tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30553400
30.07.2019
Huỳnh Quang
Người con của mẹ Năm Bê (4)


Hành quân qua các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, điều ấn tượng nhất đối với tôi là vùng đồng bằng sao mà mênh mông thế, đi mãi mà vẫn chưa nhìn thấy núi. Ở Khu 5 đứng ở đâu cũng thấy có núi ở gần.


Thanh Hóa năm đó nhân dân rất đói, thanh niên trai gái đi bộ đội và thanh niên xung phong, đàn ông lớn tuổi được huy động đi dân công phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, trong làng chỉ còn người già và phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn như sinh nở, ốm đau... Cán bộ địa phương đề nghị bộ đội giúp đỡ các gia đình khó khăn do thiếu lao động và các gia đình thiếu ăn nên không còn đủ sức đi làm đồng. Đồng ruộng vùng Phố Neo năm ấy lúa rất tốt nhưng cỏ cũng rất tốt. Chúng tôi được tổ chức đi làm cỏ lúa. Thời tiết dịp gần Tết năm ấy sao mà rét thế, bước chân xuống ruộng chừng 30 phút hai chân đã rét cóng tê cứng không bước đi được, năng suất làm cỏ rất thấp, phải hơn một tháng mới làm xong cỏ lúa cánh đồng xã Nam Giang. Trời đã rét mà suất ăn lại ít hơn tiêu chuẩn định lượng nên càng thấy rét. Mỗi người phải bớt 250g tiêu chuẩn gạo mỗi ngày để giúp dân chống đói. Tết năm ấy, Tổng cục Chính trị tặng cho mỗi người trong đơn vị một hộp thịt 1kg. Đơn vị vận động anh em bớt một phần quà được tặng, tặng lại cho các gia đình đang đói ăn. Đồng thời 3 ngày Tết mang suất cơm trưa của mình về nhà ở ăn Tết cùng với gia đình bằng những hộp thịt còn lại của mỗi tổ. Khi anh Cẩm bảo tôi mang hộp thịt đem cho chị Hòa, tôi hỏi:


- Em có bộ đồ tây vải kaki rất đẹp, ông anh cho hôm ghé nhà trước khi đi tập kết, em muốn cho chỉ có được không?


- Tốt quá đi chứ, cô ấy rất thiếu sữa, ăn toàn khoai sắn lấy đâu ra sữa nuôi con! Cô ấy sẽ gửi lên Phố Neo bán lấy tiền mua sữa cho con.


Sau Tết chừng một tuần, đơn vị nhận được lệnh hành quân ra Vĩnh Yên, lại một chặng đường hành quân bộ mấy trăm cây số nữa, ai cũng cảm thấy mệt mỏi. Nhưng khi nghe nói đường hành quân sẽ đi qua Hà Nội, mọi người trở nên phấn chấn, tin rằng sẽ được ngắm nhìn Hà Nội 36 phố phường. Đơn vị rời Phố Neo từ sáng sớm, nhân dân tiễn đưa bộ đội bằng nước mắt yêu thương, trìu mến, ai cũng nhắn nhủ các anh đi nhớ trở lại đây như trở về nhà.


Chúng tôi đã quen với kế hoạch hành quân ngày đi chừng 30 km, tối ngủ trong nhà dân do tổ tiền trạm đi trước chuẩn bị. Hành quân đến Giáp Bát thì có lệnh dừng chân, nghỉ ăn tối và ngủ, lúc này chỉ khoảng 4 giờ chiều, mọi ngày phải 7 giờ tối mới dừng chân. Ăn tối bằng nắm cơm đã được phát cho mỗi người sau bữa ăn trưa, ăn xong tản về nhà dân ngủ. Đang ngủ ngon thì có lệnh xuất phát hành quân, lúc này khoảng hơn 11 giờ đêm. Chúng tôi đi theo Quốc lộ 1 qua ga Hàng Cỏ, rẽ Phùng Hưng lên cầu Long Biên đến Gia Lâm thì nghỉ giải lao. Đèn đường dọc hai con phố vừa đi qua tối lù mù, ai cũng đang còn buồn ngủ, chẳng ai nhận ra đó là “Hà Nội 36 phố phường”! Mười phút giải lao ở Gia Lâm nổ ra cuộc tranh luận “Đã qua Hà Nội chưa?”. Người nói chưa vì cho rằng Hà Nội gì mà đèn phố tối lù mù, nhà thấp lè tè như Tuy Hòa mình! Người nói qua rồi thì chứng minh rằng vừa đi qua một cái cầu rất to, rất dài. Có lẽ chỉ huy biết chính xác lời giải, nhưng cứ để anh em tranh luận, bởi kinh nghiệm hành quân mà có chủ đề gì để tranh luận người tỉnh táo và đi nhanh hơn.


Đến Vĩnh Yên đơn vị đóng quân trên khu đồi Bảo Sơn gần thị xã, mà sau này là địa điểm đóng quân của Trường Đại học Kỹ thuật quân sự. Tại Vĩnh Yên, Trung đoàn 954 được đổi phiên hiệu thành Trung đoàn 90, Sư đoàn 675 Pháo binh. Tại Vĩnh Yên trước khi bắt đầu huấn luyện chuyển binh chủng từ bộ binh sang pháo binh, tiểu đoàn tôi còn mất hai tháng đi diệt phỉ ở Quảng Ninh. Cuộc chiến rất gian nan và nguy hiểm, ở đó Sơn bạn tôi từ ngày mới nhập ngũ đã hy sinh. Sau này khi nước nhà đã thống nhất, nhiều lần tôi đi công tác ở Quảng Ninh đã đến các nghĩa trang liệt sĩ ở Quảng Ninh tìm mộ anh nhưng không tìm thấy, nay không biết đã được qui tập về Phú Yên chưa?


Gần hai năm huấn luyện chuyển binh chủng từ bộ binh sang pháo binh, chúng tôi đã quen với công việc nặng nhọc của người lính pháo, nhất là hành quân di chuyển trận địa, đào công sự, bắn đạn thật đạn nổ inh tai nhức óc… Những địa danh Núi Đanh, Tam Đảo, Đầm Vạc, Phú Thọ, cầu Việt Trì là những mảnh đất mà trung đội trinh sát pháo binh chúng tôi thường xuyên đặt chân đến. Rèn luyện trong gian khổ đã mang lại cho tôi những mối tình sâu nặng. Những đồng đội thân yêu như anh Nguyễn Lầu, anh Phạm Sanh, anh Trương Hùng, anh Huỳnh Tấn Châu, anh Võ Tiếc, anh Nguyễn Hồng, các bạn Mai Văn Quyết, Nguyễn Trung, Lê An, Trần Đình Trọng... mà tôi vẫn giữ mãi trong ký ức của mình.


