tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28845781
05.08.2019
Vũ Bằng
Đông Tây cổ học tinh hoa (3)


MỘT CÁCH THÔNG TIN TÀI TÌNH


Một nhà quý phái Á châu, mất nước, bị vua Ba Tư là Đariuýt giữ làm con tin. Nhà quý phái đó muốn thông tin tức với một người bạn mà không muốn bị tiết lộ, vì nếu tiết lộ ra, có khi hại đến tính mệnh. Ông ta nghĩ mãi mà không tìm được mưu kế gì. Sau mãi, ông ta mới tìm ra được mưu này:


Ông gọi một tên nô lệ lại, cạo trọc đầu nó đi, rồi xăm(1) lên trên đầu nó những điều ông muốn nói với bạn. Xăm xong rồi, ông giữ nó ở trong nhà chờ cho nó mọc tóc. Nó mọc tóc rồi, ông sai nó đi tìm bạn ông và bảo:


- Mày đến gặp ông ấy thì bảo ông ấy cạo trọc đầu mày đi như thể tao đã cạo đầu mày vậy.


Tên nô lệ vâng lệnh và cứ như thế mà nói với ông bạn. Ông bạn lấy làm lạ, theo lời cạo trọc đầu nó đi và thấy ở trên đầu nó bức thư mà chính nó cũng không được biết.


 


LỜI BÀN: Lịch sử chứng minh rằng các dân tộc bị trị bao giờ cũng quật khởi được, nếu dân tộc đó còn hy vọng và tin tưởng.


Dưới chế độ thực dân, kẻ thống trị tìm hết cách làm tê liệt lòng ái quốc của người bị trị, nhưng kết cục không làm thế nào để diệt được các mưu toan khởi nghĩa. Là vì khi mà người ta đã tin tưởng và hy vọng thì không có cách gì để ngăn cản người ta không thực hiện ý định, dù là ngăn cản nghiêm ngặt, ác liệt đến thế nào đi nữa.


X.K.


LÒNG HIẾU CỦA CON GÁI TÊN NỮ TÙ


Một bà quý phái La Mã kia bị kết vào tội tử hình và bị giam trong ngục tối để chờ ngày chịu tội.


Tên gác ngục, có nhiệm vụ phải treo cổ bà lên, thương tình không nỡ ra tay và có ý để cho bà nhịn ăn rồi cứ thế mà rạc dần dần đi cho đến khi nào chết thì thôi.


Hàng ngày, tên gác ấy cho phép con gái bà vào thăm, nhưng cấm không cho mang đồ ăn, và khám xét nghiêm ngặt lắm.


Nhiều ngày qua đi, vậy mà nữ tù nhân vẫn sống. Người gác lấy làm lạ lắm, tự hỏi không biết người nữ tù làm thế nào mà cứ sống dai dẳng như thế được. Y bèn để tâm rình mò và sau biết hết cả sự thực. Cô con gái người nữ tù nuôi mẹ bằng cách đưa vú cho mẹ bú.


Cảm động vô cùng, người gác bèn đem việc đó báo cho các nhà chức trách và chẳng mấy lúc đến tai tòa án. Các quan tòa cảm động vì lòng hiếu đễ của người con gái, truyền tha tội cho bà quý phái La Mã nọ.


Còn cảnh tượng nào cảm động bằng thấy con gái cho mẹ bú và vì thế mà người mẹ được tha? May mà đạo làm người lại lấy tình yêu thương và đạo hiếu làm đầu, chứ không có thì nhiều người sẽ cho việc này là phản thiên nhiên(1).


 


LỜI BÀN: Lòng hiếu của con gái người nữ tù làm cho ta cảm động và nhắc ta nhớ đến “Hai mươi bốn truyện hiếu” phương Đông. Xã hội lấy gia đình làm căn bản. Một người ở với cha mẹ không được tròn đạo hiếu, tất nhiên, không thể là một công dân tốt ăn ở trung thành với nước.


