tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27665782
20.09.2008
Lương Văn Hồng
Danh nhân thế giới (2)

JACOB GRIMM  WILHELM GRIMM (1786 - 1859)


 Jacob sinh năm 1785, năm sau em trai Wilhelm chào đời. Hai anh em ruột đều sinh ra và lớn lên ở Hanau, một thành phố nhỏ nằm ngay cửa sông Kinzig đổ vào sông Main. Thành phố này được thành lập năm 1303, là nơi có truyền thống lâu đời về thủ công mỹ nghệ ở miền Tây nước Đức.


 Từ lúc lọt lòng tới khi tóc bạc răng long, cả hai anh em luôn sống bên nhau: nhỏ ngủ chung một giường, học chung một bàn; lớn lên học Luật ở Marburg, rồi cùng sống và giảng dạy ngữ văn Đức ở Đại học tổng hợp Berlin. Lúc sinh thời cuộc sống của Jacob và Wilhelm Grimm rất thầm lặng, nhưng những công trình nghiên cứu, sưu tầm của hai người đã khích lệ được tinh thần dân tộc trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chống ách ngoại xâm Napoleon.


 Lừa – ngựa: ngôn ngữ bất đồng


 Anh em Grimm không chỉ là người sưu tầm truyện cổ dân gian Đức, mà còn là những nhà ngôn ngữ học.Từ năm 1841, cả hai đều là giáo sư ngôn ngữ học ở trường Đại học Tổng hợp Humboldt Berlin.


 Một hôm, một sinh viên người Pháp đến gặp Wilhelm Grimm. Sinh viên này ở Berlin đã ba năm nhưng nói tiếng Đức vẫn chưa rành. Grimm hỏi:


 - Tại sao đến giờ anh vẫn chưa nói thạo tiếng Đức?


 Sinh viên nọ đáp:


 - Tiếng Đức không hay, đó là ngôn ngữ của loài ngựa.


 Grimm thản nhiên đáp:


 - Chà, bây giờ tôi mới hiểu tại sao loài lừa không nói được tiếng Đức.


LUDWIG UHLAND (1787 - 1862)


 Năm 1825, một trận cuồng phong đã mang theo tờ giấy có bài thơ “Người bạn tốt” bay qua cửa sổ rơi vào phòng của nhạc sĩ Friedrich Silcher và ông đã phổ nhạc bài thơ này mà không biết ai là tác giả bài thơ.


 Khi bài hát vang khắp nơi ở nước Đức và ở cả nước ngoài, lúc đó người ta mới biết tác giả của bài thơ là thi sĩ trào lưu văn học lãng mạn Đức Ludwig Uhland – giáo sư văn học Đức ở trường Đại học Tổng hợp Tũbingen.


 Cái gì cũng có 2 mặt


 Có lần, Uhland cùng với vợ tới ăn ở nhà một người bạn. Trong lúc nói chuyện, Uhland quả quyết cái gì cũng có 2 mặt của nó. Vợ Uhland mỉm cười và nói:


 - Em biết một vật không có 2 mặt.


 Uhland tò mò hỏi:


 - Đó là vật gì?


 - Anh thân yêu, những bức thư của anh bao giờ cũng chỉ có một mặt.


 Câu hỏi – câu trả lời


 Uhland học Triết và Luật, nhưng lại là nhà thơ, nhà nghiên cứu truyền thuyết, giáo sư văn học. Ông ít quan tâm tới Luật. Trong một buổi dạ hội có một thiếu phụ hỏi Uhland dồn dập toàn những câu hỏi về luật pháp. Thấy ông nín thinh, thiếu phụ nói:


 - Thưa ông, đó chỉ là những câu hỏi chứ có tốn kém gì đâu?


 Uhland đáp:


 - Đúng, câu hỏi chẳng có tốn kém gì, nhưng câu trả lời …


 Bài hát “Người bạn tốt”


 Từ năm 1829, Uhland là giáo sư văn học ở Trường đại học tổng hợp Tũbingen. Nhà ông ở ngay bên bờ sông Neckar. Đứng ở lan can nhà ông có thể vẫy chào tàu thuyền qua lại trên sông.