Thư nhà


Đêm mồng 2 tháng 9 năm 1955, trong khi đang ngủ bỗng có ai đó đập nhẹ chân lay tôi thức dậy.


- Không có phiên gác- tôi ngái ngủ trả lời vì nghĩ rằng đồng đội gọi đổi gác.


- Không phải đổi gác đâu, Quang dậy đi, có chút việc- Giọng anh Sanh, Đại đội phó thì thầm, tôi nhận ra ngay và nhanh chóng vùng dậy đi theo anh.


Đến phòng Đại đội, tôi thấy đã có Đại đội trưởng Nguyễn Thông, Chính trị viên Lê Bá Diệp và Chính trị viên Tiểu đoàn 1 Nguyễn Lầu ngồi chờ sẵn. Có lẽ có việc gì quan trọng, tôi nghĩ bụng.


- Má em tên là Táng phải không? Có phải đây là thư của em? - Anh Diệp vừa nói vừa đưa cho tôi một phong thư.


- Má em tên là Trần Thị Táng, đúng là thư của em- Tôi vừa nhìn vào phong bì và trả lời ngay.


Phong bì tự làm bằng giấy Nam Trung, một loại giấy viết màu mùn cưa, được sản xuất thủ công trong vùng tự do Liên khu 5 thời kháng chiến chống Pháp. Trên phong bì lẽ ra phải ghi địa chỉ người gửi, người nhận thì má tôi lại ghi: “Tui là Trần Thị Táng, con tui là Huỳnh Quang, tháng bảy năm tư nó ở trung đoàn hai ba mư, bây giờ nó ở đâu tui hổng biếc, nhờ ông biu điệng kím đưa giùm” nhìn chữ viết tôi biết ngay là của má, bà chỉ được học bình dân học vụ xóa nạn mù chữ sau Cách mạng tháng Tám nên viết sai chính tả, viết theo cách phát âm của dân làng quê tôi: Tôi là thì má viết “tui là”, con tôi thì viết “con tui”, hai ba mươi thì viết “hai ba mư”, tôi không biết thì viết “tui hổng biếc”, ông bưu điện tìm đưa giúp, thì viết “ông biu điệng kím đưa giùm”. Một phong thư chứa hai lá thư, thư trên phong bì gửi ông Bưu điện, thư bên trong gửi cho tôi. Tôi cẩn thận bóc phong bì, tay đã run run. Má tôi viết: “Con ơi, má vì nhiệm vụ phải ở lại không đi tập kết, má đương bị bắt. Tổ chức của ta đã đưa em con ra ngoài đó để Chính phủ nui (nuôi) ăn học. Con cố kím (tìm) em và đùm bọc em, nó còn nhỏ bơ vơ tậu nghịp (tội nghiệp). Con lo cho em, đừng lo cho má. Tình hình ở mình giờ lộn xộn lắm. Con đi tập kết chưa đầy một tháng thì Mỹ Diệm nẫu (người ta) bắn giết hàng trăm ngừ (người) ở Chí Thạnh, Ngân Sơn. Cán bộ kháng chiến chạy tứ tung, ngừ (người) lên miền núi, ngừ (người) ra Bình Định xin đi tập kết. Anh Bé con bà Mo gần nhà mình có chức tước gì ở xã, ở thôn đâu mà cũng sợ chạy đi đâu mất, bỏ mẹ già ở nhà một mình, Mỹ Diệm nẫu (người ta) coi là nhà có ngừ (người) đi tập kết. Nhà có ngừ (người) đi tập kết bị kìm kẹp, ức hiếp dữ lắm con ơi. Nhưng má tin mọi chiệng (chuyện) rồi sẽ êm, con đừng lo cho má. Má cầu con tiến bộ. Má gửi lời thăm anh em cùng đơn vị con”.


Lá thư chỉ có mấy dòng, lúc đầu tôi đọc thành tiếng để các anh cùng nghe, nhưng vì quá xúc động, đọc được mấy dòng cổ họng tôi đã nghẹn không thể nào đọc thành tiếng được nữa và theo đó nước mắt tự nhiên trào ra trong sự xúc động vui - buồn - thương - nhớ hòa trộn trong lòng. Vui vì được thư nhà, thư đầu tiên của má, rất bất ngờ. Buồn vì phải xa má, xa quê. Thương má một đời cực nhọc, giờ phải chịu tù đày. Thương em bé bỏng đang bơ vơ ở nơi đâu. Nhớ má, nhớ em, nhớ quê hương Phú Yên da diết. Má viết ngắn mà tôi có thể hình dung được rất nhiều về nỗi lòng của má, tình thương của má, về nhiệm vụ của má, hoàn cảnh của em và trách nhiệm của tôi...


Tôi đưa thư cho các anh trong Ban Chỉ huy chuyền tay nhau đọc. Trong phòng thật yên lặng, yên lặng rất lâu, nghe được hơi thở của từng người. Có lẽ, các anh cũng đang xúc động, ai cũng nghĩ về gia đình, về quê hương miền Nam thân yêu đang trong tang tóc. Một hồi lâu, anh Lầu phá tan sự yên lặng bằng câu hỏi:


- Má em làm gì ở xã?


- Má em không làm công tác gì ở xã, má em không biết chữ, nhưng má em là Đảng viên.


- Thế sao em của em lại được gửi ra Bắc?


- Em của em tên là Phạm Trần Ninh con ông Phạm Văn Thọ cha dượng của em, ông nguyên là Tham mưu trưởng Quân khu 6. Ông đã được Bộ Tổng điều ra Bắc hồi chiến dịch Điện Biên Phủ.


- À... như vậy là má em cũng trong diện đi tập kết, nhưng Tổ chức giữ má em ở lại miền Nam vì má em là Đảng viên chưa bị lộ - anh Lầu giải thích.


- Em Ninh mấy tuổi?


- Nó nay 6 tuổi... 


Những năm sau đó là những năm tôi tìm em tôi bằng thư. Nào là thư gửi Ban Thống nhất Trung ương, thư gửi các trường Học sinh miền Nam, thư bộ đội dán tem binh sĩ miễn bưu phí. Nhưng cuộc tìm em kéo dài 6 năm mới chấm dứt, khi tôi nhận được lá thư nhà thứ hai.


