tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29961740
25.07.2019
Huỳnh Quang
Người con của mẹ Năm Bê (2)


Má đi lấy chồng...


Đầu năm 1947, bộ đội Quân khu 6 về đóng quân tại thôn Đồng Me, hầu như nhà nào cũng có bộ đội ở. Nhà tôi có năm chú ở: ông Thọ và chú Thành cần vụ, ngủ và làm việc ở phòng bên phải của gian thờ. Ông Thọ người to cao, đẹp người, hình như là chỉ huy; vợ chồng chú Thám ở phòng phía sau gian thờ, chú Thám cũng hình như là chỉ huy; chú Chơn giữ ngựa cho ông Thọ ngủ chung với anh Ba và tôi ở phòng bên trái của gian thờ. Má ngủ ở phòng nhỏ của má gần bếp. Bộ đội thời kỳ ấy thiếu thốn nhiều thứ, bữa ăn nhiều khi không đủ no, thiếu dinh dưỡng, nhiều người bị ghẻ... Trong năm người ở nhà tôi, chú Chơn là người nhiều ghẻ ruồi nhất và tôi thương nhất. Chú Chơn suốt ngày phải lo cho con ngựa bất kỳ ngày mưa hay nắng; nào là lo kiếm cỏ cho nó ăn, xay bột gạo rồi pha với mật đường cho ngựa uống, đóng yên cho ngựa để ông Thọ cưỡi đi đâu đó khi có lệnh, không được chậm trễ và thỉnh thoảng phải đưa ngựa sang tận sông Cái để tắm cho nó. Tôi thích nhất được chú Chơn cho đi theo, cho ngồi trên lưng ngựa phía sau chú. Lần nào cũng như lần nào, trước khi tắm cho ngựa chú tập cho tôi tự cầm dây cương cưỡi ngựa đi theo bãi cát dọc sông Cái, từ đi chậm đến đi nhanh, chạy nước kiệu rồi phi nước đại. Nhờ vậy mà chỉ sau một thời gian chú đóng quân trong nhà, tôi đã biết cưỡi ngựa. Chú đã có thể ngồi sau tôi trên lưng ngựa, cho tôi ngồi trước cầm dây cương và thúc ngựa chạy từ sông Cái về nhà. Tôi rất hãnh diện với lũ trẻ mỗi khi chúng gặp tôi phóng ngựa như bay từ sông về nhà.


Hồi ấy, đời sống của bộ đội chủ lực, kể cả bộ đội Quân khu đều rất khó khăn, chỉ được cái có đồng phục quần tây dài, áo dài tay có cầu vai và hai túi trước ngực, vải xita sợi đôi rất dày, có dép lốp, có mũ cối đan bằng tre bọc vải, có tấm chăn vải xita đắp khi ngủ và gói quần áo thành cái ba lô khi hành quân. Ăn uống thì rất đạm bạc, mỗi lần nhìn thấy chú Thành nhận cơm từ bếp ăn của đơn vị mang về cho cả năm người ở trong nhà, má tôi đều rên: “Bộ đội ăn khổ quá!”. Sau mấy ngày bộ đội và ba má con tôi đã trở nên thân quen, má tôi thường nấu thêm một hai món, bảo tôi bưng lên đưa chú Thành góp vào bữa ăn cho các chú. Tối tối, má tôi thường làm bữa “liên hoan” với bộ đội bằng bắp rang, sắn khoai luộc hoặc chè. Trừ ông Thọ và chú Thám thường bận việc ít khi tham gia với ba mẹ con chúng tôi, nhưng chú Thành đều có mang phần cho hai người. Những bữa “liên hoan” như vậy đã diễn ra rất vui, bởi lẽ bộ đội ra đi từ nhiều vùng quê khác nhau, không hiểu ngôn ngữ của nhau. Ví dụ, chú Chơn người Quảng Nam muốn hỏi má tôi: “Nhà làm ăn ra sao?” thì chú nói: “Nhòa lồm eng roa reng?”, má tôi bối rối không hiểu chú nói gì, chỉ biết ngồi cười và nhờ chú Thành “phiên dịch”...  Ngược lại, chú Thành quê Nghệ An hỏi chú Chơn: “Cỏ ngựa đủ chưa?” thì chú nói: “Cọ ngừa đụ chưa?”. Chú Chơn gắt lại: “Đụ đụ cái chi thằng quỷ”. Cuộc liên hoan lại một lần nữa rộn tiếng cười.


