tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30459525
01.09.2019
Huỳnh Quang
Người con của mẹ Năm Bê (12 A/ tiếp & hết)

                                                       Tuy nhiên, mỗi khi nghĩ đến những năm đầu tiên của đề tài cá heo Việt Nam, trong tôi nổi lên sự tiếc nuối to lớn: Nếu Liên Xô không tan rã, thì chắc rằng đến nay chúng ta đã có những con cá heo Việt Nam bảo vệ cảng quân sự. Ngày nay, nhiều nước tiên tiến có nền khoa học công nghệ cao, có thể giám sát tất cả các loại mục tiêu trên mặt biển bằng các loại rada tối tân làm việc trên các dải tần số khác nhau, đặt trên đất liền, trên tàu chiến hoặc trên vệ tinh, không bỏ sót một mục tiêu nào. Giám sát, phát hiện các mục tiêu di chuyển ngầm dưới mặt biển, bằng các loại máy bay săn ngầm, tàu săn ngầm và các loại thiết bị Sonar tối tân hoạt động trên dải sóng siêu âm. Tuy nhiên, họ vẫn phải dùng đến cá heo để canh giữ những công trình ngầm quan trọng dưới mặt nước biển. Bởi lẽ, các loại Sonar có thể phát hiện được tàu ngầm lạ ở cự ly hàng trăm hải lý, nhưng lại rất khó phát hiện được ở cự ly gần những chiến binh “người nhái” xâm nhập vùng biển với thiết bị lặn cá nhân nhỏ xíu, hoạt động gần như không có tiếng ồn.


Sử dụng chiến binh “người nhái” là cách đánh du kích đáng sợ, hiệu suất chiến đấu rất cao. Chỉ cần một chiến binh với thiết bị lặn cá nhân tối tân và một quả thủy lôi hẹn giờ, nổ định hướng, có vành nam châm vĩnh cửu mạnh giữ quả thủy lôi dính chặt vào vỏ tàu kể cả khi con tàu di chuyển với tốc độ cao. Thủy lôi nổ định hướng dồn sức ép với nhiệt độ hàng nghìn độ C vào trong con tàu, đánh thủng vỏ tàu một mảng lớn dưới mặt nước. Con tàu to lớn với hàng trăm thủy thủ cùng vũ khí trang bị có thể chìm trong chốc lát.


Cá heo nghe được âm thanh ở dải tần số sóng siêu âm, cho nên nó có thể nghe được tiếng ồn của tàu ngầm ở cự ly rất xa vì sóng siêu âm hầu như không bị tổn hao khi lan truyền trong nước biển. Đồng thời, cá heo lại có thể nghe được tiếng ồn rất nhỏ trong vùng biển gần cho nên cá heo có thể phát hiện được các chiến binh “người nhái”. Người ta có thể phái nó đi tuần tra trong một vùng biển và gọi nó trở về bể nuôi bằng tín hiệu quen thuộc được mã hóa trên sóng mang ở dải tần số siêu âm.                              


Đã có những con cá heo được huấn luyện biết chơi với người, biết ôm, biết hôn, biết cõng người, biết chơi bóng, nhảy cầu, làm xiếc; biết cứu vớt người trong tai họa, biết làm nhiệm vụ cảnh vệ ấn còi báo động khi có mục tiêu lạ trong vùng biển nó được giao canh giữ; biết vẽ tranh tô màu theo cảm hứng nghệ thuật của nó, biết hát theo ngôn ngữ của nó... và tôi ước mong rằng mai đây sẽ có những con cá heo biết nói tiếng người, nói một câu ngắn thôi “Tôi yêu Việt Nam”.


        Bức tranh cá heo vẽ (CLB cá heo Tuần Châu – Hạ Long)


Ngày 14 tháng 4 năm 1990 Viện sĩ Viện Hàn lâm Y học Liên Xô Ephunhi X.N, Giám đốc Viện Nghiên cứu Y học Cao áp toàn Liên bang sang Việt Nam theo đường Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô để cùng với phía Việt Nam chuẩn bị triển khai một số đề tài khoa học thuộc Ecolan M-1 của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô, trong đó có đề tài: “Nghiên cứu áp dụng oxy cao áp (OXYCA) vào thực hành y tế Việt Nam”.


Ngày 5 tháng 11 năm 1990, nhóm cán bộ Việt Nam đầu tiên gồm bác sĩ, kỹ sư của bệnh viện 108, 175 và Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô được cử sang Liên Xô tập huấn điều trị bằng liệu pháp OXYCA.


Ngày 5 tháng 10 năm 1991, phía Liên Xô đưa sang Việt Nam ba máy OXYCA, hai máy đặt ở bệnh viện 108, một máy đặt ở bệnh viện 175. Từ năm 1992, đề tài bắt đầu triển khai thực hiện, Tiến sĩ Trần Trí Bảo và bác sĩ Nguyễn Kim Phong là người thực hiện chính ở phía Bắc và phía Nam. Nhưng rồi sự kiện Liên Xô tan rã, mất hẳn nguồn đầu tư từ phía Liên Xô, số cán bộ Liên Xô cử sang làm việc ở hai bệnh viện đã rút về nước.


Trước tình hình này, với mong muốn nhanh chóng được Bộ Y tế quyết định đưa liệu pháp OXYCA chính thức áp dụng trong thực hành y tế Việt Nam, bác sĩ Nguyễn Kim Phong bàn với tôi về việc cho thành lập Trung tâm OXYCA trực thuộc Chi nhánh phía Nam với chức năng nghiên cứu khoa học và điều trị bệnh bằng liệu pháp OXYCA. Trung tâm OXYCA phải hoạt động có thu để có kinh phí mua oxy y tế và các chi phí khác cần thiết cho việc điều trị. Tôi rất ủng hộ đề nghị của bác sĩ Phong vì cho rằng nếu không thành lập Trung tâm OXYCA trực thuộc Chi nhánh phía Nam thì không thể tiếp tục thực hiện đề tài OXYCA trong điều kiện Liên Xô sụp đổ, các thiết bị OXYCA họ có quyền đưa trở về Nga bất cứ lúc nào họ muốn như qui định trong Hiệp định. 


