tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29387822
29.08.2019
Huỳnh Quang
Người con của mẹ Năm Bê (6)


Sửa chữa rada đo cao 843 hư hỏng nặng


Đầu năm 1967, sau đợt công tác dài ngày xuống các đơn vị rada, Thủ trưởng Cục Quân giới cử tôi đi công tác biệt phái xuống nhà máy Quốc phòng Z119, giúp nhà máy sửa chữa đài rada đo cao 843 Trung Quốc đang bị hư hỏng nặng. Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi tự hiểu: Nếu trong đợt công tác trước tôi đã thể hiện năng lực kỹ sư của mình về khai thác sử dụng tất cả các loại rada Quân sự hiện có, mặc dù ở trường chỉ được học kỹ ba loại điển hình: rada sóng mét P12, rada sóng dm P15, rada sóng cm P30. Trong đợt công tác lần này ở Z119, tôi phải thể hiện khả năng kỹ sư về thiết kế và công nghệ chế tạo bộ phận thay thế trong sửa chữa lớn các thiết bị Quân sự.


Anh Trần Trọng Toản, Phó Giám đốc Kỹ thuật Z119 đón tôi rất niềm nở và chân tình. Anh than thở chiếc 843 đã nằm ở nhà máy hơn 2 năm rồi mà chưa sửa chữa được. Giá trị chiếc rada hàng triệu đô la vẫn phải để phơi mưa nắng ngoài đê sông Nhuệ vì sợ máy bay Mỹ đánh trúng nhà máy gây thiệt hại. Cơ quan quản lý trang bị bên Phòng không liên tục đến hỏi thăm. Nhà máy đã báo cáo Bộ đề nghị mua luôn một cái trụ dòng của 843 từ Trung Quốc về thay vào cái đã cháy, vì nhà máy không có khả năng chế tạo trụ dòng, do không có tài liệu thiết kế. Thiết bị, khí tài Quân sự do các nước bạn viện trợ khi đưa vào Việt Nam không bao giờ có kèm theo tài liệu thiết kế, chỉ có kèm theo tài liệu hướng dẫn sử dụng. Chờ mãi hơn hai năm rồi chưa thấy phản hồi.


Rada đo cao 843 được sử dụng trong tổ hợp rada dẫn đường cho không quân tác chiến trên bầu trời. Thiếu rada đo cao, tổ hợp rada dẫn đường không thể hoàn thành nhiệm vụ dẫn đường cho Không quân, tổ hợp rada không thể xác định được tọa độ ba chiều của mục tiêu và tọa độ ba chiều của máy bay ta. Đài rada đo cao 843 đang có ở Z119 đã bị cháy toàn bộ trụ dòng giao liên, các chi tiết nhựa cách điện cao thế của trụ dòng bị thiêu thành tro, các chi tiết kim loại bị biến dạng hoàn toàn.


Trụ dòng có nhiệm vụ truyền dẫn năng lượng siêu cao tần với công suất xung hàng triệu wat từ hệ thống phát đứng yên trong cabin lên hệ thống anten quay liên tục bên ngoài cabin. Trụ dòng có nhiệm vụ truyền dẫn năng lượng của tín hiệu siêu cao tần phản xạ từ mục tiêu trở về anten rada với công suất nhỏ xíu tính bằng đơn vị phần triệu wat và dẫn về hệ thống thu đứng yên trong cabin. Trụ dòng còn có nhiệm vụ truyền dẫn tín hiệu “trả lời” từ máy “trả lời” trên máy bay ta về đài rada để rada phân biệt máy bay ta, máy bay địch. Trụ dòng truyền nguồn điện lên anten cho các thiết bị điện trên anten đảm bảo cho anten vừa quay 360 độ theo mặt phẳng ngang, vừa gật gù theo phương thẳng đứng.


Sau khi tôi khảo sát kỹ tình trạng hư hỏng của rada, đánh giá mức độ thiệt hại, tôi báo cáo với anh Toản, Phó Giám đốc Kỹ thuật của Z119:


- Có thể sửa chữa chiếc 843 với hai phương án: Một là, mua của Trung Quốc một cái trụ dòng mới làm bộ phận thay thế hoặc xem bên Phòng không có chiếc rada 843 nào đã loại khỏi biên chế nhưng trụ dòng vẫn còn nguyên, đem về thay thế cái đã cháy. Hai là, ta phải tự thiết kế và chế tạo mấy bộ trụ dòng để làm bộ phận thay thế.


- Ta không nên theo phương án một, nhà máy đã đề nghị rồi mà có thấy tăm hơi gì đâu! Ta chỉ tập trung vào phương án hai thôi- Anh Toản nói.


- Tôi cũng muốn đi theo phương án hai để thử sức mình, nhưng không dám chắc mất bao nhiêu thời gian thì mới có được bộ tài liệu thiết kế chế tạo. Tôi chỉ được đào tạo kỹ sư khai thác sử dụng là chính, phần thiết kế chế tạo chỉ được học không nhiều trong chương trình năm thứ ba ở Liên Xô. Ở đây có mấy vấn đề hóc búa: Một là, thiết kế đường truyền siêu cao tần đoạn qua trụ giao liên, việc phối hợp trở kháng giữa đường truyền năng lượng siêu cao tần từ máy phát qua ống dẫn sóng sang đường truyền dây song hành trên trụ giao liên sẽ tính toán thế nào, nếu không tìm được tài liệu hướng dẫn chắc có lẽ chịu thua. Hai là, đường truyền dây song hành trên trụ giao liên có cấu trúc hình vành khăn nhưng kích thước thế nào, chu vi bằng bao nhiêu bước sóng, độ dày và độ bóng bao nhiêu cho phù hợp với công suất và tần số. Vật liệu chế tạo đường truyền bằng đồng thau hay đồng thau mạ vàng... Ba là, xác định vật liệu cách điện siêu cao tần của đường truyền dây song hành là loại gì, bởi vì hệ số sóng chạy của đường truyền có liên quan đến thông số kỹ thuật của vật liệu cách điện. Tôi cho rằng, chiếc rada này cháy là do vật liệu cách điện không phù hợp, độ cách điện không chịu nổi công suất xung hàng triệu wat, nhất là khi hệ số sóng chạy của đường truyền bị giảm vì một lý do nào đó. Và thế là đường truyền bị đánh lửa gây cháy bản thân nhựa cách điện của đường truyền rồi lan ra cả trụ dòng. Có lẽ tôi sẽ mất rất nhiều thời gian đến thư viện Khoa học kỹ thuật Trung ương để tìm tài liệu giải quyết vấn đề này.