Lòng hiếu của cô con gái người nữ tù trong truyện này đã làm cảm động các ông tòa, cũng như đã làm cảm động đến Trời ở trong các truyện Đông phương. Xem vậy, dù bất cứ ở đâu, người ta cũng vẫn coi chữ hiếu làm trọng. Một tôn giáo hay một chủ nghĩa phủ nhận giá trị của chữ hiếu, chẳng chóng thì chầy, cũng sẽ bị tiêu diệt vì căn bản của tôn giáo, chủ nghĩa ấy xây dựng trên sự vô luân trái với đạo đức cố hữu của loài người.


D.Kh.


LỜI NÓI HÓM HỈNH CỦA THI SĨ ENIUÝT


Một hôm, nhà quý phái Sipiông Naxia(1) đến thăm thi sĩ Eniuýt(2). Ông chờ ở cửa. Cô hầu ra bảo rằng thi sĩ Eniuýt đi khỏi rồi. Nhưng Sipiông Naxia biết chắc rằng thi sĩ Eniuýt sai người nhà ra nói thế mà thôi, chứ thực ra thì thi sĩ vẫn ở trong nhà.


Mấy hôm sau, Eniuýt đến thăm Sipiông Naxia. Đến cửa, thi sĩ hỏi tên hầu. Ở trong nhà, Naxia kêu to lên rằng mình đi vắng. Eniuýt bèn rằng:


- Sao? Anh nói cái gì? Anh tưởng rằng tôi không nhận ra tiếng anh ư?


Sipiông Naxia trả lời:


- Ồ, anh này rõ thực không biết điều! Hôm nọ, cô hầu nhà anh bảo anh đi vắng thì tôi tin liền. Vậy bây giờ anh lại không tin chính tôi ư?


 


LỜI BÀN: Điều gì mình không muốn người khác làm cho mình thì mình đừng làm với người ta.


Nhiều người không biết như thế, chỉ muốn bắt người khác phải chu đáo đối với mình, còn mình lại không chu đáo với người khác, thành thử ra cách đối xử giữa người và người, nói hẹp, giữa dân tộc này với dân tộc kia, nói rộng, thường bị khiếm khuyết và sinh ra những mối bất hòa.


Truy nguyên ra thì lại là tinh thần dân chủ, cộng hòa chân chính chưa được phổ cập, mà người ta chưa thực tri và hành câu “Mọi người ở đời sinh ra đều bình đẳng”. Người này vẫn cho mình là có quyền hơn người kia, người kia lại muốn có quyền hơn người nọ.


Mặt khác, nhược điểm của thế nhân lại còn là “không trông thấy lỗi của mình, chỉ nhìn thấy lỗi của người”, “trông thấy hạt bụi ở trong mắt người, mà không thấy cái dằm trong mắt mình”.


L.T.


PHÉP PHÙ THỦY CỦA TÊN NÔ LỆ(1)


Một tên nô lệ kia cày cấy một thửa ruộng nhỏ và thu hoạch được nhiều hoa lợi lắm. Những người ở chung quanh đó, cày những thửa ruộng lớn hơn mà không lợi bằng anh, thấy thế sinh lòng đố kỵ. Họ vu cho anh dùng phép phù thủy để cướp hết cả hoa lợi của những ruộng chung quanh.


Anh nô lệ bị kêu ra tòa. Tòa bắt anh phải tường khai tội ác của anh ta.


Sợ quá, anh nô lệ bèn kéo cả nhà ra tòa. Cả nhà anh ta khỏe mạnh, ăn mặc cẩn thận, diêm dúa. Anh ta lại đem cả những con bò béo tốt của anh đi theo cùng với các nông cụ như những lưỡi cày sắc bén, những cái liềm bóng lộng, những cái bừa chắc chắn. Anh ta ra trước tòa, chỉ vào vợ con và nông cụ của anh ta mà bảo:


- Hỡi người La Mã, đây là phép phù thủy của ta đây! Mùa màng của ta tốt là do những thứ này, ấy là chưa kể ta không mang theo ta được những đêm thức khuya, những ngày dậy sớm, những năm tháng một nắng hai sương, những buổi làm việc cần cù, vất vả, đổi bát mồ hôi lấy bát cơm…


Tòa tha tội cho tên nô lệ. Mùa màng tốt là vì người ta chịu khó làm ăn vất vả. Vì thế, người La Mã cổ thời vẫn hay nói “Con mắt của người chủ làm cho ruộng phì nhiêu”(2).