Năm 1959, anh Nguyễn Lầu, Chính trị viên tiểu đoàn 1 của tôi trước đây chuẩn bị về miền Nam chiến đấu, anh đã nhắn tôi đến gặp anh ở số nhà 59 Hàng Thùng, Hà Nội mặc dù khi đó những cán bộ chuẩn bị trở về Nam chiến đấu, phải cách ly hoàn toàn với xã hội, anh bị “giấu” trên một gác xép gỗ ở địa chỉ 59 Hàng Thùng, phải đổi tên, đổi bí danh. Có lẽ anh Lầu vẫn còn nhớ nội dung lá thư đầu tiên của má tôi, nên anh đã tìm cách nhắn tôi đến gặp anh trước khi anh lên đường về Nam, dù rằng tôi đã rời đơn vị từ tháng 10 năm 1956. Vừa gặp nhau anh đã bảo ngay: “Em viết thư về cho má đi, viết ngay bây giờ. Em đừng dán phong bì để cho anh đọc thư, nếu đi đường vì lý do nào đó thư bị mất thì về đến Phú Yên, anh sẽ viết lại lá thư và sẽ tìm cách chuyển thư cho má em. Thư của em sẽ có tác động rất lớn đến má em trong công tác Đảng giao”. Thế là nhờ anh Lầu và bưu điện kháng chiến Phú Yên, tôi đã gửi được lá thư đầu tiên về cho má, trong thư tôi đã ghi địa chỉ của tôi là Trường Văn hóa Quân đội Lạng Sơn.


 


Thế rồi lại một bất ngờ nữa, ngày 5 tháng 5 năm 1961, khi tôi đang học ở Học viện Quân sự Liên Xô thì nhận được lá thư thứ hai cùng tấm hình của má chụp chung với em Ninh và một tấm hình của má đang buồn nhớ con. Má báo cho tôi biết không đưa em vượt qua được giới tuyến 17, em phải quay trở về. Lá thư này má tôi gửi từ căn cứ của Huyện ủy Tuy An, trên phong bì cũng chỉ ghi: Huỳnh Quang - Trường Văn hóa Lạng Sơn. Vậy mà thư vẫn đến với tôi đang ở tận Liên Xô xa xôi. Lá thư đã đi qua chặng đường giao liên xuyên rừng qua núi từ Phú Yên ra đến Lạng Sơn, rồi từ Trường Văn hóa Lạng Sơn về hòm thư quân bưu của tôi ở Tổng cục Chính trị, từ đó thư mới chuyển sang Liên Xô. Thư đi với thời gian 4 tháng 5 ngày, trong đó tính từ ngày viết thư đến ngày có dấu bưu điện Hà Nội là 2 tháng 20 ngày. 


Đời chiến sĩ nay đây mai đó, nên hai lá thư của má đã bị mất cùng với chiếc ba lô trong một trận bom thời chiến tranh chống Mỹ, duy chỉ có hai tấm hình má đã gửi cho tôi trong lá thư thứ hai thì tôi vẫn giữ được đến bây giờ. Thời chiến tranh khi tôi chưa có gia đình riêng, lúc nào tôi cũng để hai tấm hình trong túi áo ngực, cho dù đi đâu, làm gì.


Đến nay thời gian đã trôi qua hơn nửa thế kỷ, mà tôi vẫn nhớ như in về hai lá thư nhà duy nhất má tôi đã gửi cho tôi và không thể tự giải thích cho mình một điều là bằng những cách nào, qua bao nhiêu người, qua bao nhiêu chặng đường mà ngành Bưu điện và Quân bưu Việt Nam đã chuyển hai lá thư đến tay tôi trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt của chiến tranh, đất nước chia cắt. Có đồng đội nào, anh chị em nào phải đổ máu, phải hy sinh trên đường đi của hai lá thư. Những con đường thư đi là có thật mà vô hình cùng với những con người có thật đã đi trên những con đường huyền thoại ấy để chuyển thư mà tôi không được biết một người nào để tạ ơn! Xin cho tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất với ngành Bưu điện Việt Nam trong sự nghiệp vĩ đại: “Vì tình cảm con người chứa trong hàng triệu lá thư”.       


Tết Quân-Dân


Mồng một Tết năm 1956, có một đoàn nhân dân gần 50 người đến cổng gác của đơn vị, người nào cũng quảy hai sọt tre như dân công, họ đặt gánh xuống đất và xin gặp anh Diệp, Chính trị viên Đại đội 1, hoặc anh Sanh Đại đội phó. Cả hai anh đều lo lắng không biết có chuyện gì mà dân kéo đến đông thế? Khi ra gần đến cổng, các anh nhận ra ngay đó là nhân dân Phố Neo, xã Nam Giang, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Mọi người ùa đến ôm lấy hai anh mừng rỡ, ai cũng tranh nhau hỏi thăm anh này, anh kia năm ngoái đóng quân trong nhà, bây giờ có còn ở đơn vị không. Mọi người trò chuyện không thể dứt ra được. Bác Kính, Bí thư Đảng ủy xã Nam Giang ra hiệu mọi người yên lặng để bác trình bày nguyện vọng của dân, bác nói: “Năm ngoái, các anh ăn Tết với dân ở Nam Giang, Phố Neo cái Tết thiếu đói, cơm không đủ ăn. Năm nay, chúng tôi ngồi trên núi thóc ăn Tết, nhà nào cũng sung túc nhưng không có các anh! Nhân dân Nam Giang đề nghị tổ chức một đoàn đại diện Dân Chính Đảng ra đây thăm anh em và cùng ăn Tết với đơn vị có được không? Bữa cơm Tết nhân dân đã chung tay chuẩn bị tương đối đủ đầy rồi, đơn vị chỉ nấu thêm cơm và món canh mà thôi. Cơm thì nấu bằng gạo mới chúng tôi có mang theo đây, canh thì nấu canh khoai sọ với sườn lợn chúng tôi cũng có mang theo đây. Thêm hai món này để các anh cảm nhận hương vị món ăn từ quê nhà. Ăn xong chúng tôi ra ga Vĩnh Yên đi tàu về Thanh Hóa ngay”.


Anh Diệp đưa đoàn vào hội trường của Tiểu đoàn 1 và báo cáo cho Chính trị viên Nguyễn Lầu và Chính ủy trung đoàn Hoàng Phương, các ông vội vàng xuống ngay hội trường gặp Đoàn và giục các đại đội cùng nhà bếp triển khai thực hiện ngay nguyện vọng của dân. Chính ủy trung đoàn bảo: “Hôm nay mồng một Tết, có lẽ không có ai đi ra nhà dân hay thị xã chơi, chỉ đi chơi loanh quanh trong trung đoàn thôi, cố gắng tìm cho đủ anh em Tiểu đoàn 1 khi đóng quân ở Nam Giang, kể cả số anh em đã chuyển sang biên chế của Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3 sau khi ra đây”.


Ông Phương người miền Bắc là Chính ủy của Trung đoàn 90, sau khi Trung đoàn 954 được điều về Pháo binh và đổi phiên hiệu thành Trung đoàn 90. Tuy vậy ông nắm rất rõ tình hình của Trung đoàn kể cả thời gian đóng quân ở Thanh Hóa.