- Ừ, thì anh cứ bình tĩnh mà trổ tài, chúng tôi không dám giục anh đâu, miễn là mình làm thành công để rút kinh nghiệm. Tôi sẽ cho kéo đài rada 843 đã để ngoài đê sông Nhuệ từ mấy năm nay về nhà máy và cho tháo trụ giao liên xuống, đồng thời rút một số khối đưa xuống phân xưởng rada A4 cho công nhân làm vệ sinh trước. Sau khi chế tạo xong cụm giao liên, ta cho lắp lên đài và kéo ra khỏi nhà máy đặt ở một nơi nào đó; có thể là đặt ngay trên đoạn đường giữa trường Nguyễn Ái Quốc và trường Tuyên giáo Trung ương. Ở đó có nguồn điện dự phòng của Phòng không và cũng gần nhà máy, gần cơ quan Cục anh đi về cho tiện. Trong thời gian đó, anh cứ lo công việc của anh ở thư viện Khoa học kỹ thuật Trung ương. Tôi sẽ cử một kỹ thuật viên và một công nhân giỏi về rada 843 của A4 giúp anh, cần gì anh cứ bảo họ. Họ cũng sẽ là người theo dõi tình hình sửa chữa các khối của đài 843 đang làm ở A4, báo cáo cho anh biết.


Tôi mất gần 2 tháng làm việc ở thư viện Khoa học kỹ thuật Trung ương tìm tài liệu qua các sách tiếng Nga và tiếng Trung. Ngày nào cũng như ngày nào, sáng đạp xe đi từ nhà máy sau khi được chị Hương nhà bếp cho ăn một bát xôi sáng, trưa ăn mỳ vằn thắn ở quán gần thư viện trên đường Lý Thường Kiệt, chiều đạp xe về ghé qua cơ quan Cục Quân giới đang sơ tán trong khu nhà lá của Đại học Sư phạm để chơi bóng rổ với anh em trong Cục, rồi mới về nhà máy ăn cơm chiều do chị Hương để phần.


Sau khi đã tìm đủ tài liệu giúp tôi có thể tính toán và ra bản vẽ thiết kế các vành giao liên siêu cao tần. Tôi đề nghị anh Trần Trọng Toản tổ chức một cuộc họp của Ban Giám đốc nhà máy để tôi báo cáo phương án chế tạo trụ giao liên siêu cao tần. Hồi ấy, Bộ Quốc phòng chưa có Tổng cục Kỹ thuật, chưa có Cục Quản lý Khoa học Kỹ thuật, việc triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học chưa có nề nếp như sau này. Ở nhà máy không có Hội đồng Khoa học thẩm định đề tài khoa học trước khi bắt đầu và nghiệm thu đề tài sau khi đề tài kết thúc. Cấp nào giao nhiệm vụ nghiên cứu thì thủ trưởng cấp ấy thông qua phương án và cấp kinh phí. Anh Trần Trọng Toản đã báo cáo Cục Quân giới về phương án nhà máy tự nghiên cứu thiết kế chế tạo trụ giao liên siêu cao tần để sửa chữa đài rada 843 Trung Quốc và mời Cục cử cán bộ xuống nhà máy dự cuộc họp thông qua phương án. Cả ở nhà máy và cơ quan Cục ai cũng lo, liệu một nhà máy sửa chữa rada có thể tự thiết kế và chế tạo bộ phận thay thế siêu cao tần đạt chất lượng như nước bạn đã sản xuất hay không? Liệu có đảm bảo cho đài rada đạt chỉ tiêu kỹ thuật theo qui định hay không, nhất là chỉ tiêu công suất phát và độ nhạy máy thu, những chỉ tiêu liên quan đến cự ly phát hiện mục tiêu của đài rada và liên quan trực tiếp đến chất lượng của đường truyền siêu cao tần. Cho nên người đến dự cuộc họp từ nhà máy và từ Cục Quân giới đều rất đông, có cả Cục trưởng Nguyễn Duy Thái, Cục phó Hoàng Văn Lãn và Trưởng phòng Trần Chí Đạo.


Sau khi tôi trình bày toàn bộ “Phương án CT-1” hội nghị thảo luận rất sôi nổi nhưng phần lớn ý kiến đều quan tâm đến vấn đề chất lượng sản phẩm. Phòng Đo lường thì lo nhà máy không có thiết bị đo kiểm thông số kỹ thuật của đường truyền siêu cao tần, phân xưởng gia công cơ khí thì lo máy gia công cơ khí của xưởng không có độ chính xác cao, phòng Kiểm nghiệm thì lo chưa thể ban hành qui trình kiểm tra chất lượng sản phẩm vì đây mới chỉ là sản phẩm chế thử... Cũng có ý kiến cho rằng nên đặt hàng cho Cục Vật tư, Bộ Quốc phòng để Cục Vật tư đặt hàng viện trợ với bạn, như vậy ta sẽ có bộ phận thay thế yên tâm về chất lượng, đảm bảo cho rada đạt yêu cầu kỹ thuật một trăm phần trăm.


