tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24052758
Thơ
14.09.2018
Lan Châu
Hương Giang chiều (7-kỳ cuối) & Lời bạt của nhà văn Hoàng Minh Tường



GƯỢNG


Gượng với chua cay, với tháng ngày


Gượng cười: - Ăn ớt, nhủ đừng cay


Gượng vì con trẻ vui tình mẹ


Gượng sống cơ hàn khỏi mượn vay


 


Gượng vì lòng dạ người đen bạc


Gượng nghe những kẻ nói thày lay


Gượng cố - gượng quên - rồi gượng hết.


Gượng hết mãi rồi, gượng hóa hay!


1965


 


LẮNG ĐỌNG


Nắng vợi chiều buồn gió vẩn vơ


Ngàn lau tím nhạt, cuối trời mơ,


Tôi về chở nắng sang bờ cũ


Sưởi cánh hoa lòng đẫm ý thơ…


 


Ý thẳm thơ sầu trăm ngổn ngang


Vui - buồn - thương - cảm hiện miên man


Chiều đừng vội vã buông rèm sớm


Cho ý thơ đầy nỗi hợp tan!


 


Tan hợp bèo mây chuyện dãi dầu


Phúc. Trời quy tụ những nơi đâu?


Hưng - suy - tan - hợp, tình trăng nước


Cho cánh hoa thưa nắng nhạt màu!


 


MƠ TRĂNG


Một giấc hoàng lương theo gió thu


Bay trong giá lạnh đẫm sương mù


Trăng tà nghiêng cánh trong ly rượu


Chao đảo thuyền hồn tận nẻo mơ


 


Một giấc mơ trăng sáng bến trời


Ngàn sao nhấp nháy giữa chơi vơi


Giọt Sinh, giọt Hóa, nhiều mong ước


Chồng chất lên nhau, giữa sóng đời


 


Nhưng giấc mơ trăng sáng bến trời


Đưa hồn tôi đến tận xa khơi…


Theo khói trầm hương về bến Giác


Nghe Phật Di Đà thuyết pháp vui…!


 


GIÓ LỘNG


Sương đêm giá buốt trong hư ảnh


Huyền ảo trăng ngà, lặng lẽ soi


Một kiếp lênh đênh buồm lộng gió


Lào xào sóng nước, nhớ thương ai!


GIỌT NHỚ


Trời lắng bâng khuâng chiều bãng lãng


Bập bềnh tan hợp, sóng đùa mây.


Thuyền xuôi nước ngược lang thang gió


Bến vắng, trăng buông giọt nhớ đầy…


 


SÁO DIỀU


Hãy tự vi vu dưới nắng ngàn


Khi gió chiều nâng tiếng nhạc vang


Xin đừng lưu luyến tình nhân thế


Tục lụy, trần gian… quyết chẳng màng!


 


TRĂNG KHÔNG NGỦ


Một mình tôi thức, chờ trăng ngủ


Mây cứ âm thầm lặng lẽ trôi


Gió vẫn lang thang bên gối chiếc


Ngọt ngào tôi hứng giọt trăng rơi!


 


ĐỊNH MỆNH


Tôi không đau nỗi đau thể chất


Mà tôi đau vết rạn tâm hồn


Buồn tư duy in sâu vào định mệnh


Để vai gầy trĩu nặng gian nan


 


VÔ ĐỀ


Ai đã thấy trên hoa màu nước mắt


Theo tháng ngày tàn tạ giữa chơi vơi


Thương tiếc nụ ân tình đầy xuân sắc?


Chợt tàn phai khi mới thắm hương trời.


 


NẮNG TRỞ


Gió lộng hơi may lạnh tháng ngày


Nắng vàng đâu bỗng dạt về đây


Thi nhân chấp nhặt dòng dư lệ


Phơi nắng hanh vàng ấm phút giây!


 


 


TÌNH NGƯỜI SOI DẶM ĐƯỜNG


Lời bạt của nhà văn Hoàng Minh Tường


 


Tình người soi dăm đường (Nxb Hội Nhà văn, 1957) là tập thơ đầu tay của nhà thơ, nhà tiểu thuyết, kịch tác gia Hoàng Yến (Lê Hoàng Yến). Tập thơ mỏng, vẻn vẹn 10 bài, không ngờ ngay khi vừa ra đời, đã làm cho tác giả điêu đứng. Nhà văn Huy Phương nhớ lại: “Ở cái thời điểm sôi bỏng của văn học nghệ thuật những năm 1957-1958 ấy, tập thơ nhỏ của anh, với cái giọng điệu đa cảm của nó, đã vấp ngay phải phản ứng của một vài cây bút phê bình đang ráo riết canh giữ tính chiến đấu và lạc quan của thơ văn. Một vài bài viết hoặc lời phát biểu thẳng thắn của anh trước đó trên mặt báo và trong những cuộc thảo luận về thơ là cái ngòi đã châm sẵn. Và tập thơ khiêm tốn ấy đã trở nên giọt nước rơi vào cốc nước sắp tràn…”.