Chỉ trong chốc lát tin vui ăn Tết với dân đã lan truyền khắp Trung đoàn. Gần 100 sọt quà Tết đã được đưa xuống bếp, anh Tương cấp dưỡng mừng khôn xiết. Các chị trong đoàn chỉ cho anh Tương biết sọt nào đựng bánh chưng, sọt nào đựng chả, sọt nào đựng giò lụa, giò thủ, vịt quay, thịt heo ướp muối, gạo mới, khoai sọ, trái cây, bánh kẹo các loại mà nhân dân thường làm trong dịp Tết. Anh Tương đề nghị: “Không thể ăn hết trong một bữa trưa, mỗi thứ lấy ra đủ cho bữa tiệc trưa nay, còn lại đề nghị Ban Chỉ huy tiểu đoàn chia sẻ cho bếp ăn của Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3 cùng chia vui. Khi nghe lời đề nghị, anh Lầu khen: “Anh Tương đúng là anh nuôi của chúng ta, có gì ngon luôn nghĩ đến sẻ chia cho đồng đội”.


Bữa cơm được triển khai tại nhà ăn của Tiểu đoàn, chỉ có ở đây mới đủ chỗ cho cả tiểu đoàn ăn cùng một lúc. Một đầu nhà ăn liền ngay nhà bếp. Trong nhà ăn có bốn dãy bàn chạy dài từ đầu nhà đến cuối nhà. Bàn ăn, ghế ngồi đều làm bằng tre nứa; chân bàn, chân ghế chôn chặt xuống nền nhà.


Chính ủy Hoàng Phương đã khai mạc bữa liên hoan bằng lời chào mừng nồng nhiệt đoàn đại diện nhân dân xã Nam Giang, chúc Tết các thành viên của Đoàn, nhân dân xã Nam Giang và bộ đội Tiểu đoàn 1. Ông chân thành cảm ơn Đoàn đã mang đến cho đơn vị tình cảm yêu thương chân thành của nhân dân với bộ đội. Ông biểu dương Tiểu đoàn 1 đã làm tốt theo lời dạy của Bác Hồ: “Đi dân nhớ, ở dân thương”.


Không khí trong nhà ăn sao mà vui thế! Một cái Tết đặc biệt, một bữa cơm Tết đặc biệt đã được dân chuẩn bị từ trong bếp các gia đình ở Thanh Hóa, qua chặng đường 200 cây số để bày lên mâm ở Vĩnh Yên ăn Tết cùng bộ đội! Chừng giữa bữa ăn, Chính ủy Hoàng Phương gõ chén leng keng ra hiệu đề nghị im lặng để nghe bác Kính phát biểu. Bác Kính nói:


“Kính thưa các anh, tôi xin thay mặt nhân dân Nam Giang chúc các anh và đơn vị một năm mới Bính Thân dồi dào sức khỏe, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trên giao. Thay mặt nhân dân Nam Giang, muôn vạn lần cảm ơn các anh và đơn vị đã cưu mang, giúp đỡ nhân dân vượt qua trận đói Tết năm ngoái. Cảm ơn các anh đã nhường cơm xẻ áo cho dân, nhân dân biết các anh không có bữa cơm nào ăn đủ no trong những ngày đóng quân ở Nam Giang. Cảm ơn các anh đã làm ruộng giúp dân, mà các anh làm ruộng thì cực nhọc lắm vì các anh mới từ miền Nam ra, chưa quen với cái rét của miền Bắc. Tôi đã chứng kiến có anh xuống ruộng một lúc đã không bước đi được phải lên bờ xoa xoa đập đập hai chân cho máu khỏi đông rồi lại xuống ruộng. Ban ngày các anh đi làm ruộng, tối đến một số anh còn phải đi chăm sóc một số gia đình già yếu neo đơn, đói ăn nên kiệt sức không làm được việc nhà. Hoàn cảnh như chị Hòa có đi trong đoàn đây, người cùng thôn với tôi, thôn đơn vị anh Cẩm đóng quân, chị ấy mang thai nhưng thiếu ăn nên sinh thằng con nhỏ xíu, ông bà nội ngoại không còn, chồng đi bộ đội trong chiến dịch Điện Biên Phủ chưa về, tháng ở cữ không có ai chăm sóc. May có đơn vị các anh về Nam Giang, đơn vị đã cử anh Cẩm, anh Quang hàng ngày sáng đi làm ruộng, trưa về ăn cơm trưa xong phải đến nấu cháo cho hai mẹ con chị Hòa, chiều sau bữa cơm cũng lại đến nấu cháo, giặt tã và quần áo cho hai mẹ con. Mỗi lần đến chăm sóc, anh Cẩm thường hỏi han căn dặn những điều cần biết trong tháng ở cữ của sản phụ, như người cha căn dặn con gái. Anh Cẩm còn cho tiền và một bộ đồ Tây, chị Hòa nhờ người mang lên Phố Neo bán mua sữa cho con, nhờ những giọt sữa ấy mà thằng nhỏ lớn lên cũng kháu khỉnh. Tôi ít chữ nên không biết nói thế nào cho hết tình cảm của nhân dân Nam Giang với bộ đội miền Nam tập kết. Tôi chỉ muốn nhắc lại một lần nữa lời căn dặn của bà con rằng các anh hãy coi Nam Giang như quê hương thứ hai của mình trên đất Bắc, hãy trở về Nam Giang, Thọ Xuân, Thanh Hóa như trở về nhà!”.


Bác Kính vừa ngồi xuống bỗng như nhớ điều gì lại đứng lên nói tiếp: “Cô Hòa có muốn nói gì không? Cô ấy đòi đi theo đoàn cho bằng được, con nhỏ gửi hàng xóm”. Từ lúc bác Kính nói chuyện, chị Hòa đã ngồi khóc, chị đứng lên nhưng không nhịn được khóc lại ngồi xuống rồi lại đứng lên một lúc sau mới nén được khóc và nói trong nước mắt: “Thương lắm các anh bộ đội miền Nam ơi!... Tạ ơn!... Tạ ơn các anh đã cứu sống mẹ con em. Chồng em biên thư gửi lời cảm ơn các anh nhiều, những đồng đội miền Nam mà anh ấy chưa được gặp và rất mong được gặp. Mong các anh khi có dịp, hãy trở lại Nam Giang với chúng em”.


Không ai trong đơn vị có thể ngờ rằng mình được dự một bữa liên hoan Tết đặc biệt với nhiều cảm xúc sâu nặng tình quân dân như vậy.


Ngay trong năm 1956 và những năm sau, nhiều anh em đến kỳ nghỉ phép năm đã rủ nhau cùng về Nam Giang. Không ít anh đã xây dựng gia đình ở Nam Giang, chính thức là những đứa con của quê hương thứ hai trên đất Bắc.             


