tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24363194
04.10.2008
Triệu Xuân
Khu Năm thương nhớ tự hào

Bút ký Mùa xuân đất Quảng của tôi in trên Báo Nhân Dân ba kỳ liên tiếp (ngày 27, 28 tháng 1 và ngày 1 tháng 2 năm 1975) dài hơn bảy ngàn từ, được viết bởi nguồn cảm hứng từ chiến trường Khu V. Trước đó, bài ký này đã phát trên Đài Phát thanh Giải phóng liền trong năm chương trình văn nghệ. Trong Mùa xuân đất Quảng (Thời kỳ ở Khu V, tôi ký bút danh là Triệu Thanh Vân), đã ba lần tôi viết: Xuân 1975 là "mùa xuân giải phóng", "mùa xuân đại thắng", và "mùa xuân hòa bình thống nhất đất nước". Trước đó, số báo Xuân 1975 của Báo Cờ Giải phóng, cơ quan của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Trung Trung Bộ, trong truyện ký Sức mạnh từ trong lòng đất, tôi cũng viết" ngày chiến thắng của dân tộc đang đến rất gần!". Không phải tôi có tài dự báo mà chính không khí ở chiến trường, khí thế của quân và dân ta đã cho tôi linh cảm như thế. Hôm nay, giữa những ngày đón xuân Mậu Dần, hai mươi ba năm sau mùa xuân đại thắng, nhớ lại những ngày sống, làm việc ở chiến trường Khu V, lòng tôi lại trào dâng niềm thương nhớ, tự hào.


Ngay sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1973, tôi làm đơn tình nguyện (vì là con một, tôi phải viết đơn tình nguyện ba lần, gửi cho Ủy ban Thống nhất Trung ương, lúc bấy giờ do ông Phan Triêm , Ủy viên Trung ương Đảng phụ trách) đi B làm phóng viên chiến trường của Đài Phát thanh Giải phóng, thường trú ở Khu V - Trung Trung Bộ. Sau Hiệp định Paris, tại Khu V, chính quyền Sài Gòn liên tiếp vi phạm Hiệp định, ngoan cố đánh chiếm vùng giải phóng, giành dân, lấn đất cắm cờ. Lúc đó Khu V lại quá nghiêm chỉnh thực hiện Hiệp định, vì thế mà mất gần hết dân, vùng giải phóng teo lại. Các cơ quan đầu não và lực lượng võ trang phải rút lên rừng sâu. May thay, sai lầm này không kéo dài. Suốt chiến dịch Hè Thu 1974, ta đã giành lại phần lớn vùng giải phóng cũ và mở rộng thêm vùng giải phóng. Hàng loạt căn cứ, điểm chốt của giặc, nhiều huyện lỵ đã được giải phóng. Ta đã đánh 12.161 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 85.025 tên địch, trong đó có 1.085 tên sĩ quan, 826 tên ác ôn, bắt sống nhiều địch. Đã diệt gọn 18 tiểu đoàn, có 12 tiểu đoàn cộng hòa, biệt động, lính dù, 11 ban chỉ huy tiểu đoàn, 1 sở chỉ huy hành quân tiểu khu, 170 đại đội, trong đó có 94 đại đội cộng hòa, biệt động, lính dù; 4 chi đoàn xe tăng và xe bọc thép, 485 trung đội và 107 tiểu đội, 13 mâm tề xã. Đã đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, liên đoàn, 48 tiểu đoàn, 75 đại đội. Đánh thiệt hại 17 tiểu đoàn, làm tan rã 13 trung đội dân vệ. Thu 12.928 súng các loại, trong đó có 14 khẩu pháo 105 ly, 295 súng cối, 279 đại liên, 1.138 máy vô tuyến điện, 31 xe quân sự. Phá hủy 2.108 xe quân sự, trong đó có 396 xe tăng, xe bọc thép, 283 khẩu pháo, 188 súng cối, đại liên, 11 đầu máy xe lửa, 75 toa xe lửa, 10 tàu thủy, 46 hải thuyền. Bắn rơi và phá hủy 238 máy bay; đánh sập 103 cầu, 91 cống, 102 kho bom đạn; đốt cháy 12.134.000 lít xăng, trên 40 tấn đạn. Tiêu diệt và bức rút 802 chốt điểm địch đóng trái phép. Giải phóng 6 quận lỵ, chi khu quân sự: Thượng Đức, Nông Sơn - Trung Phước, Đắc Pét, Măng Đen, Giá Vụt, và Minh Long. Trên 200.000 đồng bào được giải phóng và giành quyền làm chủ. Những chiến công nổi bật là: Ngày 6 tháng 5 năm 1974, Quảng Nam san bằng cụm cứ điểm Đức Phú, diệt gọn 2 tiểu đoàn, giải phóng 4.000 dân. Ngày 18 tháng 7, Quảng Nam tiêu diệt cụm cứ điểm Nông Sơn -Trung Phước, diệt và bắt 2.500 tên địch, loại khỏi vòng chiến Trung đoàn 2 Sư đoàn 3 ngụy, giải phóng 13.000 dân. Ngày hôm sau, 19 tháng 7, Quảng Đà đánh lật nhào 9 đầu máy xe lửa và toa xe quân sự ở Lăng Cô. Ngày 19 và 29 tháng 7 bắn phá sân bay Đà Nẵng, phá hủy 43 máy bay, 24 xe bọc thép, 9 triệu lít xăng, loại khỏi vòng chiến 460 tên địch. Từ ngày 31 tháng 7 đến ngày 4 tháng 8, Quảng Nam diệt phần lớn cụm chốt điểm Hòn Chiêng, giải phóng một khu vực lớn phía Tây huyện Quế Sơn. Ngày 7 tháng 8, Quảng Đà diệt Chi khu Quân sự Thượng Đức, loại khỏi vòng chiến Tiểu đoàn Biệt động 77, Đại đội Bảo an 704, 16 trung đội dân vệ, diệt và bắt sống hơn 1.000 tên địch, thu 250 súng các loại, bắn rơi 7 máy bay, giải phóng 12.000 dân. Ngày 20 tháng 9, Quảng Đà đánh gãy 13 đợt phản kích của 3 tiểu đoàn dù được máy bay yểm trợ vào cứ điểm 1062, cứ điểm 383 và 126, diệt hơn 170 tên, bắn rơi 2 máy bay A37. Ngày 25 tháng 9, đánh sập cầu Lăng Cô dài 200 mét nối liền Đà Nẵng - Huế. Chiến dịch Hè Thu, đặc biệt là cao trào nổi dậy phá kềm diệt ác, phá ấp chiến lược, bung về làng cũ của quân và dân Khu V đã báo hiệu cho một cuộc tổng tấn công gần kề!