Cái ngòi đã châm sẵn mà nhà văn Huy Phương nói chính là vụ phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu diễn ra đầu năm 1955 mà Hoàng Yến là người lên tiếng đầu tiên với bài mở đầu trên báo Văn Nghệ số 65 (11-3-1955): Tập thơ Việt Bắc có hiện thực không? và loạt bài 3 kỳ Đọc thơ Việt Bắc của Tố Hữu, đăng trên báo Nhân Dân các số 3, 4, 5 tháng 4 năm 1955. Trong nhóm chê thơ Tố Hữu dạo ấy, cũng quyết liệt không kém Hoàng Yến, còn có Hoàng Cầm, Lê Đạt. Bộ ba Hoàng Cầm - Hoàng Yến - Lê Đạt này, sau đó ít lâu đều thuộc diện Nhân văn - Giai phẩm, bị ra khỏi Đảng, bị điêu đứng vì trọng án văn chương.


 


Mở đầu tập thơ Tình người soi dặm đường là bài thơ Đường đi mặt trận mà nhân vật chính nhà thơ nhắc tới là người vợ trẻ:


 


Đường đi mặt trận


Sắn khoai vừa giồng


Vợ nhà vừa cưới


Bóng trăng theo chồng


 


Đường đi mặt trận


Nước đồng gợn trăng


Gió tre hoa bóng


Gợi tình chiếu chăn


 


Đường đi mặt trận


Đi qua ngõ nhà


Ríu chân dồn bước


Trăng sáng nõn nà


Bóng trăng người vợ


Gửi người đi xa


 


Đường đi mặt trận


Đẩy lùi lại sau


Mối thương lận đận


Của buổi ban đầu


 


Bài thơ viết năm 1947, có hơi hướng dáng Kiều thơm của Quang Dũng, có không khí Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy của Nguyễn Đình Thi, nhưng có vẻ ủy mị, mềm yếu và day dứt hơn. Bởi vì nàng Kiều của Hoàng Yến trong bài thơ này chính là vợ của tác giả, người mà rất nhiều năm sau, khi ở tuổi bát thập, mới xuất bản tập thơ của đời mình, đó là nhà thơ Lan Châu - Công Tằng Tôn Nữ Tùng Nương với tập thơ Hương Giang Chiều mà bạn đọc đang cầm trên tay.


 


Lan Châu là tên thường gọi, cũng là bút danh của Công Tằng Tôn Nữ Tùng Nương. Bà là hậu duệ (trực hệ) đời thứ năm của vua Thiệu Trị (1840-1847). Nếu so trong bảng Đế hệ thi do vua Minh Mạng đặt ra, tính từ thời vua Thiệu Trị: Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh/ Bảo Quí Định Long Trường/ Hiền Năng Khâm Kế Thuật/ Thế Thoại Quốc Gia Xương, thì Công Tằng Tôn Nữ Tùng Nương thuộc hàng Vĩnh, ngang hàng vai vế với cố vấn Vĩnh Thụy ( tức vua Bảo Đại).


 


Sinh năm 1927, trong một gia đình hoàng tộc, chịu sự giáo dục khuôn phép của hoàng gia, nhưng Lan Châu lại sớm tiếp thu trào lưu mới. Bà theo học Pháp ngữ ở trường dành cho con em hoàng tộc. Từ năm mười lăm tuổi đã tiên phong trong phong trào Âu hóa, biết chơi quần vợt, bơi Perisoir trên sông Hương, đi xe đạp… Năm 1943, chỉ bằng những cuốn sách tự học tiếng Nhật, Lan Châu đã trở thành cô giáo phổ cập Nhật ngữ cho học sinh trung học ở trường Đồng Khánh, Huế. Chính trong thời gian này, Lan Châu gặp chàng trai xứ Quảng, Hoàng Yến. Có chàng xứ Quảng ra thi/ Thấy cô gái Huế chân đi không đành. Đúng như câu ca dao nọ, chàng trai quê làng An Thái, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam khi ấy là giáo viên trường Esepic Phan Thiết ra Huế để thi thể thao, vừa gặp cô gái xinh đẹp dòng dõi hoàng tộc đã say như điếu đổ. Cha mẹ Lê Hoàng Yến là ông Lê Thành và bà Huỳnh Thị Mẹo, từng nuôi giấu tù chính trị là Nguyễn Duy Trinh và ông Huỳnh Ngọc Huệ ba tháng trời, khi hai chiến sĩ này vượt ngục từ Đắc Lây về. Ông Huỳnh Ngọc Huệ, em ruột bà Huỳnh Thị Mẹo, khi ấy là Xứ ủy Trung Kỳ. Do ảnh hưởng từ cậu ruột, Lê Hoàng Yến từng tham gia cách mạng từ năm 1942. Sau khởi nghĩa tháng Tám anh làm chủ sự phòng tư pháp Công an Trung Bộ. Khi biết một lý lịch giàu truyền thống yêu nước như thế, Lan Châu càng yêu cái chất lý tưởng, cách mạng trong con người chàng trai xứ Quảng. Hai gia đình cho phép họ cưới nhau năm 1946, khi Lan Châu vừa 20 tuổi.