        Gia nhập Đảng Lao Động Việt Nam


Ngày 7 tháng 9 năm 1956, tôi được kết nạp vào Đảng Lao Động Việt Nam, hồi ấy Đảng còn trong bí mật chưa ra công khai. Trong Quân đội chưa có tổ chức Đoàn Thanh niên, người “cảm tình Đảng” phải được hai Đảng viên chính thức cùng làm việc với nhau hơn một năm giới thiệu. Hai Đảng viên chính thức giới thiệu tôi vào Đảng là anh Võ Tiếc, Trung đội trưởng Trung đội trinh sát và anh Nguyễn Hồng, Trung đội phó. Anh Nguyễn Lầu, Chính trị viên Tiểu đoàn 1 là người ký quyết định kết nạp tôi vào Đảng. Đáng lẽ tôi được kết nạp sớm hơn bởi lẽ tôi được “cảm tình Đảng” từ sau trận núi Chóp Chài, nhưng cho đến khi chuẩn bị đi tập kết tôi vẫn chưa đủ tuổi! Tập kết ra Bắc thì năm 1955 có chủ trương tạm ngưng kết nạp Đảng trong Quân đội chờ xong cải cách ruộng đất.


Trước khi tôi được kết nạp, đơn vị đã nhận được lệnh của Cục Cán bộ điều tôi về Trường Sĩ quan lục quân. Anh Lầu nhắc chi bộ Đại đội 1 làm lễ kết nạp trước khi tôi rời đơn vị, nếu không sẽ lỡ cơ hội, đến đơn vị mới lại phải chờ một năm mới đủ điều kiện hai đảng viên chính thức giới thiệu.          


Đào tạo Sĩ quan


Ngày 15 tháng 9 năm 1956, tôi rời đơn vị về trường Sĩ quan lục quân, khoa Pháo binh. Trường Sĩ quan Lục Quân đóng quân ở sân bay Bạch Mai, nhưng khoa Pháo binh đóng quân ở Quần Ngựa, Ba Đình, Hà Nội. Khi tôi về trường, khoa Pháo binh đã có đủ 2 tiểu đoàn học viên. Tất cả học viên đều rút từ các đơn vị chủ lực, đã qua chiến đấu, phần lớn các anh từng là cán bộ trung đội, đại đội, trong đó có Anh hùng Quân đội La Văn Cầu, Phùng Văn Khầu, Bùi Đình Cư. Hầu hết học viên ở 2 tiểu đoàn đều chưa có trình độ văn hóa cấp 2. Tôi khai trong lý lịch có trình độ văn hóa lớp 8 nên được gọi lên tổ giáo viên phụ giúp dạy văn hóa cho hai tiểu đoàn học viên. Từ 2 tiểu đoàn học viên rút lên tổ giáo viên chỉ có anh Nguyễn Mạnh Nhiễu, Nguyễn Duy Nhất và tôi, như vậy trong học viên chỉ có 3 người có trình độ văn hóa ở các lớp cấp 3. Nói học văn hóa nhưng thực ra chỉ học môn Toán chương trình cấp 2 và thêm phần lượng giác thì dừng. Ở tổ giáo viên, tôi ấn tượng nhất có anh Ngọc Nhu, dạy toán nhưng anh không giỏi toán mà giỏi văn. Đang dạy toán ở khoa Pháo binh, anh đã viết hai bài báo dài có tựa đề “Ngoài hải đảo, trên thao trường” được đăng liên tục hai số trên báo Quân đội nhân dân và vài tuần sau anh được Tổng cục Chính trị điều về Báo Quân đội Nhân dân. Nghe nói sau đó anh Nhu làm phóng viên chiến trường và hy sinh trên mặt trận phía Nam.


Học viên Khoa Pháo binh vừa học văn hóa vừa học Điều lệnh Đội ngũ và Điều lệnh Nội vụ. Hồi ấy, trường Sĩ quan Lục quân có cố vấn Trung Quốc giúp ta xây dựng Quân đội chính qui. Có lẽ nội dung của 2 Điều lệnh đã bê nguyên xi của Trung Quốc, trong đó có những điều không phù hợp với ta. Ví dụ như nội dung kiểm tra vệ sinh buổi sáng; đến giờ, học viên từng tiểu đội xếp hàng ngang, ngửa hai bàn tay ra phía trước để tiểu đội trưởng kiểm tra từng người. Hầu như ai cũng phản ứng nội dung này, cả người bị kiểm tra và người đi kiểm tra. Ai cũng bảo chúng tôi già rồi chứ có phải trẻ con mẫu giáo đâu! Phản ứng đã lan khắp cả hai tiểu đoàn học viên. Những cuộc tranh luận nảy lửa giữa học viên và cán bộ quản lý. Cuối cùng, Tiểu đoàn vẫn thông báo “Điều lệnh là Điều lệnh, phải nghiêm chỉnh chấp hành!”. Câu trả lời của Tiểu đoàn như dầu đổ vào lửa làm bùng lên một sự kiện “động trời” ở Khoa Pháo binh. Hơn một nửa trong tổng số học viên đã làm đơn xin phục viên. Trong số học viên xin phục viên có anh Nguyễn Văn Đạo trước là cần vụ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, anh Đạo với tôi cùng một tiểu đội học viên của tiểu đoàn 2. Một hôm chủ nhật, anh Đạo rủ tôi đến nhà Đại tướng chơi, tôi bảo tôi chỉ đi chơi với anh ngoài phố thôi, tôi ngại vô nhà Đại tướng lắm. Anh Đạo bảo cứ đi, Đại tướng rất dễ chịu, nhưng tôi nghĩ liệu người gác cổng có dễ chịu không, nên nhất quyết không đi. Trưa anh Đạo về lại rủ tôi đi ra Bưởi ăn liên hoan chỉ có hai anh em thôi. Anh Đạo đã kể tôi nghe chuyện đến thăm và chào Đại tướng trước khi anh phục viên về quê theo nghề làm ruộng. Đại tướng hơi ngạc nhiên, nhưng sau khi nghe anh Đạo kể những gì đã xảy ra ở khoa Pháo binh trong mấy tháng qua, đã đưa anh đến quyết đinh xin phục viên, vì tự thấy mình không thể trụ nổi trong Quân đội chính qui gò bó, cứng nhắc. Đại tướng trầm ngâm và lặng lẽ đứng dậy đi vào bên trong, một lúc sau quay ra tay cầm một gói tiền. Đại tướng bảo: “Tôi biếu chú một ít tiền, khi phục viên về quê mua quà cho mẹ và mua sắm nông cụ cho nghề nông của chú”.


