tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29387277
01.09.2019
Huỳnh Quang
Người con của mẹ Năm Bê (12)


Trước tình hình Liên Xô tan rã, hơn chín mươi phần trăm cán bộ khoa học Liên Xô đã rút về nước, Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô thực tế không còn hoạt động được vì không có kinh phí cho khoa học. Theo Phụ lục 1 của Hiệp định: mọi chi phí cho nghiên cứu khoa học do phía Liên Xô đảm bảo. Nga nhận trách nhiệm kế thừa Hiệp định, nhưng trước mắt Nga chưa có khả năng chi trả tài chính!


Khi nghe Tổng Giám đốc phía Việt Nam Trần Xuân Thu báo cáo tình hình thực tại của Trung tâm, Bộ trưởng Lê Đức Anh chỉ đạo: Hãy cố gắng duy trì Trung tâm vì ta còn nhiều mặt cần phải học tập bạn, nhất là về khoa học kỹ thuật, bạn quan hệ với ta không kèm theo tham vọng lãnh thổ. Những đề tài quan trọng đối với Quốc phòng thì xin kinh phí của Quốc phòng để tiếp tục. Những đề tài khác có cán bộ Việt Nam tham gia thì cứ tiếp tục theo khả năng có thể bằng những nguồn tài chính khác. Trung tâm nên chuyển cơ sở chính ra Hà Nội để gần cơ quan Bộ Quốc phòng để dễ chỉ đạo.


Ngày 24 tháng 9 năm 1991, Bộ Quốc phòng có quyết định chuyển cơ sở chính của Trung tâm ra Hà Nội để Bộ trưởng tiện chỉ đạo trực tiếp. Và sau đó một thời gian thì có quyết định giải thể Chi nhánh phía Bắc ở Hà Nội, thành lập Chi nhánh phía Nam ở thành phố Hồ Chí Minh.


Cơ sở chính chuyển ra Hà Nội, tôi- với cương vị Phó Tổng Giám đốc nên phải chuyển theo. Nơi làm việc cho cơ sở chính chưa có nên Bộ Quốc phòng đã dành một tòa nhà của Đoàn 871 ở Gia Lâm để Trung tâm bố trí nơi làm việc tạm. Mặt bằng rất thiếu thốn, tôi phải vừa làm việc và tối ngủ ngay tại phòng làm việc suốt hơn một năm rưỡi cho đến khi được điều về Chi nhánh phía Nam ở thành phố Hồ Chí Minh.


Sau khi có quyết định thành lập Chi nhánh phía Nam của Bộ Quốc phòng, anh Trần Xuân Thu trao đổi với tôi về việc chọn nhân sự Giám đốc Chi nhánh phía Nam. Phía Liên Xô đang tan rã, không còn khả năng tài chính để duy trì hoạt động của Trung tâm. Cơ sở chính tuy đã chuyển ra Hà Nội nhưng chưa có cơ sở ổn định, nghĩa là chưa an cư. Toàn bộ trang thiết bị thí nghiệm, toàn bộ các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học vẫn để lại ở phía Nam và vẫn phải bằng kinh phí của phía Việt Nam, cán bộ Việt Nam tiếp tục triển khai theo chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Anh Thu nói tiêu chí chọn Giám đốc Chi nhánh phía Nam phải là người có kinh nghiệm quản lý, là cán bộ khoa học có học vị sau Đại học và biết tiếng Nga, anh thấy tôi về Chi nhánh là phù hợp nhất, hơn nữa gia đình tôi đang ở thành phố Hồ Chí Minh nên càng hợp lý. Anh nói thêm tôi về Chi nhánh là theo nhu cầu nhiệm vụ chứ không phải là trường hợp giáng chức vì phụ cấp chức vụ của Phó Tổng Giám đốc và Giám đốc Chi nhánh như nhau. Tôi có cảm giác như là anh Thu lo tôi không muốn nhận nhiệm vụ Giám đốc Chi nhánh phía Nam, vì trước đó Đảng ủy đã có dự kiến chuyển tôi sang nhiệm vụ Phó Tổng giám đốc khoa học. Nhưng thực tình tôi không muốn làm việc ở Hà Nội vì gia đình đang ở thành phố Hồ Chí Minh và các con chưa trưởng thành, cho nên tôi đồng ý ngay và cảm ơn anh Thu.


Ngày 26 tháng 7 năm 1993, tôi nhận quyết định của Bộ Quốc phòng giao giữ chức Giám đốc Chi nhánh phía Nam, Đại tá Trịnh Ngọc Xiển Phó Tổng Giám đốc về Chính trị của Trung tâm giữ chức Phó Giám đốc và Giáo sư Tiến sĩ khoa học Phạm Hữu Hoan quyền Giám đốc Chi nhánh phía Nam giữ chức Phó Giám đốc khoa học Chi nhánh phía Nam. Giám đốc phía Nga thời kỳ này là Lazarev A.P, trước đó anh cũng là Phó Tổng Giám đốc phía Liên Xô của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô, khi cơ sở chính của Trung tâm chưa chuyển ra Hà Nội.