Sau cách mạng tháng Tám, một cuộc cách mạng về lẽ sống, lý tưởng sống đã thay đổi căn bản cuộc đời của nhiều gia đình hoàng tộc. Ngay sau khi vua Bảo Đại trao ấn kiếm thoái vị, tự nguyện là người dân một nước tự do độc lập, ông Công tôn Bửu Đơn, cha đẻ của Lan Châu, một Hoàng thân đang làm trong Bộ Lễ nghi, coi việc cúng tế của triều đình, đã tình nguyện vào Tuy Phước, Bình Định để tham gia công tác tài chính cho chính quyền cách mạng (mất ở Tuy Phước năm 1955). Ngày mặt trận Huế vỡ, 19 tháng 12 năm 1946, theo chân người chồng cách mạng, Lan Châu cùng mẹ, hai em trai Vĩnh Thọ, Vĩnh Hoài và bảy chị em gái Tú Châu, Quế Châu, Minh Châu, Cẩm Châu, Hiệp Châu, Giáng Châu, Hoàng Châu, giã từ cố đô Huế, tự nguyện từ bỏ cuộc sống nhung lụa, ra vùng tự do khu Bốn cùng với cả nước kháng chiến.


Nhà thơ Lan Châu nhớ lại: “Suốt chín năm kháng chiến, trừ chị cả Vị Châu của tôi ở lại Huế theo chồng, còn mẹ và các em tôi đều sống ở khu Bốn. Ngày từ Huế ra khu Bốn tôi mới sinh con trai đầu lòng, cháu Lê Hoàng Tùng. Gửi con cho bà ngoại và các dì chăm sóc, tôi tham gia công tác tại báo Cứu Quốc khu Bốn. Mấy năm sau, bận thêm con thơ, và phải tính chuyện kinh tế gia đình, không đủ điều kiện di chuyển theo cơ quan Khu ủy, tôi quyết định theo học lớp đào tạo ngành y ngắn ngày để làm được mọi việc từ hộ lý đến y tá và nhiều công việc chuyên môn của người thầy thuốc. Những địa danh Chợ Sim, Quán Giắt, rồi Gay, Dừa, Bạch Ngọc… cho đến bây giờ vẫn thân thương như thuở ban đầu. Anh Hoàng Yến, năm 1947 chuyển sang làm thư ký tòa soạn báo Cứu Quốc khu Bốn, 1950 làm thư ký cho anh Nguyễn Chí Thanh, đầu năm 1952 chuyển sang bộ đội, đại đoàn 304, đi tham gia chiến dịch Việt Bắc. Đáng nhớ nhất là những năm tháng phát hành báo Cứu Quốc khu Bốn do anh Lưu Quí Kỳ làm chủ nhiệm. Ngày đầu báo đóng ở Quán Giắt, Thanh Hóa. Tôi quen các nhà thơ Chế Lan Viên, Hoàng Thi Thơ, Bội Lan, vì chồng tôi cùng công tác với họ, tôi được đọc bài và gặp họ ở tòa soạn báo. Nhận báo từ Thanh Hóa, đoàn “phu báo” của chúng tôi có tới bốn mươi người chất báo lên xe đạp, rồi đi từng trạm, mỗi trạm chừng bốn mươi cây số, đưa báo vào mãi Nghệ An, Quảng Bình. Thanh - Nghệ - Tĩnh ngày ấy thật sự là quê hương, là hậu phương để đón đợi người lính Vệ quốc, từ các mặt trận Hòa Bình, Việt Bắc trở về. Chính ở vùng quê gió Lào cát trắng này đã cưu mang, giúp tôi sinh nở hai cháu gái Hoàng Thu, Hiền Phương…”.


 


Em ơi em có biết


Rời bàn tay tạm biệt


Là lúc trời xanh biếc


Chân anh vướng chân em.