Có lẽ buổi gặp giữa Đại tướng với anh Đạo đã có ảnh hưởng nhất định đến chủ trương của Bộ Quốc phòng đối với Pháo binh. Khoa Pháo binh sau khi giải quyết chinh sách cho số đông những học viên xin phục viên, đã chuyển lên Sơn Tây và Bộ Quốc phòng đã ra Quyết định thành lập Trường Sĩ quan Pháo binh. Trường chiêu sinh thêm một tiểu đoàn học viên mà chủ yếu chọn các chiến sĩ từ các đơn vị chủ lực có trình độ văn hóa các lớp cấp 3.


Tôi trở về Tiểu đoàn học viên của Trường Sĩ quan Pháo binh từ đầu năm 1957. Hiệu trưởng nhà trường là Đại tá Phan Hàm. Nội dung học tập rất nặng nề và khổ luyện. Cả Bộ binh và Pháo binh, cả binh khí kỹ thuật và phương thức tác chiến đến cấp tiểu đoàn, huấn luyện và bắn đạn thật các loại súng bộ binh, pháo mặt đất, pháo chống tăng và pháo cao xạ, đào công sự cá nhân và trận địa pháo, hành quân cơ giới và hành quân bộ, báo động đêm và báo động ngày...


Sáu tháng ở Khoa Pháo binh, Trường Sĩ quan Lục quân đóng quân tại Hà Nội đã cho tôi cơ hội chủ nhật nào cũng dạo quanh bờ hồ Hoàn Kiếm hoặc trong câu lạc bộ Thống Nhất để tìm em Ninh và bà con, đồng đội cùng đi tập kết. Câu lạc bộ Thống Nhất lúc ấy là nơi gặp nhau hàng ngày của tất cả những người miền Nam sống trên đất Bắc, muốn tìm gặp nhau khi có dịp đến Hà Nội. Nhờ vậy mà tôi đã tìm được chị Hương, anh Lê, anh Bốn Trọng, anh Sáu Kính, anh Cảnh, anh Nhu và các anh Xưởng, Rến, Tòng, Nghiệp, những đồng đội cùng quê. Tôi đã gặp cậu Thọ trong một bữa liên hoan bún ốc tại nhà chị Năm Hương ở 192 Quan Thánh. Chị Năm Hương có rủ vợ chồng chị Tài đến chơi. Chị Tài là em chồng trước của chị  Hương nên biết chị Hương là cháu của má tôi. Chồng chị Tài là ông Đoàn Huyên khi ấy cùng công tác với ông Thọ ở Tổng cục Hậu cần đóng trong thành, nên bảo chồng rủ ông cùng đi chơi, nhờ vậy mà tôi gặp được cậu Thọ. Chủ nhật sau đó cậu đưa tôi về quê Khê Tang giới thiệu với gia đình. Duy chỉ có em Ninh là chưa tìm được!


Tôi đã đến Ban Thống nhất Trung ương nhờ tìm trong danh sách các em nhỏ và học sinh miền Nam nhưng không tìm thấy. Cuối cùng, một bác ở Ban Thống nhất khuyên tôi chỉ còn cách cuối cùng là đến các trường Học sinh miền Nam vừa tìm trên danh sách vừa trực tiếp vào nhà ăn nhìn mặt lũ trẻ mà nhận ra em, bởi vì có thể lúc đưa nó đi, nó còn nhỏ quá không nhớ địa chỉ quê nhà, không biết tên cha mẹ, thậm chí không nhớ tên khai sinh của mình, chỉ biết tên thường gọi ở nhà. Tôi nghe thấy có lý nên từ đó cứ đến kỳ nghỉ phép năm theo tiêu chuẩn của Quân đội, tôi về nhà chị Năm Hương chơi vài ngày rồi đi đến các trường Học sinh miền Nam, hết trường này đến trường khác. Tiền tàu xe, khách sạn của mười mấy chuyến đi đều do chị Hương cho bởi vì những năm ấy tôi chưa có lương, chỉ có phụ cấp tiêu vặt mấy đồng, tháng nào cũng cháy túi.


Ngày 2 tháng 9 năm 1958, lần đầu tiên lễ kỉ niệm Quốc khánh, bộ đội duyệt binh có mang quân hàm, quân hiệu.Tôi đi trong khối học viên Sĩ quan Pháo binh. Sau lễ, trong khi khối học viên còn lưu lại Bạch Mai để tổng kết, bình bầu khen thưởng thì tôi nhận lệnh về trường ngay. Về đến trường tôi bị giục lo thanh toán tài chính, quân trang, quân lương và thủ tục chuyển sinh hoạt Đảng về Trường Văn hóa Quân đội ở Lạng Sơn, vì đã chậm ngày so với quyết định điều động của Bộ. Trường Văn hóa Quân đội khi ấy đóng quân trong thành Lạng Sơn. Bên trong thành Lạng Sơn được chia thành ba khu vực: khu vực nhà cơ quan, nhà ăn, nhà bếp và phòng học; khu tăng gia sản xuất trồng rau xanh; khu dành cho thể dục thể thao, sân bóng.


Hiệu trưởng nhà trường là Thượng tá Đinh Văn Kính, một trong 34 đội viên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Tôi được xếp vào học lớp 8, chỉ học ba môn Toán, Lý, Hóa trong thời gian 6 tháng. Sau khi kết thúc một lớp thì nghỉ học một tháng để lao động xây dựng phòng học. Mỗi lớp biên chế thành một trung đội, trung đội trưởng lớp tôi là trung úy Phan Thượng Trị, tiểu đội trưởng của tôi là thiếu úy Lê Cổ. Không khí học tập trong nhà trường rất tích cực và phấn khởi. Phong trào thi đua sản xuất rau xanh cho nhà bếp theo qui định của nhà trường mỗi tháng mỗi lớp phải bán bao nhiêu kg rau. Tiền bán rau xanh cho nhà bếp lâu lâu anh Cổ cho tiểu đội ra thị xã Lạng Sơn liên hoan món đặc sản phở chua Lạng Sơn. Phong trào thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ rất sôi nổi, nhà trường có đài truyền thanh riêng, thường xuyên biểu dương gương người tốt, việc tốt, điển hình tập thể tiên tiến, những ý kiến đóng góp của học viên với nhà trường về tất cả mọi vấn đề liên quan đến học tập và sinh hoạt của học viên. Bài viết phần lớn do học viên gửi cho đài. Nhà trường có đội văn nghệ và đội nhạc nổi tiếng trong vùng, nhạc trưởng là anh Lê Cổ, tiểu đội trưởng của tiểu đội tôi. Sau này khi anh đã tốt nghiệp Học viện Phòng không Liên Xô. Trong chiến tranh chống Mỹ đánh phá miền Bắc, anh đã phát huy vai trò“nhạc trưởng” của đội nhạc “Tiểu đoàn Tên lửa Phòng không” đưa tiểu đoàn trở thành Tiểu đoàn Tên lửa phòng không nổi tiếng trong Quân chủng Phòng không - Không quân.