Đồng Giám đốc phía Nga của Chi nhánh phía Nam mà tôi cùng làm việc lâu nhất là Sunxop V.V. Anh vừa làm quản lý vừa làm khoa học, anh đã theo đề tài nghiên cứu về dịch hạch ở Việt Nam trong nhiều năm, đề tài đã được Hội đồng Khoa học cấp nhà nước Việt Nam nghiệm thu đánh giá xuất sắc, giúp ngành y tế Việt Nam nhận thức lại nguồn gốc phát sinh dịch hạch ở Việt Nam. Anh đã có hai quyển sách viết về dịch hạch ở Việt Nam, xuất bản ở Nga, trong đó một quyển đã được dịch sang tiếng Việt và xuất bản ở Việt Nam. Tuy nhiên, để có được thành quả tốt đẹp của đề tài nghiên cứu dịch hạch ở Việt Nam trong thời gian hơn mười năm, phía Nga đã phải trả giá đắt bằng sinh mạng Giám đốc phía Nga của Chi nhánh Ven biển và một cán bộ khoa học tài năng vì tai nạn giao thông.


Ngày 25 tháng 6 năm 1998, tôi đang ngồi ở phòng làm việc thì có điện thoại. Người gọi cho tôi là anh Vinh- Trưởng phòng của Viện Vệ sinh dịch tễ Tây nguyên. Chúng tôi có cuộc điện thoại rất khẩn trương và buồn: 


- Alo! Anh Quang phải không?


- Vâng, có chuyện gì anh Vinh?  


- Anh ơi! Kasian chết mất rồi, đang còn nằm ở lề đường đây. 


- Sao vậy? Còn số khác?-  Tôi hỏi dồn.


- Xe bị tai nạn, Kasian chết ngay tại chỗ, bị ở đầu. Anh lái xe người Nga của Chi nhánh Nha Trang bị rất nặng, đang hôn mê. Kuznhexov trong nhóm dịch hạch thì bị thương nặng, có lẽ gãy nhiều xương sườn, Matroxov bị thương nhẹ. Cả ba người đều được đưa đi bệnh viện tỉnh. Tiếp theo đây phải làm thế nào anh? Các anh lãnh đạo Viện đi họp ngoài Hà Nội cả, chỉ có mình em ở nhà. Anh giúp em với!         


- Trời!- Tôi kêu lên và lặng đi một lúc, sau đó hiểu rằng việc rất khẩn trương, không thể để anh Vinh đợi lâu trên điện thoại.


- Anh cho xe đưa thi hài Kasian về bệnh viện Chợ Rẫy ngay trong đêm nay. Viện nên cử người đi theo. Tôi sẽ giao cho anh Phong đi làm việc với Chợ Rẫy ngay bây giờ. Số bị thương sau khi bệnh viện Đắc Lắc xử lý xong cũng đề nghị chuyển về thành phố Hồ Chí Minh luôn. Tôi sẽ báo cáo ngay với Tổng Giám đốc Trung tâm xin ý kiến và sẽ vào ngay Văn phòng Bộ ở phía Nam xin máy bay trực thăng. Nếu không xin được trực thăng thì anh đề nghị bệnh viện Đắc Lắc chuyển về thành phố Hồ Chí Minh theo hệ thống y tế.


- Vâng, tôi sẽ làm như vậy. Thương bạn quá anh ơi! Nghe nói vợ và con gái Kasian vừa mới sang thăm, còn ở Nha Trang.


Hai chúng tôi cùng lặng đi một lúc bởi có cái gì đó đang đè nặng trong lòng, mấy phút sau mới chào tạm biệt nhau trên máy điện thoại.


Tôi lập tức báo cáo ngay sự kiện với Tổng Giám đốc, anh Trần Xuân Thu đồng ý với các phương án trên và nói thêm:


- Anh cứ đi liên hệ ngay với Văn phòng Bộ phía Nam xin máy bay trực thăng. Nếu được thì cho người theo máy bay lên Đắc Lắc cùng Viện Vệ sinh dịch tễ giải quyết chuyển ngay thương binh về Viện Quân y 175. Ở ngoài này tôi cũng sẽ cho cán bộ lên Bộ Tổng tham mưu trực tiếp xin lệnh điều máy bay trực thăng từ Sài Gòn lên Đắc Lắc chở thương binh. Đồng thời sẽ lên Cục Quân y đề nghị Cục chỉ đạo cho Viện 175 tiếp nhận số cán bộ bị thương để điều trị.


Sau cuộc nói chuyện với anh Thu, tôi giao nhiệm vụ ngay cho anh Phong đi làm việc với lãnh đạo bệnh viện Chợ Rẫy, rồi tôi đi ngay vào Văn phòng Bộ ở phía Nam tìm gặp anh Dương, Đại tá, cán bộ Cục Tác chiến. Anh Dương trả lời là máy bay sẵn sàng đi ngay, nhưng cần phải có lệnh của Cục Tác chiến. Cũng ngay trong chiều hôm ấy, tôi nhận được thông báo qua điện thoại của anh Thu là đã xin được lệnh điều máy bay trực thăng và yêu cầu chúng tôi vào gặp anh Dương thật khẩn trương.


