tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28845356
25.07.2019
Huỳnh Quang
Người con của mẹ Năm Bê (3)


HƠN NỬA THẾ KỶ CUỘC ĐỜI BỘ ĐỘI         


Những ngày đầu tiên trong quân ngũ


Ngày tôi lên huyện tập trung cũng chính là ngày tôi được ghi tên gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam, đó là ngày 12 tháng 8 năm 1953. Tôi được cấp phát hai bộ quần áo bà ba màu đen, một cái ruột tượng đựng gạo và một cái chén ăn cơm. Chỉ có thế, không có súng đạn, không có chăn màn, không có giày dép, không có mũ mão, không có quân phục áo cầu vai. Tôi được biên chế về trung đội Trinh sát-Quân báo của Tỉnh Đội Phú Yên. Không gặp cán bộ Trung đội, chỉ gặp tiểu đội trưởng Huỳnh Tấn Châu, anh ghép tôi với Sơn và Thắm thành một tổ ba người. Sơn làm tổ trưởng, quê ở xã Xuân Sơn, huyện Đồng Xuân. Sơn nhiều tuổi và cao to hơn tôi. Thắm quê xã An Thạch xuất thân là chú tiểu ở chùa. Về sau, anh Châu bảo anh nhận em về tiểu đội anh vì em cũng họ Huỳnh, nhưng quê anh ở tận Quảng Nam bên sông Thu Bồn. Anh đưa chúng tôi về trú tại một nhà dân gần Huyện Đội Tuy An, hướng dẫn chúng tôi đi nhận tiêu chuẩn gạo, tiền ăn và mỗi đứa tự làm hai ống tre có nắp, có dây đeo để đựng lương khô. Gọi là tiền ăn nhưng đó không phải là những tờ giấy giấy bạc Ngân hàng. Đó là những tờ tín phiếu có mệnh giá “đồng tiền”, có in hoa văn, ảnh Bác Hồ và chữ ký của ông Phạm Văn Đồng, đại diện Chính phủ Trung ương và ông Nguyễn Duy Trinh, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ. Tiền tín phiếu được lưu hành trong vùng tự do Nam Trung Bộ để nhân dân mua bán trao đổi hàng hóa như đồng tiền của Ngân hàng Nhà nước.


Sau khi chúng tôi chuẩn bị xong mọi thứ, anh Châu giao nhiệm vụ cho Sơn dẫn tổ hành quân ra Sông Cầu, xã Xuân Thọ hỏi nhà ông Ba Kim, gần chùa Triều Tôn. Ông Kim sẽ dẫn tổ lên đài quan sát Sông Cầu để gặp tổ ba người đang gác trên đó. Hai tổ sẽ bàn giao nhiệm vụ cho nhau tại chỗ, cùng làm việc với nhau một ngày, sau đó tổ anh Thắng sẽ rút về đi nhận nhiệm vụ khác. Chúng tôi hành quân hơn một ngày thì đến Sông Cầu, chân không có dép nên không thể đi nhanh trên đường rải đá. Tối ngủ ở nhà ông Ba Kim, sáng sớm hôm sau lên đài quan sát gặp tổ anh Thắng. Từ nhà ông Ba Kim lên đài quan sát leo núi khoảng hơn ba tiếng đồng hồ. Trang bị ở đài quan sát đã có sẵn một máy điện thoại và một ống nhòm của Đức rất to. Việc bàn giao nhiệm vụ và hướng dẫn sử dụng ống nhòm, điện thoại diễn ra rất nhanh. Nhiệm vụ là gác biển, khi phát hiện có tàu đổ bộ của Pháp chạy về hướng Sông Cầu thì điện báo về tỉnh để cơ quan tham mưu tổng hợp tình hình. Dọc bờ biển Phú Yên có nhiều đài quan sát như chúng tôi, nên cơ quan tham mưu tổng hợp tình hình rất nhanh và chính xác. Việc chuẩn bị hậu cần cho tổ thì lâu hơn, phải bớt tiền ăn để mua một chiếc chiếu đôi dùng khi ngủ nửa trải nửa đắp. Thông thường thì hai người trực gác một người ngủ, người ngủ có thể xuống núi về nhà ông Kim ngủ. Thức ăn thì phải chuẩn bị thường xuyên có sẵn một ống lương khô thịt heo kho với mắm và muối rất mặn, một ống lương khô đầy mắm ruốc. Mắm ruốc dùng để nấu canh chua lá giang rừng hoặc pha nước chấm rau rừng luộc.


 


                        Khoảng gần một tháng sau thì chúng tôi nhận được lệnh dời đài quan sát về núi Nhạn Tháp, Tuy Hòa. Những ngày ở đài quan sát Sông Cầu là thời gian thử thách nặng nề về tinh thần đối với tôi và Sơn, bởi chúng tôi lần đầu tiên xa nhà. Lúc nào trong đầu cũng nghĩ về gia đình...  Giờ này nhà đã ăn cơm chưa? Má đang may đồ cho ai? Em Ninh có bị té lần nào không? Giàn mướp tôi làm đã có bông chưa? Bà ngoại có khóc nhớ mình không?... Sơn cũng rên nhớ nhà quá, chỉ có Thắm thì không hề gì vì cha mẹ đưa cậu ta vào chùa từ nhỏ, không còn biết nhớ nhà nữa. Lệnh của trên bảo tổ phải mang máy điện thoại và ống nhòm đi theo về đài quan sát núi Nhạn, Tuy Hòa. Sơn đề xuất với tổ từ Sông Cầu đi qua đèo Cây Cưa đến Xuân Sơn thì ghé nhà Sơn ăn cơm, đi tiếp xuống Chí Thạnh rồi đi Tuy Hòa. Tôi đồng ý lộ trình hành quân nhưng đề nghị cho tôi chỉ ghé nhà Sơn cho biết nhà nhưng không ăn cơm ở nhà Sơn, tôi sẽ đi trước về nhà tôi ở An Định và chờ hai bạn ở nhà may ngay chân dốc qua đường xe lửa ở đầu làng Phong Niên. Hành quân, tôi được phân công mang cái ống nhòm, Thắm mang hai cái ruột tượng gạo, Sơn mang chiếc điện thoại và cuộn dây. Thế là tôi đi bộ đội chưa đầy một tháng đã có dịp ghé về thăm nhà, xả căng nỗi nhớ, lại có cái ống nhòm làm quà cho em Ninh khám phá. Em còn nhỏ, khoảng cách giữa hai mắt quá ngắn, không thể chỉnh cho hai ống nhìn gần hơn, em chỉ nhìn một mắt qua một ống kính thôi mà thấy núi Bà rõ mồn một, như có ai kéo núi lại gần ngay trước mặt, em thích lắm, ôm cái ống nhòm suốt buổi để khám phá, nhìn hướng này, hướng khác, ngó xa, ngó gần...