Chi nhánh phía Nam không có quyền hạn và trách nhiệm gì trong việc điều trị cho bệnh nhân của bệnh viện 175 bằng máy OXYCA của Nga đang đặt tại bệnh viện 175. Tôi đề nghị anh Phong tập trung lo tìm nguồn tài chính để mua thiết bị OXYCA và những nhu cầu tài chính khác cho việc điều trị. Đào tạo các bác sĩ có chứng chỉ điều trị bệnh bằng máy OXYCA. Tôi sẽ lo thủ tục về tư cách pháp nhân của Trung tâm OXYCA trực thuộc Chi nhánh phía Nam.


Tôi đem ý tưởng thành lập Trung tâm OXYCA trình bày với Tổng Giám đốc Trần Xuân Thu, mong tìm được sự ủng hộ, nhưng anh Thu chưa dám quyết định ngay, anh Thu bảo phải để bàn trong lãnh đạo và chỉ huy Trung tâm. Sau một thời gian, tôi lại gặp anh Thu nói về vấn đề tôi đã trình bày lần trước. Anh Thu bảo cho đến thời điểm ấy chưa có được sự đồng thuận trong lãnh đạo, chỉ huy và cơ quan tham mưu, mà chủ yếu trong hai vấn đề: Một là, Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga không phải là một tổ chức điều trị bệnh, nếu xảy ra tử vong trong điều trị, ai sẽ chịu trách nhiệm. Hai là, Tổng Giám đốc ra quyết định thành lập Trung tâm OXYCA rồi lấy đâu ra ngân sách để mua thiết bị đảm bảo cho nó hoạt động. Tôi cảm thấy hơi đột ngột và khó chịu với hai vấn đề nêu trên đang là vật cản với Chi nhánh phía Nam. Tôi bắt đầu trổ tài ngang bướng với cấp trên và phát biểu phản biện: “Một là, Trung tâm Nhiệt đới không phải là tổ chức điều trị bệnh, nhưng theo biểu biên chế tổ chức đã được hai thành viên phê chuẩn thì ở cơ sở chính có cơ sở điều trị 60 giường bệnh, ở mỗi chi nhánh có cơ sở điều trị 30 giường bệnh. Đây chính là nơi được nhà nước cho phép điều trị bệnh. Mà trong điều trị bệnh thì không có bệnh viện nào, bác sĩ nào dám khẳn định không có tử vong. Hai là, Tổng Giám đốc ra quyết định thành lập Trung tâm OXYCA để chúng tôi có tư cách pháp nhân mà hoạt động và tiếp tục thực hiện đề tài OXYCA, chứ chúng tôi có đòi cấp ngân sách đâu. Chúng tôi sẽ tìm nguồn tài chính khác ngoài luồng ngân sách, như ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Lê Đức Anh”.


Tôi than phiền với anh Trần Xuân Thu rằng tôi cảm thấy hình như có một lực lượng nào đó bày ra nhiều vật cản trên con đường đi lên của Chi nhánh phía Nam! Anh Thu an ủi tôi một câu làm tôi nhẹ lòng: “Cái gì mới cũng đều gặp phải sự cản trở cả” và tôi hiểu rằng anh ấy rất thông cảm với tôi.


Ngày 14 tháng 1 năm 1994, Tổng Giám đốc ký quyết định thành lập Trung tâm OXYCA trực thuộc Chi nhánh phía Nam, về biên chế tổ chức như một phòng nghiên cứu. Mặt bằng làm việc của Trung tâm OXYCA tạm trích từ mặt bằng của Chi nhánh phía Nam. Một số thiết bị về y tế tạm dùng chung với Phòng Nghiên cứu Y sinh. Nguồn tài chính mua sắm thiết bị OXYCA và duy trì hoạt động điều trị do Trung tâm OXYCA và Chi nhánh phía Nam tự lo liệu. Bác sĩ Nguyễn Kim Phong được giao phụ trách Trung tâm OXYCA. Với tôi, đó là một ngày đáng nhớ, vì để có được quyết định thành lập Trung tâm OXYCA, chúng tôi đã phải vượt qua không ít trở ngại. Rào cản lớn nhất khi ấy là những ý kiến phản đối phương án tự lo liệu kinh phí mua sắm thiết bị OXYCA bằng cách huy động vốn của cá nhân trong và ngoài đơn vị, những mạnh thường quân ủng hộ việc áp dụng liệu pháp OXYCA vào thực hành y tế Việt Nam. Hồi ấy, tư duy của một số người vẫn đậm màu bao cấp, họ cho rằng làm khoa học phải bằng kinh phí từ ngân sách chứ không thể bằng tiền của cá nhân nhà đầu tư và họ nhận phần trăm từ vốn đã đóng góp. Tôi thì nghĩ rằng Trung tâm OXYCA thành lập ra là để tiếp tục nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, đề tài vẫn phải được tiếp tục cho đến khi đạt được mục tiêu, nhưng thiếu kinh phí. Nếu có người bỏ vốn ra cho mình làm khoa học và họ thu hồi vốn từ từ với lãi suất cao hơn gửi tiết kiệm một ít, nhưng thấp hơn lãi suất vay của ngân hàng thì đó là điều kiện quá tốt cho chúng ta, cho nên chúng tôi quyết định theo phương án này.


Để cho việc quản lý tài chính được chặt chẽ và minh bạch, tôi qui định việc hình thành nguồn vốn và sử dụng vốn của Trung tâm OXYCA đều thông qua cơ quan tài chính của Chi nhánh phía Nam. Riêng với tôi, nhiều lần anh Nguyễn Kim Phong đã đề nghị tham gia góp vốn và thật sự tôi cũng muốn đóng góp tài chính để xây dựng Trung tâm OXYCA, nhưng tôi đã quyết định không để mình có tên trong danh sách các mạnh thường quân chỉ vì một lý do đơn giản: Tôi đang là Giám đốc Chi nhánh phía Nam, những quyết định của tôi liên quan đến Trung tâm OXYCA sau đó sẽ luôn được khách quan, không có “màu sắc” vì lợi ích cá nhân.