Sau khi làm việc xong với anh Dương, chúng tôi đến đơn vị bay trực thăng. Ở đó, cán bộ chỉ huy đơn vị khuyên nên để sáng hôm sau bay sớm, không nên bay ngay trong đêm vì địa hình chưa quen thuộc lắm, có thể mất an toàn, nhất là máy bay chở bạn Liên Xô. Tôi nghĩ đơn vị bay đã khuyên vậy, mình không nên vội nhỡ xảy ra chuyện gì nữa càng thêm tổn thất. Ngay tối hôm ấy, anh Xiển- Phó Giám đốc và anh Khanh- bác sĩ Phòng Y sinh được Chi nhánh cử đi theo máy bay lên Đắc Lắc. Chỉ ít phút sau hai đồng chí ấy đã sẵn sàng, nhưng rồi phải hoãn đến sáng hôm sau. Mọi việc sau đó diễn ra như kế hoạch. Sáng hôm sau, thi hài Kasian đã về đến bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện tiếp nhận chu đáo. Ngay sau đó, tôi đã cử Phó Giám đốc Vũ Văn Tiễu đến bệnh viện Chợ Rẫy đề nghị chuẩn bị quan tài kẽm để đưa thi hài các bạn Nga từ trần về Liên Xô theo đường hàng không. Ở thành phố Hồ Chí Minh chỉ có bệnh viện Chợ Rẫy được Bộ Y tế giao nhiệm vụ chuẩn bị quan tài kẽm đưa thi hài ra nước ngoài. Và cũng trong buổi sáng hôm sau, ba thương binh Nga được máy bay trực thăng đưa về Tân Sơn Nhất với ba bác sĩ của bệnh viện Đắc Lắc và anh Xiển, anh Khanh của Chi nhánh phía Nam đi theo. Máy bay vừa tiếp đất, xe cứu thương của Viện Quân y 175 tiến ngay đến gần máy bay, thương binh được nhanh chóng đưa về Quân y viện.


Lễ truy điệu Kasian Andrei Feodoxievic đã được tổ chức trọng thể tại Hội trường Chi nhánh phía Nam ngày 28 tháng 6 năm 1998. Dự lễ truy điệu có chị Kasiana, vợ của Tiến sĩ Kasian. Có Tổng lãnh sự quán Nga tại thành phố Hồ Chí Minh. Có Đại diện Viện Vệ sinh dịch tễ Tây nguyên. Có Giám đốc phía Việt Nam của Chi nhánh Ven biển. Có Đồng Tổng Giám đốc Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga và đông đủ cán bộ, nhân viên của Chi nhánh phía Nam. Sáng ngày hôm sau, 29 tháng 6 năm 1998, chúng tôi tiễn chị Irina Alecxandrovna Kaxiana và cháu Janheta Andreievna Kaxiana về nước cùng thi hài Andrei Kaxian.


Vì vết thương quá nặng, Borovicskii Artem Boricxovich, Giám đốc phía Nga của Chi nhánh Ven biển hôn mê sâu, mặc dù Viện quân y đã làm hết sức mình nhưng không cứu được anh. Anh đã từ trần tại Quân y viện 175 ngày 29 tháng 6 năm 1998. Lễ truy điệu Borovicskii Artem Boricxovich cũng được tổ chức trọng thể tại Chi nhánh phía Nam ngày 1 tháng 7 năm 1998 với thành phần dự lễ như buổi lễ truy điệu Kaxian. Trong lễ truy điệu này, có một người con gái Việt Nam quê Nha Trang, chị là người yêu của Boorrozitski, hai người dự định sẽ tổ chức lễ cưới trong vài tháng tới, sau khi anh về Liên Xô viếng mẹ vừa mất rồi trở sang Việt Nam. Chị  túc trực nhiều ngày bên ngoài phòng cách ly Borozitski đang hôn mê, đứng cạnh thi hài anh khi làm lễ khâm liệm anh ở bệnh viện Chợ Rẫy. Chị đã thể hiện đúng nghĩa cử truyền thống của người Việt Nam đối với người quá cố. Thật đau lòng cho một mối tình dở dang mà chung thủy.


Vụ tai nạn với tổn thất nặng nề về người và dấu hiệu vi phạm “Qui chế làm việc của Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga” và Qui định của Bộ Quốc phòng về sử dụng xe ở Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga. Vụ tai nạn đã vô tình tự bộc lộ một góc tối trong hoạt động của phía Nga ở Trung tâm  Nhiệt đới Việt Nga. Lãnh đạo phía Nga đã có những hoạt động không có sự đồng thuận của lãnh đạo phía Việt Nam, điều mà Thứ trưởng Trần Sâm đã lo lắng khi soạn thảo “Qui chế làm việc” và chế độ lãnh đạo Đồng Giám đốc. Theo tôi, sau vụ tai nạn, đáng lẽ Ban Đồng Tổng Giám đốc cần phải tổ chức họp rút kinh nghiệm chu đáo, nhưng cuộc họp ấy đã không xảy ra! Có lẽ lãnh đạo phía Nga và phía Việt Nam đều sợ phải chịu trách nhiệm về vụ tai nạn, nên đã cho chìm luôn. Thật đáng tiếc và đáng chê trách về tinh thần dám chịu trách nhiệm của những người có trách nhiệm.