Cục trưởng Nguyễn Duy Thái rất ủng hộ phương án tôi đã trình bày, ông bảo cứ ngồi chờ người ta cho thì bao giờ mình lớn lên được. Anh Trần Trọng Toản thì đề xuất chỉ đánh giá chất lượng sản phẩm với những chỉ tiêu kỹ thuật mà nhà máy có thể đo kiểm được, những chỉ tiêu kỹ thuật không đo kiểm được của trụ giao liên thì đánh giá theo chỉ tiêu kỹ thuật toàn đài. Ta làm xong, lắp lên đài và tiến hành bài tổng kiểm tra hiệu chỉnh chỉ tiêu kỹ thuật toàn đài, nếu tất cả các chỉ tiêu đều đạt yêu cầu một trăm phần trăm, có nghĩa là sản phẩm chế thử của chúng ta đạt chất lượng yêu cầu kỹ thuật. Theo bài tổng kiểm tra toàn đài ta có thể đo công suất phát, đo độ nhạy hệ thống thu, đo hệ số sóng chạy, hệ số sóng đứng... Ta bàn giao rada cho đơn vị cũng dựa theo kết quả của bài kiểm tra này. Cuộc họp đã kết thúc với sự hân hoan và quyết tâm cao độ của nhà máy, khiến tôi rất yên lòng.


Chế tạo xong trụ giao liên, công nhân A4 lắp lên đài và kéo rada đến chỗ như anh Toản đã nói với tôi. Nhà máy đã cử anh Nguyễn Sĩ Diệp, cán bộ kỹ thuật của Phòng Kỹ thuật và Đặng Văn Bình, công nhân xưởng rada cùng làm với tôi. Tôi bàn với anh em hạ quyết tâm hoàn thành việc sửa chữa đài 843 trong một tháng. Anh Diệp lo không xong nổi vì rada để ngoài đê sông Nhuệ hơn 2 năm rồi, ẩm mốc chắc chắn đã tấn công. Hơn nữa rada 843 Trung Quốc không tẩm phủ tốt, theo phản ảnh của đơn vị nó thường xuyên sinh chuyện. Muốn xong trong một tháng phải làm việc theo kiểu dã chiến, làm ngày làm đêm, ăn ngủ tại chỗ. Thôi thì ta cứ làm thử mấy ngày xem sao rồi tính sau. Nhưng làm được ba ngày chúng tôi thấy oải quá. Bình còn trẻ nên hay nói tếu, anh ta phàn nàn sao nhà máy không để đài rada ngay trong phân xưởng làm cho tiện, ra đây vừa làm kỹ thuật, vừa lo công tác hậu cần và công tác hậu môn. Không biết các anh thế nào chứ em thì công tác hậu môn ngày nào cũng phải để dành đến đêm mới ra bờ ruộng ngồi nghe muỗi hát và “hóng mát”. Công tác hậu môn mà không làm tốt thì tắc tị hết!


- Đúng đấy, hậu cần, hậu môn đều quan trọng cả, vào không trơn ra không thông thì gay. Còn chuyện không để đài rada trong nhà máy là đề phòng khi mình làm, nhiều lúc phải mở máy phát, nếu thằng trinh sát ghi được “địa chỉ,” chúng nó sẽ cử thằng tên lửa Sraik tới hỏi thăm, thiệt hại về người và của sẽ nhiều, mất một đài rada là rối loạn đội hình chiến đấu và Phòng không mất triệu đô. Mình làm ở đây xa nhà máy, xa dân nếu tên lửa Sraik có đến chơi thì cũng chỉ ba anh em mình nhận bằng thôi”- Anh Diệp giải thích.


- Bằng gì?- Bình hỏi.


- Bằng Liệt sĩ chứ bằng gì. Bằng huân chương, bằng khen thì chưa chắc, nhưng bằng Liệt sĩ thì chắc chắn, em cứ yên tâm. Như trường hợp hai công nhân xưởng rada A4 đang điều chỉnh rada COH-9A đặt ngoài đê sông Nhuệ, bị tên lửa không đối đất của máy bay Mỹ bắn trúng, bằng Liệt sĩ đã được cấp trên gửi về nhà máy rất nhanh.


- Thôi ông ơi, nói dở hơi.


Chúng tôi cùng cười vui vẻ và bàn lại kế hoạch hậu cần. Buổi chiều, Bình về nhà máy sớm, tắm rửa, ăn cơm rồi trở ra ngủ giữ đài. Tôi và anh Diệp sáng đi ăn sáng xong phải nhận ba phần cơm trưa và một bát xôi sáng cho Bình, bữa trưa phải ăn nguội hoặc đem đến bếp điện nấu lại cho nóng. Chủ nhật nghỉ nhưng Bình tối vẫn phải đến ngủ giữ đài. Kế hoạch có vẻ dễ chịu, chủ nhật tôi có thể về cơ quan Cục ăn cơm nhà bếp và chơi bóng rổ.


*


Chúng tôi bắt đầu sửa chữa từ khối nguồn và hệ thống nguồn điện toàn đài rồi đến hệ thống hiện hình, hệ thống anten, hệ thống thu, hệ thống chống nhiễu... và cuối cùng là hệ thống phát. Xong tất cả chúng tôi cho khởi động thử toàn đài, cho máy phát làm việc nhưng sử dụng phụ tải giả của đài, không phát tín hiệu lên không trung. Chúng tôi cho đài hoạt động liên tục hai giờ nhưng không nghe tiếng đánh lửa trong hệ thống đường truyền siêu cao tần. Thế là yên tâm được năm mươi phần trăm. Ngày hôm sau chúng tôi tiến hành tổng kiểm tra hiệu chỉnh toàn đài, đo đạc và ghi chép giá trị đo được của tất cả các thông số kỹ thuật của đài. Kết quả đo được cho thấy chỉ có độ nhạy máy thu chưa đạt yêu cầu. Tôi bảo hai anh ngày mai cứ đến mở máy hai tiếng rồi tắt máy hai tiếng, sau đó mở máy ba tiếng rồi đóng máy nghỉ. Tôi sẽ về nhà máy xin xe kéo rada về xưởng A4 đề nghị quản đốc Nguyễn Chí Phúc cho một công nhân nhiều kinh nghiệm kiểm tra hiệu chỉnh hệ thống thu giúp ta.