 Một hôm, đang đứng ở lan can, Uhland nghe các thủy thủ trên tàu hát bài “Người bạn tốt”. Uhland mỉm cười, có thủy thủ nói với lên:


 - Thưa giáo sư, ông đừng cười mà hãy vui lên khi thấy chúng tôi hát bài của ông!


HEINRICH HEINE (1797 - 1856)


 Heinrich Heine là nhà thơ lớn của dân tộc Đức. Thơ của ông được các nhạc sĩ nổi tiếng Schubert và Schumann phổ nhạc và được quần chúng ưa thích.


 Sau khi học xong nghề kinh thương, Heinrich Heine sống với người cậu Salomon Heine là chủ ngân hàng ở thành phố cảng Hamburg. Năm 1818, với sự tài trợ của người cậu, ông mở cửa hàng kinh doanh, nhưng thua lỗ nên bỏ nghề. Từ năm 1825, ông sống bằng ngòi bút: làm thơ. Tháng 5.1831, ông sang sống ở Paris để tránh sự o ép của bọn thống trị phản động Phổ.


 Mẹ tôi thích đọc thơ


 Một lần, có người ở Paris hỏi Heine, tại sao ông là một nhà thơ dân tộc Đức mà cậu của ông lại là chủ một nhà băng. Heine giải thích:


 - Mẹ tôi thích đọc thơ nên đẻ ra một nhà thơ. Còn mẹ của cậu Salomon lại thích đọc truyện trinh thám nên con của bà là chủ nhà băng.


 Ai lại nỡ …


 Trong một buổi tiệc, một bà quý tộc mơn trớn Heinrich Heine:


 - Nhà thơ trữ tình của thời đại, tôi xin quỳ dưới chân ngài và xin hiến dâng tất cả tâm hồn lẫn … với tất cả lòng nhiệt thành.


 Bà quý tộc kiêu kỳ chắc mẩm nhà thơ trữ tình sẽ ngây ngất cảm động vì những lời ấy, nhưng Heine thản nhiên trả lời:


 - Thưa vâng, thật là may mắn, ai lại nỡ chối từ một món quà tầm thường như vậy!


 Bất tử


 Ở Paris sống bằng cách viết bài cho các báo Đức – tờ “Tin tức” của thành phố Augburg. Có lần họa sĩ Pháp Delacroix đến thăm nhà Heine và tỏ thái độ ngạc nhiên khi thấy Heine ở nơi chật chội, hẻo lánh. Heine chỉ cho Delacroix nghĩa địa trước nhà và nói:


 - Tất nhiên là ở chỗ này không được sang trọng, nhưng ông cứ nhìn qua cửa sổ thì ông thấy viễn cảnh bất tử của tôi.


FRANZ SCHUBERT (1797 - 1828)


 Franz Schubert sinh tại Lichtenthal, ngoại ô thủ đô Viên nước Áo. Cậu bé Franz lớn lên trong khung cảnh thế lực phản động ngự trị châu Âu, bóp nghẹt tất cả những gì mạnh dạn và tiến bộ. Thế hệ mới không còn tin vào khả năng cải tạo thế giới. Và chủ nghĩa lãng mạn ra đời trong hoàn cảnh nặng nề ấy.


 Schubert sáng tác đủ các thể loại âm nhạc: giao hưởng, Sonat, nhạc thính phòng, bài hát. Schubert là người đầu tiên đưa bài hát đến tầm khái quát cao, đồng thời giữ được vẻ tự nhiên ban đầu của nó. Schubert trở nên bất tử qua 600 bài hát mà ông sáng tác.Ông được xếp vào hàng các nhà soạn nhạc vĩ đại nhất của nhân loại.


 Còn lâu …


 Schubert được coi là ánh bình minh của chủ nghĩa lãng mạn trong âm nhạc. Đối với Schubert việc thể hiện tình cảm trong âm nhạc có nghĩa là hát – theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ này. Có những bài hát của Schubert trong sáng và thuần khiết như nụ cười trẻ thơ, có những bài lại sâu kín thâm thúy như tư tưởng của nhà hiền triết. Franz Liszt nói:


 - Schubert là nhạc sĩ nên thơ nhất chưa từng có.


 Còn Robert Schumann đánh giá:


 - Dù thời gian có mang lại nhiều cái tuyệt mỹ bao nhiêu đi nữa thì cũng còn lâu mới có được Schubert thứ hai.