Tôi nhận nhiệm vụ Giám đốc Chi nhánh phía Nam trong hoàn cảnh đầy rẫy khó khăn. Liên Xô vừa sụp đổ, Nga kế thừa Hiệp định mà Liên Xô đã ký với Việt Nam, nhưng kinh tế khó khăn, cán bộ khoa học đã rút về nước tất cả chỉ còn cán bộ quản lý. Các chương trình nghiên cứu khoa học song phương mà hai bên cùng hợp tác thực hiện đều phải tạm dừng vì phía Nga không có kinh phí đảm bảo như Hiệp định đã qui định. Nhưng theo ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Lê Đức Anh, phía Việt Nam phải cố gắng duy trì hoạt động khoa học bằng khả năng của mình, tìm nguồn kinh phí của Bộ Quốc phòng để thực hiện các đề tài phục vụ Quốc phòng và các nguồn kinh phí ngoài luồng Trung tâm để duy trì hoạt động khoa học, với lực lượng cán bộ Việt Nam hiện có của phía Việt Nam. Ban Giám đốc Chi nhánh phía Nam trên thực tế chỉ có hai người, tôi và anh Trịnh Ngọc Xiển. Tôi lo nhiệm vụ của Giám đốc và Phó Giám đốc khoa học, các mặt công tác khác anh Xiển lo hết. Không có phó Giám đốc chính trị, Phó Giám đốc khoa học Phạm Hữu Hoan chỉ làm việc một thời gian ngắn thì mắc bệnh hiểm nghèo phải nghỉ thời gian dài để điều trị và mất khi còn đương chức. Phó Giám đốc khoa học Nguyễn Bá Chất sau khi được bổ nhiệm một thời gian ngắn cũng bị đột quị do tai biến não phải nghỉ dài hạn để điều trị và cũng từ trần khi còn đương chức. Khi hai anh bị bệnh hiểm nghèo, tôi đã nhiều lần đề nghị Trung tâm bổ nhiệm người khác làm việc, nhưng ý kiến của tôi đã không được lắng nghe!


*


Trong những năm khó khăn ấy, ở Trung tâm đã ra đời nhiều công ty hoạt động kinh tế để tìm nguồn tài chính phục vụ khoa học. Chi nhánh phía Nam đã không đi theo hướng ấy, mà đi theo hướng khác là tìm nguồn tài chính từ các hợp đồng nghiên cứu khoa học phục vụ Quốc phòng hoặc kinh tế dân sinh.


Tôi về đơn vị cũ Z119 vừa để thăm anh em, vừa để tìm hiểu nhu cầu của Phòng không về bộ phận thay thế cho rada Quân sự thì được biết Quân chủng cần có các loại anten rada để thay thế những bộ anten đã hư hỏng. Mừng quá khi có được thông tin này. Thông qua anh Đặng Hữu Hải cán bộ Phòng Rada, Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không- Không quân, tôi gặp anh Nguyễn Văn Hồng Cục trưởng để tìm hiểu nhu cầu. Anh Hồng cho biết cần rất nhiều bộ anten rada P12, P18, P15, P19. Các loại anten này do Liên Xô sản xuất đưa ra vùng biển đảo chỉ vài ba năm đã hư hỏng không sửa chữa được, do quá trình ăn mòn của muối biển. Nhất là anten rada P18. Nếu mua của Nga mỗi bộ ta phải trả 30.000 USD. Anh Hồng muốn ta tự nghiên cứu thiết kế chế tạo các bộ chấn tử rada P18.


Chi nhánh phía Nam và Cục Kỹ thuật Phòng không- Không quân đã ký Hợp đồng nghiên cứu thiết kế chế thử một bộ 16 chấn tử cho một rada P18 với ba điều kiện:


1. Mỗi bên đảm bảo 50% kinh phí theo dự toán, có báo cáo chi tiết bản dự toán kèm theo Hợp đồng với giá trị sáu mươi triệu đồng, tương đương 6000 USD. 


2. Hội đồng Khoa học kỹ thuật của Quân chủng Phòng Không- Không quân chịu trách nhiệm nghiệm thu đánh giá chất lượng sản phẩm.


3. Cục Kỹ thuật chịu trách nhiệm triển khai sử dụng thử sản phẩm tại một trạm rada P18 vùng biển đảo và đánh giá cuối cùng chất lượng sản phẩm.


Phần kinh phí 50% mà Chi nhánh phía Nam phải đảm bảo theo Hợp đồng, Chi nhánh đâu có khoản kinh phí nào để tạm ứng, tôi phải mượn của vợ tôi trong khoản tiền dành dụm từ tiền cho thuê một phần diện tích nhà để chuẩn bị xây tiếp phần nhà còn xây chưa xong.


