tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24309770
Lý luận phê bình văn học
22.04.2018
Triệu Xuân
Nhà văn, Dịch giả Phan Quang: tác phẩm, nhân cách, tấm lòng


Tôi gặp Nhà báo, Nhà văn, Dịch giả Phan Quang lần đầu tiên tại Sài Gòn, khi tôi là phóng viên của Đài Tiếng nói Việt Nam, cùng dự một Hội nghị tại Dinh Độc lập (sau đổi là Thống Nhất), cuối năm 1975. Sau khi nghe tôi giới thiệu tên, Phan Quang bắt tay tôi rất chặt, tôi cảm nhận bàn tay ông ấm áp, đôi mắt to thông minh và nhân hậu. Ngay sau phút làm quen, ông liền nhắc đến bài ký dài Đất Quảng vào Xuân, in trên báo Nhân Dân ba kỳ liên tiếp (27, 28 tháng 2 và 01 tháng 3-1975). Bài ấy tôi ký tên với bút danh là Triệu Thanh Vân, Phóng viên Đài Phát thanh Giải Phóng tại mặt trận Trung Trung Bộ1. Tôi rất vui! Người cầm bút trẻ như tôi lúc ấy, khi nghe một nhà báo đàn anh nhắc đến và khen tác phẩm của mình, không vui sao được! Từ đó cho đến sau này, dù không thường xuyên gặp nhau (Phan Quang ở Sài Gòn đến 1978 thì ra Hà Nội) chúng tôi còn nhiều lần đi công tác cùng nhau, chia sẻ cùng nhau về tri thức và vốn sống, trò chuyện về văn chương… nhưng quả là ngay từ lần gặp đầu tiên, Phan Quang đã để lại trong tôi ấn tượng đẹp về một người làm báo, viết văn đàn anh, nhưng rất biết trân trọng, tin yêu lớp trẻ. Phan Quang thuộc thế hệ người cầm bút từ kháng chiến chống Pháp. Ông và tôi cùng cầm tinh con rồng. Ông sinh trước tôi hai giáp, ông Mậu Thìn, tôi Nhâm Thìn. Phải chăng cũng vì thế mà ngay từ lần gặp đầu tiên, tôi thấy hợp! Trò chuyện với ông chỉ mươi mười lăm phút, tôi nhận ra ông có một bề dày tri thức và lối ứng xử lịch lãm, nho nhã. Phẩm chất ấy, ngày nay sao mà ít gặp!


Nhà văn Phan Quang, tên khai sinh là Phan Quang Diêu, sinh năm Mậu Thìn 1928 tại làng Thượng Xá, nay thuộc xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh là Phan Thanh Tấn, thân mẫu là Văn Thị Thiện. Cụ Phan Thanh Tấn (1881-1974) là con trai út một gia đình nho học. Ông nội Phan Quang là cụ Phan Thanh Tân, tức Phan Duy Tân, đỗ cử nhân năm Canh Ngọ 1870 dưới triều vua Tự Đức, cùng khoa với nhà yêu nước Tống Duy Tân. Cụ Phan Duy Tân là người cương trực, từng làm đến chức ngự sử, vì ba lần can vua mà ba lần bị giáng chức, có lần bị đày đi làm lính biên phòng. Năm 1884, kinh đô Huế thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn ra Tân Sở, Quảng Trị, có ghé nghỉ đêm tại nhà cụ Phan Thanh Tân, sáng hôm sau mới tới hành cung tại thị xã. Sách Việt Nam Sử lược của Trần Trọng Kim có nhắc đến việc này: “... Xa giá (từ Khiêm cung đi) đến Trường Thi, vào nghỉ được một lát thì Tôn Thất Thuyết lại giục lên đường. Tối ngày 23, xa giá vào nghỉ nhà một người bá hộ, sáng ngày 24 ra đi...1. Nhà sử học gọi là nhà một người bá hộ, tại lúc này cụ Phan Thanh Tân đã bị tước hết phẩm hàm, mãi đến triều vua Đồng Khánh mới được phục chức, song cũng chỉ là một chức quan nhỏ: Chưởng ấn bộ Lễ. Con trai là cụ Phan Thanh Tấn được tập ấm, người địa phương quen gọi là ông Ấm Tùng (Tùng là tên người con gái đầu). Về sự kiện Vua Hàm Nghi từng về nhà ông nội của mình, Phan Quang có bài ký rất thú vị: Vua Hàm Nghi đã đi qua làng tôi. Tác giả viết về những người dân quê ông yêu nước, hưởng ứng hịch Cần vương, dũng cảm chống Pháp. Xin nêu thêm chi tiết : Cụ Phan Duy Tân có người cháu ngoại là một nhà trí thức được nhiều người Huế hâm mộ khi còn rất trẻ là Cao Văn Khánh. Ông tham gia Quân đội Nhân dân năm 1945. Năm 1946, Cao Văn Khánh được cử làm Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân khu, cùng Chính ủy Nguyễn Chánh chỉ huy cuộc chiến đấu chống Pháp tại mặt trận Nam Trung Bộ. Khi thành lập Đại đoàn Quân tiên phong (Sư đoàn 308 sau này), ông được điều ra Việt Bắc cùng tướng Vương Thừa Vũ chỉ huy Sư đoàn cho đến sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Tướng Cao Văn Khánh qua đời năm 1980, khi đang giữ trọng trách Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam - do bị phơi nhiễm nặng chất độc màu da cam trong thời gian ông tham gia chỉ huy chiến đấu chống Mỹ tại các chiến trường miền Nam. Tướng Cao Văn Khánh với Phan Quang là anh em con cậu con cô ruột.