Đoàn phóng viên Đài Phát thanh Giải phóng tại Khu V đóng tại thượng nguồn Trà Nô của sông Thu Bồn, do nhà báo Nguyễn Thắng Lộc làm trưởng đoàn. Từ khi tôi vào đến đơn vị, hầu như rất ít khi anh chị em họp mặt đông đủ, bởi thường xuyên có ba, bốn tổ phóng viên đi công tác xuống vùng giải phóng, vùng sâu, vùng địch kiểm soát. Mỗi khi đi công tác về tới cơ quan, anh chị em gặp nhau, mừng khôn tả. Chúng tôi thương yêu, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, trong nghề nghiệp. Tôi rất nhớ những anh chị em cùng cơ quan. Đó là nhà văn Đoàn Minh Tuấn, nhà thơ Lệ Thu, các phóng viên Tuấn Sửu, Kim Anh, Lê Ngọc Văn, Anh Trang, Lê Vinh, Trương Văn Tâm, và Chu Thúy Hoa - bạn thân thiết của tôi; cùng nhiều anh chị em khác như anh Khảm, anh Hồng, anh Phú, anh Bảy văn phòng, chị Dũng đánh máy… Tôi thường gặp và đi công tác với các anh chị ở Ban Tuyên huấn, Ban Văn nghệ, như anh Huấn, anh Sâm, nhà thơ Bùi Minh Quốc, nhà văn Nguyễn Chí Trung, các nhà báo đồng nghiệp ở Thông tấn xã… Chính họ đã giúp tôi rất nhiều trong việc thích nghi ngay với chiến trường, với cái chết rình rập từng giờ. Tôi rất nhớ tổ ba người vô tuyến điện: Thủy, Rịnh, Bích Ngọc. Thủy, Rịnh thường đi bắt cá chình cho cả cơ quan ăn. Một lần tôi đi theo hai anh. Thủy cầm cây thép mài mũi nhọn rất bén. Tìm được hang cá chình rồi, Thủy lặn xuống để đâm, Rịnh và tôi cùng ấn mông Thủy xuống để cho có thêm lực. Hôm đó chúng tôi mang về con cá chình dài tới gần hai mét, nhà văn Đoàn Minh Tuấn và Thủy cùng khiêng con cá lên để chụp ảnh trước khi làm thịt. Tôi nhớ Bích Ngọc, cô gái Hà Nội xinh đẹp, người gõ manip như một nghệ sĩ, đã không quản đêm ngày chuyển tin bài ra Hà Nội để phát trên đài, in trên báo. Thủy và Rịnh thay nhau đạp pê-đan để phát điện cho máy, đồng thời canh gác lũ OV10 thường xuyên bay vè vè trên đầu nhằm phát hiện mục tiêu để gọi pháo nã lên tiêu diệt. Chuyển được một bài báo ra Thủ đô, quần áo Thủy ướt đẫm mồ hôi… Có lần tôi sốt rét không tự đi được, Tiểu đoàn 2 phải cho hai chiến sĩ hộ tống tôi về cứ để chuyển gấp tin bài ra Hà Nội. Đón tôi ở vị trí an toàn cách cơ quan hai cây số, Bích Ngọc nói với tôi: “Thấy Triệu về, ai cũng mừng, nhưng tổ vô tuyến điện thì lo phát sốt vì Triệu là một trong những người viết nhiều nhất, gửi hết được tin bài ra thì cả tổ phát ốm!”. Mỗi khi từ mặt trận về tới cơ quan, được các anh chị đón như đón người thân, chăm sóc lúc sốt rét, khi bị thương, tôi vô cùng cảm động. Cả đời tôi, tôi không thể nào quên! Tôi sẽ còn kể cho con cháu tôi nhớ về các anh chị.


Bắt đầu từ chiến dịch Thu năm 1974 cả chiến trường Trung Trung Bộ rung chuyển. Chưa bao giờ ta tấn công và nổi dậy mạnh, hiệu quả như lúc này. Điều quan trọng nhất là lần đầu tiên trong nhiều năm chiến tranh với Mỹ, ta đã tấn công cả trong mùa mưa, và đánh tới đâu, chốt giữ trụ bám tại đó. Vùng giải phóng ngày càng mở rộng. Trong sáu tháng liền, từ tháng 8 năm 1974, tôi rất ít khi về cơ quan, thường nhờ giao liên của quân đội đưa tin, bài về cứ. Được sự hỗ trợ của bộ đội và lãnh đạo các địa phương, tôi đã đi tới hầu khắp các huyện của Quảng Nam, Đà Nẵng: huyện Hiên, huyện Giằng, Nam Giang, Trao, Tây Giang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Quế Sơn, Tiên Phước và Hòa Vang sát nách Đà Nẵng. Tôi không ngờ được rằng chàng thư sinh trói gà không chặt như tôi lại có sức đi bộ, leo núi, vượt sông được nhiều như thế, chịu đựng được mọi thử thách như thế…


