cho cuộc đời này!


AC.                                                                                                                                                                          


Nguồn:  Văn nghệ số 26/2018/ baovannghe.com.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đến với bài thơ… cực hay của Nguyễn Quang Thiều - Phạm Lưu Vũ 20.09.2018
Vũ Hoàng Chương – Lạc loài trong cõi nhân sinh - Đỗ Trường Leipzig 16.09.2018
Thái độ của Nguyễn Công Trứ đối với Triều Nguyễn qua sáng tác văn học - Nguyễn Phạm Hùng 14.09.2018
Dấu ấn ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính trước 1945 - Đặng Thị Thu Hà 13.09.2018
Lại chuyện đánh vần - Nguyễn Văn Dân 09.09.2018
"Truyện Kiều" và biệt tài sử dụng thành ngữ của Nguyễn Du - Vương Trọng 09.09.2018
Nguyễn Bính, nhà thơ tình xuất sắc Việt Nam thế kỷ XX - Đỗ Đình Thọ 09.09.2018
Nguyễn bính và và con đường trở thành “Người của ngày mai” - Đoàn Trọng Huy 04.09.2018
Nam Bộ trong đời thơ Nguyễn Bính - Võ Văn Nhơn 04.09.2018
Những bất hợp lý trong đề xuất cải tiến chữ Quốc ngữ của PGS.TS Bùi Hiền - Nguyễn Văn Hiệp 03.09.2018
xem thêm »