Để có thể chế tạo bất kỳ một sản phẩm nào, đều cần phải có tài liệu thiết kế. Tất cả các trang bị kỹ thuật do Liên Xô cung cấp, khi đưa vào Việt Nam chỉ kèm theo tài liệu hướng dẫn sử dụng, không bao giờ có tài liệu thiết kế và công nghệ.  Tôi phải trở về đơn vị cũ Z119 mượn một bộ chấn tử chính thức do Liên Xô sản xuất. Anh Đỗ Quang Thạch khi ấy là Giám đốc Z119, trước kia khi tôi công tác ở Z119, anh Thạch là cán bộ của Phòng Nghiên cứu- thiết kế mà tôi là trưởng phòng, nên anh rất nhiệt tình giúp đỡ. Tôi mang bộ chấn tử cồng kềnh đi máy bay Quân sự về thành phố Hồ Chí Minh. Qua mổ xẻ cấu trúc và tiến hành nhiều phép đo để giải bài toán ngược từ sản phẩm tìm phương trình anten. Từ phương trình anten, tính toán ra kích thước chính xác của các chi tiết chấn tử, đưa vào bản vẽ thiết kế, để chế tạo. 


Chấn tử anten do Liên Xô sản xuất làm từ vật liệu sắt nên nhanh chóng bị oxy hóa, quá trình oxy hóa làm thay đổi kích thước các thanh dẫn của chấn tử, từ đó làm thay đổi thông số kỹ thuật của chấn tử, không còn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của rada.


Nghiên cứu tài liệu công bố của Viện Khoa học Việt Nam qua kết quả phơi mẫu vật liệu kim loại đặt ở vùng biển đảo, về tốc độ ăn mòn và độ dẫn điện bề mặt của các loại kim loại. Tôi nhận thấy tốc độ ăn mòn của nhôm chỉ bằng 2% tốc độ ăn mòn của sắt. Độ dẫn điện bề mặt của nhôm tốt hơn của sắt rất nhiều. Tôi quyết định sử dụng vật liệu nhôm hợp kim được anot hóa để chế tạo các bộ chấn tử.


Tham gia thực hiện Hợp đồng với tôi có anh Trịnh Đồng, Trưởng ban Kế hoạch và Quản lý khoa học của Chi nhánh phía Nam, anh Nguyễn Văn Đoàn cán bộ Phòng Độ bền của Chi nhánh phía Nam. Việc chế tạo các bộ chấn tử đã được triển khai tại nhà máy Z751. Sau khi nghiệm thu, các bộ chấn tử đã được lắp lên đài P18 đặt trên đảo Phú Quốc làm nhiệm vụ trực chiến.  


 


Anten rada P18


 


Cục trưởng Nguyễn Văn Hồng và cán bộ Phòng Rada Cục Kỹ thuật PK-KQ Đặng Hữu Hải kiểm tra thông số kỹ thuật của rada P18 với anten mới chế tạo sử dụng tại trận địa rada đang trực chiến trên đảo Phú Quốc    


Phó Phòng Rada Cục kỹ thuật PK-KQ Nhâm Ngọc Lăng, đại diện Tổng cục Kỹ thuật- Trung tá Lê Xuân Chiêm, Giám đốc CNPN Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga kiểm tra thông số kỹ thuật của rada P18 sau 5 năm sử dụng trên đảo với bộ anten mới chế tạo.                               


Trong bộ anten chế thử đầu tiên, chúng tôi xử lý điểm nối giữa đường truyền với chấn tử theo phương pháp tiếp xúc mặt và cách ly không khí. Phương pháp này chưa phải tối ưu, tuy điểm nối đã được cách ly không khí, nhưng không thể ngăn cản hoàn toàn quá trình oxy hóa, theo thời gian điện trở tiếp xúc sẽ tăng dần, gây tổn hao đường truyền dẫn đến giảm độ nhạy máy thu. Chuyển sang chế tạo chấn tử với số lượng lớn, để nâng cao chất lượng và kéo dài tuổi thọ của chấn tử, chúng tôi phải nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới để xử lý điểm nối giữa đường truyền với chấn tử đạt yêu cầu tiếp xúc phân tử.


Không thể xử lý điểm nối giữa đường truyền với chấn tử để đạt yêu cầu tiếp xúc phân tử bằng công nghệ hàn nóng vì nhiệt độ nóng chảy của đồng và nhôm cách xa nhau đến 200 độ C. Lõi đồng trục của đường truyền bằng đồng mà chấn tử làm bằng nhôm. Phải ứng dụng công nghệ hàn nguội mới có thể đảm bảo yêu cầu tiếp xúc phân tử nhưng công nghệ hàn nguội chưa thấy ứng dụng ở Việt Nam.  