 


Em ơi em có biết


Mưa đông chiều chiến dịch


Mùi nhớ nặng trong hồn


Có pha chút hoàng hôn


 


Em ơi em có biết


Em đã thành người vợ


Mẹ của Tùng - Thu - Phương


Nhưng em


Vẫn em Nương


Của anh


Vẫn người thương


Đường Kim Long phượng đỏ…


 


Những câu thơ ấy nhà thơ Hoàng Yến đã viết từ mặt trận phía Bắc gửi về hậu phương Thanh- Nghệ - Tĩnh, nơi có mẹ, vợ, con và các em anh đang ở đó. Hình ảnh người thiếu nữ Huế ở đường Kim Long phượng đỏ của thuở tình đầu vẫn luôn theo từng bước chân anh Vệ quốc trong những ngày mưa đông chiều chiến dịch.


 


Thế rồi, ngày chiến thắng đã đến. Trong đoàn quân thiên thần từ Điện Biên Phủ tiến về tiếp quản Thủ đô có nhà thơ, anh Vệ quốc Hoàng Yến. Hà Nội trở thành nơi hội ngộ, đại đoàn viên của những người đi kháng chiến. Nhà thơ Hoàng Yến được thỏa ước nguyện, khi vừa buông cây súng lại được trao ngay cây bút, được công tác ở nơi mà ông từng mơ ước: Phòng Văn nghệ Quân đội. Còn chị Tùng Nương cũng được toại nguyện với mơ ước trở thành một cán bộ y tế như nghề gia truyền của ông bà ngoại. Chị được điều về cơ quan y tế của Bộ Văn hóa. Cả tám chị em gái rời Huế ra chiến khu đều ở lại miền Bắc, hầu hết tụ hội ở Hà Nội, người tiếp tục học lên đại học, người lấy chồng, sinh con. Cậu Vĩnh Hoài trở thành đại úy công binh. Riêng mẹ và cậu em út Vĩnh Thọ, đầu năm 1954, có tin nhắn của chị Vị Châu, đã trở về Huế để giải quyết việc gia đình. Vĩ tuyến 17 trở thành vết chém ngang thân hình Tổ quốc, ngăn cách hàng vạn gia đình. Từ đây, sông Hương, xứ Huế luôn là nỗi nhớ khôn nguôi, là niềm khắc khoải mong ngóng trong thơ Lan Châu:


 


Quê mẹ xa vời vợi nhớ thương


Hoàng hôn mờ phủ dấu quê hương


Đêm tàn mơ tiếng chuông Thiên Mụ


Vang vọng tâm can khắp nẻo đường…


Dấu quê hương


Và:


Mẹ vẫn chắt chiu bếp lửa hồng


Mái đầu sương gió phủ thành bông


Con đi năm tháng dài thêm nhớ


Hồn vẫn mơ thuyền cập bến sông…


Gửi Mẹ


 


Chín năm kháng chiến gian khổ, hy sinh, sống chết liền kề, nhưng với nhà thơ Lan Châu, đó lại là thời kỳ hạnh phúc nhất, vô tiền khoáng hậu. Hòa bình chưa trọn nghìn ngày, cái nghiệp văn chương như bóng tử thần đã sầm sập đến. Tập thơ Tình người soi dặm đường  của Hoàng Yến vừa phát hành đã tới tấp bị búa rìu dư luận. Văn chương tiểu tư sản. Không có lập trường giai cấp. Không có tính Đảng. Sặc mùi Nhân văn - Giai phẩm. Đó là những án tuyên không có tống đạt. Bè lũ ba tên Hoàng Cầm, Hoàng Yến, Lê Đạt cùng với hàng chục văn nghệ sĩ, trí thức khác đều là nạn nhân nguy hiểm của vụ án văn chương năm 1956 -1957: vụ Nhân văn - Giai phẩm.


Đại úy chính trị viên tiểu đoàn Lê Hoàng Yến, khi đó 35 tuổi, từng trong ban lãnh đạo Công an Trung bộ từ hơn mười năm trước, giờ bị khai trừ Đảng, phải đi lao động cải tạo trên nông trường quân đội Vân Lĩnh, Phú Thọ.


Bóng đêm bỗng ập xuống người vợ trẻ và đàn con trứng gà trứng vịt.