                  Núi Nhạn Tháp bên sông Đà Rằng, Tuy Hòa


            Về đài quan sát núi Nhạn chừng 2 tuần thì anh Châu bảo tôi đi công tác với anh. Tổ đi công tác có bốn người, anh Châu là tổ trưởng, anh Sinh, anh Hà và tôi.   Quân Pháp chuẩn bị mở chiến dịch Atlan đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5, Phú Yên sẽ là nơi chúng bắt đầu chiến dịch. Cho đến thời điểm này, chiến khu Khánh Hòa vẫn dựa vào sự chi viện về mọi mặt từ Phú Yên. Nhưng từ giữa năm 1953, quân Pháp đã chặn đường tiếp vận cho chiến khu Khánh Hòa theo đường dân công phía đông. Đã hai lần địch phục kích đúng tổ trinh sát tiền trạm đi trước đoàn dân công, tiếng súng trong hai lần chạm trán với địch đã báo hiệu cho đoàn dân công quay trở lại Phú Yên. Đã nhiều ngày chiến khu Khánh Hòa thiếu lương thực, thuốc men. Cấp trên quyết định mở đường dân công mới đi về phía tây khu vực vùng rừng núi giữa ba tỉnh Phú Yên - Đắc Lắc - Khánh Hòa.


Ảnh núi Nhạn Tháp bên bờ sông Đà Rằng và quần thể


Tuy Hòa dựa lưng vào núi Chóp Chài mặt quay ra biển.


Chúng tôi xuất phát từ một địa điểm thuộc huyện Sông Hinh, Phú Yên, nhằm hướng núi Thiên Sơn, qua khỏi rừng Mò O thì đến địa điểm gặp nhau của hai tổ trinh sát mở đường đi từ Phú Yên vô và từ Khánh Hòa ra. Quân khu qui định cả hai tổ đều đánh dấu đường đã đi qua bằng ba nhát rựa chặt trên thân cây thẳng ở độ cao ngang tầm mắt người đi. Chặng đi từ Sông Hinh đến núi Thiên Sơn phải qua Núi Lá nơi có rất nhiều cọp theo câu nói dân gian ở Phú Yên: “Cọp Núi Lá, cá Sông Hinh” cho nên qui định hành quân chỉ được đi đến bốn giờ chiều phải nghỉ chuẩn bị chỗ ngủ trên cây cao để tránh cọp. Kế hoạch đi dự kiến khoảng nửa tháng. Chúng tôi đi đến ngày thứ ba thì anh Sinh bị rắn cắn, chân sưng to rất nhanh không thể đi được. Theo kinh nghiệm đi rừng nếu bị rắn cắn phải tìm cách chữa trị, nếu không có thể tử vong. Quay trở lại thì sẽ quá chậm vì phải khiêng nhau. Anh Châu trèo lên một cây cao, dùng tay làm loa hú ba tiếng dài cách nhau chừng nửa phút. Chừng mấy phút sau chúng tôi nghe có tiếng hú đáp trả. Anh Châu mừng rỡ bảo: “Trời thương thằng Sinh, có người đến cứu rồi”. Theo cách sống của người dân tộc thiểu số, đi rừng nếu gặp hoạn nạn hãy hú ba tiếng dài, người đang ở trong rừng nghe được cũng sẽ hú ba tiếng dài đáp trả và sẽ đến giúp đỡ. Chừng hơn nửa giờ sau chúng tôi lại nghe tiếng hú gần nơi chúng tôi đang chờ, anh Châu hú lại một tiếng và chẳng bao lâu sau hai thanh niên người dân tộc đã đến. Quân dân gặp nhau rất vui mừng nhưng họ tỏ ra phải rất khẩn trương, họ đi chặt một đoạn cây thẳng làm đòn khiêng, treo cái võng của anh Sinh lên, bảo anh Sinh nằm lên võng và họ khiêng đi. Chúng tôi muốn để chúng tôi khiêng anh Sinh nhưng họ không chịu, bảo để sức mà đi làm nhiệm vụ. Họ bảo nếu cần thì một anh đi theo họ về đến bản cho biết chỗ, khi trở về ghé đón anh Sinh. Họ bảo chúng tôi yên tâm, về bản sẽ có thuốc Nam vừa uống vừa đắp lên vết thương, một tuần sau sẽ khỏi.  


Mười hai giờ trưa ngày hành quân mở đường thứ năm, chúng tôi ra khỏi rừng Mò O, men theo một con suối khô, anh Hà đi trước, tôi đi giữa, anh Châu lặng lẽ theo sau. Ai nấy đều rất mệt nhọc, chân tay bắt đầu phù sưng, lốm đốm những dấu ghẻ ruồi, dấu muỗi đốt, vắt cắn đen thẩm. Bao da cứ xễ dần xuống vế, chốc chốc phải buộc lại thắt lưng, chúng tôi bước đi từng bước nặng nề. Anh Hà dự định hôm nay sẽ nấu một bữa cơm thật ngon ăn cho có sức, nhưng theo mãi con suối mà vẫn không có nước. Tôi cảm thấy chân tay bủn rủn, chỉ muốn ngồi xuống, nằm xuống, nằm mãi ở đây không đi nữa... Một con vượn hú lảnh lói làm tôi nhớ lại nhiệm vụ. Chiến khu đang đói, mấy tháng nay chỉ ăn cháo, bắp, sắn và rau rừng. Sắn, bắp trồng tự túc cũng sắp hết. Chiến khu như một cánh tay bị đứt mạch máu đỏ, mình phải nối lại mạch máu, đường dân công là mạch máu đỏ.