Đầu năm 1948, một hôm tôi đang chơi, má nhân lúc trong nhà không có ai, má kêu tôi vô nhà ngồi cạnh má và hỏi:


- Nay mai má đi lấy chồng, con ở với ai? - Tôi hơi đột ngột nhưng trả lời ngay:


- Con ở với má chứ ở với ai, nhưng mà má lấy ai?


- Rồi con sẽ biết, má lấy chú bộ đội, nếu ở với má thì má con mình phải về ở với ngoại, chú bộ đội không có nhà.


-  Vậy mình về ở với ngoại cho ngoại vui.


- Nếu con ở lại đây với anh Ba, thì con có ruộng đất cha con để lại cho con, về bên ngoại thì con không có gì, ngoại nghèo lắm.


- Không biết, con chỉ ở với má thôi. Nhưng mà sao má không ở lại đây, má con mình về bên ngoại thì ai nấu cơm cho anh Ba ăn?


- Má sẽ cưới vợ cho anh Ba, chị Ba sẽ nấu cơm cho anh Ba ăn.


Mấy ngày sau, má đưa anh Ba và tôi đến nhà chị Phán ở xã An Nghiệp để anh Ba coi mắt. Coi mắt tức là để hai người nhin thấy mặt nhau và quyết định có ưng nhau không. Một thời gian sau má đã tổ chức đám cưới chị Phán cho anh Ba. Sau đám cưới của anh Ba vài ngày, một buổi tối má dặn dò anh Ba, chị Ba rất lâu về mọi chuyện trong nhà từ giấy tờ ruộng đất, gia phả họ Huỳnh, mồ mả, tiền bạc, tá điền...  rồi xách bọc quần áo của má và của tôi đi về nhà ngoại ngay trong đêm trên hai con ngựa, tôi cầm cương một con má ngồi sau tôi, chú Chơn cầm cương một con đi phía sau.


Nhà bà ngoại ở lưng chừng núi Hòn Đồn, đầu làng Phong Niên. Với tôi đó là một đêm buồn khó quên! Về ở nhà ngoại tôi đi học rất xa, phải hơn năm cây số cuốc bộ chân đất; sáng đi rất sớm, chiều về nhà rất tối bởi tôi còn ghé về nhà cha thăm anh chị Ba, chú Chơn và con ngựa...


Độ khoảng một tuần sau thì Quân khu 6 dời đi nơi khác và cũng chỉ mấy ngày sau nữa thì máy bay Pháp ném bom thôn Đồng Me, nhà của cha bị trúng một quả bom sập mái ngói phía bên phải, phòng tôi và chú Chơn ngủ sập tan tành. Chiều tan học, biết thôn Đồng Me bị bom tôi ghé về thăm anh Ba, nhìn cảnh đổ nát tôi bật khóc, cũng không biết khóc vì sợ, vì thương anh Ba hay thương cái nhà trúng bom. Tối về nhà, tôi kể cho má nghe, má bảo ngày mai con đến trường xin phép thầy nghỉ học mấy ngày ở nhà phụ giúp anh Ba đôi chút. Má cũng biết con chẳng phụ giúp được gì bởi toàn việc nặng, sẽ có anh chị Năm Phùng giúp, nhưng con về cũng tốt, anh em có nhau trong khi hoạn nạn, con hiểu không.


Một hôm, sau khi Quân khu 6 dời đi nơi khác một thời gian thì ông Thọ và chú Chơn về nhà bà ngoại, hai người ngồi trên lưng ngựa không đóng yên. Má mừng lắm, lại đúng phiên chợ Đèo, má làm một bữa cơm rất thịnh soạn. Ngay trong bữa ăn má giới thiệu đây là cha dượng của con, cha dượng nên con phải gọi “dượng”. Ông Thọ liền cải chính và giải thích: Ở quê ông con gọi cha bằng từ “cậu”, gọi mẹ bằng từ “mợ”, cha mẹ gọi con trai đã lập gia đình bằng từ “anh”, gọi con gái đã lập gia đình bằng từ “chị”...  cho nên ông khuyên nên gọi “cậu” cho nó giống như các anh chị con ông ở ngoài Bắc. Tôi hết sức ngạc nhiên và khó hiểu kiểu gọi nhau trong gia đình ở ngoài Bắc lại như vậy, cha là cha chứ sao cha lại là cậu! con là con chứ sao lại là anh, là chị.... nhưng rồi thắc mắc cũng nhanh chóng qua đi nhường chỗ cho niềm vui có “cha mới”, mà cha mới lại là bộ đội có ngựa, nhất định mình sẽ được cưỡi ngựa nhiều lần nữa mỗi khi ông về nhà. Và đúng như vậy, cuộc sống của đứa trẻ có cha sướng hơn trẻ mồ côi. Mỗi lần, ông về nhà, ông cho tôi những món quà nhỏ mà tôi rất thích như cái bút chì đã dùng rồi, ngòi bút lá tre mà ở quê nhà tìm mua đâu có. Chú Chơn thì cho tôi cưỡi ngựa thoải mái.