Phải mất gần 4 năm kể từ ngày có quyết định thành lập, Trung tâm OXYCA mới có thể hoàn thành xong việc chuẩn bị tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, mặt bằng làm việc với 3 máy OXYCA và đội ngũ cán bộ nhân viên.   


     Ba máy ô xy cao áp đầu tiên của Trung tâm OXYCA


Tháng 9 năm 1997, tôi nhận Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng tại hội trường của Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga. Trong khi chờ buổi lễ khai mạc, tôi được Ban Tổ chức buổi lễ yêu cầu tôi phát biểu cảm tưởng, tôi đã tranh thủ viết mấy dòng thơ thay lời cảm tưởng:             


             Bốn mươi năm tuổi Đảng,


             Ba thời kỳ chiến tranh.


             Cùng mười lăm Đảng bộ,


            Một cuộc đời chiến binh.


            Bốn mươi năm tuổi Đảng,


            Ba thời kỳ chiến tranh.


            Trải bao nhiêu gian khổ,


            Thấy bao gương hy sinh.              


            Bốn mươi năm tuổi Đảng,               


            Ba thời kỳ chiến tranh.


            Nặng sâu tình Đồng chí,


            Tình Đảng, tình Quân Dân.


            Bốn mươi năm tuổi Đảng,


            Quân đội thời chiến tranh.


            Đã dạy tôi chiến đấu,


            Dìu dắt tôi trưởng thành.


            Bốn mươi năm tuổi Đảng,


            Ba thời kỳ chiến tranh.              


            Con đường đi theo Đảng,


            Con đường vì Nhân dân.  


            Ai ơi còn theo Đảng,


            Xin chớ vì công danh.


            Ai ơi còn theo Đảng,


            Hãy vì Nước, vì Dân. 


Ngày 5 tháng 11 năm 1997 là ngày khai trương Trung tâm OXYCA của Chi nhánh phía Nam tại số 3 đường 3 tháng 2, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Từ ngày ấy, tôi luôn hồi hộp theo dõi hoạt động của Trung tâm OXYCA với ý nghĩ: Thành lập được Trung tâm OXYCA đã khó, nhưng giữ cho nó tồn tại và phát triển còn khó hơn nhiều.


  Chuẩn bị đưa bệnh nhân vào buồng OXYCA để điều trị bệnh.


Ngay trong năm đầu tiên sau khi thành lập, Trung tâm OXYCA đã điều trị một loạt hàng chục bệnh nhân thợ lặn bị bệnh giảm áp được chuyển đến từ Ninh Thuận, Bình Thuận và một số tỉnh ven biển khác. Bệnh giảm áp là bệnh nghề nghiệp hiểm nghèo của thợ lặn. Ở bệnh nhân này trong cơ thể có nhiều bọt khí nitơ trong động mạch chèn ép gây tổn thương, nhất là trong não và tủy sống làm cho bệnh nhân liệt chân tay, bí đại tiểu tiện. Các phương pháp điều trị khác không làm tan được bọt khí trong động mạch; chỉ có OXYCA mới làm tan được các bọt khí và đào thải khí này ra ngoài, đồng thời phục hồi các chức năng vận động, bài tiết...


 Hầu hết các bệnh nhân bị bệnh giảm áp được chuyển đến Trung tâm OXYCA kịp thời đều được điều trị phục hồi hoàn toàn, trở lại lao động bình thường. Có thể nói OXYCA là phương pháp điều trị đặc hiệu đối với bệnh giảm áp. Những bệnh nhân bệnh giảm áp nếu không được điều trị bằng OXYCA có nguy cơ tử vong hoặc tàn phế suốt đời rất cao.


Cũng trong năm, hoạt động đầu tiên Trung tâm OXYCA đã điều trị thành công cho một bệnh nhân rất đặc biệt, cháu Nguyễn Thị Bích Phượng, 15 tuổi bị ngộ độc khí thải máy phát điện ngày 26 tháng 10 năm 1998. Cả gia đình 6 người hôn mê, hai người chết, riêng cháu Phượng hôn mê rất sâu. Gia đình đưa cháu từ quê nhà ấp 1, xã Tân Phong, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu đến bệnh viện Chợ Rẫy điều trị đã 60 ngày mà cháu vẫn hôn mê. Sau đó, cháu được chuyển đến Trung tâm OXYCA vẫn trong trạng thái hôn mê và sau 15 ngày điều trị bằng OXYCA cháu đã tỉnh. Ngay sau khi cháu Phượng tỉnh lại, nhận biết có mẹ ở bên cạnh; mẹ cháu với niềm vui lớn lao và sự xúc động tột đỉnh, bà ấy vừa khóc tất tưởi vừa chạy đi khắp Chi nhánh phía Nam, gặp bất kỳ ai, lạ cũng như quen, bà đều chia sẻ niềm vui của mình bằng một câu nói lẫn trong nước mắt: “Ôi! Con tôi nó nhận ra tôi rồi, nó sống lại rồi”. Những năm sau đó, năm nào cháu Phượng cũng được mẹ cháu đưa cháu từ quê nhà đến Trung tâm OXYCA thăm lại nơi đã cứu sống mình.                                                              


Tiếng lành đồn xa, hiệu quả điều trị đặc hiệu của OXYCA đối với một số bệnh như: bệnh giảm áp, bệnh ngộ độc khí oxyt carbon, khí thải máy phát điện, ngộ độc khí trong tai nạn cháy nhà; bệnh ngộ độc thuốc ngủ, thuốc trừ sâu... bệnh viêm loét ngoài da lâu liền do tiểu đường hoặc các nguyên nhân khác đã đến tai người bệnh ở khắp các tỉnh phía Nam và sang cả Campuchia.


Bệnh nhân của Trung tâm OXYCA đã “đóng con dấu đỏ” rõ nét lên bản báo cáo khoa học nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu áp dụng OXYCA vào thực hành y tế Việt Nam”, xác nhận sự cần thiết của OXYCA đối với sự nghiêp chăm sóc sức khỏe của nhân dân Việt Nam.    


Cháu Nguyễn Thị Bích Phượng 15 tuổi ngộ độc


khí thải máy phát điện.