Gió luồn vào rừng, cây cối rung rinh lá cọ vào nhau lào xào. Tôi lại bước đi. Vừa vòng qua một eo suối, bỗng anh Hà ngồi thụp xuống, anh thoáng thấy một cái mũ ngụy binh. Tôi chẳng hiểu gì cũng vội ngồi theo. Rừng yên lặng, cây cối cúi đầu buồn bã... Chúng tôi từ từ đứng dậy. Trước mặt chúng tôi, một anh bộ đội đang ngồi trên một hòn đá phẳng, lưng dựa vào một tảng đá lớn, đầu hơi nghiêng về bên phải, hai mắt lõm sâu vào trong. Chiếc mũ vải và bộ quần áo xita bạc màu rách tả tơi, trên ngực mấy con vắt còn bám chặt. Hai tay anh đặt lên trên khẩu tiểu liên gác ngang qua đùi, hai chân buông tự nhiên như đang ngồi ghế dựa. Người anh đã khô cứng. Trong bao da, một tấm bản đồ và mảnh giấy Nam - Trung xếp ngay ngắn cạnh những viên đạn tiểu liên. Anh Hà mở ra đọc:


“Bây giờ đây, chừng mười giờ ngày 13 tháng 3, tôi không còn sức lực để bước đi nữa. Chúng tôi có sáu người, làm nhiệm vụ trinh sát mở đường dân công tiếp viện cho chiến khu Khánh Hòa. Dọc đường ốm nằm lại mất bốn, còn hai, nửa đường anh Sang không chịu mắc võng trên cao bị cọp lôi đi mất, chỉ còn tôi; và có thể trưa nay hoặc tối nay tôi cũng bị thần chết đem đi luôn... Buồn và cũng đau lòng quá! Tôi chưa làm xong nhiệm vụ, anh em trong chiến khu đang khổ, đang mong đợi... Chiến dịch sắp mở để phối hợp với Tây nguyên, mà tôi phải ngồi đây, mãi mãi ngồi giữa núi rừng âm u này!


Ai sẽ gặp tôi ở đây? Ai sẽ làm nốt nhiệm vụ mở đường? Đồng chí ơi! Anh ơi! Chị ơi! nếu ở ngoài vô đừng đi về bên trái, gặp địch. Đồng chí hãy theo dấu răng tôi đã cắn trên những thân cây nhỏ, tôi không còn đủ sức cầm rựa chặt ba nhát trên những thân cây to. Hãy đi dạt về bên phải, rồi theo dấu rựa mà về chiến khu. Cố đi nhanh lên! Trần Trung”.


Anh Hà đọc xong, chúng tôi đứng lặng thinh nhìn anh bộ đội từ đầu đến chân.


- Mới...  hai ngày- Anh Hà buột miệng.


Gió lại thổi, rừng kêu lên lào xào. Chúng tôi đứng thành hàng ngang trước mặt anh mặc niệm, mỗi người tự nói lời vĩnh biệt anh trong lặng yên. Chúng tôi bưng những tảng đá xếp thành một vòng cung phía trước anh để đánh dấu. Chúng tôi thắt lại nịt da, chân bước nhanh hơn trên những tảng đá.


- Đây này, dấu răng của đồng chí ấy đánh dấu đây...


- Đây nữa... đây nữa...


Đi chừng gần nửa ngày nữa thì chúng tôi bắt đầu nhìn thấy dấu ba nhát rựa, từ đó đi nhanh hơn. Khi gần đến chiến khu Khánh Hòa theo đối chiếu trên bản đồ thì tôi bị sốt rất cao, người như quay cuồng không thể nào đi được nữa. Tôi đề nghị để tôi ở lại đấy, các anh đi nhanh đến chiến khu rồi quay lại đón tôi, nhưng anh Châu không chịu, nếu để tôi ở lại thì phải mắc võng trên cây cao cho tôi nằm, chứ nằm dưới đất đêm cọp tha mất. Mắc võng thì dễ, nhưng đưa tôi lên nằm được trên võng thì rất khó, té một cái là đi đời! Cuối cùng anh Châu quyết định khiêng tôi đi, thật gian khổ cho hai anh. Đi một mình đã bủn rủn chân tay, giờ còn phải khiêng tôi, tôi nằm trên võng khóc mãi cho đến khi về đến chiến khu vì thương hai anh.


Bác sĩ của chiến khu bảo tôi bị sốt mò chứ không phải sốt rét. Sốt mò là do bị con mò đốt, nọc độc của con mò gây sốt cao triền miên, nhờ thể lực tôi khỏe chứ nếu sức khỏe yếu thì không chịu nổi ba ngày. Ở chiến khu có thuốc nam chữa sốt mò rất tốt, chỉ một ngày sau độc tố trong máu đã được trung hòa và tôi hết sốt. Hay thật!


TP. Tuy Hòa dựa lưng vào núi Chóp Chài quay mặt ra biển


Mười lăm hôm sau, dọc tuyến đường vang lên tiếng cuốc, tiếng rựa chặt cây. Anh Hà cùng anh em đi trước mở rộng đường. Đằng sau lớp lớp dân công gánh gạo đi vào, tiếng hò, tiếng hát vang vang. Họ vịn vào những thân cây còn in rõ dấu răng, dấu rựa, bước lên từng bước chắc chắn.


Sau khi tôi, anh Hà, anh Sinh và anh Châu trở về Phú Yên từ chiến khu Khánh Hòa, tôi lại được phân công về lại tổ quân báo cũ, nhưng đài quan sát không còn ở núi Nhạn nữa mà đã dời lên đỉnh núi Chóp Chài, ở đó đã có Sơn và Thắm đang trực. 