Sau lần về nhà đầu tiên ấy, má con tôi như lúc nào cũng mong tin ông. Tôi thì mong ông về để được cưỡi ngựa, để được quà, má mong ông trong nỗi lo ông sống chết, ốm đau thế nào ngoài mặt trận...     


Lên trung học


Hè năm 1949, tôi kết thúc bậc tiểu học. Năm đó, Ty Giáo dục tỉnh Phú Yên tổ chức thi lấy bằng tiểu học bằng đề thi chung toàn tỉnh, nhưng mỗi huyện học sinh tập trung thi tại một địa điểm vào ngày 20 tháng 8; huyện Tuy An tập trung thi tại trường An Thổ. Trước khi kết thúc năm học thầy giáo Phạm Ngọc Ân, thầy dạy lớp Nhất của trường Trung Lương thông báo trò nào muốn học ôn trước khi thi thì ngày 10 tháng 8 đến nhà thầy, thầy hướng dẫn cho ôn để thi cho tốt. Hồi đó, không có chuyện ôn thi phải nộp tiền cho thầy giáo. Nhà thầy Ân ở Ngân Sơn cách nhà tôi phải hơn 5 cây số. Cả làng Phong Niên chỉ có tôi và thằng Yêm đi ôn; phải đi rất sớm, mang theo mo cơm và chiều về muộn.


Tôi thi tiểu học đạt điểm cao xếp thứ ba toàn tỉnh. Nhưng năm đó chưa thấy có lễ trao bằng. Trường Trung Lương thông báo ai đậu, ai rớt, đồng thời thông báo ai muốn học lên trung học thì đến trường Lương Văn Chánh ghi tên vào danh sách học sinh xin vào lớp Đệ nhất, danh sách học sinh đỗ tiểu học của trường Trung Lương đã có ở trường Lương Văn Chánh rồi, đến ngày khai giảng trường sẽ đọc tên và phân lớp. Gia đình không phải đưa con đến trường xin học. Tôi được xếp vào lớp Đệ nhất niên A, lại cũng bị xếp ngồi cùng bàn con gái vì cái tội nhỏ con. Ngồi cạnh tôi là Phạm Thị Minh Hà. Hà là con bác sĩ Trác - Giám đốc bệnh viện tỉnh Phú Yên. Thời ấy trung học phổ thông chỉ có hai cấp, cấp tiểu học 5 năm, cấp trung học 4 năm gọi là: đệ nhất niên, đệ nhị niên, đệ tam niên, đệ tứ niên. Trường Lương Văn Chánh được dựng trên triền núi giữa thôn Định Trung 1 và Định Trung 2, xã An Định, huyện Tuy An. Các lớp học nằm rải rác như một xóm nhỏ ở đầu thôn, nhà tranh, vách đất, nền đất. Có một khoảng đất trống dùng làm sân trường khi sinh hoạt toàn trường và làm sân bóng chuyền. Thầy trò trường Lương Văn Chánh đều ở trọ trong các nhà dân làng Định Trung. Các thầy cô trường Lương Văn Chánh phần lớn do Chính phủ gửi từ miền Bắc vào như thầy Bùi Xuân Cát, Trần Thiện Căn, vợ chồng thầy Nguyễn Hồng, cô Nguyễn Thị Nga...  Học sinh trường Lương Văn Chánh phần lớn từ các huyện của Phú Yên tựu về, vì thời ấy Phú Yên chỉ có duy nhất một trường phổ thông trung học là trường Lương Văn Chánh. Hiệu trưởng của trường thời ấy là thầy Trần Sĩ quê xã An Nghiệp.