Phan Quang tham gia Việt Minh, giành chính quyền tại huyện Hải Lăng từ tháng 6-1945, thoát ly gia đình làm công tác Đoàn thanh niên, bình dân học vụ ở huyện và tỉnh. Đầu năm 1947, ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên bị Pháp tạm chiếm. Phan Quang ở lại công tác vùng địch hậu, được kết nạp Đảng tháng 11 năm 1947 tại chiến khu Hòn Linh (Quảng Trị).


Năm 1948, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Phân khu ủy Bình Trị Thiên Nguyễn Chí Thanh (sau này là Đại tướng) chủ trương chọn một số đảng viên, cán bộ trẻ ra vùng tự do Thanh Nghệ Tĩnh học tiếp, chờ có dịp sẽ gửi đi đào tạo ở nước ngoài. Phan Quang được đi cùng đoàn với ông Nguyễn Chí Thanh từ chiến khu Ba Lòng (Quảng Trị) ra Thanh Hóa, nơi ông Chí Thanh đảm nhiệm chức vụ Bí thư Liên khu ủy 4.


Phan Quang đam mê văn học và tập viết văn, dịch văn học từ rất sớm. Ông được phân công làm phóng viên, biên tập viên báo Cứu quốc (Liên khu 4) xuất bản tại vùng tự do Liên khu 4 với danh nghĩa “cơ quan tuyên truyền kháng chiến của Tổng bộ Việt Minh”, ít lâu sau đổi là “của Hội Liên Việt”. Tại đây ông có dịp tiếp xúc và kết thân với nhiều nhà văn, nhà báo tên tuổi như Chế Lan Viên, Bùi Hiển, Hải Triều, Gia Ninh, Lưu Quý Kỳ…, nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, họa sĩ Văn Bình... Được các đàn anh dìu dắt, ông mau chóng nhập cuộc và sớm có nhiều bài đăng báo dưới bút danh Hoàng Tùng. Một số bài ông viết thời kỳ này sau được chọn in vào Tuyển tập Phan Quang (3 tập), 19992.


Trong kháng chiến chống Pháp, ông là cây bút năng nổ của báo Cứu quốc. Cuối năm 1949 ông vào vùng tạm chiếm Bình Trị Thiên làm phái viên của báo một năm, trở ra vùng tự do tham gia các chiến dịch Hà Nam Ninh (1951), Thượng Lào (1952)… với tư cách phóng viên mặt trận. Làm báo Cứu quốc LK 4, ông đồng thời cộng tác với một số báo xuất bản tại Việt Bắc như Độc lập, Cứu quốc (trung ương)…


Hòa bình lập lại, ông được điều về báo Nhân dân, tiếp quản thủ đô Hà Nội. Phan Quang làm việc tại tòa soạn số 71 phố Hàng Trống, Hà Nội 28 năm (1954-1982), lần lượt làm nhiệm vụ Trưởng ban Nông thôn, Trưởng ban Kinh tế, Ủy viên Ban Biên tập... Tháng 3-1975, sau chiến thắng Tây Nguyên, ông được cử vào Quảng Trị mới giải phóng, rồi theo đà chiến thắng của quân ta đi tiếp vào Huế, Đà Nẵng. Ngày 30-4-1975, được tin quân Giải phóng đã chiếm dinh Độc Lập, từ Đà Nẵng ông vào Sài Gòn. Tại đây, ông được cử cùng nhà báo Thép Mới mở Văn phòng Đại diện báo Nhân dân tại miền Nam.