 


LỜI BÀN: Không muốn làm mà có ăn; thấy người ta có, mình không mà nảy ra lòng ghen ghét: đó là thông bệnh của loài người. Một xã hội có nhiều người lười biếng, chỉ định ăn sẵn và nuôi lòng đố kỵ, không thể nào mạnh được. Muốn mạnh, toàn dân của xã hội đó đều phải làm việc. Một người chịu khó, cần cù, hết lòng với công việc của mình, tất phải thành công, thì một nước dù nghèo cũng tất phải có ngày phồn thịnh.


“Mùa màng tốt là vì người ta chịu khó làm ăn vất vả”. Suy rộng ra thì mọi sự thành công ở đời cần phải có ba yếu tố này: sức khỏe, chịu khó và đạo đức. Không thế, và nếu chỉ trông vào may rủi hay sự giúp đỡ của người khác, tất phải đến chỗ bại vong.


X.Kh.


SỰ GAN DẠ CỦA MỘT ĐỨA TRẺ XỨ MAXÊĐOAN


A Lịch Sơn Đại đế dâng hương. Theo tục lệ cũ của người xứ Maxêđoan thì lúc Ngài dâng hương, có những đứa trẻ dòng song đứng trực ở bên để phụ việc. Một đứa đứng ở trước mặt Ngài và cầm một bình hương.


Không may, có một miếng than hồng rơi ở trong bình hương xuống cánh tay đứa trẻ. Miếng than đang đỏ làm cháy tay đứa bé xèo xèo, ai đứng quanh đấy cũng ngửi thấy mùi thịt khét. Đứa trẻ tuyệt nhiên không cựa quậy; nó không kêu mà cũng chẳng giãy giụa; tay nó vẫn cứ như thường, vì nó không muốn làm rớt cái bình hương mà cũng chẳng muốn làm cho buổi lễ mất phần trang nghiêm.


Nhà vua trông thấy đứa trẻ gan dạ chịu đựng như thế, lấy làm vừa lòng lắm. Muốn thử nó, Ngài kéo dài buổi lễ ra. Nhưng đứa trẻ cũng không vì thế mà nao núng; nó cứ bình thản đứng như thế cho đến khi lễ tất(1).


Đó thực là một tấm gương can đảm đáng khen. Dân con một nước, mà ngay từ lúc ấu thơ, đã tỏ ra quả cảm như thế thì về sau này quân lính của nước đó làm gì mà không bách chiến bách thắng?


 


LỜI BÀN: “Dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về”. Câu nói đó có thể coi như phương châm quan yếu của nền giáo dục. Nhiều gia đình, hiện nay, nâng niu con quá, không cho con xông pha, thành thử ra, lớn lên đứa trẻ không tháo vát. Cho trẻ chịu khổ lúc nhỏ tức là sửa soạn cho chúng một tương lai tốt đẹp về sau này. Thương trẻ quá, tức là làm khổ chúng.


Tương lai ở trong tay trẻ con. Vì vậy, vấn đề giáo dục rất là quan trọng. Một xã hội mà có những trẻ lễ phép và can đảm như đứa trẻ cầm bình hương trong truyện trên đây, không thể nào bị chinh phục được. Bởi vì lớn lên chúng tất nhiên phải là những công dân khuôn mẫu, can đảm, kiên trung, biết giữ nước và biết kiến quốc để đẩy mạnh xã hội trên đường tiến bộ.


L.T.


SÔ KỴ CAN TỀ UY VƯƠNG, TRẢ LỜI THUẦN VU KHÔN


Vua Tề là Uy Vương, say đắm tửu sắc, ham mê âm nhạc, không lưu tâm đến chính sự(1), bị các nước láng giềng đem quân đến đánh. Trận nào, vua Tề cũng bại(2).


Một hôm, có một người học trò xin vào yết kiến(3) nhà vua, tự xưng là Sô Kỵ, người bản quốc(4), biết gảy đàn cầm.