Tôi phải ra Hà Nội tìm đến nhà anh Nguyễn Tăng Long, một kỹ sư đầu ngành về kỹ thuật và công nghệ hàn của ngành Quân giới Việt Nam. Anh Long nói đã nhìn thấy công nghệ hàn nguội ở Viện Kỹ thuật hàn Kiev trong thời gian thực tập ở đấy, nhưng anh chưa trực tiếp thực hiện công nghệ hàn nguội bao giờ. Anh Long giới thiệu với tôi một quyển sách về kỹ thuật và công nghệ hàn của thầy anh Long viết, đã xuất bản ở Liên Xô. Tôi đã tìm được quyển sách ấy ở Thư viện Khoa học kỹ thuật Trung ương. Nhờ quyển sách, đã dạy cho tôi làm chủ được công nghệ hàn nguội, tuy chúng tôi đã phải mất rất nhiều thời gian, công sức, tài chính nhưng cuối cùng chúng tôi đã đạt được kết quả mong muốn, điện trở tiếp xúc tại điểm nối giữa đường truyền với chấn tử anten nhỏ hơn 4 ôm và không thay đổi theo thời gian dưới tác động của môi trường nhiệt đới.


Hội đồng Khoa học Bộ Quốc Phòng nghiệm thu đề tài anten rada P18


 


Việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ hàn nguội đã được tiến hành với sự hỗ trợ rất tận tình về thiết bị gia công cơ khí của xưởng cơ khí của anh Trần Văn Minh, Giám đốc Công ty Phú Minh, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.


Hợp đồng chế tạo hàng trăm bộ chấn tử anten P18 đã được ký giữa Quân chủng Phòng không-Không quân và Chi nhánh phía Nam, Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga với kinh phí 100% do Quân chủng đảm bảo. Hàng trăm bộ chấn tử anten rada P18 đã được chế tạo với công nghệ hàn nguội đạt chất lượng cao.


 


Tổng Giám đốc Trần Xuân Thu xem các bộ anten P18 đã được chế tạo loạt 0, theo Hợp đồng với Quân chủng PK-KQ


 


Các bộ anten P18 chế tạo loạt 0 chuẩn bị đưa ra ga đường sắt để chuyển về Tổng kho của Quân chủng PK-KQ


Việc chế tạo số lượng lớn chấn tử anten P18 đã được thực hiện ở Trạm chữa của Sư đoàn 367, với sự tham gia của anh Trịnh Đồng, Trưởng Ban Kế hoạch và Quản lý khoa học, Chi nhánh phía Nam, anh Đặng Quang Ngọc, Trạm trưởng Trạm Sửa chữa và anh Nguyễn Huy Trường, Trưởng Ban kỹ thuật Sư đoàn 367.                          


Bộ Quốc phòng đánh giá cao kết quả nghiên cứu chế tạo anten rada P18. Bộ đã quyết định đưa vào danh mục trang bị Quân sự của Phòng không thay cho việc phải nhập của Liên Xô. Bộ Quốc phòng đã tặng Bằng khen cho tôi về đề tài này.                                   


Sau thành công trong việc nghiên cứu chế tạo anten P18, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của rada và có tuổi thọ gấp ba lần tuổi thọ của anten P18 do Liên Xô sản xuất, sử dụng ở vùng biển đảo. Tiến sĩ Lê Mạnh Trụ, Viện trưởng Viện Kỹ thuật Phòng không, Chủ nhiệm Dự án nâng cấp đài rada P15 đã đề nghị tôi nghiên cứu thiết kế chế tạo cho dự án một bộ anten P15 bằng vật liệu chống oxy hóa tốt, nhất là mặt lưới phản xạ.


                         


Anten rada P15


Hợp đồng nghiên cứu chế tạo anten rada P15 với Viện Kỹ thuật Phòng không, cũng bao gồm ba điểm như hợp đồng nghiên cứu chế tạo anten P18, chỉ khác nhau ở điểm 1, tài chính do Viện đảm bảo 100% theo dự toán giá thành kèm theo Hợp đồng.                       


Tham gia thực hiện Hợp đồng với tôi có Kỹ sư Trịnh Đồng, Trưởng ban Kế hoạch và Quản lý khoa học Chi nhánh phía Nam, Kỹ sư Nguyễn Huy Trường, Trưởng ban Kỹ thuật của Sư đoàn 367 và Trạm trưởng Trạm sửa chữa Sư đoàn 367 Đặng Quang Ngọc.


Chúng tôi không có anten mẫu để thực hiện các phép đo, phải mượn bộ anten P15 trưng bày truyền thống của Sư đoàn 367 để tiến hành các phép đo, từ số liệu đo đạc, giải bài toán ngược để tìm ra phương trình mặt cong bậc hai của mặt phản xạ anten. Có phương trình mặt cong bậc hai của anten thì mới có thể chế tạo được mặt phản xạ anten một cách chính xác, giản đồ hướng của anten mới đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật của rada. Chúng tôi quyết định dùng vật liệu inox để chế tạo anten P15.


Việc chế tạo anten đã được triển khai tại Trạm sửa chữa của Sư đoàn 367. Để đảm bảo chất lượng của mặt phản xạ anten, trạm đã chế tạo bộ hẹn giờ tự động cho máy hàn bấm, có thể điều chỉnh thời gian dòng điện hàn đi qua điểm hàn từ 0,5 giây đến 2 phút để thử nghiệm tìm thời gian tối ưu, đảm bảo chất lượng điểm hàn của lưới mặt phản xạ anten được làm từ sợi inox.           


