tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30440113
05.08.2019
Vũ Bằng
Nói có sách (tiếp & hết)

PHỔ BIẾN KHÁC PHỔ CẬP


Chữ “phổ” trong cả hai từ “phổ biến” và “phổ cập” đều có nghĩa là “rải khắp”.


Song “phổ biến” có nghĩa “mở rộng chung cho tất cả mọi nơi, làm cho ở tất cả mọi nơi đều có một hiệu lực hay một tác động như nhau”. Còn “phổ cập” có nghĩa “tới khắp mọi nơi, không thiếu sót chỗ nào”.


Thí dụ ta nói: “Từ bi, bác ái là chân lý phổ biến của triết lý đạo Phật” hay nói: “Ăn ngủ và bài tiết là yêu cầu sinh lý tất yếu phổ biến của muôn loài”. Hoặc về từ “phổ cập”, nói: “Yêu cầu phổ cập của nền giáo dục Việt Nam phải tới trình độ phổ thông trung học”, hay nói: “Công tác văn nghệ phải đạt được hai mục đích phổ cập và nâng cao”.


Trong câu thí dụ cuối cùng này, ta cần chú ý một chút. Tại sao không nói: “Công tác văn nghệ phải đạt được hai mục đích phổ biến và nâng cao” lại nói “phổ cập”? Nếu dùng “phổ biến”, cũng có nghĩa lắm chứ! Cũng có nghĩa khi nó chỉ muốn nói “công tác văn nghệ phải trải rộng ra tất cả mọi nơi, thí dụ trong bộ môn điện ảnh chẳng hạn, phải làm sao cho tất cả mọi người được xem tất cả các loại phim hay hiểu được vị trí của điện ảnh với dân sinh.


Song nó không đạt được ý “công tác văn nghệ phải đạt tới mức độ phù hợp với sự hiểu biết của tất cả mọi người (hay làm cho tất cả mọi người phải hiểu biết tới mức độ đó). Đó là một tiêu chuẩn, sau nâng cao lên. Ấy mới chính là phương châm của công tác văn nghệ.


Đó là những nội dung ý nghĩa mà khi đọc ta phải nên thận trọng. Hiểu sai để có ý thức sai, tức là bắt đầu có một nửa hành động sai rồi đó.


Yêu cầu của “phổ biến” là mở rộng ra cho mọi người biết, hy vọng ở họ có một phản ứng hiệu lực như nhau, song còn kết quả nhận thức của họ thế nào để họ hành động ra sao là vấn đề tùy thuộc nơi trình độ họ.


Cho nên thông thường ta nói: “Xin bạn làm ơn phổ biến giúp tôi tài liệu này”, chớ không bao giờ nói “Xin bạn làm ơn phổ cập giúp tôi…”. Vì “phổ cập” đòi hỏi một công phu và muốn thực hiện nó phải có những phương tiện.


“Phổ biến” cũng còn có khía cạnh “được mọi người công nhận” nữa. Như câu thí dụ đầu tiên “Từ bi bác ái là chân lý phổ biến của triết lý đạo Phật” còn có nghĩa “chân lý được mọi người công nhận”.


Vì thế cũng có cụm từ “phổ biến tính” tức tính chất chung mà tất cả mọi sự vật đều có, đều được chấp nhận.


Thí dụ: “Mâu thuẫn nội tại là tính phổ biến của vạn vật” (tức là tất cả mọi vật trên thế gian này đều có mâu thuẫn bên trong; chính nhờ có mâu thuẫn đó nên mới có sinh, thành, trụ, diệt).


Và cũng có cụm từ “phổ biến luận” để chỉ học thuyết cho rằng cái đặc biệt, cái cá thể không quan hệ bằng cái phổ biến, cái tập thể (univer-salisme).


Về ấn loát, ngoài các bản in trên giấy tốt hoặc có thêm màu sắc, còn có rất nhiều các bản in thường rẻ tiền để tiện phổ biến trong dân chúng, người ta gọi là “phổ biến bản”, với ý nghĩ mong được dân chúng lưu tâm nghiên cứu, mà ở Trung Hoa gọi là “dân chúng bản”.


CHỦ NGHĨA PHONG ĐẦU HAY SƠN ĐẦU?


Đọc truyện Tàu, thời đại phong kiến, ta thường thấy nói đến “Phong đầu chủ nghĩa” hay “Sơn đầu chủ nghĩa”.


Vậy Phong đầu (hay Sơn đầu) chủ nghĩa là gì?


Cũng như chữ “Sơn”, chữ “Phong” cũng có nghĩa là ngọn núi. Không phải “Phong” là “Phong hầu kiến ấp” (gọi tắt là phong kiến) như nhiều người tưởng lầm đâu.


“Phong đầu” hay “Sơn đầu chủ nghĩa” là chủ nghĩa của những kẻ cát cứ, xưng hùng xưng bá địa phương (kiểu Từ Hải đời nhà Minh, các liệt quốc thời Đông Châu hay thời đại Mười hai sứ quân ở nước ta trước đời Đinh Bộ Lĩnh. Đất đai của các lãnh chúa thường được giới hạn bởi các rặng núi, hay chính các lãnh chúa cũng hay đặt đại bản doanh tại các nơi rừng núi hiểm trở (nên mới gọi là “sơn đầu”).


Trước khi thành lập Hợp Chủng Quốc Mỹ, kiều dân nhiều nước Âu châu tụ họp thành từng vùng, hình thành các tổ chức tự trị, không ai chịu sự chỉ huy của ai, trạng thái đó cũng là trạng thái của “chủ nghĩa sơn đầu”. Mặc dù các vùng đó không có đường ranh giới nào do núi phân định.


Ngày nay, đối với những người có xu hướng biệt phái, muốn tách mình ra khỏi sự ràng buộc nào hoặc người có óc địa phương (sự kỳ thị) cũng gọi là những người có chứng bệnh “Sơn đầu chủ nghĩa”.


Xin các bạn chú ý: “Sơn đầu” là đầu núi, chớ không phải “sơn đầu” là đem sơn cái đầu đi như những người Mán Sơn Đầu miền Thượng Du nước ta.


SƠN ĐỊA CHIẾN KHÁC DU KÍCH CHIẾN RA SAO?


Vì có từ “sơn đầu” vừa nói trên, nên mới có từ “sơn cước” là chân núi (cước là chân). Miền sơn cước là miền rừng núi. Gần đây, ta lại nghe thấy nói nhiều đến một từ khác cũng bắt đầu bằng chữ sơn: Sơn địa chiến.


“Sơn địa chiến” là chiến trận miền sơn cước. Có người định nghĩa “sơn địa chiến” là một cách đánh trận miền rừng núi. Không phải.


Để cho thật rõ nghĩa, ta nên biết thêm một chút về tính chất của “sơn địa chiến”.


Sơn địa chiến cần đến kỹ thuật và phương tiện tác chiến khác hẳn với kỹ thuật miền châu thổ. Những khó khăn trong công cuộc chiến đấu miền sơn cước như sau:


a) Núi rừng hiểm trở nên trận địa phải chia cắt ra thành nhiều mảnh.


b) Giao thông liên lạc khó, vấn đề tiếp vận, trong nhiều trường hợp, là vấn đề then chốt của thắng lợi, cần thiết hơn cả kỹ thuật chiến đấu giỏi.


c) Không sử dụng được các loại xe tự động mạnh (xe tăng, thiết giáp), nhiều khi võ khí lớn chở bằng xe hay máy bay cũng thành vô tác dụng.


d) Cuối cùng, trở ngại lớn nhất cho việc hành quân là vấn đề trở ngại về khí hậu và địa hình.


Tiềm lực chiến đấu chính yếu của “sơn địa chiến” là địa phương quân đã từng quen thuộc với khí hậu và tinh thông đường sá. Họ được võ trang bằng các loại võ khí riêng, nhẹ như sơn pháo hay lựu đạn pháo v.v… Các loại cung, tên, cạm bẫy rất thích hợp với lối đánh kỳ tập làm cho đối phương vô cùng lúng túng, tiến thoái lưỡng nan, xông vào không rút ra được nữa.


Chiến thuật cơ bản của “sơn địa chiến” là du kích chiến. Nó đòi hỏi một lối đánh riêng, với một kỹ thuật riêng mà về quân sự được gọi là “sơn địa chiến cơ bản kỹ thuật”.


Như vậy, nếu định nghĩa “sơn địa chiến” là một cuộc đánh trận địa miền rừng núi là hoàn toàn chưa chính xác.


KHUYẾT ĐIỂM, NHƯỢC ĐIỂM, YẾU ĐIỂM


“Khuyết điểm” nghĩa đen là điểm thiếu sót, khiếm khuyết. Dùng vào trong công việc phê bình, khuyết điểm chỉ một hành động vì chủ quan thiếu thận trọng mà sơ suất, thiếu sót.


Thí dụ: Trong cuộc đá banh vừa rồi, đội banh của ta phân công không sát với khả năng của cầu thủ, đó là một khuyết điểm lớn nhất.


Việc phân công cho sát với khả năng của cầu thủ là một việc có thể làm được, vậy mà không làm, tức là một khuyết điểm.


Nhược điểm khác với khuyết điểm. “Nhược” là yếu “điểm” là điểm, nhược điểm là điểm yếu, kém, vì khả năng không có hay vì thói quen lâu đời không sửa được tạo ra.