Gần cuối năm học đệ nhất niên thì máy bay Pháp ném bom napan và bom sát thương đốt phá tan tành khu trường, nhưng không có thương vong vì nhà trường đã chuyển sang học đèn dầu vào ban đêm từ đầu năm học. Sau đó, trường dời địa điểm về chợ Bà Sen thôn Định Trung 3, xã An Định cũng với những túp nhà tranh vách đất nằm xen kẽ với nhà dân. Có lẽ các thế hệ học sinh Lương Văn Chánh sau này ít ai biết rằng hồi ấy việc dạy và học ở trường không có giáo trình hoặc sách giáo khoa được in sẵn. Một số môn học quan trọng như: Toán, Lý, Hóa, Văn có được một số tài liệu tham khảo do các thầy mang theo từ ngoài Bắc vào hoặc do khu Giáo dục Nam Trung Bộ gửi cho trường và trường nhân bản bằng phương pháp in lito hết sức thủ công. Để in, người ta phải viết chữ trái lên tấm đá cẩm thạch bóng loáng màu trắng bằng một thứ mực đặc biệt, sau đó lăn mực in lên mặt đá, các chữ trái đã viết sẽ nổi lên, đặt tờ giấy lên mặt đá và lăn rulo lên tờ giấy thế là chữ sẽ được in lên giấy. Muốn nhân bao nhiêu bản thì phải in bấy nhiêu lần.


Từ niên khóa 1950-1951, hệ thống giáo dục phổ thông trong các vùng tự do thuộc Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được cải cách sang hệ 10 năm: cấp 1 bốn năm: 1, 2, 3, 4; cấp 2 ba năm: 5, 6, 7; cấp 3 ba năm: 8, 9, 10. Học sinh đệ nhất niên chuyển lên lớp 6.


Năm tôi học lớp 6 cũng là năm má tôi được kết nạp vào Đảng. Hồi ấy, Đảng chưa ra công khai, trong trường học chưa bao giờ nghe nói đến Đảng lãnh đạo, trong thôn làng không ai biết ai là Đảng viên, các cuộc họp Chi bộ Đảng đều tổ chức rất bí mật. Một hôm, má tôi bảo dì Ba Cúc cõng em Ninh và đưa bà ngoại xuống nhà dì Sáu chơi chiều hãy về. Gần trưa, có một số người đến nhà nhưng không phải người làng Phong Niên nên tôi không quen, nghĩ rằng họ bàn chuyện làm ăn gì đó với má nhưng khi má bảo tôi ra đóng cổng và chơi phía ngoài cổng. Nếu có ai đến hỏi thì con nói nhà đi vắng cả chỉ có mình con ở nhà, chiều tối má mới về. Nghe má nói vậy tôi sinh nghi chắc là có cuộc họp gì bí mật đây. Chờ lâu không thấy họ về, tôi chui rào lẻn vào bếp hé mắt nhìn lên nhà ngang thấy mọi người ngồi hai bên cái bàn tiếp khách và mấy hàng ghế thêm phía sau. Trên cửa sổ nhìn ra sân có treo ảnh 3 ông Tây, dưới ảnh ba ông Tây treo cờ Việt Nam và lá cờ có hình búa liềm, giữa hai lá cờ treo hình Bác Hồ. Khi mọi người đã về hết, tôi hỏi má: “Sao mình đánh Tây mà lại treo hình thờ mấy ông Tây?”. Má nói: “Đó là các lãnh tụ của phe mình, như Bác Hồ là lãnh tụ của nước mình còn mấy ổng là lãnh tụ của thế giới, giúp mình đánh Tây giành độc lập, tự do cho Việt Nam”. “Thế còn lá cờ có hình búa liềm là cờ gì?”- tôi hỏi. “Đó là lá cờ của Đảng, Đảng Lao Động Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp”. Tôi cũng chưa hiểu hết những gì má nói nhưng biết rằng có một Đảng Lao Động Việt Nam đang hoạt động bí mật, lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Với tôi đó là một ngày không quên. Má đã đặt vào tâm trí tôi năm chữ Đảng Lao Động Việt Nam.


Khoảng giữa năm 1951, ở tỉnh Phú Yên có đợt tổ chức đưa thương binh về xã. Tôi không biết toàn xã có bao nhiêu thương binh về xã, chỉ biết anh Nguyễn Thứ Kỷ, thương binh cụt một chân được đưa về làng Phong Niên, xã An Định quê tôi. Xã An Định bố trí anh ở tạm tại nhà ông Phùng ngay đầu dốc đường tàu đầu làng Phong Niên. Xã làm tạm cho anh Kỷ một cái chòi cắt tóc cũng ngay đầu dốc đường tàu. Nhà may của má tôi ở ngay dưới chân dốc, cạnh quốc lộ 641. Về sau, địa phương làm cho anh Kỷ một ngôi nhà nhỏ ngay phía sau nhà may của má tôi.