* 


Ngày 20 tháng 1 năm 1954, quân Pháp bắt đầu tấn công Phú Yên. Địch huy động bốn binh đoàn cơ động và hai tiểu đoàn dù. Tại thị xã Tuy Hòa, địch cùng lúc cho quân đổ bộ bằng tàu há mồm lên phường 6 và cho hai tiểu đoàn nhảy dù xuống sân bay Tuy Hòa. Từ trên đài quan sát Chóp Chài chúng tôi nhìn rất rõ từng thằng lính dù bước ra khỏi cửa máy bay. Điểm ngắm của lính dù là sân bay Tuy Hòa, nhưng do trình độ của lính dù kém hay do gió biển đẩy đi xa hơn nên quá nửa số lính dù rơi về phía cánh đồng Tuy Hòa. Mấy ngày sau từ đài quan sát Chóp Chài chúng tôi lại đếm được hàng trăm xe cơ giới, xe bọc thép địch đánh từ Đèo Cả đánh ra và từ Củng Sơn đánh xuống. Cấp trên đã lệnh cho chúng tôi bám sát tình hình địch tập kết trong thị xã Tuy Hòa, đồng thời chuẩn bị ngay một địa điểm mới cho đài quan sát Chóp Chài ở lưng chừng núi để giữ vững hoạt động của đài quan sát khi địch tấn công chiếm đỉnh Chóp Chài. Phải chọn địa điểm mới cách xa đường mòn từ phía thị xã đi lên đỉnh núi, bí mật tuyệt đối với kẻ địch nhưng giữ được quan sát hướng thị xã, hướng nam và tây nam. Thắm ở lại trực, Sơn và tôi mỗi người đi tìm một vị trí mới cho đài. Núi Chóp Chài hướng nào cũng đầy cây quýt gai, có trái tròn nhỏ như hạt bắp luộc ăn bùi bùi, gai của nó rất cứng và nhọn hoắt muốn luồn qua được nó phải chịu rách da. Sau một ngày mỗi đứa tìm được một chỗ, Sơn tìm vị trí đài ở hướng nam, tôi tìm vị trí đài ở hướng tây nam. Chúng tôi báo cáo về Chỉ huy sở và đêm hôm đó anh Châu đã lên đỉnh Chóp Chài với chúng tôi, sáng hôm sau anh Châu đi kiểm tra và quyết định chọn vị trí hướng tây nam là vị trí số 1, vị trí hướng nam là vị trí số 2. Anh Châu yêu cầu chuyển ngay đài quan sát đến vị trí số 1, xóa tất cả dấu vết của đài trên đỉnh núi Chóp Chài, tạo một con đường mòn không có hình hài rõ rệt từ vị trí số 1 đi sang vị trí số 2.


Chừng một tuần sau, địch cho tập kết một trận địa súng cối ngay đầu phía Nam của sân bay Tuy Hòa. Chúng tôi báo cáo về Chỉ huy sở và được thông báo địch sẽ tấn công chiếm đỉnh Chóp Chài, chúng sẽ bắn đạn súng cối dọn đường rồi mới cho bộ binh tiến lên. Cấp trên yêu cầu đài giữ vững nhiệm vụ quân báo, đài không có nhiệm vụ tác chiến chống địch đánh chiếm đỉnh Chóp Chài. Mặc dù lúc này đài quan sát đã được trang bị thêm một khẩu tiểu liên và sáu quả lựu đạn để phòng bị.


Gần một tuần sau, đúng như dự đoán của cấp trên, từ sáng sớm, địch bắn đạn cối tới tấp lên núi Chóp Chài. Chúng bắn nhiều vào triền núi phía Đông dọc theo con đường độc đạo từ phía thị xã đi lên đỉnh Chóp Chài, sau đó chuyển làn sang triền núi phía Nam rồi Tây nam. Đêm hôm trước, Thắm và tôi trực đài quan sát, chúng tôi mang ống nhòm sang vị trí số 2 để quan sát thị xã Tuy Hòa tốt hơn. Từ sáng sớm, chúng tôi đã thấy địch chuẩn bị trận địa và bắt đầu bắn những loạt đạn cối đầu tiên lên núi Chóp Chài. Mỗi loạt chúng bắn hầu như cùng một lúc 14 quả đạn cối, mỗi loạt cách nhau chừng mấy phút và cứ thế chúng bắn từ sáng đến trưa. Đạn nổ inh tai, khói bay mù trời. Chúng tôi ước tính địch đã tiêu tốn hơn hai nghìn quả đạn cối để dọn đường cho bộ binh đánh lên đỉnh Chóp Chài.


Khi chúng chuyển làn sang hướng Nam, đạn đã nổ gần vị trí số 2 của đài quan sát, anh Thắm và tôi phải rút về vị trí số 1. Cây quýt gai mọc dày, không thể chạy được mà phải bò dưới các lùm cây quýt gai, đạn nổ khắp nơi. Tôi bò trước, anh Thắm vướng cái ống nhòm phải theo sau, khi anh Thắm trườn qua một tảng đá lớn, tay vừa chạm đất, đầu còn chúc xuống đất, chân đang vướng gai trên cao thì hai quả đạn cối nổ gần chúng tôi. Một mảnh đạn cối đã cắt gãy một xương ống chân bên trái của anh Thắm. Tôi phải đứng dậy gỡ nhánh gai quýt mắc vào ống quần và quai dép của anh Thắm để anh trườn qua được tảng đá và nằm xuống mặt đất. Tôi phải nằm ngược đầu với anh Thắm để băng vết thương cho anh trong nhiều loạt đạn cối nổ inh tai xung quanh chúng tôi. Để nhanh chóng ra khỏi vùng địch đang bắn cấp tập, tôi cõng anh Thắm trên lưng, anh ôm eo tôi và tôi bò đi. Về gần đến vị trí số 1 thì không có quả đạn nào rơi về phía ấy nữa, nhưng máu thấm đỏ khắp người chúng tôi. “Thế là yên tâm, thần chết cũng bị vướng gai quýt không đến thăm chúng ta được”- Anh Thắm cười khà khà.


Mười hai giờ đêm hôm đó, Sơn điện về Sở chỉ huy xin tạm ngưng hoạt động của đài quan sát để chuyển thương binh xuống núi bàn giao cho du kích chuyển về căn cứ xử lý vết thương gãy xương cho anh Thắm. Chúng tôi phải đi hai người vì trời tối mù, một người đi trước dò đường trong đêm tối, người đi sau cõng anh Thắm. Cõng người mà đi xuống núi thật khó khăn, không cẩn thận ngã nhào cả hai, vết thương sẽ nặng thêm vì chưa được xử lý đúng qui cách, mới chỉ tạm buộc hai que củi kẹp hai bên cho xương nằm yên. Sơn chê tôi tuổi con nít lại nhỏ con nên không cho tôi cõng anh Thắm. Sơn chỉ cho tôi làm cái việc “nhẹ nhàng” hơn nhưng “đổ máu” nhiều hơn là đi trước dò đường, chặt bớt những cành cây cản đường đi. Đoạn đường xuống núi chỉ hơn năm trăm mét mà chúng tôi phải mất hơn ba giờ. Xong việc về đến vị trí số 1 trời đã gần sáng, quần áo tôi rách tả tơi và bê bết máu.


