tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29373457
20.09.2008
Lương Văn Hồng
Danh nhân thế giới (3)

BERTOLT BRECHT (1898 - 1956)


 Học văn, triết và y ở Mũnchen. Brecht sáng tác rất sớm, nhưng tới khi vở “Nhạc kịch ba xu” được công diễn năm 1928 ở Berlin Bertolt Brecht mới nổi danh không những ở Đức, mà ở cả khắp Châu Âu.


 Thành công của vở “Nhạc kịch ba xu” đã khẳng định hình thức kịch tự sự của Bertolt Brecht. Theo Brecht, nghệ thuật có thể cải tạo thế giới, thay vì đồngcảm với diễn biến kịch trên sân khấu, giờ đây người xem chủ động suy nghĩ, phê phán những diễn biến đó. Brecht đưa lối diễn xuất mới lên sân khấu bằng cách trình diễn những chuyện thường ngày một cách xa lạ đi để người xem đặc biệt chú ý tới và lôi cuốn họ vào cùng suy nghĩ …


để họ nhận thấy rằng, tình trạng xã hội và con người không phải là bất biến, mà có thể và cần phải thay đổi.


Bertolt Brecht là nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận sân khấu nổi tiếng thế giới. Những sáng tác của ông rất độc đáo, mang tính dân gian, tính dân tộc và tính trí tuệ. Ông là một trong những nghệ sĩ lớn nhất của thế kỷ XX.


 Nhà cách tân sân khấu


Berlin vào những năm 1924 - 1933 là một trung tâm văn hóa đầy mâu thuẫn với những trường phái khác nhau, nhưng đấy lại là điểm hẹn của những nhà văn, nghệ sĩ nổi tiếng đương thời. Berlin thời này có rất nhiều nhà hát lớn nhỏ công diễn kịch của mọi trường phái.


 Bertolt Brecht thường hay rủ anh bạn gốc Do Thái Arnolt Bronnen đi xem kịch ở khắp mọi nơi trong thành phố Berlin. Khó nhất là làm thế nào vào được nhà hát để xem dàn kịch trong lúc tổng dợt. Không được mời, hai người nghĩ mọi cách, tìm mọi kế: lúc thì lừa người gác cổng, lúc lại nói dối người quét dọn, có ngày lại lấy lòng người canh hậu đài, có khi lại mua chuộc người giữ trật tự … tất cả chỉ nhằm sao lọt vào trong khán giả.


 Bertolt Brecht ngồi xem với cái nhìn đăm chiêu suy nghĩ, lần nào cũng vậy, vì thế Arnolt Bronnen rất ngạc nhiên, và có lần hỏi:


 - Bạn rất ghét thứ nghệ thuật như họ đang làm thì xem làm gì?


 - Đúng thế, mình xem để rồi không làm giống như họ đã làm.


 Không phải là “nổi tiếng"


 Có lần Bertolt Brecht đi dạo ở ngoại ô London, ông bỗng ngạc nhiên, khi nhìn thấy hai ngôi mộ xây cất ngay ngắn, công phu ở góc công viên. Tới gần ông thấy chữ khắc trên bia ngôi mộ thứ nhất:


 - Nơi an nghỉ của một khán giả nổi tiếng nhất thế giới.


Và trên bia ngôi mộ thứ hai:


 - Nơi an nghỉ của một diễn viên nổi tiếng nhất thế giới.


 Brecht hỏi người gác công viên. Ông ta kể:


 - Cách đây lâu, trong hôm biểu diễn vở Otello diễn viên đóng Jago là người nổi tiếng đương thời, đóng rất thành công vai đó. Đến đoạn Jago xúc xiểm Otello làm cho Otello nghi ngờ người vợ chung tình của mình – Desdemona ngoại tình với Casio. Diễn viên đóng vai Jago làm động tác ép mình xuống sàn sân khấu, trườn người bò ngoắt ngoéo tựa như rắn bò … thì "đoàng đoàng", sau một tiếng hét lớn. Viên cảnh sát ngồi gần sân khấu đã bắn liền hai phát đạn. Khi mọi người xô lại thì cũng là lúc viên cảnh sát bừng tỉnh, hiểu đấy không phải là chuyện thực trong đời mà chỉ là cảnh trên sân khấu. Viên cảnh sát dí ngay súng vào mang tai và bóp cò… Hai ngôi mộ đây là của hai người đó.


 Bertolt Brecht, nhà cách tân sân khấu luôn chủ trương giữ khỏang cách giữa sân khấu và cuộc đời, dằn giọng:


 - Không, không phải là “nổi tiếng”! Tôi thấy nên khắc trên bia như sau:” Đây là nơi chôn một diễn viên tầm thường nhất thế giới”, và “Đây là nơi chôn một khán giả tầm thường nhất thế giới.”


 Lấy kết quả làm thước đo


 Bertolt Brecht hay đi thẳng vào vấn đề cần giải quyết. Ông không thích những người làm việc không tốt, vì ông lấy kết quả công việc làm thước đo con người. Trong một cuộc họp, có những ý kiến phàn nàn về một số đạo diễn và nhạc trưởng thiếu năng lực. Có người nói:


 - Có thế thật. Họ thiếu năng lực, nhưng chúng ta phải thấy họ có ý tốt…


 Brecht liền nói:


 - Có thể cho họ giải nghệ!


 Một người đấu dịu:


 - Nhưng chẳng vì thế mà cho họ ra ngoài đường!


 Brecht tiếp:


 - Có chứ. Đường của chúng ta rất rộng.


 Điều thú vị nhất


 Việc Bertolt Brecht dàn dựng một số vở kịch của mình ở Đoàn kịch nói Berlin gây rất nhiều tranh cãi.


 Xung quanh vở Bà mẹ Courage - Bà mẹ dũng cảm cũng có nhiều ý kiến. Có người cho rằng vở kịch này chẳng có ý nghĩa gì cả., nhân vật bà mẹ Courage chẳng diễn tả được điều gì, bà chẳng có tiến bộ hơn và cũng chẳng có gì thay đổi.


 Brecht giải thích:


 - Mọi người đánh giá vở kịch mà chẳng thèm tìm hiểu nó có giá trị ở chỗ nào. Điều đáng chú ý và cũng là điều thú vị nhất ở Bà mẹ Courage là bà không tiến bộ hơn và cũng không thay đổi gì.


WILHELM CONRAD RÕNTGEN (1845 - 1923)


 Nhà vật lý người Đức Wilhelm Conrad Rõntgen từng dạy học ở các trường đại học ở Giessen(1876), ở Wũrzburg (1888), và ở Mũnchen (1900 - 1920). Ông chuyên nghiên cứu về hiện tượng áp điện, hỏa điện, mối liên hệ tương hỗ giữa những hiện tượng điện và quang trong tinh thể.