Chuyến đi dọc chiều dài đất nước, từ sông Bến Hải đến chót mũi Cà Mau đã giúp Phan Quang viết hàng loạt bài đăng các báo Nhân dân, Văn nghệ, Đại đoàn kết, Le courrier du Vietnam, Le Vietnam en marche... Một số bài ông viết trong ba năm sống và làm việc tại miền Nam được tập hợp, chỉnh lý in thành bốn tập ký: Đất nước một dải, Hạt lúa Bông hoa, Lâm Đồng-Đà Lạt, Đồng bằng sông Cửu Long....


Năm 1982, nhà báo Lưu Quý Kỳ, Vụ trưởng Vụ báo chí kiêm Tổng thư ký Hội Nhà báo Việt Nam đột ngột qua đời trong khi đang đi công tác ở nước ngoài, Phan Quang giã từ báo Nhân dân để làm công tác quản lý báo chí, tiếp tục công việc của nhà báo quá cố tại Ban Tuyên huấn Trung ương và Hội Nhà báo Việt Nam.


Sau Đại hội lần thứ VI của Đảng, Bộ Thông tin thành lập. Phan Quang được cử làm thứ trưởng phụ trách mảng báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, đối ngoại, trong khi vẫn làm Phó Tổng thư ký thường trực Hội Nhà báo Việt Nam. Nhà văn nhà báo Phan Quang từ nay đồng thời là một chính khách! Ông được bầu vào Quốc hội ba nhiệm kỳ. Với các trách nhiệm trên, ông được giao chủ trì, cùng Bộ Thông tin và Hội Nhà báo soạn thảo dự luật Luật báo chí (mới). Luật này được Quốc hội thông qua cuối năm 1998, thể hiện tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước về thông tin, truyền thông.


Năm 1988, ông được cử làm Tổng Giám đốc kiêm Tổng biên tập, Bí thư Ban cán sự Đài Tiếng nói Việt Nam cho đến cuối năm 1996, chuyển sang chuyên trách Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam.


Phan Quang làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội ba nhiệm kỳ VIII, IX và X (1987-2002), Phó Tổng thư ký rồi Tổng thư ký3, Chủ tịch, Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà báo Việt Nam từ 1984 đến 2000. Ông là Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các khóa 2, 3, 4, Ủy viên Đoàn Chủ tịch khóa 5. Ủy viên Ban lãnh đạo Tổ chức quốc tế các Nhà báo (OIJ), thành viên Hội đồng đào tạo nhà báo của OIJ; từ 1995 là Phó Chủ tịch OIJ phụ trách khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN (1997), ông là thành viên Ban lãnh đạo Liên đoàn các nhà báo ASEAN (CAJ). Trên cương vị thành viên Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, Phan Quang được cử tham gia một số tổ chức quốc tế, như Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), Liên Nghị viện khối Pháp ngữ (APF), Liên minh Nghị viện châu Á vì Hòa bình (AAPP)... Ông làm Chủ tịch Nhóm Nghị sĩ Hữu nghị Việt Nam-Pháp trong nhiều năm.


Từ năm 2003, được nghỉ hưu, Phan Quang dành thời gian viết và dịch, tham gia Hội đồng Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (Trưởng Ban biên tập Báo chí, thông tấn, báo điện tử, phát thanh, truyền hình). Ngoài  báo, ông dịch, giới thiệu, bình chú một số sách văn học.