Ngày hôm sau tôi về nhà máy báo cáo anh Toản toàn bộ tình hình làm việc của tổ từ hôm kéo máy ra ngoài cho đến ngày hôm qua. Kết quả tổng kiểm tra điều chỉnh thông số kỹ thuật toàn đài, chỉ có độ nhạy máy thu thấy chưa đạt yêu cầu. Tôi cho rằng chất lượng của trụ giao liên siêu cao tần có thể yên tâm bởi vì công suất phát đã đạt đỉnh. Độ nhạy hệ thống thu chưa đạt có thể do một trong hai nguyên nhân: Một là, tổn hao trên đường truyền siêu cao tần quá lớn. Hai là, một cấp khuếch đại nào đó của hệ thống thu chưa đạt yêu cầu. Ta không có thiết bị đo kiểm thông số kỹ thuật của đường truyền trong đó có hệ số tổn hao nên chẳng biết nó thế nào. Đề nghị nhà máy cho kéo rada về A4 nhờ công nhân có kinh nghiệm sửa chữa hệ thống thu, xử lý nguyên nhân thứ hai trước, sau đó sẽ tính tiếp. Anh Toản rất vui khi nghe tôi đánh giá chất lượng trụ giao liên nhà máy vừa chế tạo và bổ sung thêm ý kến:


- Nếu A4 đã làm hết cách mà độ nhạy hệ thống thu vẫn chưa đạt thì có lẽ tổn hao đường truyền là nguyên nhân chính. Ta sẽ cho A4 gỡ trụ giao liên này xuống lắp bộ thứ hai lên, ta có đến năm bộ như phương án anh đã đề nghị. Ta chế tạo trụ giao liên theo kiểu làm đơn chiếc nên chất lượng có thể không giống nhau. Nếu A4 xử lý tốt hệ thống thu, nâng độ nhạy máy thu đạt yêu cầu kỹ thuật toàn đài thì ta có thể đốt pháo ăn mừng.


- Chưa có thể đốt pháo ăn mừng trong mấy ngày tới được đâu anh. Theo tôi nghĩ ta phải nhân dịp này, khi đài rada 843 còn chưa bàn giao cho đơn vị, tranh thủ sử dụng nó đánh giá chất lượng bốn trụ giao liên còn lại để làm bộ phận thay thế dự phòng.


- Đúng, đúng... anh nói đúng, tôi sẽ cho Phòng Kế hoạch làm lệnh giao cho A4 làm ngay việc này. Thế anh dự định bao giờ sẽ trở về Cục?


- Ngày nào anh cho đốt pháo thì ngày hôm sau tôi về Cục. Thực ra ngay sau khi A4 xử lý xong hệ thống thu thì tôi có thể rút, vì ở đây tôi chẳng còn việc gì. Nhưng tôi muốn có đầy đủ số liệu trước khi về để làm báo cáo với Cục Quân giới.


- Làm báo cáo thì anh không lo. Ngay hôm nay tôi sẽ báo cáo Cục tình hình triển khai thực hiện “Phương án CT-1”. Trong báo cáo nhất định chúng tôi sẽ đề nghị Cục Quân giới khen thưởng anh xứng đáng, bởi vì sửa chữa được rada 843 tức là anh đã tiết kiệm cho Quốc phòng một triệu đôla.


- Khen thưởng tôi không quan tâm lắm, nhưng báo cáo thì phải làm vì đó là qui định của Cục.


- Anh cứ nán ở lại đây thêm vài ngày nghỉ dưỡng sức. Tôi sẽ giục A4 tăng tốc kế hoạch chiều nay giao cho họ.


Ngay lúc tôi còn đang ngồi ở phòng làm việc của anh Toản, anh ấy đã gọi điện cho Phòng Kế hoạch tổ chức kéo ngay đài rada 843 về giao cho xưởng A4. Chiều ngày hôm sau, trong lúc tôi đang tắm giặt, anh Diệp chạy đến bảo A4 đã hoàn thành nhiệm vụ. Rada 843 đạt yêu cầu kỹ thuật xuất xưởng một trăm phần trăm. Tôi cảm thấy hân hoan vui mừng về những gì mình đã làm được trong mấy tháng qua và muốn tự thưởng cho mình một bữa liên hoan, nên bảo anh Diệp gọi Bình chiều tối cùng đi ăn cơm quán ở Cầu Diễn.


Ngày hôm sau, có điện của Cục Quân giới gọi tôi về Cục ngay.         


Trên đường đạp xe từ Z119 về Cục Quân giới tôi nghĩ từ khi về Cục mình chưa được giao chức danh nhiệm vụ chính thức, chưa có chỗ ngồi chính thức trong Phòng Sửa chữa, mình vẫn còn là phần tử tự do, hy vọng có thời gian nghỉ ngơi chút ít. Nhưng khi vừa về đến Cục, anh Đạo bảo đi với anh ấy lên gặp Cục trưởng Nguyễn Duy Thái nhận nhiệm vụ mới. Tôi vừa bước vào phòng, ông đã bước tới bắt tay chúc mừng kết quả sửa chữa đài rada 843 Trung Quốc, theo báo cáo của Z119. Ông hỏi thêm một số chi tiết về việc tìm tài liệu và tính toán thiết kế. Ông cho rằng đây là một bài học quí cần được rút kinh nghiệm chu đáo. Rồi ông giao cho tôi một việc mà ông coi là “rất nặng nề” là chuẩn bị cho mình kiến thức và tài liệu để dạy cho một lớp trung cấp kỹ thuật về Đo lường điện tử trong vài tháng sắp tới.