Bé Gia Bảo sau một tháng điều trị OXYCA bệnh đã khỏi hoàn toàn và bác sĩ Nguyễn Kim Phong, GĐ Trung tâm OXYCA


Ngày 6 tháng 4 năm 2002, Hội đồng Khoa học cấp nhà nước của Bộ Y tế đã kết luận chính thức đưa OXYCA vào điều trị trong hệ thống y tế Việt Nam. Như vậy, phải mất 10 năm, đề tài OXYCA mới đạt được mục tiêu cuối cùng. Đây là một sự chậm trễ không đáng có. Ở nhiều nước tiên tiến về khoa học công nghệ, OXYCA đã được sử dụng rộng rãi đến bệnh viện cấp huyện, đến từng trung tâm thể dục thể thao, đến các trung tâm huấn luyện bay, huấn luyện lặn, huấn luyện du hành vũ trụ. Trong khi đó, sinh viên các trường Đại học Y của Việt Nam chưa được học về y học cao áp!


Trong cái rủi chậm trễ về thời gian, đã có cái may là Trung tâm OXYCA đã được thành lập ở Chi nhánh phía Nam và bác sĩ Nguyễn Kim Phong là Giám đốc Trung tâm OXYCA. Nếu không, đề tài: “Nghiên cứu áp dụng OXYCA vào thực hành y tế Việt Nam” đã trôi theo dòng chảy Liên Xô tan rã. Những thợ lặn Việt Nam bị bệnh giảm áp vẫn phải chịu tử vong hoặc tàn phế suốt đời.


Tôi cho rằng, đề tài: “Nghiên cứu áp dụng OXYCA vào thực hành y tế Việt Nam” là một trong những đề tài nghiên cứu ứng dụng đạt kết quả tốt nhất trong hoạt động khoa học của Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga, mà đơn vị chính thực hiện đề tài là Trung tâm OXYCA của Chi nhánh phía Nam và người chủ trì thực hiện đề tài là bác sĩ Nguyễn Kim Phong. Đề tài đã đưa vào y tế Việt Nam một bộ môn khoa học y học mới - Y học áp lực cao. Sản phẩm của đề tài sẽ được ứng dụng rộng rãi trong y tế Việt Nam, sẽ cứu sống nhiều người, tránh tàn phế cho nhiều người và đem lại sức khỏe cho nhiều người.


 


Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Văn Thưởng, Ban Giám đốc Viện Vệ sinh dịch tễ Tây nguyên, Ban Giám đốc Chi nhánh phía Nam Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga thăm Trung tâm OXYCA.


Từ ngày khai trương cho đến nay, Trung tâm OXYCA đã điều trị cho hàng vạn lượt bệnh nhân các chuyên khoa khác nhau như: bệnh tiểu đường; bệnh viêm loét ngoài da lâu liền do nhiều nguyên nhân khác nhau; bệnh nhân khoa chấn thương chỉnh hình, khoa bỏng; bệnh điếc cấp tính, giảm thị lực đột ngột; bệnh chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não; bệnh tim mạch; bệnh ngộ độc oxyt cacbon và các chất độc khác; bệnh giảm áp; bệnh rối loạn tiền đình, thiểu năng tuần hoàn não; bệnh bại não trẻ em; các bệnh do khả năng tiếp thu oxy kém, thiếu oxy của tim; hỗ trợ điều trị ung thư giảm được liều lượng hóa trị, xạ trị, đồng thời giúp phục hồi tổn thương vùng xung quanh nơi ung thư bị tác động không mong muốn của hóa trị, xạ trị...


Bằng kết quả hoạt động y tế phục vụ người bệnh của mình, Trung tâm OXYCA đã nhận được nhiều lời khen ngợi của bệnh nhân xa gần. Được Bộ Khoa học Công nghệ đánh giá cao tặng “Cúp vàng thương hiệu uy tín chất lượng ứng dụng khoa học công nghệ” ngày 29 tháng 6 năm 2009. Được Bộ Y tế và Tổng hội Y học đánh giá cao tặng “Cúp vàng vì sức khỏe người Việt” ngày 16 tháng 8 năm 2009. Được Ban Tổ chức bình chọn và trao tặng giải thưởng “Thương hiệu nổi tiếng ASEAN” năm 2011; Trao cúp vàng “Doanh nhân tâm tài” cho Giám đốc Trung tâm OXYCA, bác sĩ Nguyễn Kim Phong, ngày 16 tháng 7 năm 2011.


Tuy nhiên tôi rất ngạc nhiên, mặc dù đề tài “Nghiên cứu áp dụng OXYCA vào thực hành y tế Việt Nam” đã được ngành y tế Việt Nam và các cơ quan trong và ngoài nước đánh giá rất cao, nhưng không thấy Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga, cơ quan chủ quản của Trung tâm OXYCA, cơ quan chủ quản của đề tài: “Nghiên cứu áp dụng OXYCA vào thực hành y tế Việt Nam” có được một hình thức khen thưởng xứng đáng nào, tại sao?! Phải chăng lãnh đạo, chỉ huy của Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga thời kỳ ấy đã “quên” một cách đáng tiếc hay vì không coi việc Trung tâm OXYCA đã cứu sống hàng chục bệnh nhân, tránh tàn phế suốt đời cho hàng chục bệnh nhân thợ lặn bị bệnh giảm áp không phải là một cống hiến vô giá đối với bệnh nhân? Hay vì họ quá bận về những chăm lo khác cho bản thân mình!


  *


Mười lăm năm công tác ở Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô, rồi Việt Nga đã cho tôi những người bạn Nga chân tình và thân thiết:


+ Korzun L.P, Tổng Giám đốc đầu tiên phía Liên Xô của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô, người đã cùng tôi là lãnh đạo phía Việt Nam của Trung tâm “khai mạc” ngày làm việc đầu tiên của Trung tâm và cùng nhau triển khai công tác trong điều kiện trong tay chưa có gì. Trước khi đến với Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô, Korzun là Trưởng khoa Sinh vật của Đại học Quốc gia Mascova mang tên Lomonoxov, đại học danh tiếng thế giới. Anh là Giáo sư, Tiến sĩ khoa học của Liên Xô với hàng trăm ấn phẩm khoa học có giá trị quốc tế, nhưng anh rất khiêm tốn, đức tính mà tôi quí nhất ở con người. Ngược hẳn với Korzun, một vài cán bộ lãnh đạo phía Việt Nam lại tìm mọi cách tự lăng xê mình lên tầm “vĩ đại”, ngang tầm các Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Nga. Thật xót xa cho cái sự cố tình “nhầm lẫn” vàng thau rất khó coi trong việc sử dụng hai từ “Viện sĩ” ở Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga!