Khóa học đầu tiên trong Quân đội


Sau chuyến đi “mở đường” vào chiến khu Khánh Hòa và nhất là trận thử lửa ở đài quan sát Chóp Chài, anh Châu nhận thấy tôi có thể trở thành một trinh sát viên “được việc” nên anh đề nghị cho tôi đi học lớp trinh sát do Quân khu 5 mở 3 tháng ở Quảng Ngãi. Nói là đi học 3 tháng thì phải mất 4 tháng xa đơn vị, thêm 1 tháng hành quân. Lớp học gồm các chiến sĩ từ các trung đoàn chủ lực và các Tỉnh đội; Tỉnh đội Phú Yên cử đi học một tiểu đội. Chúng tôi hành quân bộ từ Tuy Hòa ra đến nơi học thuộc huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, quãng đường khoảng hơn 200 cây số mất hơn 10 ngày. Trên đường từ Phú Yên đến Đức Phổ, Quảng Ngãi, khi chúng tôi đang ngồi nghỉ ăn trưa trong quán cạnh cầu Bồng Sơn thì tôi nhìn thấy cậu Thọ và một người nữa đi từ phía Nam ra. Hai cha con ôm nhau mừng rỡ. Ông nói ông có lệnh của Bộ Tổng điều ra Bắc tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Trước khi đi ông có ghé về nhà mấy tiếng đồng hồ rồi phải đi ngay vì lệnh rất gấp. Đến lúc đó, ông mới biết tôi cũng đã là chiến sĩ trong Quân đội, ông rất vui. Thế là hai cha con hành quân theo hai hướng ngược nhau: ông ra chiến trường ngoài Bắc, tôi học xong vào chiến trường phía Nam. Khi chia tay, ông cho tôi tờ tiền tín phiếu 1000 đồng, ông bảo cầm đi mà tiêu, con là chiến sĩ phụ cấp có được bao nhiêu đâu. Hồi ấy, bộ đội không có lương như bây giờ, từ chiến sĩ cho đến cán bộ cao cấp, tất cả đều chỉ được hưởng phụ cấp tiêu vặt. Phụ cấp được nhận theo chức vụ đảm nhiệm, ở Liên khu 5 đơn vị tính phụ cấp là ký gạo, chức vụ càng cao thì số ký gạo càng nhiều rồi qui ra tiền tín phiếu. Quân trang thì chiến sĩ được phát thêm một tấm ra để đắp khi ngủ, so với tiêu chuẩn quân trang được nhận khi mới nhập ngũ. Cán bộ trung đội trở lên mới được phát mùng. Giày dép thì ai cũng tự lo bằng cách tự làm hoặc tự mua một đôi dép lốp...                


Ông cha dượng cho tôi tờ tín phiếu 1000 đồng


(những tờ tín phiếu hiện còn lưu giữ ở Bảo tàng tỉnh Phú Yên)


Lớp học bắt đầu và kết thúc đúng kế hoạch. Học xong, chúng tôi trở về Phú Yên ngay. Khi chúng tôi đặt chân đến đất Phú Yên, quân Pháp đã chiếm giữ hầu hết các địa bàn quan trọng dọc các tuyến quốc lộ như La Hai, Chí Thạnh, Sông Cầu, Tuy Hòa. Tuy nhiên, những làng quê cách xa quốc lộ chừng vài ba cây số vẫn thuộc về ta. Từ Phước Lãnh chúng tôi đi tránh La Hai về phía tây qua Suối Cối, Kỳ Lộ, qua An Xuân, An Lĩnh đến vùng rừng núi phía tây bắc huyện Tuy Hòa.  


Trận tập kích thị xã Tuy Hòa


Khoảng đầu tháng 6 năm 1954, tiểu đội trinh sát chúng tôi đi học ở quân khu về đến căn cứ. Trong số trinh sát vừa đi học về, một số được phân về các tiểu đoàn bộ đội địa phương của các huyện. Tôi vẫn được đưa về Trung đội trinh sát của Tỉnh đội, Trung đội trưởng là anh Võ Tiếc, người Bình Định; Trung đội phó là anh Nguyễn Hồng, người Phú Yên. Trung đội trinh sát của Tỉnh đội đang phối hợp với trinh sát của một số Trung đoàn chủ lực được quân khu cử về Phú Yên chuẩn bị cho một trận tập kích vào thị xã Tuy Hòa. Trinh sát phải cải trang thành những người dân ở các miền quê xa mang sản phẩm của gia đình như củi, than, gà, vịt, trái cây... để vượt qua các trạm kiểm soát của địch vào bán cho các chợ trong thị xã Tuy Hòa. Lọt được vào trong thị xã và trú lại trong các gia đình cơ sở để ban ngày có thể tiếp cận các cứ điểm của địch, nhanh chóng nắm được cách bố phòng và bố trí binh lực tại mỗi cứ điểm, đường tiếp cận và đường rút lui.