***


Trận chiến đấu giải phóng Chi khu Quân sự Thượng Đức là một trong những chiến công lớn. Đây là ngã ba thủy bộ: sông Vu Gia và quốc lộ 14 đi Đà Nẵng. Địch xây dựng tại đây tuyến phòng thủ trọng yếu bảo vệ Đà Nẵng. Chi khu Quân sự Thượng Đức kềm kẹp 13.000 dân. Thời kháng chiến chống Pháp, Thượng Đức thuộc hai xã Đại Hồng, Đại Lãnh, là vùng giải phóng hoàn toàn. Sau năm 1954, là vùng địch kiểm soát. Lực lượng địch tại Chi khu có Tiểu đoàn Biệt động 79, một đại đội bảo an và mười bảy trung đội dân vệ. Chúng xây dựng hệ thống công sự kiên cố, đúc bê tông dày ba mét, trên chất bao cát, có hầm ngầm dài mười hai mét, rộng năm mét, như một hội trường lớn. Lực lượng tề xã ở đây khét tiếng ác ôn, trên bảy trăm tên đảng viên đảng Dân chủ và Quốc dân đảng, trên ba trăm phòng vệ dân sự, hai mươi mốt liên toán. Địch dồn hết dân vào ấp Hà Tân, chia thành từng ô. Mỗi ô chia thành từng tổ, phân loại gia đình: chấm đỏ là Cộng sản, chấm xanh là dân theo Sài Gòn, loại lưng chừng thì nửa xanh nửa đỏ. Đời sống của nhân dân rất cơ cực, đói ăn, ngột ngạt. Địch đánh giá: sáu mươi lăm phần trăm số dân theo Quốc gia, hai mươi lăm phần trăm lưng chừng, mười phần trăm là Cộng sản! Trong Chi khu này, cơ sở của ta rất ít, không có hiệu lực. Khu ủy Khu V chủ trương tiêu diệt Chi khu Thượng Đức bằng ba thứ quân: chủ lực, bộ đội tỉnh và du kích. Từ tháng 6 năm 1974 ta bí mật chuẩn bị chiến dịch. Cùng với quân đội chủ lực, bộ đội tỉnh có D10, D1, hai đại đội huyện và năm trăm người phục vụ chiến dịch. Theo kế hoạch, năm giờ sáng ngày 29 tháng 6 ta nổ súng, nhưng ngay trong đêm 27, địch đã phát hiện. Tướng Ngô Quang Trưởng từ Đà Nẵng trực tiếp bay đến Thượng Đức chỉ huy đối phó. Vì thế cuộc chiến đấu vô cùng khốc liệt. Mãi đến ngày 7 tháng 8, sau ba mươi chín ngày đêm quần nhau với địch, Sư đoàn 711 (tên mới của Sư 304) mới làm chủ Thượng Đức, để rồi chín ngày sau đó, địch tung lực lượng lính dù vào tái chiếm Thượng Đức.


Thượng Đức có cao điểm 1062 (cách mặt biển 1.062 mét), cách Đà Nẵng hơn ba mươi kilômét về phía Tây nam. Giành được cứ điểm này coi như ta kiểm soát được Đà Nẵng; còn quân ngụy thì cố giữ cao điểm này để kiểm soát đường 14 hướng vào tám tỉnh còn lại của Trung Trung Bộ, Tây Nguyên. Chính vì thế mà cuộc chiến ở đây vô cùng ác liệt. Quân ngụy Sài Gòn có ba lữ đoàn lính dù thiện chiến, thì chúng ném cả vào chốt tại cao điểm 1062, cứ điểm 383 và 126. Đó là chưa kể lực lượng biệt động quân và phòng vệ dân sự cùng tử thủ ở cứ điểm này.


Ngày 16 tháng Năm 1974, quân dù đặt chân lên mặt trận Thượng Đức. Hai lữ đoàn dù có bảy tiểu đoàn đưa từ Thừa Thiên Huế vào tái chiếm Thượng Đức nhằm ngăn chặn chủ lực của ta tràn xuống đồng bằng, giải phóng Đà Nẵng. Lữ đoàn 1 lên trước, chiếm được cao điểm 1062, chiếm luôn cao điểm 383, cao điểm 126 rồi kéo xuống xã Bàn Tân 2. Đầu tháng 9 năm 1974, cụm cứ điểm này rơi vào tay địch. Ngày 29 tháng 10, ta chiếm lại Thượng Đức. Ngay sau đó, Thượng Đức lại bị lính dù chiếm lại. Thế nhưng lữ đoàn dù số 1 bị thiệt hại quá nặng, tiểu đoàn nhiều nhất còn có 360 tên, tiểu đoàn ít nhất còn 250 tên. Đầu tháng 11, Lữ đoàn dù số 3 nhảy vào đóng tại Núi Lở. Tiểu đoàn 8 của Lữ 1 bị thiệt hại quá nhiều phải rút về Thừa Thiên. Mùa mưa ở Quảng Nam thực kinh khủng! Trong những trận mưa rào khủng khiếp như thế, pháo vẫn nổ liên hồi suốt ngày đêm, hai bên liên tục tấn công. Hàng trăm chiến sĩ của ta anh dũng hy sinh, rất nhiều người bị thương. Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy nhiều người chết đến thế!


Từ tháng 11, địch không dám phản kích như trước nữa, nhưng nã pháo liên tục. Ngày cao nhất chúng nã 1.600 quả pháo, 30 lượt máy bay bắn phá vào chốt của ta, băm nát đường tiếp tế của ta, nhiều xe chở đạn của ta bị nổ tung trên đường vào Thượng Đức. Địch cho quân thám báo vào, chiếm cao điểm 700. Riêng cao điểm 383, có lúc ta và địch cách nhau 80 mét, hai bên giằng co nhau từng mét đất. Một chiến sĩ trinh sát tên Nam, một mình lọt giữa vòng vây địch đã đánh lui một trung đội của giặc. Ngày 31 tháng 11, địch tái chiếm cao điểm 383 ba lần, ta phản pháo, chúng bỏ chạy vứt lại toàn bộ vũ khí của một trung đội: 4 M79, 4 M72, 15 AR15. 16 giờ, ta tràn lên 383. Tháng 12, địch tiếp tục nống lên 383 và 126 để phát triển tiếp, vì cao điểm 1062 trong tay chúng nhưng chúng không phát triển tiếp được. Đến ngày 14 tháng 12, địch rút Tiểu đoàn 3 về tăng cường tuyến phòng ngự Hiếu Đức đề phòng ta đánh xuống từ Trung Mây - Hiếu Đức. Quân địch hoang mang cực độ. Hàng ngày có hàng trăm tên rã ngũ. Đến ngày 20 tháng 12, ngay khi tên lữ đoàn trưởng dù đáp máy bay trực thăng xuống cao điểm 1062 thì pháo ta dồn dập rót tới. Chiếc máy bay bốc cháy. Quân dù tháo chạy khỏi 1062 lui về giữ tuyến phòng ngự từ Đồng Lâm đến Bàn Tân 3 (Phú Hương 3). Ta chiếm được tuyến phòng ngự của địch, làm vành đai mới. Tại cao điểm 383, diễn ra nhiều trận ác chiến. Địch kích động nhiều gia đình giáo dân chống Cộng tử thủ. Có gia đình thay nhau dùng một súng máy cản bước tiến của ba đại đội của ta, không cho bộ đội từ sông vọt lên chiếm cao điểm. Anh em ta hy sinh quá nhiều. Khi bộ đội ta tiến lên được thì thấy người nằm chết bên khẩu trung liên là một... ông già bảy mươi tuổi!