Đây cũng là một việc rất khó khăn với tôi, bởi lẽ tôi không được đào tạo gì về đo lường điện tử, một lĩnh vực khoa học kỹ thuật rất rộng, liên quan đến nhiều ngành kỹ thuật trong các quân binh chủng. Nhiệm vụ ông giao rất bất ngờ và rất ngắn gọn, nhưng để hoàn thành nhiệm vụ, tôi phải bơi trong mênh mông kiến thức về đo lường điện tử với hàng trăm loại thiết bị đo lường điện tử. Hồi ấy, trong Quân đội chưa có Cục Đo lường, trường Đại học Kỹ thuật Quân sự cũng chỉ vừa mới thành lập chưa được một năm nên tôi không biết dựa vào đâu để có thể biên soạn bộ giáo trình phù hợp với nhu cầu thực tế của các quân binh chủng. Tôi bày tỏ với Cục trưởng suy nghĩ của tôi về việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Ông nói rất thông cảm với tôi về những khó khăn phải vượt qua, bởi thế ngay từ đầu ông đã nói nhiệm vụ rất nặng nề, nhưng ông từ chối thay đổi ý kiến và phán một câu cụt lủn: “Tôi tin anh sẽ làm tốt việc này và cả nhiệm vụ nặng nề hơn khi anh về trường, Cục không có phương án nào khác tốt hơn”.


Đến mùa đề bạt năm ấy, khi tôi còn ở cơ quan Cục Quân giới, tôi được thăng quân hàm trước niên hạn hai năm. Cũng không có ai nói với tôi rằng đó là phần thưởng của cấp trên trao cho mình về thành tích sửa chữa rada 843 Trung Quốc. Tôi cứ cho là như vậy để tự động viên mình.


 Trường Trung cấp Quân Giới


Cuối năm 1967, Tổng cục Hậu cần thành lập trường Trung cấp Quân giới với nhiệm vụ đào tạo cán bộ trung cấp kỹ thuật về các loại vũ khí, trang bị của Bộ binh, Pháo binh, Phòng không, xe máy chuyên dùng và các ngành kỹ thuật, công nghệ đáp ứng nhu cầu cho các nhà máy sửa chữa của các quân binh chủng và cho các nhà máy sản xuất Quốc phòng.


Trường đóng quân sơ tán dưới những gian nhà lá xen trong các làng quanh vùng Cẩm Quan, Nguyên Xá, Phố Nối, tỉnh Hưng Yên. Tôi nhận quyết định của Thủ trưởng Tổng cục Hậu cần điều từ Phòng Sửa chữa, Cục Quân giới về Trường làm Chủ nhiệm khoa Vũ khí- khí tài Phòng không. Hiệu trưởng nhà trường là Trung tá Đỗ Bá Bào, các giáo viên chính của khoa tôi gồm có: Dư Tấn Luật, Nguyễn Văn Biếm, Trần Văn Chức, Trần Hòa, Ngô Trí Khánh, Vũ Đình Dần... 


Cán bộ nhà trường, giáo viên và hơn 500 học viên đều ở nhờ trong nhà dân, chỉ trừ số học viên Quân sự Lào, Campuchia ở riêng trong những gian nhà lá, xây cất xen kẽ trong khu dân cư. Tôi ở nhờ trong nhà của ông Cù, thôn Cẩm Quan. Sau một thời gian sống trong nhà hai bên đã quen thân nhau, biết tôi là người miền Nam, một buổi tối ngồi ăn khoai sọ luộc với gia đình, ông đột nhiên hỏi:


- Thưa anh, tôi xin phép hỏi anh một câu được không? Anh có phải là anh bộ đội mà mười ba năm trước đã nhận tôi làm hàng binh bên bờ sông ở Tuy Hòa cuối tháng 7 năm 1954 không?


- Thú thật tôi không thể nhớ mặt hàng trăm hàng binh hồi ấy, chỉ gặp thoáng qua vài giờ rồi các anh đi về chỗ tập trung, đến cả họ tên cũng chỉ ghi xong trong danh sách rồi gửi về nơi các anh tập trung, không thể nhớ tên một người nào. Chỉ có một hàng binh tên Đường thì tôi còn nhớ và nếu gặp lại tôi có lẽ anh ấy cũng chưa quên tôi. Bởi vì tôi là người thay băng cho vết thương của anh ấy, trong mấy ngày lưu lại ở chỗ tôi vì vết thương chân trái của anh ấy còn sưng chưa đi xa được.


- Tôi thì không thể nào quên nét mặt của anh. Khi đó anh còn rất trẻ, trẻ nhất trong số các anh, trông anh rất dễ thương. Anh hiểu biết nhiều, có lẽ khi còn đi học anh đọc nhiều sách. Sau khi được gặp anh và nghe anh nói chuyện, tôi không còn tin bất cứ một điều gì chúng nó đã nói về các anh. Thằng Đường bị thương ấy nó ca ngợi anh lắm. Nó bảo nó là hàng binh duy nhất được ăn cơm cùng mâm với các anh, vì khi ấy hàng binh chỉ còn mình nó ở lại chỗ các anh. Quê nó ở Hải Dương, anh muốn gặp nó, hôm nào tôi đưa anh đi, đạp xe chừng ba tiếng. Anh đến chắc nó sẽ mổ lợn thết đãi anh đấy.


Cuộc trò chuyện bị bỏ dở vì tôi có điện thoại của trực ban nhà trường báo đến ngay lán ở của học viên Lào- Campuchia “xử kiện”...