Tin chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng đã làm nức lòng quân và dân Phú Yên. Bộ đội địa phương và dân quân du kích các huyện đã dồn dập đánh vào các cứ điểm nhỏ xung quanh các thị trấn, buộc địch phải rút chạy để co cụm, bảo toàn lực lượng. Tôi không biết có bao nhiêu đơn vị tham gia tập kích thị xã Tuy Hòa vì tôi chỉ là chiến sĩ trinh sát. Nhưng tôi được biết lúc này đã có một số tiểu đoàn bộ đội chủ lực của quân khu sau khi hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Bắc Tây nguyên, đã được điều về chi viện quân dân Phú Yên. Địch đã phải rút chạy khỏi Sông Cầu ngày 16 tháng 6, dồn về Chí Thạnh và sau đó hai ngày chúng lại phải bỏ Chí Thạnh dồn về Tuy Hòa. Việc liên tiếp trong hai ngày rút chạy khỏi Sông Cầu và Chí Thạnh đã làm cho tinh thần binh lính địch ở Tuy Hòa hoang mang, lo sợ. Nhiều tốp lính đã tìm cách chạy vào Nha Trang vì sợ ta chặn đường rút của chúng qua Đèo Cả hoặc đánh sập cầu Đà Rằng, cô lập chúng ở Tuy Hòa. Ta quyết định tập kích thị xã Tuy Hòa vào đêm 21 tháng 6 với mục đích tiêu hao sinh lực địch, đốt phá kho tàng, phá hủy phương tiện Quân sự, đánh xong rút lui ngay ra khỏi thị xã và về căn cứ. Trung đội trinh sát của chúng tôi được chia thành nhiều nhóm nhỏ đi theo các cánh quân đánh vào các điểm khác nhau trong thị xã. Tôi được phân công đi theo cánh tập kích bốt gác canh cầu Đà Rằng. Nói là đánh bốt gác, nhưng nhiệm vụ chủ yếu là tiêu diệt trung đội lính Ngụy gác cầu Đà Rằng. Địch bố trí trung đội lính Ngụy gác cầu Đà Rằng ngủ trong một căn nhà tường gạch xây kiên cố, dựa lưng sát vào núi Nhạn, mặt trước ngôi nhà có một cửa đi ở giữa và hai cửa sổ hai bên. Chúng tôi có 4 người, anh Long, anh Vân, anh Hàm là trinh sát đặc công của trung đoàn 84 và tôi. Mỗi người một tiểu liên và 2 quả lựu đạn mỏ vịt. Anh Long và tôi có nhiệm vụ khống chế bốt gác và lô cốt đầu cầu; anh Vân, anh Hàm tiêu diệt lũ quân ngụy đang ngủ trong nhà. Phải chờ cánh quân chính đánh vào tiểu đoàn khinh quân của địch ở sân bay Tuy Hòa khai hỏa rồi chúng tôi mới được nổ súng. Anh Long và tôi bắn điểm hỏa ba phát một về phía bốt gác đầu cầu để thu hút hỏa lực của địch từ lô cốt đầu cầu. Bọn lính trong lô cốt không dám xông về phía chúng tôi, chúng chỉ vãi đạn từ trong lô cốt. Trận đánh nhỏ của chúng tôi diễn ra thuận lợi nhờ yếu tố bất ngờ về thời gian và địa điểm địch không ngờ quân ta có thể tiếp cận được. Chúng tôi kết thúc trận đánh rất nhanh chóng. Tiêu diệt một trung đội địch chỉ với 6 quả lựu đạn nhồi vào trong nhà địch đang ngủ và 3 băng đạn tiểu liên hạ gục những tên còn sống sót bung cửa chạy ra ngoài. Khi rút lui chúng tôi phải chạy vượt qua quốc lộ nên tôi bị thương ở bắp chân nhưng không biết, mãi đến khi bơi qua sông Rút cảm thất xót, lấy tay sờ mới biết bắp chân bên phải bị thủng một lỗ từ trước ra sau.


Những cánh khác với nhiệm vụ đốt kho xăng, kho đạn cũng kết thúc nhanh chóng. Riêng cánh quân chính đánh vào sân bay phải mất hơn hai giờ mới rút ra hết lực lượng, đã tiêu diệt gần hết tiểu đoàn khinh quân của địch, phá hủy hàng trăm xe Quân sự. Trận tập kích của tổ chúng tôi tuy không tiêu diệt được nhiều sinh lực địch nhưng đã giáng một đòn nặng vào tâm lý hoang mang của binh lính địch, khiến chúng liên tưởng đến việc cầu Đà Rằng sẽ bị đánh sập, thị xã Tuy Hòa sẽ là Điện Biên Phủ thứ hai.


*


Có một chuyện bất ngờ và thú vị của gia đình đã diễn ra trong đêm tập kích thị xã Tuy Hòa. Anh Sáu Kính con dì Ba Sang và tôi đã cùng có mặt trong trận tập kích nhưng không hề biết, mãi đến trưa hôm sau khi tôi ra suối tắm thì mới gặp anh Sáu, anh em ôm nhau mừng rỡ. Cũng đến lúc đó anh Sáu mới biết tôi cũng đã đi bộ đội. Anh ở đơn vị đặc công của trung đoàn 84. Anh Sáu hỏi:


-  Em có súng chưa?


- Em có khẩu tiểu liên có báng nặng trịch.


- Thế thì lại chỗ anh, anh cho em khẩu tuyn báng gập kèm theo hai băng đạn mới lấy được tối hôm qua của thằng Ngụy chết trận.


Hồi ấy, lính trinh sát chúng tôi được cấp trên cho một đặc ân có quyền đổi súng to nặng hơn của mình lấy súng tốt hơn cướp được của giặc trong trận đánh mà mình tham gia. Thế là tôi có khẩu súng mà bao lâu nay mơ ước. Hai anh em gặp nhau lần ấy cho mãi đến hè năm 1962 mới gặp lại nhau ở Vinh, Nghệ An.


Hiệp định Geneve


Ngày 21 tháng 7 năm 1954 Hiệp định đình chiến đã được ký kết tại Geneve, Thụy Sĩ. Theo Hiệp định, Phú Yên ngừng bắn từ ngày 1 tháng 8 năm 1954 và 15 tháng 8 bộ đội ta phải rút hết khỏi Phú Yên. Tổ quân báo trong thị xã báo tin có nhiều binh sĩ ngụy quê miền Bắc muốn gặp quân ta để xin làm hàng binh, mong tìm cơ hội được trở về quê hương sau Hiệp định. Lập tức trung đội Trinh sát quân báo cử nhiều tổ bám rải rác theo quốc lộ 25 và dọc bờ sông Rút gần các xóm dân cư để đón hàng binh. Tổ tôi bám bên bờ sông Rút. Chỉ trong ngày đầu tiên, riêng tổ tôi đã đón hơn 10 binh sĩ ngụy tìm đến nộp súng xin làm hàng binh. Thiếu gạo nuôi họ tạm trong ngày, phải mượn gạo của dân, tối mới đưa về căn cứ bàn giao. Về sau, đơn vị phải cử bộ phận hậu cần lo ăn uống cho họ và đưa họ về nơi tập trung. Chỉ trong hơn 10 ngày, tổ tôi đã tiếp nhận hơn 100 binh sĩ ngụy, họ phần đông là người Hưng Yên, Hải Dương. Tất cả họ đều có chung một tâm tư, muốn được trở về quê hương chăm sóc gia đình, phụng dưỡng cha mẹ già. Trò chuyện với chúng tôi họ thường xưng em, mặc dù họ lớn tuổi hơn chúng tôi; họ thường hay khóc khi kể về hoàn cảnh gia đình cha mẹ già yếu, nhà nghèo, con nhỏ... Chúng tôi rất thông cảm với hoàn cảnh của họ và nhận thấy rằng người Việt Nam mình dù đứng ở bên nào cũng đều nghĩ về quê hương, gia đình. Tất cả họ đều là dân sống trong vùng địch hậu ở đồng bằng sông Hồng, bị Pháp bắt lính, đưa về Hải Phòng huấn luyện rồi chuyển vào Nam trong chiến dịch Atlan đầu năm 1954. Họ nói khi nghe tin Hiệp định Geneve qui định quân Pháp sẽ rút vào phía Nam vĩ tuyến 17, quân Việt Minh sẽ rút ra Bắc, Việt Nam sẽ chia thành hai nước, vậy thì biết đến bao giờ họ mới được trở về quê hương! Cho nên họ quyết tâm tìm đường xin làm hàng binh để được hưởng khoan hồng, được theo bộ đội Việt Minh chuyển ra Bắc. Chúng tôi hiểu rằng đó là nguyện vọng chính đáng của những con người lầm đường vẫn nhớ về quê hương, cha mẹ, vợ con, nên đã cố gắng tạo cho họ cảm giác yên lòng về chính sách nhân đạo của Việt Minh. Nhiều người đã khóc trong lúc ăn, khi họ nhìn thấy mâm cơm của họ cũng giống như mâm cơm của chúng tôi đang ăn.