Anh Kỷ là một người rất hiền từ, tốt bụng và giàu hiểu biết cho nên tôi rất thích chơi với anh. Anh kể với tôi quê anh ở Bắc Ninh, làng Phù Đổng, nơi có truyền thuyết về Phù Đổng Thiên Vương, cách không xa Hà Nội. Anh vào Nam theo Đoàn quân Nam tiến và bị thương ở trận Núi Hiềm, Tuy Hòa. Anh là em của nhà văn Thế Lữ, tên thật của nhà văn là Nguyễn Thứ Lễ, đổi ngược tên Thứ Lễ theo kiểu nói lái thành bút danh Thế Lữ. Anh Kỷ đã hát cho tôi nghe những câu Quan họ rất hay mà lần đầu tiên trong đời tôi được nghe.


Chừng nửa năm sau, khi anh Kỷ đã ổn định cuộc sống với nghề cắt tóc thì xuất hiện một anh nữa tên là Nguyễn Thứ Hùng, anh Kỷ bảo đó là anh ruột của anh. Anh Hùng rất ít giao tiếp với dân làng, nhưng tôi cảm thấy anh cũng cởi mở với tôi. Anh rất giàu kiến thức, cả về văn học, âm nhạc, xã hội...  Anh cho tôi xem những tấm ảnh ghi lại quá trình điều tra phá án những vụ án gián điệp của Công an tỉnh Bình Định mà anh đã thực hiện. Đặc biệt, anh cho tôi xem bộ ảnh ghi lại tội ác của giặc Pháp chặt đầu hàng chục người cách mạng mà chúng bắt được, cắm lên cọc tre và dựng dọc theo một con phố ở Nha Trang để uy hiếp tinh thần nhân dân. Thật rùng rợn về sự dã man của giặc Pháp. Bức ảnh đã in sâu trong ký ức tôi về sự tàn ác của giặc Pháp, hun đúc trong tôi lòng căm thù giặc. 


Với tôi, hai anh là những con người mà tôi rất thần tượng và thương yêu. Mỗi khi trong nhà có món gì đó ăn vặt như bắp nướng, khoai luộc, dưa hấu, chè hoặc có quả mít chín của bà ngoại... tôi đều mang sang cho hai anh. Má tôi thường dạy: “Các ảnh ở tận đẩu tận đâu vô đây chiến đấu, đổ xương, đổ máu giữ đất giữ quê cho mình, các ảnh phải chịu cảnh sống xa gia đình, người thân. Con phải biết thương yêu, kính trọng những người như vậy”.


Ngày tôi đi bộ đội, hai anh vẫn còn ở làng Phong Niên và không biết tôi đã đi bộ đội. Trong chiến dịch Atlan quân Pháp đánh chiếm Phú Yên, anh Kỷ đã chiến đấu giữ làng cùng với dân quân xã An Định và đã hy sinh tại làng Phong Niên. Địch đã bỏ xác anh xuống một cái hầm tròn bên đường và lấp đất, cho đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt. Anh Hùng thì nghe nói khi Pháp bắt đầu đánh Phú Yên, anh bỏ làng Phong Niên và đi về hướng tây, nhưng không ai biết anh ấy đi đâu. Cho đến bây giờ, khi viết những dòng này tôi cũng chưa giải mã được thân phận của anh Hùng, anh là ai? Anh có phải là công an Bình Định không? Anh đến Phú Yên làm gì và rời làng Phong Niên đi đâu không để lại dấu vết?