Ở khoa tôi vừa làm công tác quản lý, vừa phải dạy một lớp về các thiết bị đo lường điện tử thường phải có kỹ thuật viên khai thác sử dụng chuyên trách trong các nhà máy sửa chữa rada, tên lửa, máy bay. Lớp học là một nếp nhà tranh rộng chừng 30 mét vuông, xung quanh được đắp một bức tường dày ba tấc, cao năm tấc để chống bom bi.


Một hôm, khoảng giữa năm 1967, tôi đang giảng bài ở lớp 92 thì nghe còi báo động từ trận địa tên lửa Phố Nối, lớp học tản ra các giao thông hào xung quanh lớp chưa xong, còn tôi và lớp trưởng Nông Thị Bắc chưa xuống giao thông hào kịp, thì bom nổ rào rào hai đợt liên tiếp. Nhờ có hệ thống giao thông hào mà quân số của lớp không có ai bị thương vong. Bom bi nổ ngay trên mép giao thông hào rất nhiều, nhưng không có quả nào lọt xuống giao thông hào và lớp học. Nhà trẻ thôn Cẩm Quan cách lớp học không xa nhưng chỉ có hầm tròn, không có giao thông hào nên trẻ xuống hầm không kịp, thương vong gần ba mươi người. Chúng tôi chạy hết đến đó để giúp sơ cứu người bị thương, trong tiếng la khóc thảm thiết của các em. Như vậy là Mỹ đã ném hai quả bom bi mẹ, mỗi quả mẹ chứa chín trăm quả bom bi, tổng cộng một nghìn tám trăm quả bom bi xuống một một khu vực rộng bằng khoảng sân bóng đá. Quả bom mẹ rơi xuống cách mặt đất chừng năm trăm mét thì tách ra làm đôi, chín trăm quả bom bi sẽ rơi xuống đất theo hình nước đổ từ vòi hoa sen.   


Tuy mọi người đều nghĩ rằng phi công Mỹ quáng mắt, sợ chết nên đã đánh nhầm vào lớp 92, nhưng sau một tuần Tổng cục Hậu cần lệnh cho nhà trường dời ngay lên Phú Thọ. Lên Phú Thọ, trường đóng quân trên một khu đồi vốn là doanh trại của một đơn vị pháo chống tăng.


   


Vỏ của bom bi mẹ gồm 2 nửa úp vào nhau,


bên trong chứa 900 quả bom con


Mỗi quả bom con chứa 600 viên bi. Có ba phiên bản hẹn giờ nổ khác nhau: nổ ngay khi chạm mục tiêu, nổ ở độ cao 9 mét


 so với mặt đất và nổ chậm sau khi chạm đất.


Tôi ở trường gần hai năm khi khóa học viên đầu tiên còn đang đi thực tập tại các nhà máy Quốc phòng thì tôi nhận được lệnh của Tổng cục Hậu cần điều về Phòng Nghiên cứu thiết kế vũ khí, Cục Quân giới. Tiền thân của Viện Vũ khí, Bộ Quốc phòng. 


Dự án nghiên cứu thiết kế chế tạo mìn nam châm M-2


Đầu năm 1969, tôi về Phòng Nghiên cứu- thiết kế Vũ khí, anh Nguyễn Văn Tài, Trưởng phòng và anh Phan Chỉ, Phó phòng thông báo: “Chúng tôi mời anh về đây để tham gia dự án nghiên cứu thiết kế chế tạo mìn nam châm M-2, còn gọi là mìn Rùa. M-2 là vũ khí dành cho đặc công nước đánh tàu chiến. Vũ khí này do Liên Xô sản xuất, nhưng Liên Xô không cung cấp cho Việt Nam. Cuba có loại mìn này do Liên Xô cung cấp và bạn đã bí mật chuyển cho ta một số ít để làm mẫu. Ta phải tự nghiên cứu thiết kế chế tạo để trang bị cho đặc công nước Hải quân. Chiến sĩ đặc công mang theo mìn bí mật tiếp cận tàu địch, úp quả mìn vào vỏ tàu rồi bơi đi xa, đến giờ hẹn mìn sẽ nổ. Nội dung nghiên cứu gồm ba hướng khoa học chủ yếu:


1- Nghiên cứu chế tạo thuốc nổ rắn có sức công phá lớn và phần hỏa thuật của quả mìn sao cho khi nổ sức ép chỉ hướng về một hướng vào trong con tàu, cùng với nhiệt độ cao hàng nghìn độ làm thủng vỏ tàu một mảng lớn dưới mặt nước.


2- Nghiên cứu thiết kế chế tạo ngòi hẹn giờ thời gian một hai, giờ. Ngòi hẹn giờ thời gian ngắn tính đơn vị giây, phút ta đã làm được, nhưng hẹn giờ thời gian dài ta chưa làm. Phải hẹn giờ thời gian dài đủ cho đặc công bơi ra xa trước khi mìn nổ, không gây thương vong cho đặc công.


3- Nghiên cứu công nghệ chế tạo nam châm vĩnh cửu đạt tiêu chuẩn như nam châm Alnhico 4 do Liên Xô chế tạo và đã sử dụng trong mìn M- 2, nghĩa là khối nam châm phải hít chặt và treo giữ một khối kim loại có trọng lượng bằng 35 lần khối lượng của nam châm. Có được lực hít như vậy thì vành nam châm của quả mìn mới giữ được quả mìn bám chặt vào vỏ tàu dưới nước, kể cả khi tàu địch di chuyển với tốc độ cao.