+ Guxev và Lazrev, hai Phó tổng Giám đốc về kỹ thuật và trang bị khi cơ sở chính còn làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh, những người đã cùng tôi và anh Bùi Văn Đống tổ chức tiếp nhận hàng trăm tấn vật tư, thiết bị trị giá hơn hai mươi triệu USD do phía Liên Xô chuyển sang Việt Nam cho Trung tâm Nhiệt đới.


+ Suntsov V.V, Giám đốc phía Nga của Chi nhánh phía Nam mà tôi có thời gian làm việc cùng anh lâu nhất trước khi tôi nghỉ hưu. Anh cũng là một con người rất khiêm tốn. Anh vừa làm quản lý, vừa làm khoa học. Đề tài nghiên cứu về dịch hạch ở Việt Nam mà anh chủ trì đã được Hội đồng Khoa học cấp nhà nước của Bộ Y tế Việt Nam đánh giá xuất sắc. Kết luận của đề tài đã làm thay đổi nhận định của ngành y tế Việt Nam về nguồn gốc lưu truyền dịch hạch ở Việt Nam. Trong thời gian làm việc ở Việt Nam anh đã viết hai quyển sách khoa học về dịch hạch, xuất bản ở Nga trong đó có một quyển đã được dịch sang tiếng Việt và xuất bản ở việt Nam. Trong thời gian làm việc ở Việt Nam anh cũng đã bảo vệ thành công luận văn Tiến sĩ khoa học của Liên bang Nga.


Đối với lĩnh vực khoa học về y tế, tôi là người “ngoại đạo” nhưng tôi muốn có thêm hiểu biết về lĩnh vực này vì đây là lĩnh vực khoa học mà Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Cho nên khi có điều kiện về thời gian, tôi thường đi cùng Suntsov trong các chuyến đi khảo sát đến các vùng miền của Việt Nam từ bán đảo Sơn Trà cho đến các tỉnh Tây nguyên, miền Đông, miền Tây Nam Bộ, những nơi đã từng có bệnh dịch hạch, theo bản đồ dịch hạch của Bộ Y tế Việt Nam.


Suntsov là nhà khoa học chân chính, tài năng và rất khiêm nhường. Cả đời anh cống hiến cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học về bệnh dịch hạch. Thời trai trẻ anh đã đi khắp Liên Xô để nghiên cứu cơ bản về dịch hạch và hơn mười năm làm việc ở Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga anh cũng đã đi khắp các vùng có bệnh dịch hạch ở Việt Nam đã được ghi nhận trên bản đồ dịch hạch của Bộ Y tế Việt Nam, cũng vì sự nghiệp nghiên cứu khoa học về bệnh dịch hạch, vì sự nghiệp khoa học về bệnh dịch hạch ở Việt Nam mà anh suýt mất mạng vì một bệnh lạ từ vùng rừng nhiệt đới mà anh mắc phải ngày 10 tháng 11 năm 2001 ở Tây Ninh, nếu không có sự chăm sóc rất tận tình của Viện Quân y 175 và ý kiến chẩn đoán bệnh chính xác của Thiếu tướng Bùi Đại, Giám đốc Quân y viện 108, một Tiến sĩ y khoa giàu kinh nghiệm về bệnh sốt rét ở Việt Nam, khi ông được mời vào Quân y viện 175 hội chẩn sau hơn một tuần bệnh viện đã điều trị cho Suntsov theo phác đồ điều trị bệnh sốt rét nhưng không kết quả. Theo Thiếu tướng Tiến sĩ Bùi Đại bệnh của Suntsov là bệnh sốt mò chứ không phải bệnh sốt rét, độc tố của con mò đã đốt Suntsov trong khi anh làm việc trong rừng Tây Ninh. Độc tố đã gây sốt cao liên miên, người không có sức khỏe tốt có thể tử vong trong vài ba ngày.


*


Những năm sau khi nghỉ hưu, tôi đã về quê Phú Yên, nơi tôi thường nói đùa với các bạn Nga là “vùng sâu vùng xa” để được thở không khí trong lành và có cuộc sống yên bình nơi thôn dã. Tuy vậy, mỗi lần có dịp sang Việt Nam công tác hoặc làm khoa học, các bạn Nga vẫn dành thời gian ghé về Phú Yên thăm tôi. Thật xúc động về những lần hội ngộ như vậy của chúng tôi ở Phú Yên, ở Việt Nam hay ở Mascova khi tôi có việc sang Mascova. 


Korzun và Suntsov thăm gia đình tôi ở TP Hồ Chí Minh và Tuy Hòa


 


Tháng 6 năm 2003, tôi nghỉ hưu khi đã có 66 tuổi đời và 50 tuổi quân. Tròn nửa thế kỷ tôi đã chiến đấu và công tác trong bộ quân phục Quân đội nhân dân Việt Nam. Quân đội đã rèn luyện, bồi dưỡng tôi trưởng thành từ một chiến sĩ trinh sát - quân báo nhỏ tuổi đến một sĩ quan cao cấp, quân hàm Đại tá, lương tướng, có học vị Tiến sĩ, một cán bộ làm khoa học trong lực lượng vũ trang, luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao trong ba cuộc chiến tranh và xây dựng Quân đội.   


 


Suntsov nguyên Giám đốc phía Nga của CNPN, Huỳnh Quang, Korzun nguyên Tổng Giám đốc phía Nga đầu tiên của TTNĐ, Hoàng Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Nga nguyên Giám đốc phía Việt Nam của CNPN, Trunov nguyên Giám đốc phía Nga của CNPN


Cùng với đồng đội nhiều thế hệ lãnh đạo của Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga


 


CUỘC ĐỜI CHIẾN SĨ SAU NGHỈ HƯU


 


Tôi nghỉ hưu nhưng sức khỏe còn được, đầu óc chưa mụ nên tôi chưa muốn nghỉ việc. Tôi lại tiếp tục với sự nghiệp làm khoa học kỹ thuật mà tôi yêu thích, mong có thêm niềm vui trong cuộc sống cuối đời. Đồng thời tôi rất đam mê những buổi họp mặt truyền thống với đồng đội đã nghỉ hưu, từng cùng nhau chiến đấu, công tác trong các đơn vị trước khi tôi nghỉ hưu.