 Vớ của Schubert


 Suốt đời Schubert sống trong cảnh nghèo nàn túng thiếu. Ngay cả giấy để sáng tác nhạc nhiều khi cũng không có, những lúc ấy, Schubert đành lòng để bạn thân là Spaun cung cấp.


 Có lần, họa sĩ nổi tiếng thời bấy giờ là Moritz von Schwind đến rủ đi ăn sáng. Schubert tìm vớ (bít tất) trong tủ, nhưng chiếc nào cũng thủng vài chỗ, bèn khôi hài nói với bạn:


 - Hình như ở Viên người ta sản xuất vớ lỗ thì phải!


 Còn hơn thế nữa!


 Ngày nay, người ta thích nghe những bài hát của Schubert như: Vua Erl, Gretchen quay sợi, Bông hồng xinh trên đồng nội, Bên bờ biển. Sự tĩnh lặng, không giả tạo, đó chính là sự chân thành và giản dị trong nghệ thuật. Thông qua bài hát, Schubert thổ lộ những tâm sự vui buồn của mình.


 Schubert như một ngôi sao vụt sáng chói trên bầu trời âm nhạc và sớm tắt nên người đương thời ít ai biết đến. Schubert mất ngày 19.11.1928 vì bệnh sốt phát ban. Di hài được an táng ở nghĩa trang Wering ở thành Viên, cách nơi an nghỉ của Beethoven có hai ngôi mộ. Trên bia mộ Schubert có ghi dòng chữ: “Âm nhạc đã chôn sâu nơi đây một kho tàng quý báu, nhưng còn hơn thế nữa - những hoài bão lớn lao.”


ROBERT SCHUMANN (1810 - 1856)


 Robert Schumann sinh ngày 8.6.1810 ở thành phố Zwickau, đông nam nước Đức. Theo lời khuyên của thầy dạy đàn dương cầm Friedrich Wieck, Schumann thôi học luật, chuyển sang học nhạc ở thầy Heinrich Dorn (người sáng lập Đại học Âm nhạc ở thành phố Kõln)


 Schumann là một trong những đại diện xuất sắc theo khuynh hướng dân chủ của âm nhạc lãng mạn thế kỷ XIX. Ông có 145 ca khúc phổ nhạc theo thơ của Eichendorff, Chamisso, Heine, nhiều bản nhạc thính phòng, các bản nhạc “Giao hưởng mùa xuân”, “Giao hưởng sông Rhein”. Nhạc của ông sôi nổi, mơ mộng, bộc bạch tình cảm con người.


 Ít nói …


 Trong số những tác phẩm Schumann viết cho dàn nhạc, thanh nhạc và nhạc khí, thìnổi bật hơn hết là các tác phẩm dành cho đàn dương cầm. Những bản nhạc của ông đầy cảm xúc chân thành và sôi nổi như cuộc đời của ông với vợ ông - nghệ sĩ đàn dương cầm Clara Schumann (con gái thầy dạy dương cầm Wieck). Cuộc hôn nhân này là một sự hiến dâng trọn vẹn cho nhau: Clara Schumann thường biểu diễn những bản nhạc dành cho piano của chồng.


 Schumann thường trầm lặng, ít nói. Trong một buổi dạ hội, có một phụ nữ hỏi nhạc sĩ:


 - Ông Schumann, sao ông chẳng nói gì cả?


 - Thưa bà có đấy chứ, nhưng chỉ khi vợ tôi chơi đàn dương cầm.


 Chồng nghệ sĩ dương cầm


 “Tình yêu và cuộc sống”, “Tình người thi sĩ” là những bản nhạc tiêu biểu của Schumann.


 Clara Schumann là nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng nhất thời bấy giờ. Trong các dạ hội người nghe thường chỉ vỗ tay nhiệt liệt tán thưởng tài chơi đàn dương cầm của nghệ sĩ, còn Robert Schumann chỉ đơn giản là chồng của nghệ sĩ đàn dương cầm.


 Có lần, sau buổi dạ hội, hoàng tử Friedrich von Hohenzollern tới gặp vợ chồng Schumann. Hoàng tử hết lời khen ngợi bà vợ, rồi quay sang ông chồng, hỏi:


 - Thưa ông Schumann, ông có sành âm nhạc không?