 Ngày 8.11.1895, Rõntgen đã tìm ra một loại tia kỳ lạ mà ông gọi là tia X. Tia X không nhìn thấy được, nhưng có khả năng xuyên thấu qua những vật chắn sáng như giấy, vải, gỗ… thậm chí cả người. Tia X lập tức được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong y học, để chẩn đóan và điều trị bệnh. Năm 1901, Rõntgen được trao tặng giải thưởng Nobel về vật lý do tìm ra tia X.


 Một phụ nữ thông minh cũng …


 Trong một buổi dạ hội ở nhà của nữ nhà thơ Marie von Ebner - Eschenbach, người ta kể cho nhau nghe về những tiến bộ của khoa học. Có người nói, giáo sư Rõntgen mới tìm ra tia X.


 Với tia X người ta có thể nhìn thấu suốt cơ thể người đàn ông.


 Một phụ nữ mỉm cười nói:


 - Cái đó chẳng có gì đặc biệt. Một phụ nữ thông minh cũng…


 Nhà khoa học cần gì?


 Trong buổi nhận giải thưởng Nobel tháng 12 năm 1901, Rõntgen nói suy nghĩ và ý nguyện của mình:


 - … Cuộc đời của một người thành đạt có hai điều cám dỗ nguy hiểm: danh vọng và tiền bạc. Những điều này sẽ làm lu mờ sự phán xét và làm lệch hướng những mục đích cao quý thực sự của cuộc đời. Trong cuộc hành trình gian khổ đi tìm sự thật, niềm vui thuần khiết nhất và cũng là phần thưởng xứng đáng nhất của nhà khoa học chính làsự yên bình nội tâm. Tôi cầu mong, nhà khoa học chân chính đừng tìm kiếm, đòi hỏi cái gì khác ngòai điều đó, nếu không, nhà khoa học sẽ đánh mất chính bản thân mình. Và đó là điều tệ hại nhất!


 Để cho có sự yên bình nội tâm, và nói đi đôi với làm, Rõntgen đã tặng toàn bộ số tiền giải thưởng Nobel cho trường đại học Wũrzburg.


HERMANN HESSE (1877 - 1962)


 Ta thấy rất rõ dấu ấn của di sản văn hóa phương Đông và phương Tây trong cuộc đời và sự nghiệp văn chương của nhà văn hậu chủ nghĩa biểu hiện Hermann Hesse. Con người ông luôn chuyển động giữa hai cực Đông - Tây để đi tìm một nhân loại thuần khiết, một nhân loại sống trong cảnh bình yên.


 Con đường sáng tác của Hermann Hesse đi từ tình cảm cô đơn và nỗi buồn lãng mạn cuối thế kỷ XIX đến tầm nhìn xa trông rộng có trách nhiệm đối với xã hội. Ông ước mơ và tin chắc vào tương lai tốt đẹp của con người.


 Nội tâm thúc giục


 Nhà văn Thụy Sĩ Paul Ilg khuyên người xuất bản sách Samuel Fischer nên lưu ý tới sự nghiệp sáng tác của Hermann Hesse. Paul Ilg viết thư đề nghị Hermann Hesse gởi cho mình bản thảo để xuất bản. Hermann Hesse trả lời:


 - Tôi viết toàn những chuyện có tính chất cá nhân thổ lộ tâm tình mình bằng giọng văn mới ngày nay. Tôi viết là do nhu cầu của bản thân, nên nó có thể không mang lại thành công cho nhà xuất bản - điều này tôi xin nói trước.


 Ít lâu sau đó - 1904 - tiểu thuyết Peter Camenzind được xuất bản. Cuốn tiểu thuyết giáo dục này lập tức gây được sự hâm mộ ở bạn đọc đương thời và nó mang lại danh tiếng cho Hermann Hesse.


 Cái khổ của sự nổi tiếng


 Vào dịp sinh nhật lần thứ 85, sự nhiệt tình của bạn bè và sự hâm mộ của bạn đọc lên cao tới mức, Hermann Hesse nhận được 900 thư chúc mừng sinh nhật. Để có đủ thời gian và tĩnh tâm viết thơ cho 900 người, Hermann Hesse đã dán ở cổng nhà tờ giấy:” Xin miễn thăm hỏi".


FRANZ KAFKA (1883 - 1924)


 Nhà văn viết tiếng Đức Franz Kafka là kẻ độc hành cô đơn khó hiểu. Lúc sinh thời, những tác phẩm đã in của Kafka (Lời phán xét, Hóa thân - 1916 - Trại cải hối, Thầy thuốc nông thôn - 1919 - Nghệ sĩ chết đói v.v.) không được dư luận chú ý.


 Kafka gốc Do Thái, nhưng sinh ở Praha Tiệp Khắc, chịu ảnh hưởng văn hóa Đức, sống dưới ách thống trị Áo - Hung. Những tác phẩm của Kafka cho ta thấy dấu ấn của những nền văn hóa ấy. Sau khi Kafka mất, Max Brod đã cho xuất bản các bản thảo (Vụ án, - 1925 - Lâu đài - 1926 - Châu Mỹ - 1927 - v.v.) mà chính Kafka nhờ đốt. Từ sau thế chiến thứ hai, dư luận mới chú ý tới Kafka và nhận thấy, chưa có một nhà văn nào cùng thời ông phản ánh nỗi cô độc, sự bất ổn của cái tôi, sự xa lạ của thế giới như những tác phẩm của Kafka. Kafka trở nên nổi tiếng và thành bậc thầy có ảnh hưởng lớn đến văn học hiện đại phương Tây.


 Sự tò mò của tác giả


 Lúc sinh thời, dư luận không lưu ý tới những tác phẩm của Kafka, mặc dù nhà văn viết với cả nhiệt thành và tâm huyết của mình. Kafka xuất bản tác phẩm đầu tay Chiêm ngưỡng của mình năm 1912. Kafka rất hồi hộp, ông muốn biết dư luận bạn đọc, ông nói với bạn:


 - Ở hiệu sách André có tất cả 13 quyển thì tôi đã mua 12 cuốn để tặng, không biết ai là người mua cuốn sách thứ mười ba.


 Chỉ có bệnh nhân Kafka


 Kafka chữa bệnh lao ở khu an dưỡng Kierling thuộc ngoại ô thành phố Viên (Áo). Gíao sư Hajek phụ trách khu an dưỡng nhận được một bức thư yêu cầu giáo sư hết lòng cứu chữa cho Franz Kafka khỏi bệnh. Sau khi đọc xong bức thư, giáo sư nói với phụ tá của mình:


 - Tôi biết bệnh nhân số 12 là Franz Kafka. Nhưng Werfel (người viết bức thư) là ai thì tôi không biết.


IMMANUEL KANT (1724 - 1804)


 Với ba tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” (1781), “Phê phán lý tính thực tiễn” (1788), “Phê phán năng lực phán đoán” (1790), Kant đã thống trị tư tưởng khoa học và triết học tư sản thế kỷ XIX. Kant được coi là người sáng lập chủ nghĩa duy tâm "phê phán". Tư tưởng triết học của ông có ảnh hưởng sâu sắc tới các nhà triết học Fichte, Schelling, Hegel.