 


Trong mơ dệt thắm


Bao hoài bão


Thực tế ngỡ ngàng


Tay… trắng tay


Tỉnh giấc mộng vàng


Sương nhuộm tóc


Vẫn thấy tay mình


Nắm chặt


Trắng… bàn tay


Phận nước bèo


 


“Một tai nạn khủng khiếp mà cho tới bây giờ, tôi vẫn thấy hãi hùng - Nhà thơ Lan Châu nhớ lại - Vợ một kẻ phản động, bị khai trừ khỏi Đảng, bị đi cải tạo. Khủng khiếp quá. Rất nhiều ngày tôi đến cơ quan không dám ngẩng mặt nhìn ai. Tôi như người mắc bệnh hủi bị loại khỏi cộng đồng, như kẻ phản bội bị mọi người ghê sợ, xa lánh. Chiều về mẹ con chỉ biết buồn bã, ngậm ngùi. Nghĩ mình phận mỏng cánh bèo. Mình đã là con nhà phong kiến, dòng dõi vua quan nhà Nguyễn phản dân hại nước, giờ chồng lại Nhân văn - Giai Phẩm, các con sẽ sống sao đây? Sau nhiều ngày đấu tranh, dằn vặt, năm 1960, tôi quyết định rời Hà Nội, nơi gạo châu củi quế, nơi khó nuôi nổi các con chỉ bằng một bìa tem công chức quèn loại E, nơi định kiến xã hội với bọn Nhân văn - Giai phẩm quá nặng nề. Tôi chuyển công tác lên bệnh viện Phú Thọ, gần nơi cải tạo của chồng và cũng là vùng trung du có đất để chăn nuôi trồng trọt, may ra nuôi nổi các con…”.


Vùng trung du ấy quả là chốn nương thân kỳ diệu. Bệnh viện Phú Thọ, rồi bệnh viện Vĩnh Tường những năm sau đó thấm đẫm tình người. Sáng, trưa, chiều, tối và ngay cả đêm khuya, lúc nào cũng có bệnh nhân cấp cứu, sản phụ khó đẻ, đều có người cán bộ y tế xứ Huế tận tụy. Bà coi bệnh viện là nhà, bệnh nhân là người thân trong gia đình. Rất nhiều đứa trẻ sinh trên tay bà, mấy chục năm sau gặp lại, khi trở thành thầy giáo, kỹ sư, bác sĩ, vẫn sà vào lòng bà, gọi Mẹ Tùng Nương. Chính nghề thầy thuốc những năm ấy đã gợi cho thi sĩ Lan Châu liên tưởng đến hoa sen trắng.


 


Bông trắng đài xanh nhụy thắm vàng


Bốn mùa lộng lẫy cõi trời Nam


Nắng mưa dầu dãi thân chìm nổi


Vẫn ngát hương thanh nhã dịu dàng.


 


Gần bùn nhưng đượm thân tinh khiết


Tinh chất càng tăng nét dịu huyền


Nhân tim chồi củ thành linh dược


Hoa mát hương lành vị thắm sinh…


Sen trắng


 


Đồng hành với sự tận tụy, xả thân vì công việc là một ý chí học hỏi, vươn lên âm ỉ và quyết liệt. Con gái út Hoàng Hoa mới được hơn một tuổi, người mẹ của sáu con lại lao vào ôn tập văn hóa để thi đại học. Tin nữ y tá Tùng Nương thi Đại học Y khoa Hà Nội làm cả bệnh viện kinh ngạc. Các bác sỹ, y tá và rất nhiều bệnh nhân đến chúc mừng người nữ bác sỹ tương lai.


Nhưng, một quyết định từ đâu đó đã phá vỡ tất cả. Giấy triệu tập đi học của y tá Tùng Nương bị hủy vì lý do chồng bà là Nhân văn - Giai phẩm!


Không có cách nào vượt qua được số phận cay nghiệt để vươn lên tự khẳng định mình và tạo cơ hội cho các con nên người, nếu không cắt bỏ được con ma Nhân văn - Giai phẩm.


 


Một cuộc đại phẫu cho cuộc tình ngót hai mươi năm với sáu mặt con bắt buộc phải xảy ra. Đơn xin ly hôn viết chưa ráo mực, đã tiếp ngay lá đơn đòi quyền bình đẳng như bao cán bộ kháng chiến khác, được gửi lên các cấp cao nhất của Đảng và Nhà nước. Chưa thấy hồi âm, bà Tùng Nương liền cầm đơn lên gặp trực tiếp đồng chí Bí thư Trung ương Đảng: Tôi là vợ của anh Hoàng Yến, người bị quy tội Nhân văn - Giai phẩm. Vì hoàn cảnh chúng tôi phải bỏ nhau. Nay mình tôi nuôi con, tôi muốn học lên để có điều kiện nuôi dạy các con, mà Nhà nước không cho. Vậy tôi xin trả bọn trẻ cho Đảng, Chính phủ. Tôi tình nguyện trở về Nam chiến đấu! Thư viết quyết liệt và thái độ sống cũng quyết liệt. Cuối cùng, đồng chí Tố Hữu cũng đồng ý giải quyết để bà Tùng Nương vào học trường đào tạo cán bộ y tế cho miền Nam ở Hưng Yên, nhưng nhà trường thấy hoàn cảnh khó khăn quá, đề nghị chuyển chị về học ở trường Y tế Phú Thọ.