Phan Quang được Nhà nước Việt Nam tặng Huân chương Độc lập hạng hai, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, hạng nhì; Bắc đẩu Bội tinh của Cộng hòa Pháp, Huân chương Tự do hạng nhất của Lào, Huy chương vàng OIJ…


Phan Quang ước mơ làm văn học từ rất sớm. Do được phân công nhiệm vụ, ông làm báo từ năm 1948 và ngày càng chuyên với cái nghiệp này. Ông tâm sự: “Tôi là một người làm báo, thỉnh thoảng lạc bước sang vườn văn. Ước mơ thời trai trẻ của tôi là làm văn học, song tổ chức phân công làm báo. Tôi bị cuốn hút vào nghề này, làm luôn một lèo, đến nay thấm thoắt đã hơn nửa thế kỷ. Báo chí và văn học là hai anh em sinh ra từ một mẹ ngôn từ. Báo hay văn đều lấy ngôn tự làm gốc. Đã đành mỗi nhà một nghiệp nhưng luôn có sự giao thoa. Người cầm bút khi hư cấu sáng tạo hay dùng thủ pháp tân văn, nội dung và phương pháp diễn đạt dù khác nhau, sự nghiệp một đời người chung quy thể hiện cùng một nhân cách4.


Trong công việc làm báo, Phan Quang đã viết hàng ngàn bài báo. Là nhà văn, ông đã xuất bản ba chục đầu sách văn học. Là dịch giả, ông đã dịch hơn chục tác phẩm văn học trong đó có những tác phẩm thuộc hàng Danh tác thế giới như hai bộ truyện cổ Nghìn lẻ một đêm, Nghìn lẻ một ngày. Là một chính khách, ông có dịp đi đây đi đó rất nhiều, nhưng công tác quản lý đã chiếm gần trọn thời gian của ông, thời gian cho sáng tác, bởi thế rất ít. Tôi biết ông còn rất nhiều đề tài đã chín trong đầu, tư liệu đã đủ đầy, nhưng viết ra thì lại cần thời gian và sức khỏe! Từ năm 1980 đến nay, dù tuổi đã cao, ông đã xuất bản hơn ba chục đầu sách. Đó là kết quả của niềm đam mê văn chương từ thuở nhỏ của Phan Quang.


Phan Quang làm báo, viết văn trước khi là chính khách có tiếng trong và ngoài nước. Với tôi, ông là một văn nhân, người bạn vong niên, trí tuệ uyên bác mà gần gũi, khiêm nhường. Tác phẩm nào mới ra lò ông cũng đều gửi cho tôi với những lời đề tặng trân trọng. Từ bao đời nay, quan trường, chức tước chỉ là phù du, cái còn lại mãi mãi là tác phẩm, là nhân cách, tấm lòng…


Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 04-9-2011


Nhà văn Triệu Xuân


Nguồn: Lời bạt in trong bộ Nghìn lẻ một đêm, Phan Quang dịch. NXB Văn học, in lần thứ 29; và bộ Nghìn lẻ một ngày, Phan Quang dịch. NXB Văn học, in lần thứ tư.


 







1 In trong Lấp lánh tình đời, tập Truyện, Ký chọn lọc của Triệu Xuân. NXB Văn học, 2007.




1 Nguồn: Việt Nam sử lược, bản in lần thứ 5, NXB. Tân Việt, Sài Gòn 1954, tr.552.




2 Như các bài Thăm một xưởng vũ khí của dân quân, báo Cứu quốc liên khu 4 số ra ngày 9 và 10-11-1948, Cuộc đấu tranh dũng cảm của nhân dân thôn Thượng Xá (1954), Trao trả tù binh (1954)…




3 Nhiệm kỳ này Hội Nhà báo không có chức danh Chủ tịch.




4 Nguồn: Nhà văn Việt Nam hiện đại,  Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản, 2007.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đọc thơ Tú Xương - Xuân Diệu 18.10.2018
Dịch lý trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm - Lê Nguyên Cẩn 18.10.2018
Thông điệp tinh thần của Tơ vò - Quang Hoài 16.10.2018
Đọc tiểu thuyết Tơ vò của Xuân Vũ - Hà Tuấn Ngọc 16.10.2018
Mỹ học Hegel (44) Lĩnh vực tôn giáo của nghệ thuật lãng mạn - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.10.2018
Mỹ học Hegel (43) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.10.2018
Tư tưởng chủ đạo của những người viết sử - Trần Văn Giàu 11.10.2018
Những mùa hoa Tú nói - Đỗ Quyên 11.10.2018
Mỹ học Hegel (42): Sự tan rã của hình thức nghệ thuật cổ điển - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 07.10.2018
Mỹ học Hegel (41) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 07.10.2018
xem thêm »