 Chỉ dừng lại ở cảm tính


 Mặc dù là một nhà triết học nổi tiếng về phân tích khả năng và giới hạn của lý tính và rất thông hiểu về cuộc sống gia đình, nhưng vì chỉ dừng lại ở cảm tính nên Kant suốt đời sống cô đơn. Sau đây là câu nói nổi tiếng của Kant về các giai đọan của nhận thức:


 - Mọi tri thức của chúng ta đều bắt đầu từ cảm tính, sau đó chuyển sang lý trí và kết thúc ở lý tính.


 Người ra sao, chiêm bao như vậy


 Cuộc sống hàng ngày của Kant diễn tiến theo một chu trình ổn định như chiếc đồng hồ. Ông thức dậy lúc 5 giờ sáng, 17 giờ đi tản bộ, 22 giờ lên giường đi ngủ. Sống thế nào, nghĩ thế đó, trong lĩnh vực triết học, ông cũng đưa ra nguyên tắc:


Tôi có thể biết gì?


Tôi cần phải làm gì?


Tôi có thể hy vọng vào cái gì?


Con người là gì?


Và ông giải thích:


 - Siêu hình học trả lời cho câu thứ nhất, đạo đức - cho câu thứ hai, tôn giáo - cho câu thứ ba, nhân học - cho câu thứ tư. Về thực chất, có thể quy tất cả ba câu đầu về nhân học.


GŨNTER GRASS


 Gũnter Grass thuộc Nhóm 47 - nhóm nhà văn Tây Đức năm 1947 gặp nhau nhằm tạo một gương mặt mới cho văn đàn Đức ở châu Âu. Sau thảm bại của Đế chế thứ ba, người Đức tưởng chừng cả dân tộc nằm bên bờ diệt vong. Tới năm 1959, người Đức vẫn còn sống trong mông lung: không biết làm gì, sẽ đi về đâu? Tiểu thuyết "Chiếc trống thiếc” (1959) đã thiết lập cho người Đức cuộc đối thoại với những truyền thống hào hùng của dân tộc Đức, nó làm bừng tỉnh trong lòng người Đức tinh thần và ý chí Đức, lịch sử dân tộc Đức với anh hùng ca Nibelungen, nó tạo sự hồi sinh của văn chương Đức sau thế chiến thứ hai.


 Phải tự suy nghĩ…


 Họa sĩ, nhà đồ họa, nhà điêu khắc Gũnter Grass bỏ ra nhiều năm để viết cuốn tiểu thuyết Chiếc trống thiếc. Để được xuất bản ông phải gạch bỏ tới một phần ba cuốn tiểu thuyết. Một hôm Grass đọc lời tự thuật của nhà văn người Do Thái Josef Agnon, nhà văn được giải Nobel văn chương này viết:


 - Tôi chỉ viết những gì Chúa khuyên.


 - Đúng là ông ta sướng hơn tôi. Tôi phải tự mình suy nghĩ và viết - Grass thở dài và nói như vậy.


 Ngồi trên ghế điện


 Nhóm 47 hàng năm gặp nhau một lần để đọc cho nhau nghe những sáng tác mới. Một người ngồi ghế đọc, những nhà văn khác lắng nghe, rồi sau đó phân tích và thẳng thắn (tới mức không hề thương tiếc) phê bình những gì vừa mới nghe. Việc ngồi ghế đọc trở thành thông lệ của Nhóm 47. Gũnter Grass gọi việc đó là ngồi trên ghế điện (như ở nước Mỹ đối với những tử tù).


 Khi Grass đã trở thành nhà văn nổi tiếng, đến lượt ông phải ngồi đọc, có người hỏi ông có còn sợ không, ông nói:


 - Giờ đã có một lớp cách điện nên không sợ nữa.


FRANZ VON LENBACH (1836 - 1904)


 Lenbach đã từng sống ở Ý bằng nghề sao chép thuê tranh của các danh sư. Ông vẽ nhiều đề tài khác nhau, nhưng ông nổi trội trong sinh hoạt nghệ thuật ở thành phố Mũnchen (thủ phủ bang Bayer - Đức) cuối thế kỷ XIX bởi những bức chân dung vẽ theo kỹ thuật trường phái Venezia phối hợp với cách thể hiện tính cách nhân vật vững vàng, trang trọng.


 Không tốn một xu


 Diễn viên múa Ballett Saharet của Úc đang lưu diễn ở Đức thì Lenbach đề nghị vẽ chân dung. Bà vốn biết danh tiếng của họa sĩ cả về tài hoa và "giá cắt cổ". Bà hỏi họa sĩ đòi bao nhiêu. Họa sĩ đáp:


 - Thưa bà, không tốn một xu ạ!


 - Thế thì quá đắt đấy! - Nữ nghệ sĩ nói.


 Chọn một trong hai thứ


 Một mệnh phụ không được trời ban cho sắc đẹp yêu kiều nói với họa sĩ Lenbach:


 - Ông vẽ sao cho thật giống và thật đẹp nhé!


Họa sĩ trả lời:


 - Thưa cái đó, quý bà chỉ có thể chọn một trong hai thứ.


 Vẽ ông giống hệt…


 Một nhà quý tộc ngồi để Lenbach vẽ chân dung. Trong lúc họa sĩ mải vẽ thì nhà quý tộc cứ nói chêm vào những nhận xét của mình. Tức tới tận cổ, họa sĩ nói:


 -Nếu ông còn nói thêm một tiếng nữa, tôi sẽ vẽ ông giống hệt như trong đời thường!


 Hai lần hai là…


 Một thương gia mới giàu lên đến đề nghị Lenbach vẽ cho mình một bức chân dung. Họa sĩ từ chối. Thương gia nâng giá lên gấp đôi nhưng vẫn bị từ chối. Thương gia lại nâng gấp đôi giá vừa nói. Lenbach đồng ý. Thương gia kia hỏi:


 - Tôi phải ngồi bao nhiêu lần thì xong bức chân dung.


 - Sáng mai ông đến đây, chỉ nửa tiếng là xong - Họa sĩ đáp.


HUGO VON HOFFMANSTAL (1874 - 1929)


 Thần đồng văn thơ Hugo von Hoffmanstal được thừa hưởng ở mẹ dòng máu văn hóa nghệ thuật Ý, ở gia đình mình không những một cuộc sống đầy đủ, mà còn được thụ hưởng một nền học vấn văn hóa đa dạng và uyên thâm. Quê hương tinh thần của ông là thời Trung cổ và nghệ thuật Barock, là Venedig, là Florenz, là Tây Ban Nha, là Văn hóa cổ đại, là Đông phương.


 Hoffmanstal đã làm sống lại vẻ đẹp và khí thế của nhiều nền văn hóa cổ trong những sáng tác của mình, cái đó xuất hiện như kỷ niệm đẹp khó quên của quá khứ.


 Chỉ có …!