Thí dụ: Tôi đọc sách rất chậm vì mắt kém, đó là một nhược điểm của tôi.


Mắt kém là vấn đề ngoài ý muốn chủ quan nên sự đọc chậm của tôi không phải là một khuyết điểm, vì tôi muốn cố gắng hơn cũng không được.


Không nên nói: “Nóng nảy là nhược điểm của tôi”; nó khác với khi nói: “Nóng nảy là một khuyết điểm của tôi”. Câu thứ nhất có nghĩa: Tôi bị tật nóng nảy lâu đời rồi. Lúc nóng biết ngay, thấy ngay, nhưng hơi chậm mất rồi vì thế luôn luôn có hối hận. Nó vượt ra ngoài ý muốn chế ngự chủ quan của tôi.


Câu thứ hai có nghĩa: Tôi ít khi nóng nảy hay có nóng nảy thì cũng kiềm chế được dễ dàng; không hiểu sao lần này tôi lại mắc sai lầm như vậy.


Sự phân biệt “nhược điểm” và “khuyết điểm” rất dễ dàng, vậy mà vẫn có nhiều người dùng nó rất bừa bãi, lắm lúc có cảm tưởng như muốn dùng khuyết thì khuyết, nhược thì nhược, cốt sao cho khỏi điệp ngữ trong câu văn là được.


“Yếu điểm” không phải điểm yếu kém tương tự như nhược điểm. “Yếu điểm” là điểm quan trọng, điểm trọng yếu.


Thí dụ: “X. là một yếu điểm quân sự”, có nghĩa X là một vị trí quân sự quan trọng, giữ được nó là bảo vệ được sự dòm ngó từ nhiều nơi, khống chế được đối phương, chớ không phải X là nơi lực lượng quân sự yếu.


“Nhược điểm” và “yếu điểm” có hai nghĩa tương phản nhau. Chữ “yếu” trong yếu điểm cũng cùng một nghĩa như chữ “yếu” trong yếu nhân, yếu lược, yếu nghĩa…


Riêng về mặt quân sự, nơi trọng yếu còn được gọi bằng từ “yếu tắc”. “Yếu tắc” là nơi hiểm, ách tắc; người ta thường dùng để chỉ chung những chỗ hiểm yếu có đồn canh, pháo đài, có sự đề phòng canh gác nghiêm mật, không cho quân đội, tàu bè và võ khí vượt qua.


Những khu quân sự cấm chụp hình, phóng họa (pictures no allowed) được gọi là “yếu tắc địa đới”. Cơ quan chỉ huy về các công tác cảnh bị ấy, hay các cơ quan chỉ huy phụ trách về việc báo động, bắn hỏa châu v.v… được gọi là “yếu tắc tư lệnh bộ”. Yếu tắc tư lệnh bộ thường được đặt bên cạnh các đơn vị biên phòng hoặc phụ trách bảo vệ miền Duyên hải.


Trong một cuộc chiến tranh, có những căn cứ quan trọng (thường gọi là các trục giao thông hay những địa điểm khống chế cao (point dominé) mà cả hai bên đều phải giành phần chiếm giữ cho mình để uy hiếp và hạn chế sự hoạt động của đối phương. Tiến hành một cuộc hành quân để thực hiện nhiệm vụ quân sự đó, ta gọi là “yếu tắc chiến”.


Trên đỉnh đồi Him Lam, mở đầu cho chiến dịch Điện Biên Phủ là “yếu tắc chiến”.


YẾU TỐ, NHÂN TỐ, NGUYÊN TỐ


“Yếu tố” là nguyên chất tất yếu để cấu thành vật thể. Nếu không có yếu tố thì không hình thành được (élément, facteur).


Thí dụ: Nước, đất, lửa, không khí là những yếu tố cấu tạo trái đất. Hay: Nếu anh không cho tôi phương tiện, tôi sẽ không có đầy đủ yếu tố để làm việc. Hoặc: Về phương diện chính trị, nắm vững quần chúng là yếu tố căn bản để thành công.


“Nhân tố” là chất mầm của một sự vật hoặc một hiện tượng nó chứa đựng nguyên nhân của sự việc sẽ tới.


Thí dụ: “Do sự phát triển của hội họa, ngày nay đã thấy xuất hiện nhiều nhân tố mới của chủ nghĩa siêu thực. Hoặc: Sự đàn áp đẫm máu các phong trào cách mạng và đồng bào là một trong những nhân tố sụp đổ hoàn toàn của chế độ Ngô Đình Diệm. “Nhân” đây là cái nhân, nguyên nhân. Nhiều người lại lầm nhân là người! Thực vậy có nhiều người hiểu lầm chữ “nhân tố” cho nhân tố là người, nguyên nhân về người (trong khi yếu tố nói về vật!) nên người ta đã nghe thấy có ông diễn thuyết hét lên: “Do nhân tố mỗi ngày mỗi đông, Nhật đã phải làm cuộc chiến tranh Đại Đông Á!” Nói như vậy là sai, không đúng.


Do nghĩa rộng của hai từ “yếu tố” và “nhân tố”, nhiều lúc ta có thể dùng lộn mà người nghe vẫn hiểu.


Thí dụ: Khi nói: “Thất bại là yếu tố của thành công”, thay vì ta nói cho rõ hơn: “Càng thất bại ta càng có nhiều yếu tố để thành công” hoặc muốn nói ngắn hơn: “Trong thất bại, đã có những nhân tố để thành công sau này”.


“Nguyên tố” ít dùng hơn hai từ trên. Nguyên tố là những vật thể không thể dùng hóa học mà phân chất ra được “corps simple”. Vàng, bạc là nguyên tố. Trước đây, khoa học đã tìm thấy 92 nguyên tố đơn trong sự cấu tạo vũ trụ(1).


Nói theo nghĩa rộng về mặt kinh tế, người ta cũng nói hay viết: “Tư bản, lao động và máy móc là ba nguyên tố của mọi sản xuất”.


Cũng có người lầm cho “nguyên tố” là yếu tố nguyên lai, đơn giản theo chiết tự và sử dụng như “nhân tố”. Điều đó không đúng.


DÙI ĐỤC CHẤM MẮM CÁY?


“Cáy” là một giống “ba khía” ở nước mặn, người miền Bắc bắt về, rửa sạch, đâm ra rồi ngâm với muối. Nước cáy ngâm muối lâu ngày tiết ra một thứ nước chấm như nước mắm, song về phẩm thì thua nước mắm cá nhiều. Nước cáy thường chỉ là một món đồ ăn cho người ít tiền, bình dân.


“Dùi đục” là một thứ chày bằng cây dùng để đóng vào cán đục để đục đẽo.


Người miền quê nói “dùi đục chấm nước cáy” để chỉ một việc gì quê mùa không biết hay không quan tâm đến sự đổi mới của xã hội, chỉ quan tâm với lối sống chất phác của mình.


Thí dụ: Các bà chê nhau: “Mẹ đó thì biết cóc gì, đồ dùi đục chấm mắm cáy ấy mà!”.


Ngạn ngữ “dùi đục chấm mắm cáy” rất được phổ biến ở miền Bắc song cũng không phải “dùi đục chấm mắm cáy” đâu, mà chính là “bồ dục chấm mắm cáy”.


Bồ dục (trái cật, trái thận) là một món ăn ngon quý lại đem chấm với nước mắm cáy mới thực biểu hiện sự quê mùa, vớ vẩn!


KINH LUÂN VÀ THAO LƯỢC KHÁC NHAU RA SAO?


Để ca tụng người tài ba, lỗi lạc, ta hay dùng tới hai chữ “kinh luân” và “thao lược”.


Thoạt đầu, người ta chỉ dùng “kinh luân” để chỉ tài ba tổ chức xếp đặt guồng máy nhà nước của các quan văn, và “thao lược” để chỉ tài điều binh khiển tướng của quan võ. Ngày nay, hình như việc phân chia ấy không còn rõ ràng gì nữa, mà những người tài giỏi nói chung đều được ca tụng là thao lược, kinh luân cả.


“Kinh luân” nghĩa đen là công việc kéo tơ. Lựa chọn để sắp xếp tơ thành từng loại là “kinh”. So từng loại tơ mà hợp lại là “luân”. Tóm lại “kinh luân” là công việc sắp xếp tơ. Công việc này coi vậy mà rất tỉ mỉ, khó khăn, phải quen tay lắm mới làm nổi không rối, không đứt. Vì tính chất của công việc như thế nên “kinh luân” mới có nghĩa bóng chỉ tài năng sắp xếp như trên.


“Thao lược” tức là “lục thao tam lược”.


Lục Thao là tên một binh thư, nguyên của Lã Vọng tức Thái Công đời nhà Châu soạn. Sách gồm 5 cuốn, nói về 6 thao là: Văn thao, Võ thao, Long thao, Hổ thao, Bác thao và Khuyển thao, tất cả đều là những chiến lược chiến thuật của binh sĩ.


Tam Lược cũng là tên một binh thư, gồm có ba cuốn, đề cập tới ba vấn đề: Tấn lược, Thoái lược và Huấn lược, nguyên tác của Hoàng Thạch Công, tức ông già trên cầu sông Dĩ. Trương Lương, đời Đông Hán, là người đầu tiên được trao tặng quyển binh thư này.