Mỗi hướng khoa học giao cho một nhóm cán bộ thực hiện đồng thời với hai nhóm kia. Nhóm nghiên cứu chế tạo nam châm vĩnh cửu gồm có kỹ sư luyện kim Nguyễn Đình Tân đến từ Phòng Nghiên cứu Công nghệ, Cục Quân giới, kỹ sư Trần Đức Việt, Trưởng phòng Cơ điện nhà máy Quốc phòng Z1 và anh. Kỹ sư Nguyễn Đình Tân chịu trách nhiệm nghiên cứu hỗn hợp kim loại hình thành khối lượng nam châm và qui trình nhiệt luyện khối nam châm. Anh chịu trách nhiệm thiết kế chế tạo một thiết bị nam châm điện cực mạnh đủ sức từ hóa khối nam châm. Anh Trần Đức Việt chịu trách nhiệm chế tạo lò nung”.


Để thực hiện được nhiệm vụ của mình tôi phải thảo luận với anh Tân:


- Tôi cần biết anh dự kiến cho nhiệt luyện mỗi mẻ nam châm nhiều hay ít, tối đa bao nhiêu cm3 ? Mẻ nam châm cần từ hóa càng ít thì nam châm điện càng nhỏ, mẻ nam châm cần từ hóa càng lớn thì nam châm điện càng lớn. Bởi vì khối nam châm cần từ hóa phải đặt trong từ trường đều thì quá trình từ hóa mới đạt hiệu quả tốt.


- Anh chờ tôi bàn với anh Việt xem anh ấy định thiết kế lò nung dung tích bao nhiêu.


- Anh cần nam châm điện có cường độ từ trường bao nhiêu Tesla, cường độ từ trường cố định hay thay đổi trong quá trình nhiệt luyện? Cường độ từ trường phải đủ mạnh, mới ép các spin quay của các hạt điện tử trong phân tử của tất cả các kim loại trong hợp kim nam châm đều quay về cùng một phương để hình thành phân cực bắc - nam cho khối nam châm.


- Thay đổi được thì tốt hơn, vì mình đang nghiên cứu. Cường độ từ trường tối đa bao nhiêu còn phải xem dung tích lò nung.  


Nhiệm vụ thiết kế chế tạo nam châm điện cực mạnh đối với tôi rất mới mẻ, bởi vì tôi không phải là kỹ sư thiết bị điện. Tôi lại phải mất nhiều ngày đạp xe đi thư viện Khoa học kỹ thuật Trung ương tìm tài liệu.


Nhà máy Quốc phòng Z1 là nơi triển khai chế tạo nam châm điện theo bản vẽ thiết kế của tôi và lò nung theo bản vẽ thiết kế của anh Trần Đức Việt. Thời gian này tôi và anh Nguyễn Đình Tân phải thường xuyên có mặt tại nhà máy Z 1 để theo dõi việc chế tạo hai thiết bị quan trọng của dây chuyền nhiệt luyện nam châm. Hồi ấy, chưa có du lịch, ngày nghỉ không biết đi chơi đâu, chỉ đạp xe loanh quanh các làng lân cận nhà máy ăn trái cây, nhất là dứa, ra khỏi vườn mới trả tiền.


Việc thử nghiệm để chọn qui trình nhiệt luyện tối ưu đạt được yêu cầu của nam châm Alnhico 4 với nhiều phương án khác nhau. Khối nam châm phải được từ hóa trong trạng thái nóng chảy, từ nhiệt độ cao nhất 1600 độ C giảm xuống đến nhiệt độ môi trường qua các nấc nhiệt độ thay đổi 200 độ C, 100 độ C, 50 độ C.., thời gian dừng tại mỗi nấc nhiệt độ bao lâu, cường độ từ trường tại mỗi nấc nhiệt độ là bao nhiêu... Việc nghiên cứu chế tạo thành công nam châm vĩnh cửu Alnhico 4 đã tạo yếu tố then chốt cho dự án nghiên cứu sản xuất mìn nam châm M -2.


 


Mìn nam chân M-2 đã được nghiên cứu chế tạo theo Dự án            


Sau khi hoàn thành kế hoạch nghiên cứu sản xuất nam châm Alnhico 4 đạt chỉ tiêu kỹ thuật, tôi được lệnh rút khỏi dự án M- 2 để nhận nhiệm vụ mới. Phần còn lại của dự án đã được Phòng Thiết kế vũ khí, Cục Quân giới hoàn thành. Sản phẩm đã được sản xuất số lượng lớn phục vụ bộ đội Hải quân. Dự án M-2 đã được đánh giá cao và được khen thưởng đích đáng.       


 


                             NHÀ MÁY Z119


  


Tháng 1 năm 1970, tôi nhận quyết định của Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần điều động và bổ nhiệm Trưởng phòng Nghiên cứu - thiết kế của nhà máy Z119. Trước mắt, Z119 được Bộ Tổng giao nhiều đề tài, dự án nghiên cứu phục vụ cuộc chiến tranh chống phong tỏa miền Bắc, chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ. Nghiên cứu đánh máy bay B52 trên chiến trường miền Bắc; đánh máy bay AC-130 trên mặt trận 559, nghiên cứu thiết kế chế tạo máy phát điện đạp chân cho các trạm quan sát trên núi cao, nghiên cứu thiết kế chế tạo bộ phận thay thế phục vụ sửa chữa rada trong mọi tình huống...       


        Xe phá bom từ trường BTR-2


Xe phá bom từ trường BTR là thiết bị gây nổ bom từ trường từ xa, đặt trên xe bọc thép bánh lốp BTR của Liên Xô. Thiết bị có thể gây nổ bom từ trường đang nằm chờ ở khoảng cách 100m, đủ an toàn cho người lái xe. Đây là thiết bị Quân sự do Viện Kỹ thuật Quân sự nghiên cứu hoàn thiện nguyên lý hoạt động và chế thử sản phẩm đầu tiên. Nhà máy Z119 được Bộ Tổng giao nghiên cứu hoàn thiện công nghệ chế tạo và sản xuất hàng loạt để cung cấp cho các chiến trường. Xe phá bom từ trường là sản phẩm nổi tiếng một thời trong chiến tranh chống Mỹ, bởi xe đi đến đâu, bom từ trường đang rình chờ trong phạm vi 100 mét đều bị kích nổ rầm rầm, giải phóng mặt đường rất nhanh cho các đoàn xe đi qua.