Quân dù bị cột chặt ở Thượng Đức đến nỗi cuối tháng 12 năm 1974, khi mà tỉnh Phước Long ở Đông Nam Bộ có nguy cơ rơi vào tay quân Giải phóng, nhưng Sài Gòn không thể nào điều quân dù về ứng cứu! Thần tượng lính dù của quân Sài Gòn chính thức sụp đổ!


Chiến thắng Thượng Đức làm nức lòng quân dân Quảng Đà. Theo dõi chiến dịch này, tôi đã kịp thời đưa tin và viết bình luận về sự thất bại thảm hại của quân dù Sài Gòn. Cuối tháng giêng năm 1975, tôi được đơn vị C4-H1 cho đi thị sát toàn bộ chiến trường vùng Thượng Đức. Anh Bông lái ca nô lướt như bay trên sông Vu Gia. Dòng sông đầy máu và chìm trong lửa đạn hôm nào nay đã thanh bình. Ca nô xuôi dòng Vu Gia qua thị trấn Hà Tân, qua phòng tuyến Gò Cấm, Hòn Dinh… Tôi leo lên các điểm cao 1062, 383 và 126. Dưới chân tôi, xác lính dù chưa thu dọn hết. Hàng ngàn quân dù đã phơi xác chốn này. Từ trên điểm cao 1062, bằng ống nhòm quân sự, tôi quan sát Đà Nẵng. Dưới đó đồng bằng đang bị ngập lụt sau bão số 17. Năm nay nhiều bão quá! Thương bà con nông dân Quảng Đà đang đói ăn. Tôi xuôi ca nô xuống Hà Sống, xuống tận Cấm Muồng thì anh Bông quyết định phải quay lại vì chỉ còn năm phút ca nô nữa là chạm phòng tuyến của địch. Qua ống nhòm, chúng tôi phát hiện chúng cũng đang theo dõi mình! Đêm về, Thượng Đức đã ngủ ngon, không còn hàng ngàn trái pháo dội mỗi đêm nữa! Thị sát giữa ban ngày chiến trường Thượng Đức, càng thấm thía sự hy sinh oanh liệt của hàng trăm chiến sĩ ta. Họ đều rất trẻ. Đa số là thanh niên quê ở châu thổ sông Hồng, mười bảy, mười tám tuổi, chưa biết yêu, chưa được hôn người yêu bao giờ… Mặt trận An Hòa, Đức Dục đang khẩn trương chuẩn bị, ngày nổ súng dự định vào tuần tới. Chính là trong trận đánh này, khi đang đi cùng một đoàn xe chở đạn pháo vào trận, tôi đã bị thương cùng với năm sĩ quan và chiến sĩ trên xe. Trong đời tôi, ấn tượng về Thượng Đức, về An Hòa, Đức Dục chắc chắn không bao giờ phai mờ!


***


Tháng 10 năm 1974, thực hiện chủ trương của Khu ủy Khu V, các tỉnh Trung Trung Bộ tổ chức Hội nghị Tổng kết, nhằm rút kinh nghiệm cho đợt Tổng tấn công sắp tới gần. Tôi dự Hội nghị Tổng kết của Quảng Đà do đồng chí Phước Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Sáu Nam Chủ tịch tỉnh chủ trì. Đồng chí Nguyễn xuân Hữu, Thường vụ Khu ủy Khu V về chỉ đạo Hội nghị. Hội nghị đã nghe hàng chục báo cáo điển hình về từng lãnh vực: phá khu dồn, bung về làng cũ; diệt ác phá kềm, giành dân giữ đất; tấn công tiêu diệt chi khu quân sự, mở rộng vùng giải phóng; binh vận, địch vận; đấu tranh hợp pháp giữa thành phố Đà Nẵng; phong trào thanh niên sinh viên, phong trào công nhân; xây dựng và củng cố vùng giải phóng; vấn đề cán bộ cho thời kỳ mới; xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, y tế, giáo dục của vùng giải phóng, v.v... Có thể nói, Hội nghị là một bức tranh toàn cảnh về cuộc sống, cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ, ác liệt, thấm đẫm máu xương của đồng bào chiến sĩ Quảng Đà. Tôi lắng nghe và ghi chép suốt ngày. Nhiều đêm không ngủ vì tranh thủ gặp gỡ các đồng chí lãnh đạo huyện, xã, thành phố Đà Nẵng để hỏi chuyện. Hai năm 1973 và 1974, địch đã tập trung cày ủi tàn phá ruộng đồng làng xóm. Tôi đã tận mắt chứng kiến tội ác của địch khi dùng xe cày ủi biến làng xóm quê hương ruộng vườn thành bình địa, dồn dân vào khu dồn, ấp chiến lược. Tôi đã hiểu tại sao người dân thà chết còn hơn sống trong khu dồn. Nổi bật nhất là cuộc nổi dậy phá khu dồn dân ở Ngã Tư Thanh Thủy. Cho đến bây giờ, tôi không thể nào quên được những gian khổ mà người dân Quảng Nam - Đà Nẵng ngày ấy phải gánh chịu: cái chén cũng không còn, người ta phải ăn bằng gáo dừa. Người nông dân bị tước đoạt tất cả, bị dồn vào khu dồn chỉ có kẽm gai vây quanh. Ngay từ những ngày đó, dù chỉ là một nhà báo hai mươi hai tuổi, mới ra trường, vào mặt trận, tôi đã thầm ao ước viết được một tác phẩm về đất và người xứ Quảng. Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm. Rượu hồng đào chưa ngấm đà say; người xứ Quảng ngoan cường thủy chung với cách mạng. Nay đã bốn mươi sáu tuổi rồi, đã viết cả chục cuốn tiểu thuyết và hàng ngàn bài báo rồi, trên đầu tóc không còn xanh nữa, vậy mà ước nguyện năm xưa tôi vẫn chưa thực hiện được! Tôi còn mang nợ với đồng bào, đồng chí, những người anh hùng vô danh đã chiến đấu, hy sinh trên đất Quảng đến bao giờ nữa?! Tôi nhớ những gương mặt như đồng chí Quỳnh, Phó Bí thư Huyện ủy Duy Xuyên, các đồng chí Bí thư và Chủ tịch các xã Xuyên Châu, Xuyên Trà, Xuyên Hiệp, Xuyên Quang, Xuyên Thái, Xuyên Tân... Các đồng chí lãnh đạo huyện và xã của Hòa Vang, trong đó có những người mới chia sẻ với tôi từng miếng ăn hớp nước, sau khi kết thúc Hội nghị, trên đường về lại địa phương đã bị phục kích và hy sinh gần hai chục người! Tôi nhớ các đồng chí lãnh đạo huyện Điện Bàn với hai mươi tám xã, có vùng Gò Nổi rất trù phú. Vậy mà địch cày xới tan hoang. Các xã Điện Ngọc, Điện Phương, Điện Vinh, Điện Nam... với rất nhiều chiến công trong cao trào nổi dậy diệt ác phá kềm bung về làng cũ. Sức mạnh của quần chúng khiến quân thù khiếp vía. Chiến công phá khu dồn Ngã Tư Thanh Thủy thể hiện khát khao tự do, lòng căm thù giặc của người dân đất Quảng.