Từ năm 2004 đến 2008, tôi đã tham gia với Phòng Nghiên cứu thủy sinh trong đề tài: “Nghiên cứu đánh bắt, thuần dưỡng và huấn luyện cá heo Việt Nam”, hướng khoa học mà tôi rất quan tâm với mong muốn đến một ngày nào đó các nhà khoa học Việt Nam sẽ huấn luyện được những con cá heo Việt Nam biết làm nhiệm vụ bảo vệ cảng quân sự như ở Nga, ở Mỹ. Tôi đã đi theo các cán bộ khoa học trẻ của Chi nhánh phía Nam Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga như Trịnh Thị Lan Chi, Nguyễn Tuấn Anh, Cù Nguyên Định, Phan Xuân Thịnh, Trần Thị Thái Hà, Nguyễn Thị Nga và nhà khoa học đầu ngành về cá heo của Liên bang Nga Mukhametov trong nhiều chuyến đi dã ngoại biển và các chuyến vận chuyển cá heo từ biển về thành phố Hồ Chí Minh, về Đồng Nai, Nha Trang, Hạ Long. Những chuyến đi đã mang lại cho tôi nhiều niềm vui khi trực tiếp nhìn thấy thành quả lao động của nhóm đề tài.


Việc đánh bắt được một con cá heo mạnh khỏe, đưa được về đến bè thuần dưỡng ngay trên vùng biển đã đánh bắt, mà không để lại một vết xước nhỏ nào trên thân con cá là công việc rất nặng nhọc và khó khăn bởi con cá rất to, rất nặng và rất khỏe. Có hai phương pháp chủ yếu người ta thường dùng để đánh bắt cá heo:


Một là, dùng lưới và cano tốc độ cao bủa vây cả tốp cá, ở những vùng biển nông gần bờ. Hai là, dùng phương pháp ném vòng bắt từng con ở những vùng biển sâu xa bờ. Ném vòng kiểu như người ta bắt chó ở trên cạn, cá chui qua vòng và vòng mắc lại ở đuôi. Ném vòng khi tàu đang đi trên biển và có tốp cá heo bơi theo tàu.


Sau đó, ngay tại bè nuôi thuần dưỡng, chúng phải được chăm sóc, khám sức khỏe và trả trở về biển những con không đủ tiêu chuẩn. Sau vài ba tháng, cá được thuần dưỡng tại bè, con nào thích nghi được với cuộc sống trong không gian chật hẹp khác hẳn không gian mênh mông ngoài biển khơi thì sẽ được vận chuyển về bể nuôi huấn luyện. Việc đánh bắt đã khó, nhưng việc vận chuyển về đến bể nuôi huấn luyện còn khó khăn và tốn kém hơn. Cá dễ bị chết trên đường vận chuyển do liều thuốc ngủ không phù hợp với sức khỏe, cân nặng, hệ thần kinh... của từng con cá.


 Lần vận chuyển cá heo từ vùng biển Kiên Giang về Câu lạc bộ Cá heo trên đảo Tuần Châu, Hạ Long phải qua năm chặng đường: Chặng thứ nhất, đưa cá từ bể thuần dưỡng trên vùng biển Kiên Giang vào bờ bằng sức người và thuyền cao su. Chặng thứ hai, đưa thùng chứa cá từ bờ biển đến bãi đỗ trực thăng bằng xe tải. Chặng thứ ba, từ bãi đỗ trực thăng về thành phố Hồ Chí Minh bằng máy bay trực thăng. Chặng thứ tư, chuyển từ trực thăng sang máy bay chở khách từ Tân Sơn Nhất đến Nội Bài. Chặng thứ năm, chuyển từ máy bay sang xe tải chạy về Tuần Châu và kiểm tra sức khỏe từng con cá trước khi thả xuống bể nuôi huấn luyện. Việc tổ chức phối hợp giữa các chặng phải rất chặt chẽ, thời gian tính từng phút bởi vì khi cá còn nằm trong thùng chứa trên đường vận chuyển nó phải đang ở trạng thái ngủ, nó thở được nhưng nước không được tràn vào phổi, da không được khô. Khi cá được đưa đến bể nuôi huấn luyện thì cũng vừa lúc thuốc ngủ đã hết tác dụng.


Tôi mong rằng: rồi đây, ở Việt Nam sẽ có những cơ sở nuôi cá heo thuần dưỡng và cho sinh sản từ cá heo bố mẹ đã được huấn luyện như ở Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Indonexia… để có được những con cá heo mạnh khỏe, tinh khôn, có thể huấn luyện cho những mục đích sử dụng khác nhau như: bảo vệ cảng biển, tìm kiếm cứu nạn, xiếc và các lợi ích kinh tế khác.


     Chuyển cá heo từ bè thuần dưỡng vào bờ


     Chuyển cá heo từ bờ biển đến bãi đỗ trực thăng.


  Đưa cá heo lên trực thăng chuyển về Tân Sơn Nhất


Tôi và Trần Cảnh- đoàn bay trực thăng Vũng Tàu trên trực thăng chở cá heo về thành phố Hồ Chí Minh.


Chuyển cá heo từ trực thăng sang máy bay chở khách tuyến Tân Sơn Nhất-Nội Bài.


 


Chuyển cá heo từ Nội Bài về Tuần Châu bằng xe tải


Kiểm tra sức khỏe cá heo trước khi thả xuống hồ nuôi huấn luyện


Thả cá heo xuống hồ nuôi huấn luyện


Huấn luyện cá heo làm xiếc


 


Cách đây hơn mười năm, Tiến sĩ Mukhametov đã cho tôi biết giá một con cá heo đã được thuần dưỡng, chưa huấn luyện ở Nhật Bản bán với giá 50.000 USD.     