Mỹ sử dụng bom từ trường và thủy lôi từ trường để phong tỏa các tuyến đường giao thông bộ, giao thông thủy, bến sông, cảng biển. Máy bay Mỹ rải bom từ trường dọc theo các tuyến giao thông, cho bom nằm yên ở đó, chờ khi có xe đi qua thì bom tự kích nổ để phá hủy xe. Mỹ thường rải bom vào ban đêm để che mắt, lực lượng công binh và thanh niên xung phong quan sát bằng mắt, đánh dấu vị trí rơi xuống đất của quả bom. Những quả bom được đánh dấu vị trí, sẽ được công binh xử lý cho kích nổ ngay để giải phóng mặt đường. Những quả bom nào ta không đánh dấu được vị trí bom rơi, nó sẽ là kẻ thù giấu mặt đối với các đoàn xe. Xe phá bom từ trường sẽ lôi chúng nó ra khỏi nơi ẩn nấp và cho nó “biến”.          


Bom từ trường có ngòi nổ MK-42. Ngòi nổ MK-42 hoạt động theo nguyên lý biến thiên của từ trường trái đất. Khi có vật dẫn từ, như phần sắt thép của một chiếc xe đi về hướng quả bom, bộ cảm biến từ trường trong ngòi MK-42 ghi nhận cường độ từ trường tăng dần theo đồ thị hình chuông, đến một ngưỡng cường độ từ trường nào đó đã được tính sẵn, khi khoảng cách từ quả bom đến chiếc xe đủ phá hủy chiếc xe khi bom nổ, thì ngòi MK- 42 kích bom nổ.


Chiếc xe phá bom từ trường đầu tiên do Viện Kỹ thuật Quân sự chế thử và đưa vào chiến trường sử dụng thử nghiệm cho thấy nguyên lý hoạt động rất tốt, cự ly phá bom 100 mét đủ đảm bảo an toàn cho lái xe và thiết bị đặt trong xe. Nhưng cấu trúc và thiết kế cuộn sinh từ có nhiều nhược điểm. Ở mẫu xe chế thử của Viện Kỹ thuật Quân sự, cuộn dây sinh từ đặt vuông góc với trục xe, ôm trọn thân xe nhằm tăng tiết diện vật dẫn từ để giảm từ trở, nhờ đó tăng cường độ từ trường qua vòng dây, nhưng phần cuộn dây phía dưới bụng xe rất dễ bị va đập với mặt đường gây hỏng hóc, mặc dù gầm xe BTR rất cao, khiến xe không hoạt động được lâu ở chiến trường. Hồi ấy, Trung Quốc cũng có đưa sang Việt Nam sử dụng thử nghiệm xe phá bom từ trường, nhưng hiệu quả chiến đấu và mức độ an toàn cho người lái kém hơn thiết bị phá bom do ta chế tạo nên ta không sử dụng.


Sau khi xe phá bom từ trường đầu tiên do Viện Kỹ thuật Quân sự chế thử và sử dụng thử nghiệm ở chiến trường bị hư hỏng cuộn dây sinh từ được đưa về nhà máy Z119 cùng với mệnh lệnh: “Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ chế tạo và sản xuất hàng loạt”. Nhà máy đã giao mệnh lệnh nhận được của cấp trên cho Phòng Nghiên cứu - thiết kế. Chúng tôi đã “mổ xẻ” để tìm ưu nhược điểm của thiết bị và tìm cách khắc phục. Nhà máy đã tính toán và thiết kế lại cuộn sinh từ cả về cấu trúc và cường độ từ trường. Cuộn dây sinh từ không đặt vuông góc với trục xe như mẫu đã chế thử của Viện Kỹ thuật Quân sự, mà nghiêng ba mươi độ so với mặt phẳng ngang, kéo dài từ phía trên đầu xe đến phía dưới cuối thân xe để tăng diện tích bên trong vòng dây, đồng thời đặt thêm hai thỏi sắt CT10 có từ trở thấp nhất trong các loại hợp kim. Nhờ vậy mà cường độ từ trường đã tăng lên đáng kể. Với những thay đổi trên, xe có thể kích nổ bom từ trường từ khoảng cách 135 mét, cuộn dây sinh từ không bị va đập với mặt đường.


Xe phá bom từ trường xuất xưởng từ nhà máy Z119 được đặt tên là “Xe phá bom từ trường BTR-2”. Xe đi phá bom trên các mặt trận, không có xe nào phải quay về nhà máy để sửa chữa. Sau khi chiếc “xe phá bom từ trường BTR-2” đầu tiên đưa đi thử nghiệm ở chiến trường được công binh đánh giá rất tốt, nhà máy Z119 lại một lần nữa nhận được mệnh lệnh đột xuất mở chiến dịch sản xuất đại trà với số lượng lớn xe phá bom từ trường. Một bộ phận nhà máy liên quan đến sản xuất BTR-2 phải làm việc suốt ngày đêm.


(còn tiếp)


Nguồn: Người con của mẹ Năm Bê. Truyện ký của Huỳnh Quang. NXB Hội Nhà văn, 2019.


www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
Sông Ba, Cầu Đà Rằng & Cầu Dinh - Giấc mơ 300 năm - Phạm Ngọc Hiền 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (12 A/ tiếp & hết) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (12) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (11) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (10) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (9) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (8) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (7) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (6) - Huỳnh Quang 29.08.2019
xem thêm »