Khu dồn Ngã Tư Thanh Thủy, dài một ngàn mét, rộng tám trăm mét, nằm trên vùng cát trắng, từ cầu Điện Vinh đến ngã tư Thanh Thủy và Cẩm Hòa đi Non Nước, địch cày ủi thành bình địa từ đầu năm 1974. Chúng dùng bọn ác ôn của quận, lực lượng cảnh sát dã chiến, địa phương quân đi dỡ nhà dân của ba xã Điện Ngọc, Điện Bình, Điện Nam dồn vào đây. Trong khu dồn, hai ngàn bà con ta sống vô cùng cơ cực, chẳng khác chi tù đày. Hàng chục gia đình không có cơm ăn, áo mặc. Địch chốt tại khu dồn một đại đội địa phương quân, năm tên tề xã do tên ác ôn Đặng Biên làm xã trưởng, hai tên ấp trưởng là ác ôn Lê Nuôi và Võ Mua cùng bảy tên bình định. Chúng bắt phụ nữ vào nhân dân tự vệ, nam giới vào phòng vệ dân sự. Nữ gác ban ngày, nam gác ban đêm. Những gia đình có người tham gia cách mạng chúng bắt trình diện hàng tuần. Chúng tiến hành quân sự hóa thanh niên, học đường và đoàn thể hóa toàn dân để chống cách mạng. Bọn tề điệp nghênh ngang lùng sục đêm ngày, bắt thanh thiếu niên làm tay sai, gián điệp… Có thể nói, khu dồn Ngã Tư Thanh Thủy là biểu tượng của âm mưu thâm độc: tát cạn nước để bắt cá, dùng người Việt đánh người Việt. Tức nước ắt vỡ bờ, khi chủ trương của Khu ủy ban hành, dân ba xã trong khu dồn được sự hỗ trợ của bộ đội huyện Điện Bàn và du kích xã đã vùng lên tự giải phóng mình, bung về làng cũ. Phá khu dồn, phá ấp chiến lược đã trở thành cao trào trong toàn tỉnh, toàn Khu V.


Xã Điện Thắng, nằm trên Quốc lộ 1, chỉ cách thành phố Đà Nẵng có tám cây số, gồm các thôn Thanh Tú, Thanh Quýt, Ngũ Giáp, Viên Tây, các xóm An Tư, Bồ Mưng, có hai chốt điểm lớn là Đồn Trảng ở phía Tây và Ngũ Giáp trên trục Quốc lộ 1; vậy mà các anh, các chị đảng viên cộng sản vẫn bám trụ cùng nhân dân nuôi phong trào, diệt tề, diệt ác. Các anh đã liên tục đánh giao thông, trong một trận đã diệt một xe trên đó có một trung tá, một thiếu tá, một trung úy và tên hạ sĩ lái xe. Tại Điện Thắng có một ông già một mình bắt sống lính ngụy, thu súng giao cho du kích. Khi cứ điểm Nông Sơn Trung Phước bị ta tấn công, địch cho một tiểu đoàn đi tiếp cứu, đến Điện Thắng bị hai trăm bà con trong xã chặn xe không cho đi. Địch phải mất cả ngày mới thông được đường. Dân Điện Thắng còn khiêng xác lính ngụy chết trận lên Đồn Trảng đấu tranh, nghe lời dân, ba chục tên rã ngũ. Tôi nhớ mãi chị Huệ, Phó Bí thư xã Điện Tiến. Xã có tám mươi Đảng viên, mười sáu đoàn viên, dân số 1.085 người, 555 cử tri, xã có năm thôn, bằng mọi thủ đoạn dã man, địch vẫn không thể nào dồn được dân vào khu dồn bởi dân hết lòng tin vào Đảng. Trong năm 1974, Điện Tiến đánh hai mươi lăm trận, diệt bốn mươi bảy tên, trong đó có bốn tên ác ôn, một tên quận phó, thu nhiều vũ khí, san bằng hai ấp chiến lược, bảy lần phá chốt, phá sập cầu Cẩm Ly, 350 người nổi dậy bung về làng cũ. Đồng chí Nguyễn Hữu Hỉ, Bí thư xã Điện Ngọc, người có công lớn trong trận phá khu dồn Ngã Tư Thanh Thủy. Anh Hỉ đã tặng tôi khẩu côn 45, chiến lợi phẩm trong trận diệt tên ác ôn khét tiếng. Sau ngày về Đà Nẵng, tôi có đến Điện Ngọc tìm Hỉ, nhưng rất tiếc là anh em không gặp nhau! Biết bao cán bộ chiến sĩ, nay ai còn, ai mất, tôi không thể nào quên họ, bởi qua những trận chiến đấu, những sự tích anh hùng của họ, tôi đã hiểu rõ thêm người dân đất Quảng kiên cường như thế nào, hiểu rõ tại sao dân ta anh hùng bất khuất trước kẻ thù, quyết tâm giành Độc lập, Tự do.