Vì có nhiệm vụ đón hàng binh cho nên có lẽ trung đội trinh sát là đơn vị bộ đội cuối cùng rời khỏi Phú Yên ra Bình Định chuẩn bị đi tập kết. Khoảng 4 giờ chiều thì đơn vị hành quân đến Chí Thạnh, tôi định xin phép đơn vị ghé về nhà nhưng chưa kịp nói thì anh Châu đã bảo em nên ghé về nhà thăm má, nhà em gần đây thôi mà. Em để đồ đạc lại đây anh em trong tiểu đội sẽ mang giúp, em chỉ mang khẩu súng theo người thôi. Tối anh sẽ đợi em ở đầu cầu Ngân Sơn đưa em về chỗ ngủ. Tôi mừng quá chạy một mạch qua Đèo Thị về nhà. Ở nhà chỉ có bà ngoại, má và em Ninh, dì Ba Cúc không thấy có ở nhà. Bà ngoại liền đi mổ quả mít, em Ninh thì sà ngay vào khẩu súng. Tôi với má nói chuyện nhiều về Hiệp định, sau hai năm sẽ có tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Tôi thì tin hai năm sẽ thống nhất, nhưng tôi có cảm giác má tôi không tin, bà linh cảm về những điều không lành sẽ ập đến gia đình. Má tôi bảo:


- Con cõng em đi theo.


- Con chỉ là chiến sĩ, làm sao có thể cõng em theo đơn vị được, lấy tiêu chuẩn đâu cho em ăn!


- Thì phần ăn của con hai anh em ăn chung, nhưng má tin đơn vị không để em con đói đâu.


- Nhưng mà cũng chỉ hai năm thôi, nước nhà sẽ thống nhất, lúc đó em cũng vừa đến tuổi đi học, có gì đâu mà má lo.


- Con nghĩ sao? Cậu đi ra Bắc tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, con đi tập kết theo đơn vị bộ đội, má là Đảng viên, rồi ít ngày nữa quân địch lại kéo trở lại đây, liệu chúng nó có để cho nhà mình yên không? Hai năm không phải là nhiều, nhưng cũng đủ để chúng nó trả thù những gia đình kháng chiến. Con nghĩ chúng nó không biết trả thù hay sao? Má lo cho em con lắm!


Tôi hiểu má tôi đã dự tính bà sẽ là người hứng chịu mọi hành động trả thù của địch đổ xuống gia đình có người đi tập kết trong 2 năm đất nước chia cắt, em tôi còn bé bỏng sẽ sống ra sao?


- Hay là má dẫn em đi xe ngựa ra Bình Định rồi nhờ ai đó gửi em đi tập kết, ví dụ như cô Ràng hay bác Trác chẳng hạn. Con cõng em đi sao nổi từ đây ra Phù Cát, Bình Định, giỏi lắm cũng chỉ từ nhà ra quá Ngân Sơn là kiệt sức, các anh trong tiểu đội thì súng đạn đầy người, nặng gấp mấy con cõng em!


- Thôi để má tính sau, bây giờ con phải qua dì Bảy chào dì dượng con đi tập kết, rồi qua nhà anh Ba chào ảnh, chỉ và cô Sáu Ngọc cho trọn tình trọn nghĩa. Con đi biết bao giờ mới về!


Và lịch sử đã diễn ra đúng như má tôi nghĩ, phải hơn 22 năm sau tôi mới có thể quay trở về miền Nam thăm quê hương, gia đình. Trong 22 năm ấy, má tôi đã 3 lần bị địch bắt, tù đày tra tấn dã man tàn khốc và suýt bị địch bắt đưa đi thủ tiêu, nếu không được người cháu báo tin kịp thời.


Ra đến Phù Cát, trung đội trinh sát được biên chế về Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 954 mới thành lập để đi tập kết. Trung đoàn 954 được tổ chức theo biên chế như trung đoàn chủ lực, từ cấp trung đội trở lên có chính trị viên. Anh Nguyễn Văn Cẩm, người xã An Ninh, huyện Tuy An là Chính trị viên của Trung đội Trinh sát. Cán bộ, chiến sĩ trước đây thuộc các đơn vị bộ đội địa phương chỉ có quần áo bà ba màu đen, chưa có quân phục thì được phát thêm một bộ quân phục áo cầu vai, vải xita sợi đôi rất dày và rất đẹp. Sau đó, Trung đoàn tổ chức học tập chính trị, chủ yếu là nghiên cứu nội dung Hiệp định Geneve, xác định trách nhiệm của lực lượng vũ trang trong việc thi hành Hiệp định và xác định nhiệm vụ hành quân tập kết ra Bắc. Trong các đơn vị bộ đội không phải ai cũng muốn đi tập kết đâu, nhất là các anh đã lớn tuổi, đã có vợ con nhưng không có tiêu chuẩn mang theo gia đình đi tập kết.