Tôi đã cùng Tiến sĩ Phan Chỉ, nguyên Viện trưởng Viện Vũ khí Bộ Quốc phòng là đồng chủ nhiệm đề tài: “Nghiên cứu thiết kế và chế tạo hệ thống ngắm đồng bộ giữa kính nhìn đêm và súng phòng không 14,5mm”, phục vụ lực lượng vũ trang QK7, bằng ngân sách nghiên cứu khoa học phục vụ an ninh, Quốc phòng của thành phố Hồ Chí Minh. Sở Khoa học Công Nghệ thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan chủ quản. Chi nhánh phía Nam TTNĐ Việt Nga là cơ quan chủ trì thực hiện đề tài.


Việc bảo vệ các mục tiêu quan trọng, chống kẻ đột nhập từ trên không bằng các thiết bị bay nhỏ không người lái, bay ở độ cao thấp hơn 1500m, tốc độ bay chậm, được trang bị các loại vũ khí gây nổ hoặc phá hoại mục tiêu bằng chiến thuật “tự sát”, nhất là về ban đêm. Nếu không có ống kính nhìn đêm thì lực lượng vũ trang bảo vệ mục tiêu không thể hoàn thành nhiệm vụ vì mắt thường không thể nhìn thấy kẻ đột nhập đến vài ba cây số. Ống kính ngắm nhìn đêm và súng phòng không 14,5mm phải được đồng bộ hóa để có thể bắn hạ kẻ đột nhập bất cứ lúc nào khi có lệnh. Đây là một hướng khoa học rất quan trọng đã được đặt ra đối với Quân đội tất cả các nước trong nhiệm vụ chống khủng bố, từ khi xuất hiện thiết bị bay không người lái trên thị trường thế giới. Đề tài đã được đánh giá xuất sắc. Sản phẩm của đề tài đã được bàn giao cho Bộ Tham mưu QK7.


Tôi đã tham gia đề tài: “Nghiên cứu và triển khai ứng dụng một số hệ vật liệu hấp thụ sóng điện từ trên một số dải tần rada, tia X và tia gama” do Tiến sĩ Nguyễn Văn Dán, Khoa Công nghệ vật liệu, trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh chủ trì đề tài. Cơ quan chủ quản đề tài là Sở Khoa học công nghệ thành phố Hồ Chí Minh.


Đây là một hướng khoa học mũi nhọn mà lực lượng vũ trang tất cả các nước đều rất quan tâm nghiên cứu. Từ năm 1942, Liên Xô đã bắt đầu nghiên cứu vấn đề này với việc Nguyên soái Stalin ký sắc lệnh thành lập viện nghiên cứu chuyên về công nghệ “tàng hình”. Mỹ bắt đầu triển khai nghiên cứu vật liệu tàng hình từ năm 1960.         


Kính quan sát mục tiêu và súng liên thanh 14,5mm được đồng bộ hóa. Sản phẩm được chế tạo tại nhà máy QP Z 751.


Bắn thử nghiệm hệ thống đồng bộ giữa kính ngắm với súng


liên thanh14,5mm tại Trường bắn Quốc gia ở phía Nam.


Hàng trước: Tiến sĩ Huỳnh Quang, Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ BQP Nguyễn Ngọc Dương, Tiến sĩ Phan Chỉ.


Ngày nay, việc nghiên cứu công nghệ chế tạo vật liệu tàng hình ở các nước đã phát triển rất mạnh. Hàn Quốc đã chào bán vật liệu tàng hình để ngụy trang cho phương tiện bay và tàu thuyền với độ hấp thụ sóng rada dải X,S khoảng -15DB (97%) và độ dày của lớp vật liệu 1,2mm, trong khi đó của Mỹ là 2,5mm, của Nhật là 2,39mm. Ixrael có sơn hấp thụ sóng rada dải X,S và hồng ngoại với độ suy hao trên sóng rada -15 DB (97%). Ixrarel thông báo xe tăng của họ được sơn phủ vật liệu ngụy trang giảm được 50% bức xạ hồng ngoại và giảm tầm bị đối phương phát hiện xuống 50%. Máy bay B2 của Mỹ với chiều dài 21,03m, rộng 52,4m, cao 5,18m, trọng lượng không tải 136 tấn, có mặt cắt phản xạ hiệu dụng là hơn 20 mét vuông. Tuy nhiên sau khi máy bay được ngụy trang tốt bằng vật liệu tàng hình thì mặt cắt phản xạ hiệu dụng chỉ còn 0,01 mét vuông. Bình thường, máy bay B2 bị phát hiện ở cự ly 320 km, sau khi được ngụy trang tốt bằng vật liệu tàng hình nó chỉ bị phát hiện ở cự ly 48 km. Với cự ly bị phát hiện quá ít như vậy, thời gian để lực lượng phòng không triển khai hỏa lực đánh trả chỉ tính bằng phút, bằng giây.


Đề tài đã được triển khai với nội dung rất toàn diện và tỉ mỉ. Đã nghiên cứu chế tạo ba loại vật liệu hấp thụ sóng rada: vật liệu dạng vải, vật liệu dạng tháp, vật liệu dạng lớp phủ trên kim loại. Mỗi loại có sáu độ dày khác nhau: 1,8mm; 2,1mm; 2,4mm; 2,7mm; 3,0mm; 4,0mm.


Tất cả các mẫu đều đã được đo kiểm độ suy hao trên dải tần X (10 GHz) và dải tần S (3 GHz) tại Phòng thí nghiệm siêu cao tần của Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh và tại Phòng thí nghiệm siêu cao tần của Trung tâm Khoa học-Công nghệ Quân sự Bộ Quốc phòng. Kết quả đo kiểm của hai phòng thí nghiệm cho số liệu xấp xỉ nhau -15DB đến -17DB và chiều dày tối ưu của lớp vật liệu là 2,4mm.                                   


Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ BQP xem sản phẩm chế thử của đề tài tại nhà máy Z 751.