Những ngày vừa làm vừa học tuy vất vả, cay cực, nhưng sẽ chẳng mấy khó khăn gian khổ, nếu không xảy những chuyện động trời.


Một ngày đi học về, bà Tùng Nương bỗng thấy mất cậu con trai Việt Anh:


 


Trăng hè về bỡ ngỡ


Lòng mẹ chẳng còn vui


Tiếng cười không còn nữa


Việt Anh xa mẹ rồi…


Nhớ Việt Anh


Rồi tiếp theo là con gái Hiền Phương:


Mắt con tròn to


Bàn chân nho nhỏ


Hiền Phương của mẹ


Con ở tận đâu?


Hiền Phương của mẹ


 


Thì ra những đứa trẻ là nạn nhân. Lúc này nhà thơ Hoàng Yến đã hết hạn lao động cải tạo, được chuyển ngành về Cục Sân khấu Bộ Văn hóa. Cuộc chia tay của hai người lớn đã làm trẻ thơ tan đàn sẻ nghé. Việt Anh, rồi Hiền Phương, Hoàng Hưng bị bắt theo cha về Hà Nội. Nhưng người đàn ông, lại là người đàn ông nghệ sỹ, làm sao nuôi nổi con? Thấy những đứa trẻ bị gửi đi hết Hà Nội, Hải Phòng, nhờ người thân quen nuôi hộ, bà Tùng Nương như đứt từng khúc ruột. Bằng mọi cách bà đến Tòa án Hà Nội để đòi lại và đưa các con trở về dưới bóng mẹ hiền ấp ủ.


Tôi đã cháy thành tro tàn lụi


Ai đốt lòng tôi tự thuở nào


Rồi ném tôi hòa theo gió bụi


Trong khối tim đau máu vẫn trào…


Mất mát


Đó là những ngày buồn dằng dăc ở trung du. Sông Thao ở đây và sông Hương trong kia là hai dòng đau khổ và thương nhớ. Nhiều lúc ra bến sông, muốn hòa vào dòng nước để gửi nhớ thương về quê mẹ.


Tôi lại dừng chân giữa bến đò


Thuyền neo nín lặng vắng người qua


Vàng bay cánh lá thu tơi tả


Tơi tả thu vàng úa nẻo xa


Chiều sông Thao


 


Buồn đau, đơn chiếc, thiếu thốn, gian khổ, nhưng với nghị lực phi thường, nhà thơ Lan Châu đã vượt qua tất cả. Cuộc vượt vũ môn cuối cùng là khi người con trai của bà, anh Lê Hoàng Tùng, tốt nghiệp phổ thông, thi đỗ vào đại học. Lại như lần đi học trước của mẹ, người ta tìm mọi cách để không cho anh vào đại học. Lý do: Bố là Nhân văn - Giai phẩm. Người mẹ viết đơn xin cho anh vào học trường đào tạo quân y miền Nam để về Nam chiến đấu cũng không được. Đầu không xuôi thì đuôi không thể lọt. Anh cả ách tắc sẽ đẩy năm em vào ngõ cụt. Phải bằng mọi cách khai thông cửa mở này. Liên tục hàng tháng trời, bà Tùng Nương nhảy tàu Phú Thọ - Hà Nội. Tiền lương không đủ mua vé tàu. Phải làm thêm ngày lễ, ngày chủ nhật, rồi trực đêm, để tăng tiền làm thêm giờ, tiền phụ cấp. Sáng tinh mơ đã xếp hàng mua vé tàu xuôi. Đơn kiện gửi tận tay Ủy ban Thống nhất Trung ương, Ban Tuyên huấn Trung ương, Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục… Nội dung kiện: Lý lịch của con không có liên quan đến Nhân văn - Giai phẩm, vì bố mẹ đã bỏ nhau, con từ lâu đã ở với mẹ. Đủ tiêu chuẩn văn hóa vào đại học vì sao không được xét? Xung phong đi B, vì sao không được giải quyết? Bà nhẫn nhục và quyết liệt đến mức đồng chí Tố Hữu phải có thư phúc đáp: “Chị cứ yên tâm. Trên đã lưu ý trường hợp của chị”. Thế là cửa đã mở. Lê Hoàng Tùng được vào Trường Đại học Tài chính. Theo gót người anh cả, năm em tiếp theo lần lượt vào đại học. Hai em trai Hoàng Hưng và Việt Anh vào bộ đội năm 1973 và 1975, tham gia chiến trường. Sau đó xuất ngũ, trở lại trường đại học.