Ngày 2 tháng 9 năm 1954, lần đầu tiên Quân khu 5 tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm ngày Quốc khánh tại sân bay Phù Cát. Tất cả các đơn vị bộ đội của Quân khu đã hành quân về đến Phù Cát kịp trước ngày lễ đều được dự. Bộ đội đi dự lễ phải mặc quân phục. Thành phần dự lễ có lẽ đông nhất là nhân dân, thứ đến là bộ đội, thứ ba là học sinh. Khi diễu hành bộ đội đi theo đội hình trung đội ba hàng dọc, đi thường chứ không đi đều, vì không có thời gian tập đi đều. Tôi đang diễu hành thì nghe gọi


“Quang ơi... Quang ơi...” quay sang thấy Minh Hà đang vẫy tay rối rít, chúng tôi vẫy nhau cho đến khi đi khuất. Từ hôm đó, tôi cố tìm Hà trong số học sinh được đi tập kết nhưng không tìm được!     


 Đi tập kết


 Ngày 10 tháng 12 năm 1954, Trung đoàn 954 lên tàu đi tập kết từ cảng Qui Nhơn. Khoảng 7 giờ sáng, chúng tôi lục đục đi xuống cảng, tôi tìm mãi không thấy đôi dép lốp của mình, có lẽ gia đình đi chợ sớm họ đi nhầm mất rồi, tôi đành phải đi chân không. Tại cảng có một chiếc tàu há mồm đón và đưa chúng tôi ra phao số 0 để leo lên tàu Ba Lan rất to. Từ tàu há mồm phải bám theo một cái thang dây dài chừng 15-20m mới leo lên đến boong tàu. Tàu Ba Lan vốn là tàu chở hàng trọng tải lớn, các khoang chứa hàng của tàu được cải tạo thành khoang chứa khách. Họ lắp nhiều dãy giường hai tầng. Từ boong tàu xuống các khoang giường nằm phải leo qua thang sắt. Bộ đội nằm ở các khoang phía mũi tàu, học sinh nằm ở khoang giữa, cán bộ dân chính nằm ở các khoang phía cuối tàu. Tàu rời Qui Nhơn chừng hơn một ngày đêm thì đi vào vùng gió mạnh, mưa to của trận bão lớn nhất năm ấy. Theo kế hoạch thì tàu cập cảng Sầm Sơn, nhưng bão lớn không cập Sầm Sơn được phải chạy luôn ra Hải Phòng. Trước khi vào Hải Phòng tàu đi qua vịnh Hạ Long, tôi choáng mắt với phong cảnh hùng vĩ của vịnh Hạ Long, hàng nghìn đảo đá mọc chen nhau trên một vùng biển mênh mông... Hải Phòng lúc này là khu 300 ngày của quân Pháp. Pháp đưa 6 tàu há mồm ra đón, chạy theo sông Thái Bình đến thị trấn Hải Dương thì chuyển người lên bờ. Tiểu đoàn chúng tôi đóng quân tại làng Ngọc Châu. Năm ấy, trời sao mà rét thế, cầm bát đũa đi ăn cơm, đến nơi ăn mới biết đũa đã rơi đâu mất lúc nào không biết!


Sau khi lên bờ một ngày, chúng tôi mỗi người được phát thêm một áo trấn thủ để thích nghi dần với khí hậu miền Bắc. Chúng tôi được nghỉ ở Hải Dương một tuần để lấy lại sức khỏe sau mấy ngày đi biển với sóng to, gió lớn. Nhiều anh em khi ở trên tàu thì say sóng biển, lên đất liền thì say sóng đất, thật khổ sở, không dám ăn quá một bát cơm, ăn nhiều là nôn mửa ngay! Quân Pháp và quân ngụy vừa rút khỏi Hải Dương không lâu, làng quê xơ xác, nhân dân thiếu đói, bộ đội phải bớt tiêu chuẩn gạo giúp dân chống đói.


Sau tuần nghỉ dưỡng, đơn vị chuẩn bị hành quân một chặng đường rất xa, từ Hải Dương vào Phố Neo, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa. Trước khi hành quân đơn vị cử người sang một đơn vị bộ đội miền Bắc xin cho tôi một đôi giày vải bộ đội, anh Cẩm hỏi tôi: “Em mang giày cỡ số bao nhiêu?”. Tôi trả lời: “Em đâu có biết, em chưa mang giày bao giờ, cứ xin cho em một đôi to nhất mà họ có”. Đôi giày mang về cho tôi cỡ số 40, tôi mang thử cảm thấy hơi chật, nhưng nghĩ bụng vải nó giãn sau một thời gian đi thì vừa chân, nên phấn khởi lắm. Nhưng khi đi chừng 5 km tôi cảm thấy chân bỏng rát, tháo giày ra xem thì chân đã phồng rách da chảy nước, không tiếp tục mang giày được nữa. Bỏ đôi giày thì thấy tiếc, tôi bèn buộc dây của hai chiếc giày lại với nhau và treo lên cổ! Lại tiếp tục đi chân không, trời thì lạnh, đường rải đá đi chân không đau khủng khiếp. Hành quân đến Nam Định thì dừng nghỉ chân, nhân dân đổ ra đường xem bộ đội rất đông, anh Cẩm nhìn thấy có người đàn ông mang đôi dép lốp lạ lạ, hai quai phía trước hình chữ V ngược, phía sau có quai hậu, hỏi họ mua dép kiểu này ở đâu, họ bảo ở gần đấy. Anh Cẩm đề nghị bớt tiền ăn mua cho tôi đôi dép. Từ đó, chân tôi mang đôi dép, cổ vẫn mang đôi giày đi cho đến Phố Neo, Thanh Hóa.


(còn tiếp)


Nguồn: Người con của mẹ Năm Bê. Truyện ký của Huỳnh Quang. NXB Hội Nhà văn, 2019.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đông Tây cổ học tinh hoa (3) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (2) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (1) - Vũ Bằng 05.08.2019
Nói có sách (tiếp & hết) - Vũ Bằng 05.08.2019
Điếu văn tại Lễ truy điệu Nhất Linh - Vũ Hoàng Chương 01.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (5) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (4) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (3) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (2) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (1) - Huỳnh Quang 25.07.2019
xem thêm »