 Một thời đại mới bắt đầu vào năm 1918. Một số văn nghệ sĩ già cảm thấy hụt hẫng trong khung cảnh mới này. Một thời gian trước khi mất, có lần Hoffmannsthal nói với Rauol Auernheimer về hòan cảnh khó khăn vô vọng của các nhà văn. Rauol Auernheimer hỏi:


 - Vậy thì những nhà văn làm gì bây giờ?


 - Chỉ có chết! - Hofmannsthal đáp.


 Anh chàng này…?


 Nhà sử học Friedell đi dạo chơi trong công viên Wiener Volkspark cùng với Hofmannsthal. Khi cả hai đứng trước một hàng cây lớn thì nhà sử học nói:


 - Chỗ này sẽ dựng tượng nhà văn Hofmannsthal.


Trong lúc Hofmannsthal tủm tỉm cười thì nhà sử học nói tiếp:


 - Khách đi dạo trong công viên sẽ dừng chân đứng ngắm và hỏi rằng, không biết anh chàng này là ai.


 Cho mượn sách


 Hofmannsthal không thích cho mượn sách. Nhưng có lần ông buộc lòng phải cho mượn sách. Khi người mượn mang trả sách thì sách bị bẩn bởi vết loang của một giọt mỡ. Hofmannsthal gói một miếng mỡ hun khói gởi cho người kia với tờ giấy đính kèm đề:” Tôi xin gởi trả lại miếng mỡ mà ông để quên trên quyển sách".


JOHANN GOTTFRIED HERDER  (1744 - 1803)


 Học Y, Thần học, Triết học ở Kõnigsberg, học Văn học ngôn ngữ Pháp ở Paris, giao du với nhiều nhà văn đương thời như Diderot ở Pháp, Lessing ở Darmstadt, Goethe ở Strassburg, Johann Gottfried Herder không phải là nhà thơ lớn, mà là nhà lý luận có công lớn với sự phát triển văn học Đức. Các công trình lý luận của ông có ảnh hưởng lớn đến văn học Bão táp và Xung kích, văn học tiền lãng mạn, văn học cổ điển Đức và nó có ảnh hưởng tới triết học của Hegel và Schelling.


 Tôi thích con trai tự nhiên


 Trong một buổi đọc tác phẩm mới Người con gái tự nhiên của Johann Wolfgang Goethe. Trong lúc mọi người trầm trồ khen thì Herder không nói gì. Có người hỏi ông:


 - Thế ông có ý kiến gì không?


 -  Tôi thích con trai tự nhiên - Herder đáp.


 May quá, đã có…


 Herder học thần học và giảng đạo ở nhà thờ. Trong lần đi du lịch nước Ý ông gặp một khách bộ hành. Người này nói:


 - Ở chỗ chúng tôi có một cha đạo người Đức, ông này chăn con chiên mà chẳng cần đồng cỏ và cũng chẳng phải trông nom.


 -  May quá, ở nước Đức chúng tôi đã có chuồng nhốt chúng lại.


FRIEDRICH CHRISTIAN HEBBEL (1813 - 1863)


 Sinh ra ở Viên, học luật, văn, triết ở Heidelberg với sự trợ cấp của bà thợ giặt Elise Lensing, được vua Đan Mạch cấp học bổng du học hai năm ở Pháp và Ý, Friedrich Christian Hebbel đã từng bước cởi bỏ nghèo túng để bước lên văn đàn Đức. Hebbel trở thành bi kịch gia lớn của văn học Biedermeier. Những tác phẩm của ông có tính chất hiện thực, đề cập đến những vấn đề trung tâm của thời đại bấy giờ: Mâu thuẫn giữa ý tưởng cao đẹp và sự chà đạp những ý tưởng đó trong hiện thực xã hội (Maria Magdalene), bi kịch trong hôn nhân (Herodes và Mariamne), cô gái xinh đẹp và sống cao thượng là nạn nhân của chính quyền thống trị (Agnes Bernauer), số phận người nghệ sĩ nghèo có tài năng (Tập nhật ký).


 Chiến trường


 Tuy nghèo túng, nhưng Hebbel cũng đi nhiều. Ông từng đến thăm nhà văn viết truyện cổ tích nổi tiếng Andersen ở Kopenhagen của đất nước những anh lính chì (Hà Lan), thăm nhà thơ lớn của dân tộc Đức Heinrich Heine ở Paris. Sau khi tham quan căn phòng làm việc của đại văn hào Đức Johann Wolfgang Goethe, Hebbel nói:


 - Đây chính là chiến trường đáng tự hào của người Đức.


 Muốn hôn nhau


 Năm 1845 Hebbel chuyển về sống ở Viên (thủ đô nước Áo) và ở lại đây cho tới khi qua đời. Khi quốc hội Đức nhóm họp ở Frankfurt am Main, Hebbel viết thư cho một người bạn:


 - Thật là khó lòng mà thực hiện được, khi hai người muốn hôn nhau, nhưng lại quay lưng lại nhau! Nước Áo muốn phối hợp cùng nước Đức, nhưng lại không muốn thống nhất với nước Đức.


ARNOLD SCHÕNBERG (1874 - 1951)


 Ở nơi công chúng đã nghe quen nhạc (bảy nốt) của Beethoven và Schubert như thành phố Viên thì nhạc 12 nốt trở nên xa lạ. Thế nhưng Schõnberg đã thu phục được công chúng bằng nhạc 12 nốt với những bản nhạc thính phòng, nhạc cho dàn đồng ca, nhạc cho kịch (Drama) và nhạc cho ca vũ kịch (Oper) v.v.


 Qúa ư là…


 Mặc dù Bertolt Brecht cũng đang mở đường cho sự phát triển mới trên lĩnh vực kịch nói. Có lần nhạc sĩ Hanns Eisler (bạn của Bertolt Brecht và là học trò của nhạc sĩ Arnold Schõnberg) chơi những bản nhạc (12 nốt) cho Brecht nghe. Nghe xong, Brecht bĩu môi nói:


 - Tôi thấy nhạc này quá ư là giầu âm điệu


 Ai hơn ai!


 Thomas Mann có ám chỉ phê phán nhạc và lý thuyết nhạc của Schõnberg trong tiểu thuyết Dr. Faustus của mình. Bực tức về chuyện đó, Schõnberg nói lớn:


 - Thời gian sẽ minh chứng cho việc ai hơn ai!


ARTHUR SCHNITZLER (1862 - 1931)


 Vào năm 1890 ở Viên hình thành nhóm văn nghệ sĩ “Viên trẻ”, mà đại diện tiêu biểu của nhóm là Hugo von Hoffmanstal và Arthur Schnitzler.


 Cái hấp dẫn của chủ nghĩa ấn tượng ở Arthur Schnitzler là bằng các tác phẩm “Múa vòng tròn, Cái hài của sự quyến rũ, Tiểu thư Else, Con đường đi tới tự do” v.v., ông phản ánh hiện trạng suy đồi (lọan luân trong tình dục, dối trá, đa cảm, buồn chán, cô đơn) của giới tư sản thượng lưu ở Viên thông qua những quan sát tâm lý tinh tế về những chuyển động nhỏ thầm kín trong tâm hồn và trong sự việc qua độc thoại và đối thoại.