Hết năm học lớp 7, niên khóa 1951-1952 tỉnh tổ chức thi tốt nghiệp toàn tỉnh chung một đề thi, nói toàn tỉnh nghe như nhiều trường lắm nhưng thực ra toàn tỉnh chỉ có hai trường cấp 2: Trường Lương Văn Chánh ở Tuy An và trường cấp 2 Lương Văn Chánh ở Tuy Hòa. Kết quả thi của tôi cũng tốt, xếp thứ hai trong lớp. Giữa hè 1952, nhà trường thông báo Khu Giáo dục Nam Trung Bộ dành cho Phú Yên 17 chỉ tiêu học sinh cấp 2 lên học cấp 3 tại trường cấp 3 An Nhơn, tỉnh Bình Định. Tôi có tên trong danh sách 30 học sinh có kết quả thi cấp 2 xếp từ thứ năm trở lên của 6 lớp bảy ở hai trường được xét chọn và yêu cầu gia đình cho biết có ý định cho con học tiếp lên cấp 3 hay không? Tôi báo tin vui nhà trường thông báo cho gia đình như vậy, nghĩ rằng má cũng vui, nhưng má ngồi sững một lúc rồi lấy tay lau nước mắt, má khóc thực sự. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy má khóc, kể cả khi cha tôi mất, tôi cũng không nhìn thấy má khóc. Ngay lúc đó bà ngoại từ ngoài đồng về nhìn thấy má khóc, bà hỏi có chuyện gì vậy? Má nói: “Nó được cử đi học cấp 3 ở Bình Định, nhưng lấy đâu ra tiền để cho con nó đi học xa! Nào là tiền tàu xe, tiền ăn cho nó mang theo đủ ăn cả năm, tiền giấy bút…”. Suy nghĩ một lúc, bà ngoại nói: “Được, để tao lo”. Hồi ấy, chiến tranh chống thực dân Pháp, đất nước nghèo lắm nhưng giáo dục miễn phí 100%. Ở đâu cũng vậy giáo viên, học sinh đều ở trọ trong nhà dân miễn phí, nhân dân giang tay cưu mang thầy trò. Ngày hôm sau, bà ngoại sai dì Ba Cúc đi kêu dì Sáu, dì Bảy về nhà và nói với hai dì:


- Thằng Bê nó được cử ra Bình Định học nhưng má nó không có đủ tiền cho nó đem theo để mua ăn, bây giờ ba chị em bay bàn với nhau đi. Con Năm tính coi có được bao nhiêu tiền, còn thiếu bao nhiêu thì con Sáu, con Bảy bàn nhau lo giúp cho cháu nó đi học. Còn năm sau thì ngay bây giờ nuôi hai con heo, đến năm học sau bán lấy tiền cho nó đi học tiếp.


Bà ngoại nói như ra lệnh cho ba cô con gái. Nhà hai dì khá giả hơn nhà bà ngoại. Má tôi chỉ có nghề thợ may quần áo nhà quê, khách hàng khi nào có tiền mới trả tiền công hoặc đến mùa gặt mới trả công bằng lúa. Năm ấy, má tôi mới sinh em Ninh, sức khỏe yếu không thể ngồi nhiều để may đồ. Nhờ có sáng kiến của bà ngoại nên tôi được đi học tiếp. Trong danh sách 30 học sinh được tuyển chọn, chỉ có 15 người được gia đình cho đi học tiếp, thiếu hai chỉ tiêu thì tỉnh cử Phạm Thị Minh Hà và Nguyễn Thị Hà Hải. Tôi và hai bạn mừng lắm, vì trước đó hai bạn không có tên trong danh sách 30 học sinh xét tuyển. Minh Hà ngồi bên tôi suốt ba năm cấp hai, Hà Hải thì nhà bác Ràng ngay sát tiệm may của má tôi ở ngoài đường tàu, chúng tôi đi học lúc nào cũng đi cùng nhau.


Tôi được học lên cấp 3, má mới may cho tôi ba bộ đồ bà ba, quần dài áo dài tay, mua cho tôi một đôi dép lốp và cái mũ cói rộng vành. Suốt những năm cấp hai tôi chỉ mặc đồ sóoc, đi chân đất, đầu không đội mũ, mùa mưa thì đội nón lá, mang áo tơi lá.


Đến trường An Nhơn chúng tôi bốn đứa thân nhau là Trần Mạnh Trí, con thầy Trần Sĩ, Hiệu trưởng trường Lương Văn Chánh; Phạm Thị Minh Hà con bác sĩ Trác, Giám đốc bệnh viện tỉnh; Nguyễn Thị Hà Hải con bác Nguyễn Đức Ràng, Ty trưởng Ty Giáo dục tỉnh và tôi con nhà nghèo, mẹ không biết chữ, chúng tôi ở trọ chung trong một nhà dân gần trường. Tiêu chuẩn ăn của tôi má cho chỉ đủ mua gạo, mắm và mỗi bữa ăn một quả trứng, các nhu cầu ăn vặt khác tôi đều được các bạn bao.