Tất cả những người có tài tùy cơ ứng biến, mưu chước hơn người đều được kể là thao lược.


DÂM Ô CÔNG KHAI VÀ XÂM PHẠM TIẾT HẠNH
KHÁC BIỆT NHAU RA SAO?


Về mặt pháp luật, nhiều ký giả thường hay lầm hai tội “dâm ô công khai” và “xâm phạm tiết hạnh”. Một số người khác lại cho là hai tội này giống nhau.


Tội “công khai dâm ô”, tiếng Pháp gọi là outrage public à la pudeur.


Tội “xâm phạm tiết hạnh”, tiếng Pháp gọi là attentat à la pudeur.


Hai tội phạm này khác hẳn nhau.


“Công khai dâm ô”, theo ông Duy Ninh lý giải là khi nào làm một việc tục tĩu một cách công khai. Tòa án Sơ thẩm Tiểu hình thường xử phạt những kẻ làm những việc tục tĩu ngoài đường hay trong các công viên. Cũng sẽ bị kết vào tội phạm này, những kẻ nào dùng các nơi công cộng để làm phòng ngủ, thí dụ dùng rạp chiếu bóng để “lấy” nhau chẳng hạn.


Tội “xâm phạm tiết hạnh” nặng hơn và được pháp luật định là một trọng tội và như vậy, tội này sẽ thuộc phạm vi xét xử của tòa Đại hình. Xâm phạm tiết hạnh là khi nào mình làm một việc tục tĩu với một người khác có hay không có sự bạo hành.


Theo điều 300 của Bộ hình luật Canh cải thì xưa tội công khai dâm ô sẽ bị phạt từ 3 tháng đến 2 năm và một món tiền vạ từ 16 đến 200 quan. Hiện nay những tội trạng trên được căn cứ vào “Bộ Luật Hình Sự” để thực hiện xét xử.


Theo đấy thì chỉ cấu thành tội phạm dâm ô khi nào có tính cách công khai. Sự công khai được quan niệm dưới hai hình thức.


a) Làm việc tục tĩu ở một nơi công cộng.


b) Làm việc tục tĩu ở một nơi tư riêng song người ngoài có thể thấy dễ dàng hoặc vì vị trí nơi đó hoặc vì không đề phòng, giấu giếm.


Những nơi được xem là công cộng: Đường sá, công viên, một nơi có thể công cộng vài giờ trong một ngày như trà thất, tửu quán, rạp hát…


Về những sự dâm ô trong xe cộ thì án lệ đã phân biệt:


- Nếu là xe ô tô buýt thì hẳn là nơi công cộng rồi. Còn nếu là xe ô tô nhà thì là xe riêng mặc dù đang chạy nơi công lộ.


Nếu những người trong xe làm việc tục tĩu nhưng đã có ý che khuất không cho ai thấy thì tính cách công cộng không có. Trái lại, nếu không có đề phòng để kẻ khác nhòm vào thấy được thì là phạm tội công khai dâm ô. Nói chung đều là hành vi xấu, cần lên án.


Xâm phạm tiết hạnh được phân ra làm hai trường hợp:


a) Xâm phạm tiết hạnh không bạo hành (attentat à la pudeure sans violence).


b) Xâm phạm tiết hạnh với sự bạo hành (attentat à la pudeur avec violence). Ấy là trọng tội mà người ta thường gọi hiếp dâm hay cưỡng dâm (viol).


Tình tiết cấu thành tội hiếp dâm, gồm:


1) Kẻ gây ra việc phạm dâm phải là người đàn ông.


2) Nạn nhân phải là một người sống.


3) Không có sự ưng thuận của nạn nhân.


TAM SINH, TAM VÔ, TAM SAO


“Tam sinh” là từ của tôn giáo theo quan điểm, có ý nghĩa là con người chết đi sống lại ba lần mới thực hết kiếp. Vì thế ta thường gọi kiếp người là kiếp “ba sinh”. Song riêng trong việc lễ bái, lễ “tam sinh” lại có nghĩa là cái lễ mà đồ cúng là ba con vật. Ba vật ấy hoặc lớn có trâu, heo, dê, nhỏ thì có gà, cua, tôm v.v…


“Tam vô” là ba cái không. Trong sách Kinh Lễ nói: “Nhạc tấu không có thanh âm là một cái không; Tế lễ mà không có nghi thức là hai cái không; Tang chế mà không có vật để trở (khăn trắng, gậy vông…) là ba cái không”.


Ba cái không hay là ba điều tối kỵ.


Trong thời kỳ chiến tranh để giữ bí mật, người ta cũng đề ra khẩu hiệu “tam vô” tức “không nghe”, “không thấy”, “không biết”, để ứng phó với gián điệp đối phương muốn dò la, thăm hỏi tình hình.


“Tam sao thất bản” có hai nghĩa, hiểu theo nghĩa nào cũng được cả.


1) Ba lần sao chép lại thì mất nguyên bản (thất là mất).


2) Ba lần sao chép lại thì bảy bản khác nhau (thất là bảy).


Đến nay, không ai rõ các cụ ta ngày xưa viết chữ “thất” nào. Song cả hai đều có nghĩa. Sao chép nhiều bản, thì làm sao tránh được cho nguyên văn khỏi bị sai lệch?


LY HÔN VÀ LY THÂN


Hai từ này rõ nghĩa nhưng có một số người, nhất là các bà các cô hay dùng lầm. Ta cũng nên biết sơ qua:


“Ly hôn” hay “ly dị” và việc hai vợ chồng lấy nhau có lập hôn thú, được phép bỏ nhau do đơn của một bên được tòa án ra phán quyết công nhận, đồng thời với việc ly hôn, vấn đề tài sản và con cái của hai vợ chồng cũng được giải quyết dứt khoát.


Sự ly hôn có hiệu lực tiêu hủy hôn thú giữa hai vợ chồng, khiến hai đàng có thể tái lập hôn thú với người khác sau khi án văn đã thành nhất định và đã được chuyển tải vào sổ bộ hộ tịch.


“Ly thân” là một biện pháp tạm thời cho phép vợ chồng có cơ sở riêng biệt khi tòa xét có duyên cớ chính đáng phạm tới nghĩa vụ và quyền lợi của vợ chồng đến nỗi sự sống chung với nhau không thể tiếp tục được nữa.


Sự ly thân cũng cho phép giải quyết tạm thời vấn đề của cải và con cái của hai bên vợ chồng, nhưng không có hiệu lực đoạn chung hôn thú nên hai đàng không thể lập hôn thú với người khác được.


PHÁT TRIỂN, PHÁT HUY, PHÁT SINH


Cả ba từ này đều được người ta hàng ngày nói tới nhiều, nhưng đôi khi dùng sai vì không phân biệt rõ nghĩa của mấy chữ “triển”, “huy” và “sinh”. Trước đây, có một ký giả viết trong một bài phóng sự: “Tư tưởng chán đời phát huy từ đó, nhưng phải đợi đến bốn tháng sau, cô X mới quyết định nhảy từ lầu 7 ở khách sạn Ca-ra-ven xuống đất”.


Thay vì “phát huy”, ở trong câu đó, phải nói là “phát sinh” mới đúng.


“Phát triển” là mở rộng ra, trải rộng ra, như phát triển nông thôn, phát triển ngành chăn nuôi (chữ “triển” đây tương tự như chữ “triển vọng”).


Thí dụ: Do có chính sách đúng đắn công tác nông nghiệp ngày càng phát triển vững chắc.


Từ “phát huy” có nghĩa là tỏa ánh sáng ra, đem nghĩa lý, học thuyết bàn luận về những cái ý tứ trước vẫn giữ thầm kín, hay chưa được nhiều người biết.


Thí dụ: Phát huy một nghệ thuật, một học thuyết cho ánh sáng tỏa rộng ra.


Điều chú ý là những ý niệm, phát huy là đã có rồi, bây giờ chỉ làm tỏa ánh sáng ra thôi, chớ “phát sinh” thì không thể: Cái gì phát sinh là trước đây chưa có, bây giờ mới nảy ra. Người con gái nói trên kia từ trước chưa chán đời, gặp sự thất vọng mới chán đời, thế là cái tư tưởng chán đời phát sinh từ đó. Lại nữa, tư tưởng chán đời ấy không hay ho chi, đâu có cần phải tỏa ánh sáng ra làm gì!


TRÂN TRỌNG VÀ TRANG TRỌNG


Nhiều chữ ta dùng sai nghĩa, nhưng dùng quen rồi thành ra nghĩa sai lại trở nên nghĩa chính: Những chữ tử tế (nghĩa chính là tinh mật kỹ lưỡng), lịch sự (nghĩa chính là trải đời) đều quen dùng theo nghĩa hiền hậu, và sang trọng.


Theo ông Lãng Nhân, chữ “trân trọng” nghĩa là xem quý trọng thân mình nên giữ gìn sức khỏe (trong Kiều có câu: Gìn vàng giữ ngọc cho hay - ngại ngùng một bước một xa, một lời trân trọng châu sa mấy hàng) khác với “trang trọng” có nghĩa là đoan chính, kính trọng.


Muốn cho thật đúng, ta phải viết hay nói: “Tôi trang trọng mời ông đến xơi cơm với tôi vào ngày…” nhưng bây giờ ai cũng quen miệng “tôi trân trọng mời ông…”.