Một trong những Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu V mà tôi có nhiều kỷ niệm là đồng chí Nguyễn Xuân Hữu. Phát biểu tại Hội nghị Tổng kết Phong trào nổi dậy của Quảng Đà, anh Bảy Hữu đã thẳng thắn nói rõ sai lầm của Khu V sau Hiệp định Paris, đồng thời phân tích rất kỹ tình thế của Mỹ và Nguyễn Văn Thiệu. Đồng chí nhấn mạnh: "Từ khi tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ đến nay, đây là lần đầu tiên chúng ta có thời cơ thuận lợi nhất. Các đồng chí phải bắt tay chuẩn bị thật chu đáo cho một cuộc đồng khởi mới! Từ nay chúng ta đánh đến đâu giữ bằng được đến đó. Chúng ta phải tiếp tục diệt ác phá kềm, làm chủ thôn ven, làm chủ trục giao thông, làm chủ quận, tiến lên giải phóng quận huyện, làm bàn đạp giải phóng thành phố Đà Nẵng! Ngày toàn thắng không còn xa nữa"! Ngay sau khi bế mạc Hội nghị, lúc chia tay nhau, tôi đã hỏi anh Bảy: Phải chăng đã đến thời điểm lịch sử rồi, anh Bảy ơi? Liệu tôi có thể viết những ý tưởng anh vừa nói trong bài báo của mình? Anh Bảy trả lời: Được quá đi chớ! Nhưng phải cẩn thận, không để lộ bí mật là được!


Vâng, linh tính đã cho tôi cảm nhận được ngày miền Nam giải phóng đang đến gần từ những ngày cuối năm 1974, khi đi công tác ở các địa phương trong tỉnh Quảng Đà.


***


Giêrôn Pho nhậm chức Tổng thống thứ 38 của Hoa Kỳ ngày 9 tháng 8 năm 1974. Nước Mỹ lâm vào một cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị mới. Chế độ Nguyễn Văn Thiệu đang ngắc ngoải. Phong trào đấu tranh đòi Hòa bình, Dân chủ dâng lên mạnh mẽ từ Sài Gòn đến Đà Nẵng, Huế. Ngày 8 tháng 10, tại Đà Nẵng, hơn một ngàn công nhân và trên hai ngàn quần chúng đấu tranh đưa yêu sách giải quyết công ăn việc làm cho công nhân. Công nhân kéo vào Tòa Thị chính từ tám giờ đến mười hai giờ, buộc Thị trưởng Đà Nẵng phải giải quyết yêu sách. Ngày 12 tháng 10, tại Hội An, Ủy ban Cứu đói được thành lập, Ủy ban Hòa giải Dân tộc ra mắt với bốn ngàn người dự. Ngày 16 tháng 10, Vũ Văn Mẫu ra Đà Nẵng, năm ngàn người mít tinh kêu gọi lật đổ Nguyễn Văn Thiệu. Những ngày cuối năm 1974, tại Đà Nẵng và Hội An, cao trào chống Thiệu dâng lên mạnh mẽ. Trên toàn chiến trường Khu V, khí thế chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công vô cùng khẩn trương.


Khi tôi đang điều trị trong Quân y viện mặt trận thì nhận được thư của chú ruột là Triệu Xuân Lan. Chú tôi là sĩ quan tham mưu của Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân. Tôi vô cùng vui sướng khi nhận được thư của chú. Ông là đại tá, mười tám năm là đại tá, đã về hưu từ năm 1981. Gia đình riêng của chú tôi tan nát vì bom Mỹ: Đêm 18 rạng ngày 19 tháng 12 năm 1972, chú tôi đang chỉ huy một sư đoàn ở Quảng Trị, thì bom Nixon đã ném xuống Gia Lâm, Hà Nội, giết chết vợ và năm người con của chú tôi! Ngày tôi đi B, chú cháu không gặp nhau. Nay binh chủng của ông vào sâu trong B2, chứng tỏ ta đánh lớn đến nơi rồi. Sau này, tôi được biết ông cùng với lực lượng tên lửa phòng không đi vào trận, ít ngày trước khi Thượng tướng Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng vào B2. Đầu tháng 2 năm 1975, Tướng Dũng bí mật rời Hà Nội; ngày 7 tháng 2 năm 1975, ông đi ngang qua Quảng Đà. Bắt đầu từ tháng 2 năm 1975, tình hình chiến sự phát triển nhanh kinh khủng, ngoài tầm tưởng tượng. Toàn bộ lực lượng phóng viên thường trú tại Khu V tỏa đi các chiến dịch. Nhà văn Đoàn Minh Tuấn dẫn một tổ đi thẳng Ban Mê Thuột và dự trận giải phóng thành phố cao nguyên ngày 10 tháng 3 năm 1975. Chiến thắng này mở đầu cho kết cuộc bi thảm và tất yếu của chế độ Sài Gòn. Trước đó, ngày 7 tháng 1 năm 1975, ta giải phóng thị xã Phước Long. Ngày 26 tháng 3, một tuần sau khi giải phóng Quảng Trị, thành phố Huế đã phấp phới cờ cách mạng. Ba ngày sau đó, đại quân ta do đồng chí Lê Trọng Tấn chỉ huy tiến vào giải phóng Đà Nẵng sau khi đã làm chủ thị xã Hội An. Cùng với quân chủ lực, nhân dân các quận, huyện, xã nhất tề nổi dậy giải phóng quê hương. Frank Snepp, chuyên viên CIA cỡ bự ở Nam Việt Nam viết trong cuốn “The Decent Interval” xuất bản năm 1977: “Sáng 29 trời mưa và rất lạnh. Biển động hơn hôm trước. Lúc trời rạng đông, một nhân viên CIA ở tàu Oseola trèo lên đài quan sát. Anh nhìn rõ nhiều sà lan đang rập rình xung quanh, chở hàng ngàn người, có nhiều người chết, xác để lẫn giữa người sống, không thể vứt được xuống biển. Mấy sà lan bị bỏ lại đang trôi, người đi trên những sà lan này đã được chuyển lên tàu Pioneer Contender đêm trước. Trên sà lan đầy rác rưởi. Khi sương tan, nhân viên CIA nhận ra giữa những đống quần áo, hành lý, đồ đạc không phải là những mẩu gỗ mà là chân tay con người. Sáng 29-3, không rõ giờ nào, tướng Ngô Quang Trưởng từng được coi là ưu tú nhất của quân đội Nam Việt Nam, đang bơi và trôi giữa những con sóng nguy hiểm ở ngoài khơi Đà Nẵng. Ông không phải là người bơi giỏi, người ta phải vớt ông đưa lên tàu. Trưởng ở trên tàu những ngày sau đó. Đằng xa, lính còn lại của sư đoàn mà Trưởng từng tự hào đang cướp phá, đốt thành phố lớn thứ hai của Nam Việt Nam… Trong số hai triệu người còn lại ở Đà Nẵng, một trăm ngàn người là binh lính đào ngũ thuộc các sư đoàn thứ nhất thứ nhì và thứ ba và sư đoàn lính thủy đánh bộ, tất cả đều bị bao vây như đàn chuột. Chúng sẵn sàng phản bội, ăn cướp, giết người để khỏi sa vào vực thẳm…”.