 Dũng cảm lên nào!


 So với Hofmannsthal thì Schnitzler có vẻ ít nói hơn, ông nói chuyện rất lịch thiệp và đầy trí tuệ. Ông có thói quen, cứ 22 giờ là đi ngủ. Khi nào thấy khách còn nói, mà đã đến giờ theo lệ đi ngủ của ông, ông nói: "Dũng cảm lên nào!” và đi vào phòng ngủ.


 Còn sớm…


 Có lần mới chập tối mà Schnitzler đã ngáp ngắn ngáp dài. Một người bạn thân của ông nói:


 - Bác sĩ ơi, còn sớm mà sao ông đã có bộ mặt của lúc 22 giờ.


 Phải đúng lúc


 Các nhà văn thành phố Viên thường hay đến trang trại Salzkammer trong những ngày hè. Có lần Schnitzler cùng với Hofmannsthal, Hofmann và Herzl rủ nhau đi tàu trên hồ Altaussee. Khi tàu vừa nhổ neo, Herzl móc từ trong túi bản thảo một vở hài kịch đọc cho các bạn nghe, Schnitzler nói:


 - Hay thật, đợi đúng lúc tàu nhổ neo mới đọc.


ARTHUR SCHOPENHAUER (1788 - 1860)


 Với tác phẩm “Thế giới với tính cách là ý chí và biểu tượng” (1818), Schopenhauer được coi là người sáng lập Chủ nghĩa bi quan. Chắc chắn chủ nghĩa này ảnh hưởng tới lối sống cô đơn không gia đình và luôn luôn lo sợ của nhà triết học duy tâm Schopenhauer.


 Vô đề 1


 Schopenhauer dạy triết học ở Berlin, nhưng trong cuộc sống riêng, ông lại quá mức cẩn thận. Ông chạy khỏi Berlin để tránh dịch tả, rời Naples vì bệnh đậu mùa. Ông luôn lo sợ bị ám sát và cướp bóc. Chủ nghĩa bi quan đã có mầm mống từ khi Schopenhauer còn trẻ, ông nói:


 - Cuộc đời là một điều rất đáng hòai nghi, và tôi quyết định dành toàn bộ cuộc đời để suy ngẫm về nó.


 Vô đề 2


 “Con người chắc gì đã triết lý nếu không có cái chết” Schopenhauer nói như vậy và dành cả cuộc đời chỉ triết lý về "bể khổ” của đời người. Ông nói:


 - Chúng ta rầu rĩ bỏ lỡ mất hàng nghìn giờ, không tận hưởng chúng để sau đó than thở về chúng một cách buồn phiền uổng công.


 Vô đề 3


 “Việc chiêm ngưỡng thú vật làm cho chúng ta thấy thích thú vì chúng ta thích nhìn thấy bản chất của mình được đơn giản hóa như vậy.” Schopenhauer nói như vậy và sống với con chó ông đặt tên theo tiếng Sankrit là Atman (bản ngã).


Những lúc hứng chí, ông gọi nó là Butz (đứa trẻ kháu khỉnh), những lúc bực dọc, ông chửi "Du, Mensch!” (Tiên sư nhà mày!).


 Vô đề 4


 Ngồi trong phòng đọc sách, bao quanh Schopenhauer là tượng bán thân Kant, chân dung của Goethe, tượng Phật bằng đồng và 16 con chó bằng gỗ. Schopenhauer giải thích:


 - Nếu trên trần gian không có sách, tôi đã thất vọng từ lâu.


 Vô đề 5


 Schopenhauer đa nghi và luôn có cảm tưởng mọi người đang có âm mưu chống lại ông. Trước khi đi ngủ, ông giấu các vật quý vào các góc và đi ngủ cùng vũ khí. Giải thích cảnh đơn chiếc của mình, ông nói:


 - Khoái cảm kéo dài nhất, đa dạng nhất, cao nhất - đó là khoái cảm tinh thần… Cưới vợ có nghĩa là giảm một nửa quyền hạn của chúng ta và tăng gấp đôi nghĩa vụ của chúng ta.


MORITZ VON SCHWIND (1804 - 1871)


 Sinh ra ở Viên, họa sĩ, nghệ sĩ đồ họa, nhà vẽ kiểu kính mầu cho nhà thờ Moritz von Schwind là đại biểu cho giai đoạn chót của Chủ nghĩa lãng mạn Đức. Schwind còn là một nhạc công vĩ cầm và là bạn thân của nhạc sĩ Franz Schubert. Schwind nổi tiếng bởi tranh minh họa truyện cổ tích và truyền thuyết, bởi tranh khắc gỗ cho tờ báo trào phúng "Fliegende Blãtter” ở Mũnchen.


 Vẽ…


 Khi Schwind vừa về Viên sau chuyến đi du lịch nước Ý, có người hỏi Schwind, rằng ông vẽ được bao nhiêu bức tranh. Ông đáp:


 - Chẳng vẽ được bức nào cả. Sáng thì xem tranh của Raffael, chiều quan sát tranh của Michaelangelo. Vậy tối, Schwind này còn hơi sức đâu mà vẽ.


 Cha Rhein


 Schwind có tranh trưng bày trong một cuộc triển lãm tranh. Vua vùng Bayer là Ludwig I tới xem triển lãm và rất hài lòng với bức tranh vẽ về con sông lớn nhất nước Đức - sông Rhein với lời tựa Cha Rhein. Nhà vua lắc đầu nói với họa sĩ, rằng Cha Rhein mà tay cầm vĩ cầm thì là yểu điệu thục nữ, chứ không phải nam nhi. Họa sĩ thưa:


 - Theo ý của Thánh thượng, thần sẽ vẽ Cha Rhein tay cầm đàn dương cầm!


 Đó là cả một nghệ thuật


 Schwind ngắm bức tranh của một đồng nghiệp, rồi nói:


 - Vẽ chắc tay đấy!


 -  Ngòai ra còn gì nữa? Đồng nghiệp hỏi Schwind và nói tiếp:


 -  Tôi đã bán bức tranh này với giá hai ngàn Mác.


 - Xin kính chào, bán được giá đó đúng là cả một nghệ thuật - Schwind nghiêng người đáp.


NIKOLAUS COPERNICUS (1473 - 1543)


 Nhà thiên văn học người Ba Lan Nikolaus Copernicus là con một thương gia giàu có. Ông học toán ở Cracow (Ba Lan), học thiên văn học ở Đại học Tổng hợp Bologne (Ý), học luật ở Padua(Ý) và được phong học vị tiến sĩ luật nhà thờ năm 1503.