Uy Vương mừng lắm, cho vào, rồi sai người đưa đàn cầm cho Sô Kỵ gảy. Sô Kỵ lên dây đàn rồi để đó, không gảy mà cũng không nói gì. Tề Uy Vương hỏi:


- Tiên sinh là người khéo gảy đàn sao lên dây đàn rồi lại không gảy? Đàn xấu chăng? Hay tiên sinh chê ta không biết thưởng thức(5) tiếng đàn của tiên sinh?


Sô Kỵ nghiêm sắc mặt đáp:


- Tôi biết là biết cầm lý mà thôi. Chứ gảy đàn cầm lên thành những tiếng chỉ, đường tơ thì lại là việc của bọn nhạc công(6), tôi dẫu biết cũng chẳng gảy hầu Chúa công làm gì.


Tề Uy Vương hỏi:


- Thế nào là cầm lý? Xin cho nghe.


Sô Kỵ đáp:


- Cầm lý là lý của đàn cầm. Cầm mà phục vụ sự dâm tà thì không giữ được chính đạo. Vua Phục Hi đời xưa chế ra đàn cầm có năm dây, dây lớn tượng trưng(1) vua, dây nhỏ là bề tôi. Đến đời vua Văn Vương là Vũ Vương, lại thêm một dây nữa để hòa hợp cái tình ý của vua tôi. Xem thế, vua tôi có tương đắc(2) nhau, chính lệnh mới hòa hợp. Cái đạo trị dân, trị nước bất quá(3) cũng chỉ như thế mà thôi.


Tề Uy Vương nói:


- Phải lắm. Nhưng tiên sinh biết cầm lý, tất nhiên biết cầm âm(4), xin cho nghe một khúc.


Sô Kỵ đáp:


- Tôi học nghề đàn, tất phải biết các phép chơi đàn, cũng như Chúa công làm nghề trị nước, trị dân, há lại không biết cái đạo trị dân, trị nước hay sao? Nay Chúa công bỏ nước không trị, có khác nào tôi lên dây đàn mà không gảy. Tôi lên dây đàn mà không gảy, Chúa công không hài lòng(5). Chúa công bỏ nước không trị, muôn dân sao có thể hài lòng được?


Tề Uy Vương tỉnh ngộ, nói:


- Thôi, ta hiểu ý rồi. Tiên sinh mượn cây đàn để can ta.


Nói đoạn, giữ Sô Kỵ ở lại trong dinh. Sáng hôm sau, Tề Uy Vương tắm gội sạch sẽ, triệu Sô Kỵ vào cung bàn việc nước. Thấy Sô Kỵ có tài cao tót vời(6), phong cho Sô Kỵ làm Tướng quốc(7).


Bấy giờ, trong nước có một biện sĩ tên là Thuần Vu Khôn, thấy Sô Kỵ nói mấy câu mà được lên làm Tướng quốc, có ý không phục, cùng với mấy môn đệ xin vào yết kiến Sô Kỵ.


Sô Kỵ tiếp đãi rất mực lễ phép. Thuần Vu Khôn hợm hĩnh, ngồi lên ghế cao, mà bảo:


- Tôi có mấy điều muốn giãi bày cùng quan Tướng quốc, chẳng biết ngài có ưng không?


Sô Kỵ đáp:


- Xin cứ chỉ bảo.


Thuần Vu Khôn nói:


- Dùng gỗ cứng làm bánh xe, cho thêm mỡ lợn, bánh xe trơn và xoay mau. Nhưng nếu làm cái lỗ vuông thì dầu cho mỡ đến mấy đi nữa, xe cũng không chạy được.


Sô Kỵ đáp:


- Xin vâng. Tôi không dám làm điều gì trái với nhân tâm(1).


Thuần Vu Khôn tiếp:


- Cán cung dầu cứng đến đâu cũng có lúc trễ(2). Các dòng nước biển tự nhiên rồi hợp lại với nhau.


Sô Kỵ đáp:


- Xin vâng. Bất cứ lúc nào, tôi cũng phải yêu mến muôn dân.


Thuần Vu Khôn tiếp nữa:


- Áo hồ cừu(3) dẫu nát, không nên đem da chó vá vào.