Bây giờ các thiếp mời dự tiệc đám cưới đều viết “trân trọng kính mời” có lẽ cũng hàm cái ý bảo nhỏ người được mời nên giữ gìn.


Nhân đây, cũng nên nói thêm một hai câu về chữ “lưu ý”. Trước đây, ai cũng viết và nói: “Tôi xin quý vị lưu ý”. Không hiểu tại sao ít lâu nay, theo cái mốt nào, người viết văn nói chuyện lại bắt chước nhau nói “tôi lưu ý quý vị”.


Có người bảo viết như thế cũng là một cách để tỏ cho biết là người nói không coi người nghe ra gì, mà lại còn có ý dọa “tôi để ý đến ông, ông coi chừng!”.


NGHỆ SĨ, NGHỆ NHÂN, NGHỆ SƯ, NGHỆ THUẬT GIA


Có người tò mò giở tự điển Trung Hoa tìm chữ “nghệ sĩ” không thấy, chỉ thấy “nghệ nhân”, “nghệ sư”, “nghệ thuật gia”, lấy làm thắc mắc, tự hỏi chữ “nghệ sĩ” ta dùng rất thường có lẽ sai chăng?


Đây là một chữ có lẽ dùng lâu ngày quen tai thành ra cứ được dùng luôn, không cần phải có trong tự điển. Vả lại, tự điển Trung Hoa được soạn ra từ lâu đời rồi, làm sao chú được những chữ dùng theo nghĩa riêng của ta và thời đại ta như chữ “sĩ”? Nghệ sĩ, chúng ta hiểu là những người làm nghề trí thức như văn sĩ, thi sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ, kịch sĩ, thuật sĩ, dược sĩ… Có nghề không lấy trí thức làm tiêu chuẩn cũng dùng chữ sĩ: Nghị sĩ!


Theo ông Lãng Nhân, từ “bác sĩ” trỏ những người thầy thuốc, chỉ là một thứ ước hiệu, vì nghĩa chính của nó là kẻ sĩ học rộng. Vì thế ta không nên lấy làm lạ có những chính khách không học thuốc bao giờ, không đỗ bác sĩ bao giờ mà cứ được kêu là “bác sĩ”.


Mặt khác, chữ “sĩ” một khi đã dùng được trong từ “nha sĩ”, rất có thể còn được dùng trong khoa mắt, dạ dày và tai mũi họng và chúng ta sẽ có những “mục sĩ” “tỳ vị sĩ” “nhĩ tị hầu sĩ”…


Cũng như các bậc “nhân sĩ”, có lẽ vì hiếm hoi quá nên cũng không có trong tự điển. Hay là tại ta đã đổi hai chữ “thân sĩ” ra là “nhân sĩ” cho hợp thời trang (và để tránh cho người ta đừng lầm thân sĩ và nhân sĩ thân chính quyền).



CẦU AN


Từ “cầu an” khởi thủy được người ta nói đến nhiều là sau cuộc vạn lý trường chinh của Trung Hoa. Cuộc trường chinh này gian nan vất vả hết sức, các bạn đọc đều đã biết. Những lúc quân sĩ chán nản vì đói rét, vì bệnh tật, vì chết chóc nhiều quá, các cán bộ, chính trị viên thường vẫn phải tìm cách nâng cao tinh thần binh sĩ bằng các buổi nói chuyện. Trong các câu chuyện đó, danh từ “cầu an” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, đại ý khuyến cáo quân sĩ phải hăng hái lên, đừng có tinh thần cầu an, nghĩa là gặp lúc quốc biến gia vong thì phải hăng hái chiến đấu, dù chết cũng không quan ngại, chớ đừng nên nghĩ lấy chuyện an thân cho riêng mình mà bỏ bê phận sự của người dân cứu nước.


Từ “cầu an” nguyên thủy chỉ có ý nghĩa đó thôi, sau này người ta đem dùng rộng ra như thường viết và nói trong bất cứ trường hợp nào, thành ra có lắm chỗ làm sai cả ý nghĩa hai chữ “cầu an” đi.


PHỦ NHẬN, CÔNG NHẬN, XÁC NHẬN


Ít lâu nay, người ta dùng nhiều chữ “phủ nhận”, nhưng không phải vì thế mà người ta dùng đúng nghĩa. Đến bây giờ vẫn còn có một số người cho rằng, phủ nhận tức là “nhận”. Sự thực trái hẳn: Phủ nhận tức là chối bỏ, không thừa nhận; có cái ý tương tự như thủ tiêu, bác bỏ.


Thí dụ: Kỷ cương của xã hội phong kiến là thủ tiêu vai trò của cá nhân, phủ nhận tư cách độc lập của cá nhân, thực chất là không đếm xỉa gì đến quyền lợi của quần chúng để chỉ thừa nhận vai trò, quyền uy, lợi ích của kẻ cầm quyền, kẻ cầm đầu mọi tổ chức, kẻ đứng đầu mọi quan hệ.


“Phủ nhận”, nói một cách khác, có nghĩa trái hẳn với công nhận. Chữ “công” đây có thể hiểu theo nghĩa công khai, hay công cộng tức là cùng nhận. Vì thế có nhà nho cho rằng khi một người nói ra thì không thể dùng chữ “công nhận” được.


Thí dụ: Tôi công nhận rằng truyện trào phúng khác với truyện khôi hài: Khôi hài chỉ nhằm vào mục đích giải trí, còn trào phúng là những chuyện vui cười có mục đích chủ yếu là phê phán. Nói như thế không được. Phải nói là “Tôi nhận…”. Chữ “công nhận” chỉ có thể dùng khi nào có nhiều người nhận.


Thí dụ: Nhiều người công nhận rằng truyện vui cười chĩa mũi nhọn vào những thói hư tật xấu của con người, bất luận thuộc vào tầng lớp nào trong xã hội, chớ không phải chỉ nhằm vào bọn tư bản hay tiểu tư sản.


Chữ “xác nhận” có ý nhấn mạnh hơn, quả quyết hơn. Chữ xác nhận dùng ở đây đồng nghĩa với chữ “xác” trong danh từ “xác định”, “minh xác”.


Thí dụ: Tôi xác nhận rằng tôi lầm, và tôi rất hối hận về cử chỉ của tôi. Từ “xác định” rộng hơn xác nhận và được dùng trong trường hợp phải đưa ý kiến trong một vấn đề gì nhất định.


Thí dụ: Xét ra trong cuốn Cổ tích nước Nam, ông Nguyễn Văn Ngọc không xác định rõ tiêu chuẩn phân loại cho nên khi thì ông chú ý đến nội dung, khi thì ông lại chú ý đến hình thức nhiều hơn.


QUAN HỆ, QUAN TRỌNG


Nhiều người lầm chữ “quan hệ” và “quan trọng” đồng nghĩa với nhau. Họ nói: “Việc đó quan hệ lắm” với ý nghĩa “việc ấy quan trọng lắm” rồi do đấy cho rằng khi dùng chữ “quan hệ” làm chủ từ thì cũng như quan trọng và dịch: “L’importance de vivre” - sách của Lâm Ngữ Đường - ra là “Quan hệ của sự sống”.


Thường thường khi dùng làm chủ từ, chữ “quan hệ” có một ý nghĩa khác. Quan hệ không phải là “importance” nhưng là “rapport” - quan hệ với nhau.


Thí dụ: Sự quan trọng của dân ca nằm ở chỗ nó là một tài liệu nghiên cứu rất hay về nguyện vọng và ý muốn của nhân dân. Quan trọng không có ý so sánh sự việc, hai yếu tố, nhưng quan hệ thì nhất định phải có sự so sánh.


Hay: Quan hệ địa chủ và nông dân ở nông thôn trước đây thường nằm ngay trong quan hệ gia đình như quan hệ dì ghẻ con chồng, vợ cả, vợ lẽ thậm chí có khi cả trong quan hệ mẹ chồng nàng dâu nữa. Hay: Quan hệ tình cảm của con người với thiên nhiên từ xưa đến nay vẫn còn ghi trong những lời thơ sinh động.


THƯƠNG THẢO VÀ THƠM THẢO


Có nhiều người lầm chữ “thương thảo” và “thơm thảo”. “Thơm thảo” là tốt đẹp, hậu hĩ, quý hóa. Trong bài hát trẻ con, có câu: “Thơm thảo bà lão ăn thừa”, có ý nói rằng “nào có quý hóa gì đâu, đó là thứ ăn thừa của bà lão”.


“Thương thảo” có nghĩa khác hẳn: Thương thảo là chữ tắt của chữ “thương lượng” “thảo luận”. Ngày nay là thời đại của thần tốc. Trong ngôn ngữ, muốn đi nhanh theo đà cơ khí, ta thường đổi chữ kép ra chữ đơn cho vắn tắt. Và có khi hai chữ kép đi liền nhau thì thu lại thành hai chữ đơn ghép lại. Thương thảo là một thí dụ.


Thương lượng thảo luận mà ghép thành thương thảo thì không hại gì, nhưng bênh vực che chở mà ghép lại thành bênh che, nghe như không còn là tiếng Việt, cam khổ gay go ghép thành cam go để chỉ sự khó khăn khổ sở thì không đúng vì trong chữ cam khổ nếu khổ là đắng cay thì cam lại là ngọt (khổ tận đến ngày cam lai): Dùng một chữ cam ắt không còn nghĩa là khổ nữa.