 


Bằng đúng thời gian chìm nổi của nàng Kiều, mười lăm năm ở Vĩnh Phú của nhà thơ Lan Châu là kết tinh những nếm trải đắng cay và nghị lực vươn lên phi thường. Ngày 26 tháng 3 năm 1975, nghe tin Huế giải phóng, nỗi nhớ mẹ già, nhớ Huế, nhớ sông Hương cứ cồn cào, cháy bỏng. Viết đơn xin với bệnh viện cho nghỉ phép. Dặn các con ở nhà trông nom nhau. Ngày hôm sau bà Tùng Nương đáp tàu về Hà Nội để tìm cách về Huế.


Rất may có đoàn vận tải quân dụng biết được tình cảm của người con ngót ba mươi năm xa quê đã phiên chế bà Tùng Nương trong đội quân hành tiến xuyên Việt.


 


Tôi lại về với Huế


Ngày 26 tháng Ba


Con đường vui rộn rã


Đón bước chân người xưa…


 


Núi Ngự Bình trầm mặc


Ngàn xưa nối ngàn xưa


Sông Hương Giang dìu dặt


Cờ đỏ trời cố đô…


Về với Huế


 


“Năm giờ chiều ngày 28 tháng 3 năm 1975, tôi về tới cầu Bạch Hổ - nhà thơ Lan Châu nhớ lại - vừa đi vừa khóc, vừa cười. Sông Hương vẫn êm đềm như thuở tôi đi học. Người đầu tiên tôi gặp là ông xích lô già. Không ngờ người phu xe lam lũ đã nhận ra tôi, cô gái Kim Long ba mươi năm trước. Rồi tôi gặp cô em dâu vợ cậu Vĩnh Thọ bế con ở ngõ. Đến tối thì mẹ tôi đi đâu đó về. Mẹ đã ngoài bảy mươi, mái tóc bạc trắng. Mẹ con ôm nhau cười khóc, không nói nên lời”.


Mẹ già bên song cửa


Thanh thản đón chờ con


Trong mắt Người muôn thuở


Gợi lên ánh trăng tròn…


Về với Huế


Từ đây là những ngày sống trọn với Huế, với sông Hương. Năm 1978, người thầy thuốc Tùng Nương trở về làm việc tại cơ quan Bảo vệ sức khỏe cán bộ thành phố Huế. Con sông quê hương trở thành niềm cảm hứng bất tận:


Gió gọi trăng lên nước gọi bờ


Trăng vàng soi tỏ bức tranh thơ


Non xanh nước biếc từ muôn thuở


Hưng phế xuôi theo sóng lững lờ…


Hương Giang chiều


Hạnh phúc nhất đối với bà là tám chị em ra đi kháng chiến đều trở về nguyên vẹn. Có người là đảng viên, bác sỹ, có chồng cấp tướng, cấp đại tá, là kỹ sư, bác sỹ… Có người đứng trên giảng đường trường đại học.


Sáu người con của bà Tùng Nương đều đã qua bậc đại học, đều phương trưởng và thành đạt. Đó là một kỳ tích lớn, một chiến công thầm lặng và vĩ đại của người mẹ.


 


Riêng nhà thơ Hoàng Yến số phận nghiệt ngã đã bủa vây ông đến cùng. Nhà văn Huy Phương nhớ lại: “Còn nhớ mãi một buổi chiều, hai chúng tôi ngẫu nhiên gặp nhau bên góc Hồ Gươm, Hà Nội. Hoàng Yến với chiếc áo quân phục màu rêu tàng tàng từ trên xe đạp bước xuống, vỗ nhẹ lên vai tôi: “Có lẽ mình sắp chuyển nghành đây. Thời buổi này còn thơ thẩn làm quái gì. Cái thể loại này nó vulnérable (tiếng Pháp: Hủy diệt, làm tan vỡ) lắm. Mà chúng mình lại quá hồn nhiên…”.