 Âm nhạc và nội tâm con người


 Đầu những năm 30 của thế kỷ XIX, trong âm nhạc lãng mạn Đức xuất hiện một nhân tài mới – Robert Schumann. Nhạc sĩ trẻ ấy đã làm sửng sốt người đương thời với cách viết mới lạ, với nhịp điệu “rối rắm” trong các khúc nhạc nhỏ - miniatures - dành cho đàn dương cầm.


 Trong các tác phẩm của mình, Schumann là người hiếu động, hiếu kỳ, đồng thời là thi sĩ, người kể chuyện xuất sắc và là nhà tâm lý tinh tế. Bằng hình tượng âm thanh, Schumann đã miêu tả chính xác những biến chuyển bất thường của khí sắc và của tình cảm.


 Tschaikowski nhận xét:


 - Nhạc của Schumann bao quát toàn bộ những hình thức mới trong âm nhạc, đề cập đến những vấn đề mà người đi trước ông chưa nói đến. Chúng ta nghe thấy trong nhạc của ông tiếng vang của những diễn biến sâu sắc trong đời sống tinh thần, những hoài nghi và thất vọng cùng những hoài bão, lý tưởng đang xâm chiếm lòng người hiện nay.


RICHARD WAGNER (1813 - 1883)


 Richard Wagner là một trong những nghệ sĩ tiêu biểu của âm nhạc lãng mạn thế kỷ XIX ở châu Âu.


 Vấn đề đánh giá tài năng của Wagner tới nay vẫn đang được bàn cãi sôi nổi: hoặc ca ngợi hết lời hoặc là phủ nhận tất cả những gì ông sáng tác.


Richard Wagner là nhạc sĩ sáng lập ra trường phái mới trong lịch sử ca vũ kịch (opera): sự nhất quán giữa kịch bản, nhạc, diễn suất trên sân khấu sẽ làm tăng giá trị của nội dung kịch. Wagner là người đề xướng và thực hiện được việc ấy: ông viết kịch bản, sọan nhạc, chỉ huy dàn nhạc.


 Ngược – xuôi


 Rossini chơi đàn piano với bản tổng phổ vở Tannhãuser của Richard Wagner. Ông nghe không chút hứng thú. Một học sinh của ông nói:


 - Thưa thầy, bản tổng phổ để ngược ạ.


Rossini đáp:


 - Khi trước tôi để xuôi, nhưng nghe cũng không lọt tai.


 Một nhạc sĩ tài ba


 Khác với nhạc sĩ Rossini và nhà phê bình Hansblick - những người không thíoch âm nhạc của Wagner. Roland hết lời ca ngợi Wagner. Ông nói:


 - Đó là một nhạc sĩ tài ba, có năng khiếu tuyệt vời về thi ca với sức sáng tạo mãnh liệt. Tâm hồn của ông tràn đầy nhiệt tình của vũ trụ.


 Huyền bí


Đề tài những vở nhạc kịch của Wagner không liên quan tới thời sự. Chúng nảy sinh từ kho tàng văn học dân gian Đức, ví dụ từ câu chuyện cổ tích về người thủy thủ như trong vở “Người Hà Lan phiêu bạt” hay từ những truyền thuyết Đức như các vở nhạc kịch cùng tên “Tannhãuser”, “Lohengrin”, “Chiếc vòng Nibelungen”, “Walkũre”, “Hoàng hôn của các thần linh”,.v.v…


 Âm nhạc của Wagner huyền bí như chính các câu chuyện cổ tích và truyền thuyết. Cuộc đời của Wagner cũng gắn kết một cách huyền bí với con số 13 (con số mà người châu Âu cho là hay mang lại rủi ro, bất hạnh). Richard Wagner sinh năm 1813, bản thân họ và tên Richard Wagner cũng gồm 13 chữ cái ghép lại. Wagner hoàn thành vở nhạc kịch vào ngày 13.4.1845 và qua đời vào ngày 13.2.1883.


ADOLPH MENZEL (1815 - 1905)


 Khi còn sống, Menzel nổi tiếng với 400 bức minh họa cho cuốn sách “Friedrich Đại đế” của Franz Kupler.


 Những tranh phong cảnh và cảnh nội thất của Menzel với cách xử lý ánh sáng vừa táo bạo, vừa tinh tế được coi là những dấu hiệu báo trước sự phát triển của Trường phái ấn tượng.