 Từ 1504, Copernicus sống và làm việc ở thủ đô Vácsava (Ba Lan), ông chuyên tâm nghiên cứu thiên văn từ 1512 và tới năm 1530 ông viết xong cuốn sách “Về chuyển động quay của các thiên thể” (De Rovolutionibus Orbium Coelestium, in năm 1543). Thông qua cuốn sách, Copernicus chứng minh, mặt trời là trung tâm của vũ trụ. Trái đất cùng các hành tinh vận động kép: chúng quay xung quanh chính mình và xung quanh mặt trời. Lý thuyết này là nguồn gốc của cuộc cách mạng khoa học thế kỷ XVII. Lý thuyết của Copernicus được Kepler và Galileo bổ sung và hoàn chỉnh.


 Trung tâm của vũ trụ


 Theo hệ tư tưởng của nhà thờ Thiên chúa giáo thì trái đất là trung tâm của vũ trụ, nhưng theo thuyết Về chuyển động quay của các thiên thể của Copernicus thì thì nó phải đảo lại, mặt trời mới là trung tâm của vũ trụ. Vì vậy trên mộ chí của nhà thiên văn học Nikolaus Copernicus có dòng chữ rất hài hước và dân dã:


 “Người đã giữ mặt trời và đẩy trái đất dịch chuyển.”


 Chân lý …!?


 Chân lý là chân lý. Nhưng hệ tư tưởng của nhà thờ thiên chúa giáo có từ thời cổ đại tới hết thời trung đại bị đảo lộn bởi luận thuyết của Copernicus, rằng trái đất và các hành tinh quay quanh mặt trời. Luận thuyết của Coprnicus được nhà cải cách tôn giáo Đức Andreas Osiander viết trong lời tựa cuốn sách Về chuyện động quay của các thiên thể của Copernicus với sự cẩn trọng của giọng văn dung hoà vui vẻ, rằng lý thuyết của Copernicus chỉ là một giả thuyết toán học mà không phải là một chân lý khoa học.


LUCIUS AUNACUS SENECA (4TCN - 65 SCN)


 Nhà triết học, nhà chính khách, nhà thơ Lucius Aunacus Seneca sinh năm thứ 4 trước công nguyên tại Cordoue (Tây Ban Nha) trong một gia đình thế gia vọng tộc. Seneca học luật ở Rom. Tài hùng biện đã mang lại cho ông danh tiếng, địa vị và lợi lộc. Seneca viết nhiều khảo luận về triết học, trong số đó có “Sự bình tĩnh của tâm hồn “; “Đời người ngắn ngủi” ; “Sự khoan hồng” ; “Về ân nghĩa”.


 Gậy ông đập lưng ông


 Seneca là gia sư của hoàng cung, là thầy dạy của thái tử Nero. Seneca thường nói:


 - Các nhà triết học dù không phải luôn luôn hành động như họ nói, dẫu sao họ cũng đem lại lợi ích to lớn, vì họ đã bàn luận, họ chỉ ra các lý tưởng đạo đức.


 Hoàng đế bạo chúa Nero sợ gặp khó khăn trong thi hành những việc tàn bạo nên mượn cớ một âm mưu phản nghịch mà ra lệnh cho Seneca được quyền chọn cách tự sát.


 Biển – đất liền


 Seneca có tài hùng biện, nhưng ông lại sợ sóng to hío lớn ở biển. Có người bảo:


 - Seneca mới chỉ là nhà thông thái ở trên cạn.


 Có mâu thuẫn …!?


 Có người hỏi Seneca:


 - Ông dạy người ta coi thường của cải, tại sao ông vẫn là người giàu có?


 Seneca thản nhiên đáp:


 - Nhà hiền triết không yêu quý sự giàu có, nhưng đề cao nó hơn sự nghèo khổ.


 Vô bổ không?


 Có người nói, các nhà triết học nghiên cứu biết bao thứ vô bổ. Seneca giáo huấn:


 - Triết học chấn chỉnh cuộc sống, chỉ đạo hành động, chỉ ra cần làm gì và không nên làm gì. Mỗi giờ lại có một sự kiện diễn ra, nó đòi hỏi phải có lời khuyên. Việc này chỉ có triết học mới có thể đưa ra được.


HARMENSZ van RIJN REMBRANDT (1606 - 1669)


 Danh họa người Hà Lan Harmensz van Rijn Rembrandt là một trong những thiên tài của nền mỹ thuật thế giới. Ngay từ khi niên thiếu, Rembrandt đã quyết tâm trở thành họa sĩ.


 Cuộc đời của danh họa Rembrandt có hai giai đoạn, giai đoạn thứ nhất ông nổi tiếng về vẽ chân dung, cả chân dung cá nhân lẫn tập thể với những bức “Người mang kính lúp” ; “Người đội mũ vàng” ; “Chân dung Hendrickje” ; “Chân dung Titus” ; “Chân dung tự họa” ; “Bài học giải phẫu” ; “Cuộc xuất hành của đội lính súng hoả mai” (Tuần đêm), “Cô dâu Do Thái và những viên chức phường bán vải”.v.v. Giai đoạn thứ hai ông nổi tiếng với những bức tranh về đề tài tôn giáo - Thiên chúa giáo như “Chúa Gia tô rao giảng” ; “Ba cây thập tự” ; “Chúa Gia tô chữa bệnh” v.v. Tranh vẽ với sự tương phản ánh sáng của Rembrandt là đỉnh cao của của hội họa thế giới, điều mà các họa sĩ sống trước và sau ông không sao đạt tới.


 Người mẫu


 Năm 1634, Rembrandt cưới Saskia van Uylenburch - người mẫu mà ông thường vẽ. Những bức chân dung dịu dàng tuyệt đẹp của nàng làm cho nhà thơ Hà Lan Andries Pels phải thốt lên:


 - Nếu như ông vẽ một phụ nữ khỏa thân như đôi khi vẫn gặp, ông không lấy nữ thần sắc đẹp của Hy Lạp Venus làm mẫu.


 Rembrandt - Raphael


 Bề sâu cảm xúc và phạm vi sáng tác của Rembrandt cũng tương xứng với trình độ thành thạo về kỹ thuật diễn đạt của ông. Dưới con mắt xanh của họa sĩ vĩ đại nhất của phong trào lãng mạn Pháp Eugène Delacroix thì:


 - Một ngày nào đó Rembrandt có thể được coi trọng hơn Raphael.


 Lời tiên đoán đã thành sự thật. Tranh của Rembrandt được các bảo tàng lớn ở Pháp, Anh, Đức, Nga, Mỹ sưu tầm.


 Bỏ nghề


 Danh họa người Đức Max Liebermann đứng ngắm bức tranh Tuần đêm, rồi nói:


 - Xem tranh của Frans Hals thì có hứng cầm cọ vẽ, nhưng xem tranh của Rembrandty thì thấy mình nên bỏ nghề.


 Tin đồn …


 Một hôm người ta đồn khắp thành phố Amsterdam rằng Rembrandt vừa mới qua đời. Cả thành phố Amsterdam đổ xô đến khu thương mại Hendriekje Stoffels tìm tranh của Rembrandt để mua. Lập tức tất cả các tranh do Rembrandt vẽ đều nhất loạt tăng giá.