Sô Kỵ đáp:


- Xin vâng. Tôi phải kén chọn người hiền tài để dùng. Không dám để cho những kẻ gian ác, bất lương lẫn vào.


Thuần Vu Khôn lại tiếp:


- Mực nước không so sánh từng phân, từng tấc, không thành sự được. Cầm, sắt không so sánh từng dây, từng điệu, không thành âm luật được.


Sô Kỵ đáp:


- Xin vâng. Tôi xin sửa sang pháp luật để bênh vực người ngay, giám sát(1) người gian.


Thuần Vu Khôn nhìn Sô Kỵ một giây, nín lặng rồi sụp xuống lạy.


Ra ngoài, môn đệ của Thuần hỏi:


- Lúc vào yết kiến quan Tướng quốc, thầy có ý kiêu ngạo, sao lúc lui ra về lại tự hạ và sụp xuống lạy như thế?


Thuần Vu Khôn đáp:


- Ta mới nói ý(2) có năm điều, quan Tướng quốc đã hiểu hết ý ta, ứng khẩu trả lời trôi chảy và khiêm nhượng(3). Thế là bực đại tài, ta không thể nào sánh kịp.


 


LỜI BÀN: Giáo dục người ta phải biết yêu cái đẹp và cái tốt. Âm nhạc là một bộ môn của giáo dục, dạy cho người ta ăn ở thanh cao, tốt đẹp. Lấy âm nhạc để nói về đức trị dân, thật quả là tài. Có lẽ Tề Uy Vương biết hối cải ngay như vậy, một phần cũng là vì đã biết tôn thờ cái đẹp, cái hay ở đời.


Đáng trọng hơn một bậc nữa, là Thuần Vu Khôn mới chính là người biết tôn thờ cái hay, cái đẹp, cái tốt. Lòng định vào nhục mạ Sô Kỵ mà thấy Sô Kỵ ứng đối như vậy, lòng đố kỵ tiêu tan ngay, chính là vì Khôn đặt cái hay, cái đẹp, cái tốt lên trên hết. Ở đời, có bao nhiêu người không phân biệt được cái hay, cái đẹp, cái tốt, hay cố ý không phân biệt, cứ nhắm mắt nghe theo lòng ghen tị nhỏ nhen của mình, thành ra bị mê hoặc, xét xử sai lầm, do thế mà hành động cố chấp, không thể nào tiến bộ.


Biết người khác giỏi hơn mình và dám nhận như thế, phải là một người tài giỏi lắm.


T.S.


TRUYỆN HAI CON NGỰA


Quân lính của Sêtôriuýt(1) háo chiến(2) quá mất rồi, một hôm, nhất định xin ra trận. Sêtôriuýt biết rằng không thể ngăn cản họ được nữa, bèn cho dắt hai con ngựa đến trước mặt họ. Một con mẫm mạp, khỏe mạnh; một con ốm o, gầy còm.


Rồi ngài ra lệnh cho một thanh niên cường tráng phải rút một cái mà tụt đuôi con ngựa ốm, còn một ông già khác thì nhổ từng cái lông đuôi con ngựa khỏe.


Chàng thanh niên cố rút thế nào cũng không nhổ được cái đuôi của con ngựa ốm: ai trông thấy cũng tức cười. Nhưng ông già nọ thì tuy tay chân run rẩy mà cứ nhổ từng cái lông một, cuối cùng cũng thành công.


Thấy quân lính ngơ ngác không hiểu ra sao, tướng Sêtôriuýt mới bảo họ rằng:


- Quân địch của ta cũng y như cái đuôi ngựa. Nếu ta đánh nó từ từ, từng khoảng một, ta có cơ thắng nó; nhưng nếu ta đánh một lúc, ta sẽ chẳng đi đến đâu hết.


 


LỜI BÀN: Truyện này nhắc ta tới đoạn Thái tử Đan kén người sang hành thích vua Tần. Có một người, thấy nói đến việc hành thích vua Tần, mặt đỏ rực lên: không dùng được. Một người khác xanh xám cả mặt lại: cũng không dùng được.