 Menzel là một trong những họa sĩ Đức đầu tiên nhận ra những tính chất đáng vẽ thành tranh của nền công nghiệp (Nhà máy thép, 1857).


 20 năm – 20 phút


 Adolph Menzel hứa quyên góp, nhưng rồi quên khuấy đi mất. Người ta đến thăm và nhắc ông.


 Menzel ngồi vẽ luôn. Sau 20 phút ông vẽ xong bức tranh và đòi giá 250 Taler. Người kia nhăn trán nói:


 - Hình như quá nhiều tiền so với 20 phút làm việc.


 Họa sĩ đáp:


 - Thưa ông, để vẽ xong bức tranh trong 20 phút tôi đã phải luyện vẽ mất 20 năm.


KARL MARX (1818 - 1883)


 Karl Marx là nhà triết học, kinh tế học, nhà chính trị Đức gốc Do Thái. Ông lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản quốc tế, Marx là người tìm ra quy luật riêng biệt về sự vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và xã hội tư bản do phương thức đó đẻ ra. Ông còn là người phát hiện ra quy luật phát triển lịch sử loài người. Engels (Anghen) đánh giá:


 - Người nào chỉ phát hiện được một trong hai quy luật đó cũng đã quá là hạnh phúc.


 Nhưng Marx lại thích…


 Karl Marx sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 trong một gia đình Đức gốc Do Thái ở thành phố Trier. Năm 17 tuổi, Marx tha thiết yêu Jenny von Westphalen, bạn thân của chị ruột mình. Jenny xinh đẹp, thuộc giới thượng lưu và hơn Marx 4 tuổi.


 Những hiểu biết của Marx về tư bản chủ nghĩa được viết trong bộ “Tư bản” (3 tập). Đó là tác phẩm có giá trị lớn mà Marx đã hoàn thành trong cảnh nghèo túng ở London nước Anh. Khi bộ sách ra đời, Jenny rất vui và nói:


 - Nếu như Marx chịu khó gom góp thì cũng có thể trở thành nhà tư bản, nhưng Marx lại thích bỏ công ra viết bộ “Tư bản” hơn.


 Bản tự bạch của Karl Marx


(Tự bạch là trò chơi mang tính trí tuệ và rất tế nhị. Người hỏi và người trả lời đều thông qua câu hỏi và câu trả lời để nói ý mình. Các câu hỏi gắn liền với nhau buộc người trả lời phải có suy nghĩ, nếu không các câu trả lời sẽ mâu thuẫn với nhau. Bản tự bạch này Marx viết trả lời con gái cưng Jenny năm 1865)


Đức tính nào cha quý nhất? Giản dị


Đức tính nào cha quý nhất ở người đàn ông? Nghị lực


Đức tính nào cha thấy quý nhất ở người đàn bà? Thông minh, dễ thương


Đặc điểm chủ yếu của cha? Kiên nhẫn


Quan niệm của cha về hạnh phúc? Phải chiến đấu


Quan niệm của cha về bất hạnh? Đành khuất phục


Tính xấu mà cha dễ tha thứ nhất? Nhẹ dạ


Tính xấu mà cha ghét nhất? Qụy lụy


Người mà cha ghét? Martin Tuppler


Công việc mà cha yêu thích? Lục lọi sách


Nhà thơ mà mà cha yêu thích? Shakespaere, Goethe, Eschyle


Nhà văn mà mà cha yêu thích? Diderot


Nhân vật nammà cha yêu thích? Spactakus, Kepler


Nhân vật nữ mà cha yêu thích? Gretchen


Thứ hoa mà cha yêu thích? Nguyệt quế


Mầu mà cha yêu thích? Đỏ


Tên người mà cha yêu thích? Jenny, Laura


Món ăn mà cha thích? Cá


Câu cách ngôn mà cha thích? Không có gì thuộc về con người mà xa lạ với tôi (tôi hiểu bản chất con người - Nguyên văn tiếng La Tinh).


Câu châm ngôn mà cha thích? Phải hoài nghi tất cả (tiếp thu có chọn lọc, có phê phán - Nguyên văn tiếng La Tinh).