 Vài hôm sau, người ta thấy Rembrandt xuất hiện ngoài phố. Tức giận, có người gọi họa sĩ là tên lừa đảo. Họa sĩ nói:


 - Chính cái tin ấy làm cho tôi trở nên nổi tiếng.


ABRAHAM LINCOLN (1809 - 1865)


 Võ sĩ, vận động viên điền kinh và cử tạ Abraham Lincoln sinh năm 1809 ở nông trại Hardin trong một khu rừng hẻo lánh bang Kentucky. Sau sáu năm tự học, Abraham Lincoln trở thành luật sư năm 1837. Năm 1860, Abraham Lincoln được đảng Cộng hòa đề cử làm ứng cử viên tổng thống và đã đắc cử. Năm 1864 ông tái đắc cử với đa số phiếu. Trong những năm nội chiến ly khai Nam - Bắc (1861 - 1865), ông được tặng danh hiệu “Vị cứu tinh của đất nước”.


 Abraham Lincoln đi vào lịch sử nước Mỹ với tư cách là vị tổng thống nổi tiếng nhất với công trạng xoá bỏ chế độ nô lệ ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ với bản “Tuyên ngôn giải phóng nô lệ” ngày 1 tháng 1 năm 1863, với công trạng kết thúc nội chiến vào năm 1865, tạo nên sức mạnh mới cho nước Mỹ quasự hợp nhất hai miền Nam - Bắc.


 Lương tâm nghề nghiệp


 Một thân chủ của luật sư Lincoln tranh chấp một vụ án xoay quanh 600 dollar. Luật sư Lincoln nghiên cứu kỹ hồ sơ thấy, thân chủ của mình sẽ thắng kiện, nhưng bà góa kia cùng sáu đứa con nhỏ sẽ rơi vào cảnh khốn quẫn. Lincoln viết thơ thoái thác:


 - Rất đáng tiếc là tôi không thể bào chữa cho ông, tuy tôi biết rõ ông sẽ thắng kiện. Luật pháp là luật pháp, nhưng nó còn vấn đề đạo đức nữa. Tôi biết ông là một người siêng năng và có nhiều ý tưởng hay, tôi xin khuyên ông, tìm cách khác để có 600 dollar.


 Đánh giầy cho ai nữa!?


 Xuất thân từ một gia đình nghèo nên tổng thống Abraham Lincoln sống giản dị. Một nhà ngoại giao gặp Lincoln đúng lúc ông đangđánh giày. Nhà ngoại giao giật mình hỏi:


 - Thưa tổng tống, sao ông lại ngồi đánh giầy?


 Lincoln thản nhiên đáp:


 - Vậy tôi phải đánh giầy cho ai bây giờ?


Tạo cơ hội


 Một phụ nữ tới gặp Lincoln xin cho con trai được lên đại uý. Bà kể:


 - Ông nội tôi từng chiến đấu ở Lexington. Bác tôi là người duy nhất còn sống trong trận ở Bladensburg. Bố tôi đã từng tham gia trận đánh ở New Orleans. Chồng tôi hy sinh ở Monterey.


 Tổng thống Lincoln nói an ủi:


 - Gia đình bà có nhiều cống hiến cho tổ quốc. Đã đến lúc phải tạo cơ hội cho con trai bà tiếp nối truyền thống gia đình!


HENRIK IBSEN (1828 - 1906)


 Nhà thơ, kịch gia lớn nhất của Na Uy Henrik Ibsen sinh ngày 20.3.1828 ở Skien và mất ngày 23.5.1906 ở Oslo. Ông là một trong những kịch gia lớn nhất ở thế kỷ XIX của văn học thế giới. Ông có ảnh hưởng sâu sắc đến văn học và sân khấu thế giới thế kỷ XIX và XX..


 Với tính hiện thực phê phán và với kỹ thuật sân khấu điêu luyện, kịch luận đề của Ibsen là bản cáo trạng lên án những cái xấu xa trong xã hội đương thời: cái bề ngoài giả dối và thực chất thối ruỗng của xã hội và đạo lý tư sản. Ibsen đưa ra vấn đề để tranh luận và qua kịch nói thể hiện lập trường của mình, ông được coi là người mở đường cho chủ nghĩa tự nhiên.


 Vở kịch nổi tiếng nhất “Peter Gynt” của Ibsen được coi như kịch Faust của Na Uy.


 Thuốc cho vợ và cho bò


 Sau khi hãng buôn của gia đình bị phá sản, Ibsen phải đi học nghề bán dược phẩm ở tuổi 15. Ông tự học để thi tốt nghiệp phổ thông.


 Có lần có một bác nông dân tới mua thuốc, bác đưa cho Ibsen hai đơn thuốc, một đơn thuốc của vợ bác ta và một đơn thuốc cho con bò của bác ta. Ibsen đưa thuốc và dặn bác nông dân:


 - Thuốc này là để cho vợ bác, còn thuốc này chữa bệnh cho con bò. Bác nhớ kỹ nhé, đừng có nhầm lẫn, kẻo tiền mất tật mang.


 Hỏi sói cách bảo vệ cừu


 Ibsen có thói quen chú tâm tới sáng tác, ít lưu ý tới quan hệ bạn bè, người thân trong gia đình. 30 tuổi ông mới lấy vợ. Vở kịch Nhà búp bê (1879) đề cập tới vấn đề giải phóng phụ nữ, đả phá thói ích kỷ của nam giới. Có người hỏi ông, vậy trong thực tế gia đình ông thì ra sao, ông đáp:


 - Phải thăm dò ý kiến dư luận xã hội, hỏi giới đàn ông. Còn theo tôi, việc này chẳng khác gì hỏi sói cách bảo vệ cừu.


 Người đại diện cho văn hoá Na Uy


 Henrik Ibsen từng là giám đốc nhà kịch nói ở Bergen từ 1851 tới 1857 và là giám đốc nhà hát kịch nói quốc gia ở Oslo từ 1857 tới 1862. Ông nổi tiếng không phải vì chức giám đốc, mà vì kịch của ông đáp ứng được mong đợi nơi khán giả, kịch của ông được cả châu Âu hoan nghênh. Nhưng trớ trêu thay, khi ông dự buổi công diễn vở Vịt trời ở nhà hát kịch nói Burgtheater thành phố Viên thì khán giả tỏ thái độ không hài lòng. Trong lúc vở kịch đang diễn, Ibsen ra khỏi nhà hát kịch thì gặp Max Burckhard, giám đốc nhà hát kịch nói. Burckhard nài nỉ Ibsen ở lại cho tới khi kết thúc để ra mắt chào khán giả. Ibsen đồng ý với điều kiện, phải để ông về khách sạn một lát. Nửa giờ sau ông trở lại, ngực đeo huân chương cao quý nhất của Na Uy. Burckhard ngạc nhiên hỏi:


 - Tại sao long trọng đến thế?


 Ibsen đáp:


 - Tôi định hôm nay uống rượu nhiều hơn bình thường. Hôm nay tôi đại diện cho văn hóa và vương quốc Na Uy, vì vậy phải đeo huân chương để nhắc nhở khán giả cần có thái độ tôn trọng tôi.