Trại của gia đình binh sĩ, gọi tắt là gia binh, ai không biết là chỉ gia đình binh sĩ, sẽ có thể hiểu là trại binh của nhà, của gia đình.


Nếu cứ theo lối “cắt bốn thành hai” này mà áp dụng vào bốn chữ tối cao pháp viện chẳng hạn thì viện đó không lẽ sẽ thành cao pháp hay tối viện hoặc cao viện hay tối pháp?


HỦ BẠI, HỦ LẬU, HỦ HÓA


Chữ “hủ hóa” không phải là một danh từ, mà là động từ, có nghĩa là trở thành hư hỏng, tồi tệ, xấu xa. Sở dĩ “hủ hóa” có nghĩa như vậy là vì chữ “hủ hóa” quen dùng để nói về sự thông dâm với những người không phải là vợ hay chồng mình. Hủ hóa là làm điều tồi bại, tội lỗi, do đó mới dùng để nói rộng ra tất cả những công việc gì có tính cách hư hỏng, tồi tệ thối nát.


“Hủ hóa” hàm một ý nghĩa đương tốt mà trở thành tồi tệ; chớ “hủ bại”, “hủ lậu” thì có ý nghĩa là tồi tệ, xấu xa, không hợp thời đã lâu rồi. Hủ bại là hỏng, là nát, là xấu (thí dụ phong tục tồi bại) còn hủ lậu thì chữ “lậu” hàm một ý không hợp thời, thô lậu, không lịch sự, tinh tế.


Chữ “lậu” và chữ “bại” trong hủ lậu và hủ bại làm tăng ý nghĩa hẹp hòi, tồi tệ lên. Riêng chữ “hủ” đã có ý nghĩa hẹp hòi mục nát và cũ kỹ rồi; (ông đồng hủ) hay “hủ nho” dùng để chỉ những nhà nho hẹp hòi cố chấp, hay “hủ tục” để chỉ những phong tục cũ kỹ, không hợp thời.


OANH KÍCH, PHỤC KÍCH, CÔNG KÍCH, DU KÍCH…


Ít lâu nay các phóng viên quân sự vì nhu cầu phải dùng nhiều thuật ngữ quá do đó đôi khi có sự sai lầm. Một ký giả viết: “Máy bay Mỹ lại tái pháo kích I-rắc trong chiến tranh vùng Vịnh”. Tốt hơn hết là ta nên minh định lại những danh từ có chữ “kích”.


Nói “máy bay Mỹ tái pháo kích” là không đúng; phải nói là “oanh kích”. Oanh kích có nghĩa là đánh bằng cách thả bom (oanh tạc): Máy bay Mỹ oanh kích các căn cứ quân sự của I-rắc.


“Phục kích” là quân đội nấp một chỗ, chờ địch đến mà đánh. Chữ “phục” đây cùng ý với chữ phục binh, mai phục.


Thí dụ: Đoàn công voa đi đến cách đèo A chừng hai cây số thì bị quân đội phục kích, thiệt hại khá nặng nề.


“Công kích” có ý nghĩa rộng rãi hơn. Đánh bằng võ khí.


“Pháo kích” chỉ một lối đánh rõ rệt hơn: Đánh bằng trọng pháo, chớ không phải đánh bằng gươm, bằng mã tấu, lựu đạn hay súng trường.


Thí dụ: Bộ đội pháo kích vào vị trí địch, làm cho một đồn tan nát, số thương vong khá lớn.


“Xạ kích” là từ chỉ những người chuyên bắn súng (đội xạ kích) ít khi dùng làm động từ.


“Truy kích” là địch chạy rồi còn đuổi theo để đánh.


“Tập kích” không có nghĩa là tập bắn như nhiều người tưởng mà cũng không phải là tập trung một số rất đông quân lính lại để đánh, mà chỉ có nghĩa là đánh úp. Tập kích còn có thể gọi là “tập công”.


Cuối cùng đánh “du kích” là một lối đánh không có mặt trận rõ rệt, khi ẩn khi hiện thất thường. Chữ “du” có nghĩa là lang thang như du mục, nay đánh đây mai đánh đó, không nhất định. Nói một cách nôm na, đánh du kích từa tựa như lối đánh lén, đánh rồi rút, chớ không công khai. Chiến tranh du kích có thể lấy một số ít để đánh một số nhiều rồi bỏ đi nơi khác, hay trà trộn vào dân để cho địch không biết ai là chiến sĩ du kích, ai là thường dân. Chữ du kích còn có nghĩa là những chiến sĩ đánh theo lối “du kích chiến”.


Ý ĐỒ VÀ XÍ ĐỒ


Trong từ chính trị, mỗi khi muốn nói lên một ý định làm việc gì, người ta hay dùng chữ “ý đồ” hay “xí đồ”. Vậy đồ là thế nào?


“Ý đồ” là ý định đã nằm trong kế hoạch giải quyết. Chữ “đồ” nghĩa đen là sự mưu toan.


Thí dụ: Việc chiếm đánh tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường nằm trong ý đồ của người Pháp xâm chiếm toàn bộ Nam Kỳ. “Ý đồ” cũng có nghĩa tương tự như chủ trương, song chủ trương có nội dung dứt khoát hơn, còn “ý đồ” mới chỉ là ý định, mang ý nghĩa đen tối hơn.


Nói “ý đồ” cũng được, hoặc nói “xí đồ” cũng được. “Ý” là ý định, “xí” là kiễng chân lên mà ngóng.


Nếu chỉ muốn nói cho cụ thể mà đó mới chỉ là một rắp tâm mưu toan, thì nên dùng “xí đồ”, đúng nghĩa hơn “ý đồ”.


BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ


“Biểu đồ” là bản ghi bằng hình ảnh và số liệu về kết quả thành tích của một hiện trạng hay của sự việc. Nhiều người phụ trách về thông tin tuyên truyền thường hay lầm và dùng “sơ đồ” thay cho “biểu đồ”.


“Biểu đồ” và “sơ đồ” là hai cái khác hẳn nhau.


Thí dụ: Trong biểu đồ về tình hình thời tiết chẳng hạn, tất phải có những nét vẽ đậm, lạt hoặc màu sắc khác nhau, nói lên được sự thay đổi mưa gió, sức nóng, tai biến bất thường giữa tháng này và tháng khác, hoặc giữa ngày hôm trước và ngày hôm sau, để tổng quát ta có một khái niệm ngay về tình hình ấy trong một thời gian nhất định.


Còn “sơ đồ” là bản vẽ đại cương về một tình hình nào đó.


Thí dụ: Sơ đồ xây cất biệt thự Long Phụng, hay sơ đồ tổ chức phòng thủ xóm ấp để chống càn quét của địch.


Trong sơ đồ xây cất biệt thự, có vẽ rõ chỗ nào là nhà chính, nhà phụ, nơi để xe, cầu tiêu, vườn chơi v.v… Còn sơ đồ tổ chức phải nêu lên được công tác phối hợp, liên lạc và chỉ huy của tổ chức ấy nư thế nào.


“Sơ đồ” là bản ghi đại lược song không phải vì đơn giản mà nó không có cái khó của nó, là phải làm thế nào cho người xem nắm ngay được cái mấu chốt của vấn đề. Trình bày một sơ đồ mà chỉ để lộ ra những chi tiết, còn bộ phận trọng tâm, công tác trọng tâm lại mờ đi, như thế là hỏng, không đáng kể.


“Sơ đồ tổ chức” và “hệ thống tổ chức” cũng có khác nhau về tình tiết. Một sơ đồ có thể sơ sài đại quát, song một hệ thống bắt buộc phải đầy đủ.


Thí dụ: Khi ta muốn nói về hệ thống tổ chức Bộ Nông nghiệp chẳng hạn, ta phải nói lên được vị trí của Bộ Nông nghiệp trong Chính phủ, sự quan hệ của nó với Thủ tướng Chính phủ, với các cấp ngang Bộ, với Quốc hội, các Sở trực thuộc Bộ và sự chỉ huy cùng tổ chức dọc xuống tới các đơn vị Thành, Tỉnh, Quận, Xã v.v…


Nhìn vào hệ thống tổ chức, ta có thể biết ngay được lề lối làm việc của cơ cấu khoa học hay không khoa học, dân chủ hay không dân chủ v.v… Nếu nhìn vào bản sơ đồ tổ chức ta cũng thấy tương tự, nhưng đơn giản hơn nhiều.


BỐI CẢNH


“Bối cảnh” không phải là cảnh tượng như một số người thường hiểu, hoặc một cảnh giả đặt ở đàng sau cảnh thật.


“Bối cảnh” nguyên nghĩa của nó là những bài trí sân khấu, gồm có phòng và các thứ bày biện ở sau lưng và bên phải, bên trái các diễn viên.


“Bối cảnh” còn có nghĩa là cái nền ở xung quanh bức vẽ làm nổi bức vẽ lên. Do đó dùng rộng ra, “bối cảnh” có nghĩa là khung cảnh xã hội làm cơ sở cho các hoạt động.


Thí dụ: Bối cảnh lịch sử của truyện Kiều.