Là vì người mặt đỏ chưa nói đã tức giận ra mặt, không thể làm việc được; người mặt xanh chưa hành động đã xanh xám cả mặt, cũng không làm việc được nữa.


Muốn làm tròn một công việc khó phải kiên trì và bình tĩnh. Lời khuyên của Sêtôriuýt cũng căn cứ vào lý luận đó để khuyên quân lính đừng bao giờ nên hấp tấp, nhưng cần phải thận trọng, cần cù, biết rõ quân địch và biết rõ mình. Chỉ khi nào mình chuẩn bị đầy đủ và biết chắc lực lượng của mình hơn lực lượng của địch rồi hãy đánh. Mà không nên dốc hết lực lượng đánh toàn diện, nhưng đánh từ từ, lần lần, được chỗ nào chắc chắn chỗ ấy.


Bài này không ngoài ý khuyên ta thận trọng, cần cù, nhẫn nại làm việc, chớ nên hăng hái hão. Những người thành công ở đời, hầu hết đều bắt đầu làm nhỏ rồi cứ khuếch trương dần dần lên to.


B.Kh.


MỘT NGƯỜI SUNG SƯỚNG


Tiểu Syruýt, vua nước Ba Tư là một bậc thiên tài, tiếng tăm lừng lẫy năm châu bốn biển.


Một viên tướng xứ Laxêđêmôn, tên là Ly Sang, có tài đức, được cử đến gần vua Tiểu Syruýt để dâng đồ vật tiến công của các nước chư hầu.


Vua Syruýt bèn đưa Ly Sang đi coi vườn cây của ngài. Vườn ngăn nắp lắm, quét dọn vô cùng sạch sẽ. Cây cối trồng lớp lang, thứ tự, cao vun vút và trĩu chịt những trái lớn; đất sạch như lau; đi đến chỗ nào cũng ngửi thấy hương thơm ngào ngạt.


Ly Sang hết lời ca tụng công trình và tài khéo của người làm vườn.


Vua Syruýt nói:


- Người làm vườn là Trẫm. Chính Trẫm đã xếp đặt, vẽ kiểu, xếp hàng lối và trồng các thứ cây ở trong vườn này.


Ly Sang nhìn cái áo cẩm bào của nhà vua, nhìn dáng dấp hiên ngang(1) của nhà vua với kim cương ngọc thạch trên mão miện(2) rồi thưa:


- Tâu ngài, người ta bảo ngài sung sướng, quả như thế thực, bởi vì ngài đã phú quý lại có thêm đức độ.


 


LỜI BÀN: Nhiều người tưởng rằng những người làm lớn không có quyền để ý tới cái nhỏ. Nghĩ như thế là lầm, bởi vì nhiều cái nhỏ tạo thành cái lớn. Ví dụ trong một nước, nếu ông vua hay ông thủ tướng chỉ chú ý tới một phần dân nào đó “tượng trưng cho tinh hoa của đất nước” thì tất nhiên là không nắm được dân; hoặc nếu chỉ nghĩ đến việc bỏ tiền ra kiến thiết mà không lo đến đời sống kinh tế hay nền giáo dục cho dân đen, thế tất đất nước đó không thể nào mạnh được vì dân không thể sống được tất phải nổi loạn hay vì vô giáo dục sẽ sinh ra ăn cắp.


Vì thế, cái nhỏ tạo thành cái lớn, người thực bao quát, phải chú ý tới cái nhỏ rất nhiều. Muốn biết tinh thần một dân tộc, phải xem từng cá nhân của người dân, muốn biết tài tháo vát của một bà nội trợ phải xem từ cái dưa, hũ mắm.


Nói rộng ra, gia đình đồi bại thì xã hội không thể lành mạnh, công dân hèn đốn thì đất nước phải bại vong.


Vì vậy, muốn thành công, ta phải thận trọng từ cái nhỏ mà thận trọng đi.


X.K.


ÔNG ƠCỜLÍT(1) DẤN THÂN VÀO CÕI CHẾT ĐỂ HỌC ĐẠO


Người xứ Aten nuôi một mối thù lũy thế với dân xứ Mêga ở sát ngay bên láng giềng. Họ ra một nghị định, theo đó người dân xứ Mêga nào bước sang địa phận xứ Aten sẽ phải tội chết chém.