 Thành công trong chế thử anten P15 cho Viện Kỹ thuật Phòng không đã giúp Chi nhánh phía Nam có thêm hợp đồng chế tạo nhiều bộ anten rada P15, P19 cho Quân chủng Phòng không-Không quân và anten rada bờ 402, 403 cho Hải quân.


Trưởng Phòng Rada Phạm Huy Quảng, Giám đốc CNPN Huỳnh Quang, Tiến sĩ  Lê Mạnh Trụ- Viện trưởng và kỹ sư của Viện kỹ thuật PK-KQ  sau nghiệm thu bộ anten P15 đầu tiên.


Sau nghiệm thu kỹ thuật anten P15 chế tạo loạt 0


tại trận địa Rada.     


Nhiều bộ anten P15 chế tạo loạt 0, chuẩn bị chuyển ra ga   đường sắt đưa về Tổng kho của Phòng không- Không quân.


 


Rada P19


Trịnh Đồng và Đặng Quang Ngọc chuẩn bị chuyểnanten P19


chế tạo loạt 0 ra ga đường sắt đưa về Tổng kho PK-KQ


 Khảo sát anten rada 403 Hải quân: Trạm trưởng trạm rada Hải quân, Trung tá Đặng Hữu Hải, Đại tá Tiến sĩ Giám đốc CNPN, Đại tá Nhâm Ngọc Lăng, Phó phòng Rada, Cục Kỹ thuật PK-KQ.


Lắp anten mới chế tạo lên rada 403 quan sát mặt biển.


      


 Kiểm tra thông số kỹ thuật của rada 403 với anten mới chế tạo.     


      Sau nghiệm thu kỹ thuật tại Trạm rada 403 đang trực chiến.


      Nguyễn Huy Trường, Trưởng ban KT Sư đoàn 367; Lê Xuân Chiêm, cán bộ TCKT, Nhâm Ngọc Lăng, Phó phòng Rada Quân chủng PK-KQ; trắc thủ rada 403; Huỳnh Quang; Đặng Hữu Hải cán bộ Phòng Rada Cục KT PK-KQ; Trưởng trạm Rada Hải quân


      Viết về những gì chúng tôi đã làm được với Phòng không- Không quân trong thời kỳ hậu Liên Xô sụp đổ, Chi nhánh phía Nam không có nguồn tài chính để làm khoa học, tôi không thể không nhắc đến Cục trưởng, Đại tá Nguyễn Văn Hồng, Trung tá Đặng Hữu Hải, cán bộ Phòng Rada, Cục Kỹ thuật Phòng không-Không quân. Anh Hải đã tận tình giúp đỡ, tạo dựng những hợp đồng nghiên cứu thiết kế chế tạo anten rada, anh đã có mặt với chúng tôi trong tất cả những lần nghiệm thu và thử nghiệm sản phẩm của đề tài, bất kể việc nghiệm thu và thử nghiệm diễn ra tại trạm rada trên đảo hay ở bất kỳ trận địa rada nào trên đất liền.


Chủ trương ta phải tự nghiên cứu thiết kế chế tạo anten rada Quân sự để thay thế sản phẩm phải mua của Nga và Trung Quốc là một chủ trương rất đúng đắn của Cục trưởng Cục Kỹ thuật Phòng không - Không quân, Đại tá Nguyễn Văn Hồng. Chủ trương này đã được hiện thực hóa ở Chi nhánh phía Nam, Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga, đã tiết kiệm cho Quân đội hàng triệu USD, không phải mua của Nga và Trung Quốc.


Cũng theo chủ trương của Chi nhánh tìm nguồn tài chính ngoài luồng Trung tâm, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dư, Phó phòng Độ bền tìm được hợp đồng nghiên cứu chế tạo hệ thống “Bảo vệ cathod, chống ăn mòn chân cầu cảng” với Bộ Giao thông Vận tải. Sau khi trao đổi với Phòng Độ bền, tôi tin tưởng hợp đồng chắc chắn sẽ được thực hiện tốt và nguồn tài chính do bên đặt hàng đảm bảo 100%. Tôi quyết định đứng ra ký hợp đồng để Phòng Độ bền triển khai thực hiện, thay vì đưa lên Trung tâm ký như qui định của Trung tâm. Hồi ấy, Trung tâm có một qui định rất kỳ quặc: những hợp đồng có giá trị lớn hơn 300 triệu, thì phải đưa lên Trung tâm ký. Về sau, trong khi Hợp đồng đang được thực hiện trôi chảy, có người từ cơ quan Trung tâm hỏi tôi tại sao hợp đồng có giá trị lớn như vậy mà Chi nhánh không đưa lên Trung tâm ký như qui định. Tôi hỏi lại người cán bộ ấy: “Căn cứ vào đâu mà các anh chọn con số 300, tại sao không phải là 200, 500 hay một tỉ? Phải chăng các anh cho rằng chữ ký của Giám đốc Chi nhánh chỉ đáng giá 300 triệu?”. Về việc qua mặt cấp trên của tôi, anh Trần Xuân Thu chưa có lúc nào hỏi tôi. Tôi chờ khi Phòng Độ bền thực hiện xong hợp đồng, sản phẩm đã được đưa vào sử dụng ở cầu cảng, tôi mới mời anh Thu vào xem tại chỗ. Anh Thu khen ngợi Phòng Độ bền và không nhắc gì đến chuyện Chi nhánh không chấp hành qui định của Trung tâm.       