Trước tết Âm lịch năm ấy tôi bị bệnh sổ mũi liên tục, cứ nghĩ là bị cảm nên vẫn đi học, mấy ngày sau thì bác Trác từ Phú Yên đi tàu hỏa ra thăm Hà, tàu chạy ban đêm để tránh máy bay, sáng sớm bác đã đến chỗ chúng tôi ở. Trưa chúng tôi đi học về đã thấy bác đang ngồi nói chuyện với bác chủ nhà. Nhà chúng tôi ở trọ cũng do bác Trác tìm. Bác Trác ra thăm chúng tôi mừng lắm, chắc chắn sẽ có thêm tiền ăn và quà. Bác mang theo một số quà Tết để chúng tôi góp ăn Tết với gia đình nhà trọ. Thăm hỏi nhau chừng một giờ thì Hà bảo: “Ba xem thằng Quang nó bị bệnh gì đã mấy ngày rồi mà không khỏi”. Bác Trác đi không có đem theo dụng cụ y tế, bác chỉ cầm tay tôi xem mạch và hỏi kỹ về các biểu hiện lâm sàng của bệnh rồi kết luận: “Con bị viêm màng não, một bệnh rất nguy hiểm, không chữa trị kịp thời, không cứu được. Con phải về ngay tối nay với bác, về bệnh viện của bác để chữa cho con”. Hà vừa nghe nói tôi bị bệnh nguy hiểm, phải về ngay nó đã khóc sụt sùi. Không biết nó khóc vì ba nó chưa thăm đã về ngay hay nó thương tôi bị bệnh nguy hiểm. Tôi nghĩ có lẽ cả hai lý do. Tôi với Hà ngồi cạnh nhau từ năm đệ nhất cho đến hết cấp 2. Hà được lũ con trai các lớp trên “bình chọn” đẹp nhất trường, thường bị lũ con trai trêu chọc, nhưng Hà rất hiền không khi nào phản ứng một cách hung dữ, kể cả với cái trò chấm dầu dừa trong các đèn học trên bàn vẩy lên tóc Hà của lũ con trai ngồi phía sau, nhiều khi bẩn cả áo trắng của Hà. Những lúc không nén nổi cơn giận thì Hà khóc. Tôi ngồi cạnh Hà thường bảo vệ cho Hà từ phía sau, vạch mặt những đứa chơi trò bẩn ấy.


Chiều hôm đó, bác Trác lên gặp nhà trường xin cho tôi nghỉ học để đưa tôi về bệnh viện chữa trị. Ngay tối hôm đó, bác đưa tôi lên ga Diêu Trì đi ô tô ray về ga La Hai, rồi từ ga La Hai về Hà Bằng bằng xe gòong. Đêm ngồi tàu xe với bác Trác đem đến cho tôi cảm xúc của một đứa con trong vòng tay của cha.


Hồi ấy, ở vùng tự do Khu 5, đường sắt vẫn còn hoạt động nhưng chạy bằng ô tô ray và xe gòong. Ô tô ray là toa tàu hỏa lắp động cơ ô tô chạy trên đường sắt, xe gòong là toa tàu hỏa được lắp ở phía sau một đòn gỗ dài với năm đòn gỗ ngang tạo thành hình xương cá. Xe chạy được nhờ lực đẩy của 10 người, mỗi bên 5 người chạy trên một đường ray; ở đầu toa có người cầm lái giữ phanh, mỗi khi phanh người cầm lái giật chuông cho những người đẩy ở phía sau biết. Tất cả các cầu đường sắt đều bị máy bay Pháp đánh sập hết nhưng đường sắt vẫn hoạt động. Công nhân đường sắt rất giỏi. Ban ngày máy bay Pháp đánh sập cầu, ngay sau đó công nhân dựng lại cầu. Trụ cầu dựng bằng những thanh tà vẹt gỗ xếp thành hình vuông chồng lên nhau cho đến khi trụ cầu cao gần bằng mặt đường tàu. Ô tô ray chạy được suốt chặng từ ga La Hai, Phú Yên đến ga cuối cùng ở Bắc tỉnh Quảng Ngãi, ban ngày giấu xe trong hầm đường sắt để tránh máy bay. Xe gòong chạy từ La Hai đến Tuy Hòa, ban ngày giấu xe trong hầm Đèo Thị.                               


Tôi không ngờ rằng đó là lần chia tay dài ngày với Hà. Mãi đến năm 1962 tôi mới gặp được Hà ở Moscova, nhưng Hà đang ở trong hoàn cảnh rất éo le... 