Ông Ơcờlít, sinh quán ở Mêga, hồi đó lại sinh sống ở Aten. Ông là môn đồ của Sôcờrát(2) tiên sinh. Ông không muốn bỏ phí những lời châu ngọc của thầy. Cứ tối đến, ông lại vận một cái áo dài đàn bà, trùm một cái áo khoác sặc sỡ, quấn lên đầu một cái khăn san, và đi từ Mêga đến Aten để nghe thầy thuyết pháp trong mấy tiếng đồng hồ.


Đến sáng, ông Ơcờlít lại cứ hóa trang như thế ra về, cả đi cả về độ ba mươi cây số.


 


LỜI BÀN: Rừng học mênh mông, càng học càng thấy dốt. Vì thế, những người thực hiểu biết lúc nào cũng phải tìm học, bất cứ trường hợp nào cũng rút lấy nhiều bài học kinh nghiệm để tiến mãi lên. Ta cũng nên lấy làm lạ cho xã hội ta: có những người tài chưa bằng ai, học chưa bằng ai, mà dám tự tôn tự đại cho mình là cái rốn của vũ trụ, coi thiên hạ ai cũng là dốt cả, chỉ có mình mình là giỏi, và bao nhiêu cái giỏi cái hay của người khác nhất thiết đều phủ nhận.


Một đứa trẻ như Hạng Thác có thể giỏi hơn Khổng Tử; Tăng Tử dạy Công Minh Tuyên học mà lại đi học lại Công Minh Tuyên. Xem vậy, thì ở đời phải học lẫn nhau, học không bao giờ hết, học sự thành, nhưng phải học cả cái bại, và có như thế mới thấy rằng thất bại là mẹ thành công.


Nước Đức, nước Nhật sau sau khi thất bại trong Thế chiến thứ hai, cố công học tập hơn cả khi nào hết. Một nước như thế không thể không tiến bộ. Chỉ có những xã hội có những phần tử tự cao tự đại, cho mình tài giỏi hơn người, không chịu học tập mới suy kém và thụt lùi mà thôi.


H.T.T.


(còn tiếp)


Nguồn: Đông Tây cổ học tinh hoa (Túi khôn muôn đời). In trong Vũ Bằng Toàn Tập, tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info







(1) Xăm: chàm, vẽ bằng chàm.




(1) Phản thiên nhiên: trái với luật thiên nhiên.




(1) Sipiông Naxia (Scipion Nasica). Dòng họ Scipion là một dòng họ lớn, có tiếng tăm trong quý tộc La Mã, những tên tuổi có danh như: Scipion l’Africain, đã chiến thắng Annibal; Scipion Nasica, nói ở trong câu chuyện này; sau hết là Scipion Emilien đã tiêu diệt thành Carthage vào năm 146 trước Thiên Chúa Giáng sinh.




(2) Eniuýt (Ennius) sinh năm 240 và mất 169 trước Thiên Chúa Giáng sinh là một thi sĩ Latinh, mà tác phẩm đã bị thất lạc nhiều.


Virgile, thi sĩ Latinh nối tiếng nhất, thường nói “gạn trong đống phân của Ennius lấy ra được ngọc”. Câu đó, bây giờ được ghi làm phương ngôn “tirer des perles du fumier d’Ennius” để ngụ ý: người ta có thể tìm ra nhiều điều bổ ích trong các cổ văn hay những tác giả tầm thường của đương thời.




(1) Nô lệ: Tên nô lệ này đã được giải phóng.




(2) Chữ Pháp là: “L’o eil du maitre fertilise les champs”.




(1) Lễ tất: hết lễ.




(1) Chính sự: Việc triều chính, việc nước.




(2) Bại: thua




(3) Yết kiến: ra mắt




(4) Bản quốc: người dân trong nước ấy.




(5) Thưởng thức: hiểu biết, biết hưởng; biết cái hay, cái dở của một việc gì.




(6) Nhạc công: thợ đánh đàn.




(1) Tượng trưng: tiêu biểu, đại diện.