Cũng theo chủ trương của Chi nhánh tìm nguồn tài chính ngoài luồng Trung tâm, Tiến sĩ Nguyễn Thị Nga, Trưởng phòng Thủy sinh đã đặt chân được vào nguồn ngân sách nghiên cứu khoa học phục vụ an ninh, quốc phòng và kinh tế dân sinh của thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 12 tháng 12 năm 1995, Phòng Thủy sinh của Chi nhánh phía Nam đã được Hội đồng Thẩm định đề tài của thành phố Hồ Chí Minh chấp thuận triển khai thực hiện đề tài “Ứng dụng phương pháp sốc nhiệt tạo tam bội cá trê vàng” bằng ngân sách nghiên cứu khoa học của thành phố. Thành công của đề tài đã tạo cho Phòng Thủy sinh của Chi nhánh phía Nam có được chỗ đứng lâu dài trong hoạt động khoa học về lĩnh vực thủy sinh bằng nguồn ngân sách của thành phố Hồ Chí Minh, với nhiều đề tài khoa học khác nhau trong những năm tiếp theo và cho đến bây giờ, trong đó có đề tài “Nghiên cứu, đánh bắt, thuần dưỡng và huấn luyện cá heo Việt Nam”.


Cuối năm 1989, trong những ngày làm việc với Tiến sĩ Mukhametov L.M, nhà khoa học hàng đầu của Liên Xô về cá heo, ông đã cho tôi biết một thông tin rất quan trọng mà trước đó có lẽ đến Bộ Tổng tham mưu ta cũng chưa biết. Đó là trong chiến tranh Việt Nam, Quân đội Mỹ đã sử dụng 6 con cá heo để cảnh giới bảo vệ vùng biển thuộc cảng Cam Ranh. Vai trò của 6 con cá heo dưới nước giống như 6 con chó đã được huấn luyện, để cảnh giới bảo vệ một căn cứ quân sự trên đất liền. Cá heo có thể phát hiện sự đột nhập của đối phương vào cảng bằng các phương tiện di chuyển ngầm dưới mặt nước. Tôi vỡ òa thấu hiểu một sự thật đáng buồn đã qua là suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ, đặc công nước của Hải quân ta chưa một lần đột kích thành công vào cảng Quân sự Cam Ranh. Tôi có một người anh đã hy sinh trong vùng biển Cam Ranh năm 1968, khi anh tiếp cận vùng biển này với khí tài kỹ thuật để làm nhiệm vụ chiến đấu. Có lẽ anh đã bị cá heo phát hiện.


Thông tin về cá heo phục vụ quốc phòng càng tăng lòng ham muốn tìm hiểu về nó của tôi. Nhưng hồi ấy những cán bộ Liên Xô làm việc với chúng ta thường rất kín đáo về những vấn đề liên quan đến quân sự. Dần dà rồi các bạn Liên Xô cũng đã cho tôi ít nhiều hiểu biết về cá heo phục vụ kinh tế dân sinh, cá heo phục vụ quốc phòng, cá heo bảo vệ cảng quân sự ở Liên Xô. Việc tổ chức nghiên cứu con cá heo ở Liên Xô do Viện Hàn lâm Khoa học chủ trì với 4 phòng thí nghiệm thuộc Viện Hàn lâm cùng nhiều câu lạc bộ cá heo (tổ chức khoa học-sản xuất) ở rải rác khắp nơi trên lãnh thổ Liên Xô. Cũng từ những hiểu biết này, tôi đã suy ra mục đích sâu xa của phía bạn về chương trình nghiên cứu cá heo Việt Nam trong kế hoạch nghiên cứu khoa học 5 năm đầu tiên của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô, là nhằm có được những con cá heo đánh bắt được trong vùng biển Việt Nam và thuần dưỡng, huấn luyện để có thể sử dụng trong việc bảo vệ cảng Cam Ranh, nơi đang được Việt Nam đồng ý để Liên Xô sử dụng làm căn cứ hậu cần cho Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô. Tôi rất thích thú với suy luận trên và rất vui khi nghĩ đến thành quả thiết thực phục vụ quốc phòng của đề tài cá heo.


(còn tiếp)


Nguồn: Người con của mẹ Năm Bê. Truyện ký của Huỳnh Quang. NXB Hội Nhà văn, 2019.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
Sông Ba, Cầu Đà Rằng & Cầu Dinh - Giấc mơ 300 năm - Phạm Ngọc Hiền 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (12 A/ tiếp & hết) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (12) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (11) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (10) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (9) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (8) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (7) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (6) - Huỳnh Quang 29.08.2019
xem thêm »