TRỌNG BỆNH VÀ MAO BỆNH


“Trọng bệnh” nghĩa thông thường là bệnh nặng. Phong, lao, cổ, đều là những trọng bệnh.


Song nói về khuyết điểm, sai lầm của một người hay của một tập thể, mỗi khi nói đến sự sa sút lớn, lầm lẫn lớn, người ta cũng có thể dùng hai chữ “trọng bệnh”.


Thí dụ: Nhà chính khách ấy bị một “trọng bệnh” là nói tếu, tiền hậu bất nhất.


Trọng bệnh là bệnh nặng thì “mao bệnh” cũng có nghĩa là bệnh lông. Song bệnh lông đây không phải là bệnh của lông nách hay lông chân, nhưng là bệnh nhẹ - nhẹ như lông - bệnh lặt vặt, không tai hại gì lắm, thuộc về nếp sống (bây giờ ít dùng).


Thích uống nước trà đặc, thích uống la ve nói tếu, thích la cà ngoài đường phố sau giờ làm việc buổi chiều đều có thể coi là “mao bệnh”…


TRÀO LỘNG, TRÀO PHÚNG, TRÀO MẠ VÀ U MẶC


Cho đến bây giờ chưa mấy ai ấn định được đúng mức độ khác biệt giữa những từ “khôi hài”, “trào phúng”, “trào lộng”, “trào mạ”.


Theo chúng tôi, “trào lộng” (cũng có thể kêu là triều lộng) nghĩa đen là sự bỡn cợt bằng lời nói (trào hước). Trào lộng chỉ những lời hài hước không mức độ để giễu cợt cho thỏa thích, nêu lên hết mọi khía cạnh của sự việc, cốt để cười, cười cho lớn, cười “bể bụng”.


Ba Giai, Tú Xuất và gần đây Tú Xe, Tú Nạc, Tú Phe, Tú Rua, Tú Rít, Tú Lơ Mông đều là những nhà văn trào lộng. Chọc ra mà cười, cười chết thôi, cười chảy nước mắt (và cũng để than khóc cho cuộc đời!).


“Trào phúng” nghĩa dịu hơn “trào lộng”, chỉ những lời nói hay cử chỉ bông đùa, tế nhị hơn, với mục đích can gián hay khuyên răn người.


Nếu nói “trào lộng” ít tinh thần xây dựng (hay hiểu theo phản ứng mạnh, xây dựng một cách tiêu cực) thì “trào phúng” nhẹ nhàng và có nhiều ý thức xây dựng hơn.


Các nhà văn như Tú Xương, Yên Đổ, hay gần đây như Tú Mỡ, Đồ Phồn, Vũ Trọng Phụng… đều có một lối văn trào phúng đặc sắc.


Trái lại, “trào mạ” cũng là cười, nhưng đặt vấn đề chửi bới, thóa mạ nhiều hơn vấn đề cười.


Cũng nói về cái cười, còn một từ nữa mà người mình ít khi dùng tới: U mặc. Có lẽ từ này xuất xứ từ chữ “humour” của Pháp. Thái độ “u mặc” là thái độ khôi hài, dùng châm biếm để bới vạch những sai lầm của người đời. “U mặc” tuy bao hàm ý nghĩa hài hước, phúng thế, song chỉ chuyên dùng lối khoái hoạt nhẹ nhàng. Nó còn ở mức độ nhẹ hơn trào phúng một mức nữa.


Một tác phẩm “u mặc” là một tác phẩm chuyên dựa vào sự quan sát hợp lý rồi đem những mâu thuẫn khách quan, những tính cách không hợp lý và những ý chí cừu địch mà bộc lộ ra hoặc phản kích lại bằng giọng văn thú vị nhẹ nhàng khiến độc giả hái được một thứ thực cảm tự nhiên thích đáng và thấm thía, rồi nảy ra mối phản ứng đồng tình.


“U mặc” văn chương không áp dụng đao to búa lớn, không chỉ trích trực diện và chủ quan.


Thí dụ: Bài thơ “Ông thừa tự thuật” không phải trào lộng, trào phúng mà có thể liệt vào thơ u mặc.


Một nhà nho tài học uyên bác mà chỉ đỗ tú tài, sau vì sinh kế eo hẹp phải đi làm thừa phái. Có bài thơ nhạo như sau:


Ông là thừa phái Hoàng nông,


Ông ngồi ông nghĩ mình ông thật thừa.


Người trong thế giới đã vừa


Cớ chi Trời lại lọc thừa ra ông…


Mắt thừa ông chẳng buồn trông.


Sau khi kê ra tai, mũi, miệng, tay, chân, bụng, gan cái gì cũng là thừa, tác giả viết:


Ông còn thừa cái gì không?


Ông còn thừa cái giấu trong đũng quần.


Cô nào lịch sự thanh tân,


Hỏi rằng có thiếu, “muốn mần” ông cho!


Ngán cho một số nhà nho,


Mất tiền mất của đi lo ông thừa.


BỘI TÍN VÀ LƯỜNG GẠT KHÁC NHAU RA SAO?


Nhiều người, kể cả các phóng viên, tưởng “bội tín” và “lường gạt” là một tội. Thật ra, hai cái đó khác nhau.


Sự “bội tín” là sự xâm phạm một khế ước đã có từ trước giữa hai người. Tội “bội tín” sẽ cấu thành khi xâm phạm một trong các loại khế ước sau đây:


- Khế ước thuê mướn


- Khế ước ký thác


- Khế ước ủy thác


- Khế ước cầm cố


- Khế ước mượn để dùng


- Khế ước lao động…


Muốn cấu thành tội “bội tín” thì phải chứng minh được rằng đã có một khế ước trước đó giữa hai người, mà khế ước đó bị xâm phạm.


“Lường gạt” khác hẳn tội “bội tín”. “Lường gạt” là làm hay toan làm cho người ta trao cho mình hay phát ra cho mình những tiền bạc, động sản hay trái phiếu (obligations), những giao ước, giấy nợ, những hứa hẹn, biên lai hay giấy giải trừ, hoặc bằng sự dùng tên giả, và chức phận giả, hoặc bằng sự dùng mánh khóe gian trá mà làm cho người ta tin rằng mình có lập ra những xí nghiệp gì hay mình có quyền hành hay một tín dụng mà mình không có, và làm như thế để lường gạt hay toan lường gạt mà lấy trọn hay một phần sự nghiệp của người ta.


Nếu sự “lường gạt” đã thực hành nhờ sự giả mạo tên họ thì không cần phải có sự can thiệp của người thứ ba, tội phạm cũng cấu thành.


Thí dụ: Có một tên bịp ở đâu đến, ăn mặc bảnh bao, tự xưng là A, chức vụ là B. Ai muốn mua xe gắn máy hãy nộp tiền cho y, y sẽ can thiệp với chính quyền để được mua. Ai cũng tin và nộp tiền cho y. Như thế là tội lường gạt.


ĐỀ CAO CẢNH GIÁC


Nhiều người cho rằng “đề cao cảnh giác” là sự khôn ngoan, nâng cái trí óc lên để mà đối phó với thời cuộc, đấu tranh triệt để v.v…


Sự thật, những người không đấu tranh cũng vẫn đề cao cảnh giác. Đề cao là nâng lên, làm cho có giá trị.


Thí dụ: Đề cao công tác giáo dục tư tưởng.


Cảnh giác không phải trí óc hay là cảnh sát, nhưng có nghĩa là tỉnh táo đề phòng (thí dụ: cảnh giác trước âm mưu của địch).


Cụm từ “đề cao cảnh giác” chỉ có ý nghĩa là phải hết sức thận trọng, tỉnh táo để đề phòng mà thôi.


ĐỐI TƯỢNG


Nhiều người lầm chữ “đối tượng” có ý nghĩa chống lại (cũng như lầm phủ nhận là thừa nhận). Họ lầm chữ đối tượng có ý nghĩa chống lại có lẽ là vì có chữ “đối” (phản đối, chống đối, đối lập).


Thực ra, “đối tượng” chỉ là sự vật làm đích cho sự nghiên cứu và hành động của con người.


Thí dụ: Lúc tôi viết cuốn sách ấy, tôi đã chọn sẵn các nữ sinh làm đối tượng. Hay: Đối tượng của cách mạng dân tộc, dân chủ là thực dân, đế quốc và phong kiến.


CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CẢI LƯƠNG, XÃ HỘI KHOA HỌC
VÀ XÃ HỘI KHÔNG TƯỞNG


Thoạt đầu, từ xã hội chỉ có nghĩa là tập đoàn người xây dựng trên quan hệ về sản xuất, gia đình, chính trị, văn hóa.


Thí dụ: Xã hội loài người, xã hội Việt Nam.


Về sau, từ “xã hội” được nhắc nhở nhiều là vì có chủ nghĩa xã hội. “Chủ nghĩa xã hội” là lý luận cách mạng của giai cấp công nhân do Các Mác và Ăng Ghen đề xướng, nhằm chống lại chế độ tư bản, lập nền chuyên chính vô sản và xã hội hóa các tư liệu sản xuất, tức là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, có những đặc điểm như:


1) Công cụ sản xuất, ruộng đất, cơ quan là của chung xã hội.


2) Sản xuất lấy xã hội làm cơ sở và tổ chức theo kế hoạch: Mọi người “làm việc theo năng lực và hưởng thụ theo sức lao động”.