Frank Snepp viết tiếp: “Thông điệp cuối cùng thật ngộ ngĩnh của Tổng thống Thiệu trong thảm kịch này là: Ông ra lệnh cho tướng Ngô Quang Trưởng chiếm một đầu cầu trên một hòn đảo gần bờ biển Quân khu 1 để chuẩn bị phản công lấy lại quân khu! Trưởng được bữa cười mũi vỡ bụng!”.


***


Đài Phát thanh Đà Nẵng về tay cách mạng một cách nguyên vẹn. Người được giao nhiệm vụ nổ mìn phá tan Đài khi bị Cộng sản tràn ngập đã không làm việc đó. Nhờ thế mà Đài phát sóng phát thanh Đà Nẵng trị giá hàng chục triệu đôla đã không bị phá banh. (Trong một cuộc họp ở Ủy ban quân quản thành phố, tôi có đề xuất với lãnh đạo thành phố Đà Nẵng về việc phải thưởng công xứng đáng cho người không bấm nút phá nổ Đài phát sóng Mỹ Khê. Không biết việc đó sau thế nào, vì tôi chuyển vào Sài Gòn ngay sau đó). Tiếng nói của cách mạng ngay lập tức được truyền đi từ Đài Phát thanh Đà Nẵng. Những ngày đầu, chủ yếu là tiếp âm Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng. Sau đó, khi mà lực lượng phóng viên từ các nơi đã tề tựu, Đài Phát thanh Đà Nẵng phát các chương trình riêng, bên cạnh việc tiếp sóng đài Trung ương. Ngay khi về thành phố, tôi được lãnh đạo Đài giao cho đi làm phóng sự về Cảng Đà Nẵng. Hôm ấy, tàu Hồng Kỳ của Trung Quốc chở hàng viện trợ cho nhân dân Đà Nẵng. Tôi đã xuống tàu, làm được một phóng sự rất thú vị. Kế đó, tôi cùng đồng nghiệp ở cơ quan mình, ở Thông tấn xã và Báo Cờ Giải phóng tỏa đi các huyện, các xã phỏng vấn, đưa tin, viết bài phản ánh sự hồi sinh của Quảng Nam - Đà Nẵng sau giải phóng. Đó là những ngày làm báo đầy hào hứng. Một người ham đi, ham quan sát như tôi coi đó là cơ hội ngàn năm có một để thu thập tư liệu cho sáng tác. Thời gian tôi công tác ở Đà Nẵng không được là bao. Ngay sau đó tôi vào Sài Gòn, làm việc tại Đài Phát thanh Giải phóng, rồi Đài Tiếng nói Việt Nam mãi cho đến tháng 5 năm 1997 mới chuyển công tác sang Văn phòng Đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh của Báo Đầu Tư - Vietnam Investment Review của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Những ngày ngắn ngủi ở Đà Nẵng, tôi đã tranh thủ đi được hầu khắp các tỉnh miền Trung, từ Quảng Trị, Huế đến Nha Trang. Mảnh đất mà khi còn chiến tranh tôi chỉ biết ao ước được đặt chân lên, chỉ được nhìn qua ống nhòm quân sự, thì nay trời của ta, đất của ta, núi sông biển cả của ta, vô cùng thơ mộng, vô cùng tự hào!


Có một điều khiến tôi vô cùng day dứt là tôi đã không có dịp nào được trở lại vùng rừng núi chiến khu xưa để thăm lại những đồng bào đồng chí đã tận tình giúp đỡ tôi trong chiến tranh. Tôi nhớ những gia đình dân tộc Cà Tu rất nghèo nhưng rất chân tình, hết lòng thương yêu đùm bọc chở che bộ đội cách mạng, thường cho chúng tôi mật ong, thịt gà lúc sốt rét, khi bị thương. Tôi nhớ ông Tứ và đứa con còn sống sót tên Sỹ. Vợ và các con của ông bị giặc bắn chết cả. Hai cha con sống trong một túp lều dưới chân đèo Răm. Thung lũng Quế Sơn nằm giữa đèo Răm và đèo Le. Mỗi lần đi công tác qua đây, bao giờ tôi cũng ngủ lại với cha con ông Tứ. Ông thương tôi như một người em út, nhà có gì ngon nhất như chục hột gà, nải chuối, cha con ông để dành chờ tôi. Bé Sỹ lúc nào cũng quất quýt lấy tôi. Tôi tranh thủ dạy cháu học. Cháu nói: Ước gì cháu lớn nhanh để trở thành phóng viên như chú! Tôi nhớ anh Sáu Nam Chủ tịch, anh Phước Bí thư, anh Hải Học ở Ban Tuyên huấn Quảng Đà. Các anh đối đãi với tôi như em út trong nhà, chiều tôi đồ ăn thức uống. Tôi nhớ Trung tá Nguyễn Bá Phước, chỉ huy Mặt trận 4, lần nào gặp nhau anh cũng có quà cho tôi: khi thì hộp sữa, củ sâm, khi thì bó rau lang, con cá mắm. Có lần tôi cùng Do và Hạnh đi Thạnh Mỹ, tôi nhớ là ngày 29 tháng 11 năm 1974. Suốt đêm trước địch nã pháo 175 ác liệt vào Sơn Phước. Chúng tôi phải ngủ dưới hầm suốt đêm. Sáng ra thấy đường 105 bị pháo cày nát, mảnh pháo còn nóng. Đi khỏi nhà được ba chục phút thì địch lại pháo cấp tập. Qua Nông Sơn - Trung Phước, cứ điểm vừa được giải phóng, bị địch cho máy bay ném bom và nã pháo tối ngày. Trưa, vừa vượt sông Thu Bồn, tôi dừng lại nghỉ ở Tí Sé. Qua khỏi Nông Sơn, đến Sơn Ninh, Sơn Phước, dân mới bung về làng cũ đang phát cỏ tranh sản xuất, vui quá, nhớ nhà quá! Tôi vào một gia đình, anh chị chủ nhà có một cháu bé rất xinh. Tôi chụp ảnh cảnh bà con đang làm đất để trồng khoai, hỏi chuyện một bà má. Bà ôm chầm lấy tôi khóc nức nở: “Con ơi, má có hai thằng con, đứa lớn cỡ tuổi con nè. Nó bị bắt lính, chết ở Nông Sơn rồi! Còn thằng em nó, đang chiến đấu ở Bình Định, bộ đội đằng mình đó! Má cực lắm, nhà cửa nó cày ủi, phá sạch trơn rồi!”. Nước mắt của má thấm đẫm ngực tôi. Tôi lặng người xót xa cho má! Bà bằng tuổi mẹ tôi. Giờ này mẹ tôi đang làm gì? Tôi biết, từ ngày tôi tình nguyện đi B, chẳng đêm nào mẹ tôi ngon giấc vì lo cho đứa con trai độc nhất của mình. Đêm ấy, tôi ngủ ở nhà ông Đó tại làng Sé, làng này đa số là dân ở Nông Sơn mới trở về, ít hiểu biết về cách mạng. Tôi tặng ông tấm ảnh Bác Hồ, ông cảm động nhìn ảnh Bác và nói trước đây, ông đã từng là bộ đội đánh Pháp. Cả đêm tôi không ngủ được vì pháo giặc từ An Hòa, Đức Dục cấp tập bắn về ba đợt trong đêm. Sáu giờ sáng hôm sau, tôi lên đường, tới mười hai giờ trưa thì tới ngã ba Quế Sơn. Mệt đứt hơi vì phải vượt qua ba cái dốc: dốc Hàm, Khe Rinh, Suối nước vàng cầu treo. Đúng là Dốc Quảng Nam, Gan Cộng sản! Những cái dốc nghe tên đã ớn như dốc Hòm: giống hệt một cái hòm dài hun hút; dốc Bò: không thể đi bằng chân mà phải bò; đèo Le: Leo đèo muốn đứt hơi, nghe tên đã phải le lưỡi; dốc Lết: lết từng chút từng chút vì quá hiểm trở… Ở Quảng Nam có câu ca:


Gập ghềnh Giảm Thọ, đèo Le


Cu ngói quảy mè, cà cưỡng cõng khoai!


Đèo Le và dốc Giảm Thọ là hai đèo cao nhất thuộc huyện Quế Sơn. Qua được dốc Giảm Thọ thì phải giảm tuổi thọ! Tôi đã phải đi suốt sáu tiếng đồng hồ qua ba ngọn núi để chỉ vượt được một khoảng cách có… ba kilômét đường chim bay! Dọc đường, tôi thấy rất nhiều mả, đó là những cán bộ, chiến sĩ của ta trên đường đi bị giặc phục kích bắn chết thời kỳ Nông Sơn - Trung Phước chưa được giải phóng. Sau mỗi mùa mưa, mả đất trôi đi, lộ ra xương cốt anh em đồng chí mình… Chính trong chuyến đi này, khi đi từ Thạnh Mỹ xuống Đại Lộc, tôi đã gặp một chiến sĩ tên Phạm Quang Bách. Thấy tôi mang máy ảnh, máy ghi âm, Bách làm quen và chúng tôi nhận ra đồng hương Hải Dương. Bách kể: Tôi vừa mất một thằng bạn thân quê ở Ninh Giang. Tôi giật mình hỏi: Xã nào? Xã An Đức. Tên gì? Triệu Xuân Moong. Trời ơi! Bác tôi đấy! Thế là tôi mất bác Moong rồi! Ông cùng tuổi tôi, học xong lớp bảy, không thi đậu cấp ba. Năm mười bảy tuổi, ông xung phong đi bộ đội. Ông hy sinh năm hai mươi hai tuổi trong một chuyến đi trinh sát ở sát nách Đà Nẵng. Mộ ông được đồng đội táng ở cách đèo Hải Vân một ngày đường, nhìn ra biển Đông. Trên mộ, Bách dùng mảnh bom khắc dòng chữ: Triệu Xuân Moong, quê An Đức, Ninh Giang, Hải Dương, Đảng viên Cộng sản, hy sinh anh dũng ngày 27-3-1974. Bách nói: “Moong chết trên tay tôi, tôi không ăn không ngủ suốt năm ngày. Sau tôi lao vào chiến đấu để trả thù cho bạn. Đó là người bạn thân nhất của tôi!”.


Tôi đã đến đơn vị của bác Moong, tìm cách đi thăm mộ bác, nhưng chỉ huy đơn vị khuyên tôi không nên đi vì dù có bộ đội hộ tống cũng rất nguy hiểm. Tôi đau lòng nghĩ rằng chỉ sau một mùa mưa lũ, xương cốt bác tôi sẽ chỏng trơ giữa rừng Hải Vân, cũng như bao đồng đội khác đã vĩnh viễn nằm xuống đất này! Tự do, Thống nhất, Hòa bình của dân tộc tôi đã phải trả bằng cái giá của máu xương hàng triệu người như bác tôi! Lẽ nào, những người đang sống hôm nay lại quên được điều đó? Tôi tin là không thể nào quên!


 


Thành phố Hồ Chí Minh, 30 -4- 1977 - Xuân Mậu Dần 1998.


(Nguồn: Lấp lánh tình đời. NXB Văn học, 2007. Trước đó đã in trong tác phẩm Làng Tuyên, 4 tập, Nhà xuất bản Văn học, năm 2000, 2002, 2004).


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Vùng cao - Nguyễn Thị Hậu 19.10.2018
Bỗng nhiên lại nhớ xứ hoa vàng... - Ngô Vĩnh Bình 16.10.2018
Thương dân, dân sẽ phụng thờ - Trịnh Đình Khôi 07.10.2018
Gò Nổi - Phan Tập 06.10.2018
Mùa trăng - Đỗ Trường Leipzig 04.10.2018
Đất Thủ Thiêm - Võ Đắc Danh 02.10.2018
Phùng Quán: "Có những lúc ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy" - Trần Thanh Phương 21.09.2018
Bội Trâm – Người đàn bà bất chấp tai ương - Ngô Minh 19.09.2018
Một chuyến làm báo ở Tây Nguyên - Thanh La 19.09.2018
Gián điệp quốc tế - Vũ Thư Hiên 07.09.2018
xem thêm »