(2) Tương đắc: đồng ý, hợp ý kiến nhau, hòa với nhau.




(3) Bất quá: chẳng qua




(4) Cầm âm: tiếng đàn.




(5) Hài lòng: vừa lòng, thỏa ý.




(6) Tót vời: cao lắm, cao chót vót ít ai theo kịp.




(7) Tướng quốc: một chức quan to vào bậc nhất thời xưa.




(1) Nhân tâm: lòng người, ý dân.




(2) Trễ: chùng, không được thẳng.




(3) Hồ cừu: áo ấm, làm bằng lông cừu, đắt tiền, quý giá.




(1) Giám sát: đàn áp, tiễu trừ, canh phòng, giữ gìn.




(2) Nói ý: nói xa xôi, bóng gió chứ chưa nói thẳng.




(3) Khiêm nhượng: nhường nhịn, nhũn nhặn.




(1) Sêtôriuýt (Sertorius): tướng La Mã đồng thời với Pompée và đã chiến thắng Pompée.




(2) Thích đánh giặc.




(1) Hiên ngang: đường bệ, có oai.




(2) Mão miện: mũ của nhà vua.




(1) Ơcờlít (Euclide) đây là nhà sáng lập ra trường Mégare, chứ không phải là nhà toán học sinh vào một thế kỷ sau, ở Alexandrie.




(2) Sôcờrát (Socrate), sinh năm 468, mất năm 400 trước Thiên Chúa Giáng sinh, là một nhà hiền triết Hy Lạp sinh gần đồng thời với Đức Khổng Tử (551-479 trước Thiên Chúa Giáng sinh). Socrate có nhiều môn đệ chịu ảnh hưởng của ông, vì thế được suy tôn là “cha đẻ ra triết học Hy Lạp”. Môn đệ nổi tiếng của Socrate là hai ông PlatonXénophon. Nói về Socrate, người châu Âu đã viết: “Ông đã hạ triết học từ trên trời xuống dưới đất và cho nó đi vào trong mọi nhà”. Ông chú tâm về việc giáo hóa thiên tính của con người, lấy việc tự tri, tự giác làm trọng tâm giáo dục. Suốt một đời ông, ông chủ trương sống đơn giản, tiết độ và trung dung.


Một người đạo đức tót vời như vậy, làm đầy đủ bổn phận công dân như ông mà không ngờ chung cục lại bị kết vào tội khinh mạn thần thánh và làm hư hỏng thanh niên. Các vị thẩm phán cho ông được phép bày tỏ ý kiến xem ông đáng xử theo tội gì. Ông trả lời chỉ đáng chịu một tội này: Nhà nước phải nuôi ông cho đến khi ông chết.


Lời nói kiêu hãnh đó đã kết liễu đời ông. Bọn cầm quyền hèn nhát bắt ông phải uống thuốc độc. Ông can đảm chết, không thèm nói thêm một lời.


Cho đến tận lúc từ giã cõi đời, ông vẫn bình thản và thân mật luận đàm với học trò như thường lệ, nét mặt bình thản như không. Ông khuyên nhủ và an ủi các học trò, trình bày các lý thuyết về sự bất diệt của linh hồn người.


Về sau, nhà hiền triết Platon có viết một cuốn sách về những ngày cuối cùng của thầy Socrate và suy tôn thầy là một khối óc vĩ đại thanh cao nhất trần gian. Theo sách đó thì ông Socrate trước khi uống thuốc độc có nói với các vị thẩm phán kết ông vào tội chết như sau: “Thôi, bây giờ là lúc chúng ta vĩnh biệt, tôi thì chết, mà các ông thì sống. Trong chúng ta, ai là người được chia sẻ có lợi hơn? Đó là một điều bí mật, không ai biết được, trừ phi Thượng Đế”.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đông Tây cổ học tinh hoa (3) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (2) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (1) - Vũ Bằng 05.08.2019
Nói có sách (tiếp & hết) - Vũ Bằng 05.08.2019
Điếu văn tại Lễ truy điệu Nhất Linh - Vũ Hoàng Chương 01.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (5) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (4) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (3) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (2) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (1) - Huỳnh Quang 25.07.2019
xem thêm »