“Xã hội học” là môn học nghiên cứu nguồn gốc, sự biến đổi và sự phát triển của các hiện tượng trong đời sống xã hội.


“Xã hội hóa” là đem hiện tượng sản xuất của cá nhân làm của chung của xã hội.


Thí dụ: Xã hội hóa các phương tiện giao thông vận tải. Khi nói “xã hội hóa giáo dục”, ta nên hiểu là làm thế nào cho những hoạt động giáo dục có mối liên quan hữu cơ với toàn thể xã hội, với mọi người.


Hiện nay có ba chủ nghĩa xã hội chính: Chủ nghĩa xã hội cải lương, chủ nghĩa xã hội khoa học và chủ nghĩa xã hội không tưởng.


“Chủ nghĩa xã hội cải lương” là chủ trương chính trị của đệ nhị quốc tế, không đấu tranh giai cấp nhưng dùng cải lương cải cách để thay đấu tranh giai cấp.


“Chủ nghĩa xã hội khoa học” là chủ nghĩa xã hội do Các Mác và Ăng Ghen dùng duy vật biện chứng pháp dựng lên.


“Chủ nghĩa xã hội không tưởng” là chủ nghĩa vận hội do Sanh-si-mông, Phu-ri-ê, O-uyn căn cứ vào những ý muốn chủ quan của mình mà dựng nên.


KHỦNG HOẢNG KINH TẾ, TỔNG KHỦNG HOẢNG,
KHỦNG HOẢNG THIẾU, KHỦNG HOẢNG THỪA


“Khủng hoảng” nghĩa chung là rối loạn, mất thăng bằng cần thiết. Từ “khủng hoảng” được áp dụng nhiều trong tình trạng kinh tế, cho nên thoạt đầu từ khủng hoảng có nghĩa là tình trạng rối loạn trong nền kinh tế tư bản, do sức sản xuất và sức tiêu thụ không đồng đều, không thăng bằng, khiến cho dân chúng thiếu thốn, khó sống, vất vả.


Về sau này, từ “khủng hoảng” được dùng với một tính cách rộng rãi hơn để chỉ tất cả cái gì mất thăng bằng (khủng hoảng tinh thần, khủng hoảng tình cảm), rồi do đó có cả từ “tổng khủng hoảng” để chỉ sự khủng hoảng toàn diện của cả hệ thống tư bản thế giới thể hiện ở sự đấu tranh giai cấp ngày càng quyết liệt.


Mặt khác, trong lãnh vực kinh tế, còn mấy từ liên quan đến khủng hoảng nữa.


“Khủng hoảng chu kỳ” tức là sự khủng hoảng của nền kinh tế cứ sau một thời gian lại bùng ra.


“Khủng hoảng thừa” tức là sự khủng hoảng kinh tế do mức sản xuất quá nhiều so với sức mua của người dân, làm cho hàng hóa ứ đọng, giá hàng sụt xuống, nhà máy phải đóng cửa, công nhân mất việc làm.


“Khủng hoảng thiếu” tức là khủng hoảng kinh tế do sức sản xuất kém quá không đủ cung cấp cho nhu cầu của nhân dân, làm cho giá hàng tăng cao, sinh hoạt đắt đỏ.


Hiện nay vẫn còn người nói và viết “khủng hoảng” là sai, cũng như phải nói “khích thích” mới đúng chớ không phải là “kích thích”.


ĐẶC BIỆT, ĐẶC THÙ VÀ ĐỘC ĐÁO


Ít lâu nay, mỗi khi nói tới một cái gì khác người, đặc biệt, người ta hay dùng chứ “độc đáo” và tưởng rằng “độc đáo” cũng như “đặc biệt”. Sự thực “độc đáo” và “đặc biệt” hơi khác một chút.


“Độc đáo” có nghĩa là có tính chất đặc biệt, người khác, nơi khác không có.


Thí dụ: Giọng văn độc đáo, nét nhạc độc đáo.


Còn “đặc biệt” thì là khác mức thường, nhưng ở người khác, nơi khác có thể có.


Thí dụ: Tài năng đặc biệt, nét vẽ đặc biệt.


“Đặc biệt” là có màu sắc đặc biệt, hay tốt hơn mức thường.


Thí dụ: tiết mục đặc sắc.


“Đặc thù” cũng có ý nghĩa đặc biệt, có tính cách riêng biệt, khác với thông thường. Đặc thù khác với đặc trưng: Đặc thù nói về tính riêng biệt, còn “đặc trưng” là dấu hiệu riêng biệt.


Thí dụ: Đặc trưng của văn học dân gian.


THẾ NÀO LÀ TRỌNG TÂM, TRỌNG ĐIỂM, CHỦ ĐIỂM?


Theo định nghĩa chung, “trọng tâm” là điểm trung tâm tập hợp toàn thể trọng lượng của vật thể (centre de gravité). Về phương diện chính trị, dùng từ “trọng tâm” để nói lên lực lượng hay nhân vật trung tâm thu hút toàn khối quần chúng.


Thí dụ: Quốc trưởng X là trọng tâm của đoàn kết dân tộc.


Song, đứng về công việc, hay khi nói về một tài liệu, “trọng tâm” có nghĩa là điểm mấu chốt, tất cả mọi công việc khác khi làm đều phải xoay vào phục vụ điểm đó trước, vì khi làm việc đó hoàn mỹ thì các việc khác cũng sẽ làm được dễ dàng.


Thí dụ: Quý này Ủy ban có năm công tác lớn, song công tác trọng tâm là cứu trợ đồng bào bị lũ lụt… Hay nói về tài liệu: đây là một tài liệu huấn luyện về cách thức trồng cây ăn trái, yêu cầu trọng tâm là phương pháp lựa và gầy giống.


Yêu cầu của trọng tâm quán triệt tất cả mọi yêu cầu khác vì đòi hỏi người thi hành phải hoàn thành cho được, cho tốt.


“trọng tâm” rồi lại có “trọng điểm” cho từng phần việc, từng mục, từng địa phương.


Thí dụ: Trọng tâm công tác là cứu trợ đồng bào bị lũ, song trọng điểm là các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long.


“Trọng điểm” là những điểm phải làm trước vì tính chất quan trọng của nó. Song, không phải tất cả những công việc gì phải làm trước đều là trọng điểm. Làm trước chỉ là một phần quan trọng trong toàn bộ quan tâm đến sự việc phải chú ý ấy mà thôi.


Một công trình chỉ có một trọng tâm, nhưng có thể có nhiều trọng điểm.


Một chương trình hoạt động mà không quy định trọng tâm, trọng điểm là một chương trình hoạt động thiếu kế hoạch.


Khác hẳn với lối định nghĩa trọng tâm, trọng điểm, “chủ điểm” không phải là điểm chủ yếu mà là điểm quy tụ các vấn đề cùng một loại, một tính chất (centre d’intérêt).


Thí dụ: Cuốn ngữ vựng Pháp văn của nhà xuất bản A phân ra nhiều chủ điểm: gia đình, học đường, xã hội v.v…


CHẾ ĐỘ ĐẠI NGHỊ CÓ PHẢI LÀ CHẾ ĐỘ LƯỠNG VIỆN?


Trong lúc còn có người hiểu lầm “đại nghị” là hội nghị lớn thì đại đa số vẫn cho rằng “chế độ đại nghị” là “chế độ lưỡng viện”. Có lẽ cũng do một phần lớn ảnh hưởng trước đây ở Pháp, chế độ lưỡng viện gặp nhiều lủng củng trong khi bàn cãi việc nước mà trong phê phán ta thường gọi chung là sự lủng củng của chế độ đại nghị Pháp.


Vì thế có người nghĩ đại nghị là lưỡng viện, và lưỡng viện là đại nghị (từ “lưỡng” và từ “đại” đều có ý chỉ sự nhiều, sự lớn).


Sự thật “chế độ đại nghị” chỉ là một chế độ tổ chức nghị hội do các nghị sĩ được quốc dân bầu lên làm đại diện cho mình, được giao cho quyền giám sát chính phủ và quyền lập pháp.


“Quốc dân đại hội” cũng là một hình thức đại nghị, mà ta gọi tắt là Quốc hội. Song cũng nên chú ý: Kỳ quốc dân đại hội Ấn Độ triệu tập hợp ở Tân Đề Ly năm 1920, chỉ là một cuộc họp để lấy ý kiến của quốc dân, tương tự như “hội nghị Diên Hồng” của ta xưa, không mang theo tính chất “đại nghị” với ý nghĩa một cơ quan đại biểu làm nhiệm vụ thường trực trong một thời gian nhất định.


Đại nghị không phải là lưỡng viện, song lưỡng viện tổ chức theo phương pháp đại nghị lại là vấn đề khác.


Thế nào là một chế độ lưỡng viện? Khác với chế độ một viện, chế độ “lưỡng viện” là chế độ ở một nước có hai viện đại biểu: Một viện gọi là Nguyên lão nghị viện hay “Thượng nghị viện” và một viện gọi là Thứ dân nghị viện hay “Hạ nghị viện”.


Hiện nay có hai chế độ lưỡng viện khác nhau:


1) Chế độ hai viện của Anh hay Pháp (trước 1946).