Bệnh viện tỉnh Phú Yên hồi đó đóng ở Hà Bằng trong một khe núi, cũng nhà tranh vách đất để che mắt máy bay Pháp. Bệnh nhân có cả nhân dân và bộ đội, các thương bệnh binh nặng cần điều trị lâu dài từ các chiến trường đều đưa về đây, điều trị ổn định rồi giải quyết chính sách theo chủ trương đưa thương bệnh binh về xã. Chính quyền địa phương có trách nhiệm giúp đỡ thương bệnh binh ổn định cuộc sống.


Về đến bệnh viện, bác Trác cho tôi ở chung trong một phòng với các chú thương binh nặng đã được chữa trị ổn định chờ ngày xuất viện. Chiến tranh đã cướp đi của các chú bộ đội nhiều bộ phận cơ thể: người thì mù lòa cả hai mắt, người thì điếc hẳn cả hai tai do sức ép bom đạn thủng lá nhĩ, người thì mất một chân một tay, người thì mất cả hai tay, người thì mất cả hai chân, người thì mất cả nửa mảng đầu phía trước, mất một con mắt và nửa cái trán...  Bác dặn tôi hàng ngày con lên chỗ khám và nhận thuốc xong, con về đây xem có việc gì giúp được các chú thì con giúp nhé. Việc ở đây thì có suốt ngày, lúc thì đưa các chú mù lòa đi đâu đó trong bệnh viện, lúc thì đi lấy cơm cho các chú không tự đi ăn được, lúc thì đẩy xe đưa các chú đi đến dãy nhà vệ sinh công cộng cách xa nhà ở...


Sau chừng ba tuần ở bệnh viện, bác Trác bảo ngày mai bác đưa con về nhà, về nhà nhưng chưa phải là ra viện, con phải nghỉ học hết năm nay, nếu không bệnh tái phát sẽ không cứu được. Hôm sau, bác thuê hai con ngựa, một con chủ ngựa cưỡi, một con tôi cưỡi, kèm theo một lá thư gửi cho má tôi. Lá thư viết: “Chị Năm, thằng Quang bị bệnh đau màng óc, tôi đưa nó từ trường về bệnh viện chữa cho nó đã tạm ổn, bệnh viện thiếu thuốc, cho nó về nhà chữa tiếp. Chị phải cho nó nghỉ học hết năm nay, đề phòng bệnh tái phát không cứu được. Ở nhà mỗi ngày chị cho nó ăn hai bữa bí ngô thay cơm, bí ngô hầm với đỗ, bí ngô nấu canh đỗ phộng, bí ngô xào...  ăn liên tục 6 tháng rồi lên đây tôi khám lại”.


Nghe tôi đọc xong lá thư má tôi nói: “Con ơi, bác Trác như người cha đã cho con cuộc đời lần thứ hai đấy. Con phải nhớ ơn”.


Chừng 3 tháng sau khi tôi về nhà, quân Pháp chuẩn bị mở chiến dịch Atlan với kế hoạch Nava đánh chiếm vùng tự do Khu 5, Phú Yên là tỉnh đầu tiên quân Pháp sẽ tấn công đánh chiếm. Toàn vùng tự do Khu 5 có chủ trương tổng động viên nam nữ thanh niên tòng quân đánh giặc. Chỉ cần đủ sức khỏe và tinh thần tình nguyện xung phong tòng quân, không giới hạn tuổi tác, không có giấy gọi nhập ngũ. Năm ấy tôi mới 16 tuổi, tôi hỏi má xin đi bộ đội, má đồng ý nhưng bảo đừng nói với bà ngoại, bà không cho con đi bộ đội đâu. Có lẽ trong Đảng đã có thông báo tình hình chiến tranh nên má đồng ý cho tôi đi bộ đội rất nhanh. Đúng như má nói, tôi đi khám sức khỏe kết quả tốt được nhận vào bộ đội, về nhà không nói gì với bà ngoại. Đến hôm tập trung, tôi đã trốn bà đi rồi mà bà không biết, đến chiều tối má nói bà mới biết. Thế là bà khóc la ầm ĩ. Bà mắng má: “Con không thương nó sao, nó còn nhỏ thế mà cho nó đi bộ đội, không lo nó chết trận hay sao? Trời ơi là trời, tội nghiệp cháu tui”. Bà khóc hu hu... Má không dám cãi lại bà, chỉ biết ngồi khóc theo...      


 


(còn tiếp)


Nguồn: Người con của mẹ Năm Bê. Truyện ký của Huỳnh Quang. NXB Hội Nhà văn, 2019.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
xem thêm »