Tất cả các mẫu cũng đều được thử ảnh hưởng của môi trường biển và bức xạ mặt trời đến cơ tính và độ hấp thụ sóng rada trên dải tần X và S. Thử ảnh hưởng của môi trường trên thiết bị Wsf/MP450 do Anh chế tạo và thử ảnh hưởng của bức xạ mặt trời trên thiết bị Sunbox nhãn hiệu CO.FO.ME.GRA.18.20125 Milano, Italia tại Trung tâm Công nghệ vật liệu Polymer Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh. Các mẫu của ba loại vật liệu tàng hình cũng đã được nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian phơi mẫu trong điều kiện nắng, mưa, sương ẩm... liên tục 5 năm từ năm 2000 đến 2005 và được kiểm tra độ hấp thụ sóng rada sau 5 năm phơi mẫu.


Đề tài đã triển khai thử nghiệm tại hiện trường. Đo khoảng cách cực đại phát hiện mục tiêu và độ hấp thụ sóng rada của các mẫu vật liệu tàng hình bằng rada Quân sự Furuno (dải X- 10GHz) trên tàu Hải quân HQ 626 và rada 402 (dải S- 3GHz), rada Furuno (dải X- 10GHz) của Trạm rada 585 đặt trên núi cao ở Vũng Tàu. Cuộc thử nghiệm đã sử dụng 5 mẫu thử, các mẫu có kích thước và cấu trúc giống nhau, bằng vật liệu kim loại giống nhau. Mẫu đối chứng không phủ vật liệu tàng hình. Ba mẫu được phủ vật liệu tàng hình dạng lớp phủ trên kim loại với độ dày 2mm, 3mm, 5mm. Một mẫu được dán vật liệu tàng hình dạng vải dày 4mm. Kết quả nhận được trên các rada cho thấy các mẫu có suy hao khoảng 12,5DB đến 14,5DB, tương ứng với độ hấp thụ 94% đến 96%. Kết quả đo cho thấy suy hao đồng thời trên hai dải X-S không chênh lệch nhau nhiều đối với cùng một mẫu. Như vậy, có thể thấy rằng các mẫu vật liệu tàng hình do đề tài chế tạo là vật liệu hấp thụ sóng rada dải rộng.


     


Mẫu thử trên hiện trường


                          Thả mẫu thử xuống biển


Các mẫu thử được đặt theo các khoảng cách được xác định trước.


                                       Rada 403


Đề tài đã được Hội đồng Khoa học TP. Hồ Chí Minh nghiệm thu đánh giá xuất sắc, được Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh tặng Bằng khen và Hội Liên hiệp Khoa học kỹ thuật Việt Nam tặng Giải thưởng Vifotec trong Hội thi Sáng tạo Khoa học công nghệ Việt Nam - 2008.


Theo tôi, sản phẩm của đề tài đáng được Bộ Quốc phòng tổ chức đánh giá để nghiên cứu sử dụng khi chế tạo các tàu nổi tàng hình, không phải mua vật liệu tàng hình của nước ngoài bằng ngoại tệ, tiết kiệm ngoại tệ cho ngân sách Quốc phòng.


Ảnh: Lễ Tổng kết Hội thi sáng tạo KT (ThS Trần Văn Hả, TS Hoàng Đình Chiến, TS Nguyễn Văn Dán TS Huỳnh Quang, ThS Bùi Nam Từ)


Lễ trao tặng Giải thưởng Vifotec trong Hội thi


Sáng tạo Khoa học công nghệ Việt Nam - 2008.


Ngày 2 tháng 9 năm 2015, tôi nhận Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng tại Hội trường Thành ủy TP Hồ Chí Minh.


Ảnh vợ chồng tôi chụp sau lễ trao Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng


Ảnh vợ chồng tôi cùng cháu Phạm Huỳnh Trinh.


                            


LỜI KẾT


 


Những trang truyện ký này tôi viết với ước nguyện trước hết để tỏ lòng biết ơn Đảng và Quân đội đã rèn luyện, bồi dưỡng tôi trưởng thành. Mà Đảng cũng chính là những Đảng viên đã đưa tôi vào Đảng, những Đảng viên đã cùng tôi sinh hoạt trong các Đảng bộ trong suốt hơn 60 năm tuổi Đảng của tôi. Và Quân đội cũng chính là những đồng đội của tôi, cả cấp trên và cấp dưới mà tôi đã cùng họ hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và công tác ở các đơn vị mà tôi đã đi qua trong hơn nửa thế kỷ cuộc đời bộ đội của mình. Những đồng đội đã chiến đấu quên mình trong ba cuộc chiến tranh của Nhân dân và Quân đội ta chống quân xâm lược vì sự nghiệp thống nhất đất nước và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam.


Thứ đến, tôi mong rằng những trang sách sẽ đem lại cho con cháu tôi các thế hệ mai sau; các thế hệ thanh niên và các chiến sĩ trẻ trong Quân đội nhân dân cơ hội hiểu được sự thật một góc nhỏ về đời sống, chiến đấu, lao động và xây dựng đất nước của ông cha trong các giai đoạn lịch sử; mà ở đó, sự hưởng thụ của nhân dân và chiến sĩ Quân đội thì hầu như không có, nhưng sự hy sinh thì vô bờ bến!


 (Hết)


Nguồn: Người con của mẹ Năm Bê. Truyện ký của Huỳnh Quang. NXB Hội Nhà văn, 2019.


www.trieuxuan.info


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Đừng xúi trẻ con ăn cứt gà". Từ chuyện đời ở Myanmar, nghĩ về giáo dục lớp trẻ ở Việt Nam - Triệu Xuân 21.11.2019
Đốt lò hương cũ (kỳ cuối): Chới sách/ Hồi ức về Lê Văn Trương/ Tam Lang Vũ Đình Chí/ Nhà thơ Nguyễn Bính - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (12): Vũ Đình Long - Chủ nhà in, NXB Tân Dân/ NHớ về Lan Khai - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (11): Chiêu niệm Vũ Trọng Phụng - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (10): Hoa gạo ven sông/ Lỗi tình - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ 9: Trong phòng triển lãm/ Những đêm sương/ Một đêm trăng đỏ/ Hà Thành hoa lệ/ Chết - Ngọc Giao 19.11.2019
Đi chợ côn trùng Tây Bắc - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 08.11.2019
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
xem thêm »