 


Hoàng Yến chuyển qua viết kịch, biên khảo kịch, tiểu thuyết lịch sử. Để tránh cái họa vulnérable của thơ, ông đành mượn chuyện đời xưa để gửi gắm tâm can, những suy nghĩ về thời cuộc. Các vở kịch và tiểu thuyết của ông lần lượt ra đời: Câu thơ yên ngựa, Chân mây khép mở, Thanh gươm và cô Đô đốc, Hình và bóng, Kẻ trộm nước trời, Suối hoa, Đêm Tiền Hải, Lý Thường Kiệt… Có vở kịch như Thanh gươm và cô Đô đốc vừa công diễn đã có tiếng vang, được gửi đi Paris dự liên hoan. Có vở như Hình và bóng, công diễn ở Hải Phòng, gây chấn động như một sự kiện nghệ thuật không bình thường, nhưng chỉ một đêm, liền bị cấm. Hoàng Yến trốn vào lịch sử nhưng vẫn không giấu nổi cốt cách khảng khái, cương trực, khẩu khí trung ngôn nghịch nhĩ của ông. Trong văn chương nghệ thuật, ông quá lận đận, giống như câu thơ của Tản Đà Tài cao phận thấp chí khí uất. May mà cuối đời, châu lại về hợp phố, khi về nghỉ hưu tại thành phố Hố Chí Minh, với mức lương từ thuở đại úy đến… cán sự sáu, 30 năm vẫn giữ nguyên tại chỗ, ông lại trở về mái nhà xưa, trở về với con đàn cháu đống, như câu thơ ông từng viết bằng nhịp đập tình yêu tha thiết:


 


Nhưng em,


Vẫn em Nương


Của anh


Vẫn người thương


Đường Kim Long phượng đỏ…


Năm 2007 này, nhà thơ Lan Châu - Công Tằng Tôn Nữ Tùng Nương vào tuổi bát tuần. Như một vận động viên marathon, vượt n lần 41 cây số từ Trung - Bắc - Nam, giờ đứng ở đích cuối cùng nhìn lại kiếp phù sinh:


 


Dẫu kiếp phù sinh sống vẫn vui


Vàng son gió thoảng cánh mây trôi


Sang giàu danh lợi phù vân cả


Một chữ Tâm ghi lẽ sống đời.


Kiếp phù sinh


Đạt đến chữ Tâm, ấy là đắc đạo. Lấy chữ Tâm làm lẽ sống là vươn tới cõi Thiền:


Một chữ Tâm ghi vào ký ức


Thấy lòng tĩnh lặng giữa bình yên


Nghiệp duyên thanh thản về không sắc


Lắng bước phong lưu tựu cửa Thiền.


Tĩnh lặng


 


Cho nên thơ đối với nữ sĩ Lan Châu là sự giãi bày, trao gửi nỗi niềm vào cuộc đời. Tập thơ Hương Giang chiều  là cuốn nhật ký cuộc đời. Nhà thơ không chủ ý làm văn chương. Suốt nửa thế kỷ, thơ là bạn tri âm, tri kỷ, thi sĩ gánh thơ đi chợ cuối chiều, đi tận cuối trời, nhưng đâu phải dễ bán mua?


Tôi gánh thơ đi chợ cuối trời


Ân tình sâu đậm ý đầy vơi


Nắng mưa tô điểm nguồn nhân nghĩa


Lưu luyến bên lòng mãi chẳng thôi.


Tình văn chương


Lẽ sống nhân nghĩa với Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài luôn là nguồn sáng, động lực sống có ích cho con cháu.


Đáng kính biết bao là ước vọng của nhà thơ khi vào tuổi bát tuần:


Giọt hồng quanh nến thi nhau chảy


Mà nỗi suy tư chẳng nhạt nhòa


Tôi muốn hóa thân thành ngọn lửa


Thắp sáng cho lòng rạng nẻo khuya…


Ước vọng


 


Tp. Hồ Chí Minh. Tháng 7-2007


Hoàng Minh Tường


Nguồn: Hương Giang chiều. Tập thơ của Lan Châu Công Tằng Tôn Nữ Tùng Nương. NXB Văn học, 2008.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bầy chó của tôi - Nguyễn Quang Thiều 20.09.2018
Chùm thơ Nguyễn Vũ Quỳnh - Nguyễn Vũ Quỳnh 20.09.2018
Khóc - Nguyễn Duy 19.09.2018
Chùm thơ Thanh La - Thanh La 19.09.2018
Chùm thơ Nguyễn Phúc Lộc Thành (1) - Nguyễn Phúc Lộc Thành 18.09.2018
Giấc mơ sông Thương - Nguyễn Phúc Lộc Thành 18.09.2018
Chùm thơ tình Nguyễn Phúc Lộc Thành - Nguyễn Phúc Lộc Thành 18.09.2018
Hương Giang chiều (7-kỳ cuối) & Lời bạt của nhà văn Hoàng Minh Tường - Lan Châu 14.09.2018
Chùm thơ Lê Khánh Mai - Lê Khánh Mai 13.09.2018
Cơn giông/ Tôi mơ - Vương Cường 10.09.2018
xem thêm »