Trong hai năm tôi học ở trường, nhà trường đã một lần đón Bác Hồ và một lần đón Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về thăm trường. Tổng cục Chính trị cũng đã về trường phát động một đợt sáng tác văn học viết truyện ngắn với chủ đề: “Những kỷ nệm sâu sắc trong đời bộ đội”. Nhiều tác phẩm hay của học viên đã được đăng liên tiếp trên nhiều số của tạp chí Văn nghệ Quân đội. Trong đợt vận động này tôi cũng đã viết truyện ngắn “Dấu răng mở đường” được đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 11 năm 1969. Đây là lần đầu tiên tôi viết truyện ngắn được đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội, cho nên số chữ của truyện ngắn còn ít hơn số chữ của bài nhận xét của tạp chí.


Sau 18 tháng học xong chương trình lớp 8, 9, 10; thi tốt nghiệp phổ thông trung học rồi chuyển sang học ngoại ngữ. Lúc đầu học Trung văn, sau lại chuyển sang Nga văn. Học Nga văn chưa được một tháng thì Cục Cán bộ về trường tổ chức khám sức khỏe và sắp xếp các Đoàn đi học Liên Xô, Trung Quốc; giải quyết nghỉ phép và hẹn ngày tập trung tại Trạm 66 nhận quân trang. Những ngày nghỉ phép trước khi đi Liên Xô tôi lại đến các trường Học sinh miền Nam tìm em Ninh.


Đoàn tôi đi học ngành rada cảnh giới - dẫn đường gồm 8 người, đều là Đảng viên: Trung úy Đặng Đình Vinh, Đoàn trưởng, Thiếu úy Vũ Mạnh Quyết, Bí thư chi bộ, chuẩn úy Nguyễn Huyên, Trung sĩ Trần Hữu Trì, Trung sĩ Phạm Quang Sang, Trung sĩ Huỳnh Quang, Hạ sĩ Đinh Thế Phong và Binh nhất Đinh Văn Thung.


Lần đầu tiên đi ra nước ngoài, cảm xúc trong tôi buồn vui lẫn lộn. Vui vì được đi học Liên Xô, bước ngoặt cuộc đời, buồn vì thương nhớ má đang sống trong gian khổ ở miền Nam, thương em Ninh nhỏ bé bơ vơ một mình trên đất Bắc.


Ngày 7 tháng 8 năm 1960 chúng tôi lên tàu liên vận Hà Nội - Bắc Kinh - Ulanbator - Mascova. Từ Hà Nội đến Bắc Kinh tàu chạy hơn 4 ngày đêm. Đến Bắc Kinh phải nghỉ chờ 2 ngày để chuyển sang tàu Bắc Kinh - Mascova.


Lần đầu tiên ra nước ngoài tôi dành nhiều thời gian quan sát đất nước bạn hai bên đường tàu đi qua xem có khác đất nước mình hay không. Đất nước Trung Quốc ở phía Nam giống hoàn toàn Việt Nam, ở phía bắc có khác nhưng không nhiều. Sang đất Mông Cổ tàu đi mãi không thấy một bóng cây, chỉ nhìn thấy cây khi tàu đi qua Thủ đô Ulanbato. Qua Ulanbato lại không thấy cây, toàn đồng cỏ. Qua khỏi ga biên giới Mông Cổ đến ga biên giới Liên Xô, ga Irkus thì cây cối um tùm. Không hiểu tại sao bên Mông Cổ người ta không trồng cây?


Rừng cây hai bên đường tàu chạy xuyên Xiberia từ đông sang tây chỉ có rừng cây thông, không có bất kỳ loại cây tạp nào như rừng việt Nam. Trên chặng đường 7 ngày tàu đi xuyên Xiberia từ đông sang tây có một đoạn chừng 100km tàu chạy cặp theo bờ hồ Baikan, hồ nước ngọt lớn nhất thế giới, nước trong vắt, hồ rộng mênh mông, từ bờ bên này mắt thường không nhìn thấy bờ bên kia, trên mặt hồ lác đác những chiếc tàu thủy đi đây đi đó. Đến Mascova Phòng Tùy viên Quân sự cho người đón và chuyển luôn đến ga phía Nam của Mascova, ga Kiev và lên tàu đi về thành phố Kharcov, nơi có Học viện Quân sự ARTA mà chúng tôi sẽ học.


Đến Kharcov, Đại tá Proxikhin Trưởng khoa Quốc tế của Học viện đón chúng tôi và đưa về ký túc xá bên công viên Rudnhev. Sau khi ổn định chỗ ở, ông đưa chúng tôi xuống nhà ăn và dặn nhà ăn ghi sổ các bữa ăn của chúng tôi, khi nào chúng tôi có lương sẽ trả sau. Những ngày đầu mới sang Liên Xô thật khó khăn, chúng tôi như người vừa câm vừa điếc. Vì trước khi sang Liên Xô chúng tôi chỉ được học tiếng Nga chưa được một tháng thì Cục Cán bộ về trường tổ chức các đoàn đi học, rồi cho nghỉ phép một tháng, sau đó tập trung về Trạm 66 nhận quân trang, học chính trị và đi tàu hỏa sang Liên Xô, tổng cộng thời gian mất hơn hai tháng, cho nên sang đến nơi tiếng Nga rơi rụng hết. Chỉ riêng việc giải thích cho chúng tôi hiểu đến bữa cứ đến ăn, nhà bếp sẽ ghi sổ, khi nào có lương sẽ trả sau mà cũng phải rất lâu chúng tôi mới hiểu được. Ngay bữa ăn tối hôm đó cũng đã xảy ra một chuyện cười. Chúng tôi vào nhà ăn, bốn người một bàn, trên bàn đã có sẵn tờ thực đơn, trên thực đơn có bốn mục lớn đánh số La Mã: I, II, III, IV, trong mỗi mục lớn có 4 mục nhỏ đánh số 1, 2, 3, 4. Đọc tên các món ăn chúng tôi không biết đó là món gì, mỗi người đều tự chọn cho mình một vài món bằng cách chỉ tay vào các chữ số trên tờ thực đơn và ghi lại chữ Nga tên món ăn để lần sau rút kinh nghiệm. Cuộc chơi “xổ số” của chúng tôi có một người trúng “độc đắc”, anh Trần Hữu Trì chỉ liền ba số 1, 2, 3 trong mục lớn đánh số một La Mã. Họ bê ra cho anh một chồng ba món một lúc. Anh lần lượt mở ra và thấy toàn là món xúp, các loại xúp khác nhau. Tôi hỏi liệu ông có ăn hết không hay phải xin người ta đổi cho món khác. Anh bảo tao đã kêu, tao sẽ ăn hết cho mày coi. Bây giờ mà kêu đổi, biết diễn đạt bằng tiếng Nga thế nào! Món xúp nhưng họ đựng trong những chiếc đĩa to và sâu, khối lượng phải bằng một tô to của Việt Nam. Anh đã ăn một lần hết ba đĩa xúp thật. Về sau khi chúng tôi đã biết sử dụng tiếng Nga trong giao tiếp, chuyện vui này thường được các cô phục vụ nhắc lại. Giải “độc đắc” của anh Trì được chia đều cho chúng tôi về kiến thức: món một La Mã là các món xúp. Theo tập quán ăn của người Nga hay người Ucraina, bữa ăn hàng ngày thường có 4 món: món thứ nhất là món xúp, món thứ hai là món ăn chính như thịt heo, thịt bò, thịt thỏ, cá... món thứ ba là các món xalas Nga, sữa chua, cá biển muối, trứng cá hồi... món thứ tư là đồ uống. Cứ thế mỗi ngày chúng tôi nhập tâm được mấy món ăn.