PJOTR ILJITSCH TSCHAIKOWSKI (1840 - 1893)


Pjotr Iljisch Tschaikowski sinh ngày 7.5.1840 ở làng Votkinsk (thuộc Ural, Nga), cha là giám đốc nhà máy thép, mẹ là người Nga gốc Pháp. Mặc dù năng khiếu âm nhạc của Tschaikowski bộc lộ từ thời niên thiếu, nhưng cha ông lại cho học luật ở St. Petersburg. Tschaikowski trở thành viên chức Bộ tài chính ở St. Petersburg. Năm 1862, Anton Rubinstein thành lập nhạc viện ở Petersburg (Petersburger Konservatorium). Tschaikowski liền bỏ nghề công chức để theo học khoa sáng tác ở nhạc viện. Tschaikowski học nhanh tới mức, năm 1866, ông được mời giảng dạy ở nhạc viện Matskva. Từ 1887, Tschaikowski là nhạc trưởng, ông đi lưu diễn ở Praha (1888) ở Anh (1889), ở Mỹ (1891. Trong số 6 bản giao hưởng của Tschaikowski thì bản giao hưởng số 1 (Những giấc mơ mùa đông), số 4 (Tặng người tình Nadejda von Merck), số 6 (Xúc động) là nổi tiếng. Ngoài giao hưởng, Tschaikowski còn viết nhạc cho balett và opera (ca vũ kịch). Những vở balett nổi tếng của ông là “Hồ thiên nga” ; “Người cắn hồ đào” ; “Công chúa hồng hoa”. Những vở Oper nổi tiếng của ông là “Eugen Onegin” ; “Pique Dame”.


 Với những thành công của mình, Tschaikowski đã đưa âm nhạc Nga hoà dòng vào trào lưu lãng mạn ở châu Âu thế kỷ XIX.


 Linh cảm của trái tim người…


 Hình như trời phú cho những người đồng tính cảm nhận được cái thần thái của cuộc sống quanh mình và diễn đạt nó thành lời, thành nhạc. Tschaikowski cũng là người đồng tính. Nói về tâm trạng lúc sáng tác, ông viết:


 - Tôi có thể với sự yêu thích và say mê viết nhạc trên một đề tài,… chỉ cần những nhân vật làm tôi thông cảm, đồng tình sâu sắc, chỉ cần tôi yêu họ, thương xót họ như mọi người đã yêu và thương xót những con người thật.


Rồi ông kết luận:


 - Nơi nào con tim không bị thổn thức, ở đó không thể có âm nhạc.


 Thổ lộ cuộc sống nội tâm bằng âm nhạc


 Tschaikowski có một người tình hào hiệp, chu cấp đầy đủ tài chính cho Tschaikowski để ông sống và sáng tác. Nadejda von Merck rất mến mộ âm nhạc thể hiện những băn khoăn lo lắng, những cảm xúc và ước mơ mãnh liệt, thể hiện vẻ đẹp và sự phong phú của tâm hồn người Nga bằng sự kết hợp âm nhạc dân gian Nga và những nhân tố nhạc phương tây của Tschaikowski. Bà goá giầu có này đặt điều kiện cho mối tình của họ là chỉ quan hệ qua thư từ và không bao giờ gặp nhau. Về những sáng tác của mình, Tschaikowski viết:


 - Tôi nói bằng ngôn ngữ âm nhạc vì rằng tôi luôn luôn có điều để nói.


 Tính cách Nga


 Ai đã từng đi qua thảo nguyên mênh mông đầy chất thơ của nước Nga, ai đã từng gặp, nói chuyện với người Nga, đều có nhận xét, người Nga sống chân thành và cởi mở như thảo nguyên nước Nga, ta cảm thấy tình người trong ứng xử và trong lời nói.


Giao hưởng số 1 (Những giấc mơ mùa đông) của Tschaikowski là bản giao hưởng trữ tình đặc chất Nga: hiền lành, chân thành, xuất phát từ tình yêu quê hương tha thiết. Về bản giao hưởng này, Tschaikowski viết:


 - Tôi yêu thiên nhiên Nga hơn cả, và phong cảnh mùa đông Nga đối với tôi có một vẻ đẹp tuyệt vời không có gì so sánh được.


JOHANN STRAUSS (SOHN) (1825 - 1899)


 Johann Strauss (Sohn) là con trai cả của nhạc sĩ Johann Strauss (Vater:1804 - 1849). Những gì Johann Strauss cha khởi xướng ở Viên thì ba con trai của ông Johann Strauss (con), Joseph và Eduard Strauss tiếp tục và hoàn thiện, làm cho nhạc Walzer trở thành phổ biến và đưa nó tới tột đỉnh. Vì vậy người đời gọi dòng họ Strauss là triều đại Strauss trong âm nhạc. Trong ba người con thì Johann là nổi tiếng nhất.


 Những bản nhạc “Bên bờ sông Danuýp (Donau) xanh” ; “Câu chuyện rừng ở Viên” (Wien), “Cá tính dân thành Viên” ; “Rượu, đàn bà và ca hát” ; nhiều hành khúc và các bản “Tritsch - Trasch - Polka”, “Annenpolka” là những nhạc phẩm nổi tiếng thế giới của Johann Strauss (con). Ông đã cùng dàn nhạc của mình đi lưu diễn ở Nga, Anh, Pháp, Mỹ. Ông được tôn là Vua nhạc valse (Walzerkõnig). Triều đại Strauss kết thúc với sự ra đi của Johann Strauss (con) vào năm 1899.


 Nhạc và kịch bản


Johann Strauss soạn nhạc cho vở ca vũ hài kịch Một đêm ở Venedig, nhưng ông chỉ dựa trên lời cho ca sĩ chứ không đọc toàn bộ kịch bản. Đến khi tổng duyệt, ông nhận thấy nhạc không ăn khớp với kịch bản. Ông hỏi soạn giả vở ca vũ hài kịch:


 - Tại sao vở này chỉ có một hồi? Công chúng đã quen cảnh xem ca vũ hài kịch ba hồi cơ mà.


 Vua nước Ao


 Thời đại hoàng kim của thể loại ca vũ hài kịch kết thúc với sự ra đi của Johann Strauss năm 1899. Nhiều năm sau đó, người ta mới nghe câu nói của một viên chức triều đình rằng vua Franz Joseph trị vì đất nước cũng chỉ tới khi Johann Strauss qua đời.


 


(Còn tiếp)


Nguồn: Danh nhân thế giới. Lương Văn Hồng dịch và biên soạn. NXB Văn học, 2005.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
Sông Ba, Cầu Đà Rằng & Cầu Dinh - Giấc mơ 300 năm - Phạm Ngọc Hiền 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (12 A/ tiếp & hết) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (12) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (11) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (10) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (9) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (8) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (7) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (6) - Huỳnh Quang 29.08.2019
xem thêm »