Một viện (Nguyên lão nghị viện hay Thượng nghị viện) đại biểu cho lớp phú hào trong nước, nghị sĩ là những người hoặc có quyền thế, có tài sản trong dòng dõi nhà vua. Họ là những người được chỉ định tham gia nghị viện.


Một viện (Thứ dân nghị viện, hay Hạ nghị viện) đại biểu cho toàn thể nhân dân trong nước.


Những người này được quốc dân bầu ra.


“Hạ nghị viện” là một tổ chức dân chủ mà người ta bắt buộc phải làm để chế ngự sự độc quyền chính trị ở một chế độ vốn chuyên chế. Hai viện đều có những quyền lợi riêng nên luôn luôn có mâu thuẫn với nhau.


2) Chế độ hai viện ở Nga, Mỹ, Ấn Độ.


Một viện (Viện Liên Bang) gồm có hai đại biểu của các tiểu bang. Số đại biểu này đồng đều cho mỗi tiểu bang, nghĩa là mỗi tiểu bang không phân biệt lớn nhỏ đều có một nghị sĩ ngang nhau.


Một viện (Viện Dân Tộc) gồm có các đại biểu của các dân tộc. Số đại biểu này nhiều ít tùy theo số dân cư trong nước.


Hai viện này mỗi viện đều có quyền hành và nhiệm vụ riêng, cũng đều tập trung vào nghĩa vụ phụng sự Tổ quốc, tương đối mâu thuẫn hơn so với chế độ ở Anh, hay Pháp trước đây.


Tuy cùng một tính chất đại biểu, song không phải là lối tổ chức và chọn đại diện hoàn toàn giống nhau, thí dụ như cách tổ chức ở Nga và Mỹ chẳng hạn, mỗi bên đều có một quan niệm riêng. Cách bầu thượng nghị sĩ ở Mỹ không giống cách chọn nghị sĩ Liên Bang ở Nga(1), cũng như Viện Dân Tộc Nga, số dân cư mà các nghị sĩ Công Đoàn đại diện lại ít hơn số dân cư mà các nghị sĩ làm nghề nghiệp tự do, đại diện, chẳng hạn.


Đại nghị là nền tảng của một chế độ dân chủ. Song vấn đề dân chủ không phải là ở tổ chức Đại nghị, mà dân chủ có triệt để hay không là do chính nơi người dân có thật đấu tranh để bảo vệ được quyền của mình hay không.


THẾ NÀO LÀ DUY TÂM, DUY VẬT, DUY SINH, DUY LINH?


Ở vào thời đại triết học này có rất nhiều thứ “duy”. Mỗi thứ “duy” là cả một kho tàng sách vở, một triết lý về vũ trụ và nhân sinh.


Với một vài dòng định nghĩa tổng quát dưới đây, chúng tôi chỉ mong cùng bạn đọc nhận định về một vài lầm lẫn mà thông thường ta vẫn thấy trong câu chuyện hằng ngày.


Mỗi khi gặp người đối thoại kể một câu chuyện gì mơ hồ, lập tức ta được nghe lời phê bình gọn lỏn: “Anh lại duy tâm rồi” ngược lại, để phê phán một việc gì trong sinh hoạt thường ngày, người ta gán ngay một câu “duy vật mà lị!”.


Thực ra, vấn đề triết học đâu có phải là vấn đề đơn giản như thế. Vậy ta cũng nên tìm hiểu sơ lược để biết.


- Duy tâm luận. - Học thuyết lấy tâm (tinh thần) làm thực tại trung cực. Rốt cuộc chỉ có cái “tâm” là thực tại, vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự biểu hiện của cái thực tại ấy.


Tâm là gì: Tâm là cái “cõi”, cái “giới” nảy ra ý niệm. Sự việc bên ngoài đều do cái tâm, cái ý niệm mà ra. Người theo học thuyết “duy tâm” phủ nhận sự liên quan giữa vũ trụ, nhân loại và tạo hóa. Sự liên quan ấy tưởng là có cũng chỉ do tâm mà thôi. Cái tâm mất đi, mọi sự đều không còn.


Ý niệm vì đâu mà có, điều này không được lý giải. Phái “duy tâm” cho rằng ý niệm là ý niệm. Nó là chung cực, mà cũng là vô cực, tuy trừu tượng mà là thực tế, vì không có nó là không có gì cả.


Một vật ta cho là nặng, chẳng hạn, bản thể nó chưa chắc đã phải là nặng, vì ta ý niệm nó nặng thì nó nặng đó thôi. Giả thử nếu không có không khí xung quanh thì nó đâu có nặng. Nặng hay không nặng là do nơi ý niệm chứ không phải là thực tế. Đời người chỉ là một kiếp sống nổi (phù sinh) không có nghĩa lý gì, nếu không có cái tâm. Lịch sử cũng chỉ là sự phát triển của ý niệm (tâm) do ý niệm mà sáng tạo ra lịch sử.


Nói chuyện ma quỷ mà kết luận anh duy tâm hay tôi duy tâm chỉ là một lối kết luận hàm hồ mà thôi, vì chính phái duy tâm cũng phủ nhận ma quỷ là một thực tại.


- Duy vật luận. - Trái hẳn với “duy tâm”, “duy vật luận” là học thuyết cho rằng vạn vật trong vũ trụ đều có thể lấy vật chất mà thuyết minh. Không có sự gì tồn tại ngoài vật chất. Tinh thần hay linh hồn của con người cũng chỉ là sản phẩm của vật chất, của chính thịt xương người đó. Không có linh hồn ngoài thể xác. Người chết là hết.


Loài người không phải do Thượng Đế nào sinh ra, nó chỉ là sản phẩm của trái đất cũng như mọi loài sinh, thực vật khác, trải qua hàng triệu năm mà hình thành dần dần, từ đơn giản đến tinh vi, từ bán khai đến văn minh. Loài người cổ xưa cũng chỉ là một giống vật có bốn tay chân, ăn lông ở lỗ. Càng văn minh, càng có tổ chức và cải thiện. Từ đó mới có phong tục, tập quán, nghi lễ, văn tự, tôn giáo v.v…


Vũ trụ hiện nay còn có nhiều bí ẩn, song khoa học căn cứ vào thực tế, vào vật chất, sẽ có thể lý giải được hết, cũng như trước đây loài người không biết một chút gì, mà ngay nay đã biết được về vũ trụ, về các khoa học khác.


Duy vật là triết học của chủ nghĩa Mác. Dựa vào triết học duy vật mà có biện chứng pháp duy vật. “Biện chứng pháp duy vật” là phương pháp lý giải quá trình hình thành của các sự vật theo quan điểm duy vật. Quá trình hình thành của mọi sự vật ấy dựa trên bốn quy luật: Mọi sự vật đều có mâu thuẫn nội tại, đều có quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau, đều có chuyển động và biến động và đều có những bước tiến nhảy vọt.


Đứng về phương diện triết học, có rất nhiều thứ “duy” có những nội dung rất sâu xa cần phải tìm hiểu như “duy thức”, duy tha”, “duy ngã” v.v… song, chung quy cũng chỉ có hai triết học chính chống đối nhau là “Duy tâm” và “Duy vật”.


- Duy Linh luận. - Cho linh hồn là chung cực. - Linh hồn tồn tại ngoài thể xác - Thượng Đế cầm cân nẩy mực và quyết định tất cả mọi sự việc.


Cũng là một hình thức của chủ nghĩa duy tâm, song có định rõ tâm là gì, tâm là ai, và giá trị linh hồn ra sao.


- Duy sinh luận. - Thuyết của Trần Lập Phu cho rằng, nguồn gốc của vũ trụ là “sinh mệnh”, muôn vật đều có sinh mệnh. Tinh thần và vật chất chỉ là hai thuộc tính hoặc hai thành phần, chớ không có sự sai biệt hữu cơ hay vô cơ, động vật, thực vật hay khoáng vật gì cả.


“Sinh” là trung tâm của vũ trụ, cũng là trung tâm của xã hội, nhưng về xã hội thì gọi là “dân sinh”.


Điểm qua các thuật ngữ triết học trên để bạn đọc tham khảo thêm. Hiện nay chúng ta theo quan điểm “Duy vật luận” nên cần phải tìm hiểu nhiều hơn vấn đề này.







(1) Ở đây tác giả muốn nói đến L.X cũ (BT).






Nguồn: Nói có sách. In trong Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







(1) Nay đã lên tới trên một trăm nguyên tố.




 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Đừng xúi trẻ con ăn cứt gà". Từ chuyện đời ở Myanmar, nghĩ về giáo dục lớp trẻ ở Việt Nam - Triệu Xuân 21.11.2019
Đốt lò hương cũ (kỳ cuối): Chới sách/ Hồi ức về Lê Văn Trương/ Tam Lang Vũ Đình Chí/ Nhà thơ Nguyễn Bính - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (12): Vũ Đình Long - Chủ nhà in, NXB Tân Dân/ NHớ về Lan Khai - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (11): Chiêu niệm Vũ Trọng Phụng - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (10): Hoa gạo ven sông/ Lỗi tình - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ 9: Trong phòng triển lãm/ Những đêm sương/ Một đêm trăng đỏ/ Hà Thành hoa lệ/ Chết - Ngọc Giao 19.11.2019
Đi chợ côn trùng Tây Bắc - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 08.11.2019
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
xem thêm »