Ngày hôm sau, Phó khoa Quốc tế, Đại tá Shalunov đến kí túc xá đưa chúng tôi đi tắm tại nhà tắm công cộng ngoài phố. Ở kí túc xá không có nhà vệ sinh nào có kèm nhà tắm có nước nóng như ở Việt Nam. Nhà tắm công cộng nam là một ngôi nhà rộng chừng hai trăm mét vuông mái vòm rất cao, ở giữa có bể nước nóng hơi bay nghi ngút, hai đầu là những tủ gửi quần áo và tư trang cá nhân; một bên bể tắm là các phòng lau khô người sau khi tắm, ở đó đã có sẵn khăn tắm sạch đặt trên giá; dưới bể tắm lúc nhúc người đang tắm trần truồng! Trên bờ các bà già phục vụ vẫn đi lại làm việc rất tự nhiên. Nhìn cảnh tượng ấy chúng tôi phát khiếp, cảnh tượng chưa từng gặp bao giờ trong đời của mấy anh chàng dân quê Việt Nam! Rồi việc gì cần làm vẫn phải làm, Đại tá Salunov ra hiệu cởi quần áo, cởi xong người này chờ người kia xem ai dám dẫn đầu, nhưng mọi người đều đứng yên, thế là Đại tá đến chỗ Đoàn trưởng Vinh kéo tay và ra hiệu đi theo ông, quân ta vừa đi hai tay vừa che chỗ hiểm. Các bà phục vụ nhìn thấy thế cười vang, đó là chuyện cười khó quên của ngày thứ hai trên đất Liên Xô.


Học viện ARTA là một Học viện Quân sự lớn của Quân đội Liên Xô, ở đây đào tạo các sĩ quan kỹ thuật có trình độ Đại học cho pháo binh và tên lửa tầm xa.


Hiệu trưởng Học viện là Thượng tướng Bajanov, ông rất hiền và thường đến kí túc xá của Học viện thăm chúng tôi và hỏi xem trong sinh hoạt có gì khó khăn hay không.


Tòa nhà của Học viện là tòa nhà hình lục giác, mỗi cạnh có một cổng đi vào bên trong tòa nhà. Cổng chính là một cạnh cao 12 tầng hướng ra quảng trường Dzerjenskovo, quảng trường lớn nhất của thành phố Kharcov thuộc nước Cộng hòa Ucraina, trong Liên bang Xô Viết. Ngay tại sảnh rộng của cổng chính có cả một mảng tường bằng đá trên đó khắc tên những học viên đã tốt nghiệp Học viện với huy chương vàng. Đó là phần thưởng của Học viện dành cho những học viên mà từ năm học thứ nhất cho đến khi tốt nghiệp tất cả điểm kiểm tra hàng năm và luận văn tốt nghiệp đều đạt điểm cao nhất. Từ khi nhìn thấy mảng tường khắc tên những học viên tốt nghiệp với huy chương vàng, tôi đã tự nhủ mình rằng sẽ cố gắng học tốt để tên mình, một học viên Việt Nam, sẽ được khắc lên mảng tường đá của Học viện ARTA.


Mỗi học viên chỉ được đi qua một cổng, tùy thuộc ngành học của mình. Mỗi học viên có một thẻ ra vào đặt ở tủ phía sau người lính gác. Cánh cổng gồm 4 tấm kính ghép thành hình chữ thập vào một trục đứng. Muốn qua cổng học viên phải xưng tên hoặc số thẻ, người lính gác lấy thẻ từ tủ và đối chiếu ảnh trên thẻ xong họ đưa thẻ cho học viên và đạp khóa, cánh cổng xoay một nấc và học viên bước qua. Trên thẻ có in kí hiệu của các khu vực bên trong tòa nhà mà học viên được phép đến đó. Khi ra về học viên phải để lại thẻ vào một chiếc khay trước mặt người lính gác.


Giáo viên dạy các môn học không liên quan đến vũ khí trang bị kỹ thuật đều là các nhà giáo dân sự. Học viên của Học viện đến từ Liên Xô và 12 nước Xã hội Chủ nghĩa những năm 60. Bên trong Học viện có một nhà ăn phục vụ học viên ngoại quốc, bánh mỳ trên bàn ăn miễn phí, ăn xong tự tính tiền theo thực đơn và để tiền ăn ngay trên bàn.


(còn tiếp)


Nguồn: Người con của mẹ Năm Bê. Truyện ký của Huỳnh Quang. NXB Hội Nhà văn, 2019.


www.trieuxuan.info


 


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Đừng xúi trẻ con ăn cứt gà". Từ chuyện đời ở Myanmar, nghĩ về giáo dục lớp trẻ ở Việt Nam - Triệu Xuân 21.11.2019
Đốt lò hương cũ (kỳ cuối): Chới sách/ Hồi ức về Lê Văn Trương/ Tam Lang Vũ Đình Chí/ Nhà thơ Nguyễn Bính - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (12): Vũ Đình Long - Chủ nhà in, NXB Tân Dân/ NHớ về Lan Khai - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (11): Chiêu niệm Vũ Trọng Phụng - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (10): Hoa gạo ven sông/ Lỗi tình - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ 9: Trong phòng triển lãm/ Những đêm sương/ Một đêm trăng đỏ/ Hà Thành hoa lệ/ Chết - Ngọc Giao 19.11.2019
Đi chợ côn trùng Tây Bắc - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 08.11.2019
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
xem thêm »