 Kim chỉ nam thời chúng tôi


 Thế hệ chúng tôi sống trọn 10 năm hoà bình (1954 - 1964). Thời ấy, Karl Marx là thần tượng vĩ đại duy nhất của chúng tôi. Học sinh nào cũng chép câu danh ngôn sau của Karl Marx:


 - Trong khoa học không có con đường nào rộng rãi thênh thang. Chỉ có người nào không sợ gian khổ dám leo theo những con đường núi độc đạo dựng đứng, người đó mới mong vươn tới được đỉnh cao chói lọi của khoa học.


OTTO VON BISMARCK (1818 - 1898)


 Học Luật ở Gõttingen và Berlin, làm ở Tòa án Berlin năm 1835, viên tể tướng Otto von Bismarck của nước Phổ dưới triều vua Wilhelm I quan niệm:


 - Những vấn đề lớn của thời đại không giải quyết bằng lời nói và nghị quyết, mà phải bằng hành động, nếu cần thì bằng “Sắt và Máu”.


 Ngay khi Bismarck còn sống đã có tới 600 quyển sách viết về thân thế và sự nghiệp của Bismarck – người có công thống nhất nước Đức, đưa nó thành một thế lực lớn ở châu Âu và có ảnh hưởng tới chính trường quốc tế.


 Quân thù – địch thủ


 Đầu những năm 70 của thế kỷ XIX, có viên tướng người Áo hỏi tể tướng Phổ Bismarck một cách hóm hỉnh về huân, huy chương của Bismarck:


 - Thưa ngài, có phải đó là thành tích trước quân thù?


 Bismarck đáp:


 - Đó là thành tích đánh đổ các địch thủ ở Frankfurt bên bờ sông Main (ám chỉ các địch thủ trong quốc hội Đức thời bấy giờ)


 Ngoại lệ


 Trong thời gian chiến tranh, có một bá tước phàn nàn với Bismarck rằng huân chương Cây thập tự sắt (Das Eiserne Kreuz) được tặng thưởng cho nhiều người không xứng đáng. Tể tướng đáp:


 - Đó là vì những lý do đạo đức và đẳng cấp, và cả do uy quyền nữa, thí dụ như nhà vua và ta đều chẳng có cái nào.


THEODOR FONTANE (1819 - 1898)


 Năm 1827, khi cậu bé Theodor 8 tuổi, cả gia đình (Hugonotten) rời Pháp sang định cư ở Đức.


 Fontane học ở Gymnasium, sau đó theo học ngành dược và trở thành dược sĩ. Mãi tới năm 1841, Fontane mới đến với văn chương. Tuy muộn, nhưng Fontane để lại cho hậu thế gần 20 tiểu thuyết và truyện ngắn.


 Fontane nổi tiếng về tiểu thuyết hiện thực phê phán và là người có ảnh hưởng tới sự nghiệp văn chương của Thomas Mann.


 Nhân vật trong các tác phẩm của Fontane thuộc nhiều tầng lớp: quý tộc sa sút, tư bản, tiểu tư sản. Với giọng văn hài hước và hoài nghi, phân tích tâm lý sâu sắc, đối thoại sinh động, những tác phẩm của ông nhiều kịch tính, nêu lên những xung đột xã hội do tình yêu gây ra.


 Nhà văn - thầy thuốc


 Nhà văn Fontane và thầy thuốc Virchow đều thích một quý bà. Thỉnh thoảng họ lại “ganh nhau”. Có lần Virchow nói:


 - Nếu bà ta bệnh vì đọc những trang sách ngán ngẩm của ông thì tôi sẽ ra tay ngay làm bà ta khỏe lại!


 Cũng chẳng phải vừa, Fontane đáp:


 - Nếu bà ta có chết vì thuốc của ông thì tôi sẽ viết về bà ta để bà ta bất tử.


RUDOLF VIRCHOW (1821 - 1902)


 Rudolf Virchow là giáo sư ngành y ở Đại học tổng hợp Berlin, ông là người sáng lập môn chẩn đoán bệnh cơ thể học. Những lý thuyết chẩn đoán bệnh bằng tế bào của ông có ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành y trong thế kỷ XX.


 Người duy nhất thế gian


 Trong một kỳ thi có thí sinh không chuẩn bị kỹ bài nhưng vẫn vào thi. Giáo sư bác sĩ Virchow hỏi:


 - Anh hãy kể về chức năng của mật.


 Sinh viên lắp bắp nói:


 - Thưa giáo sư, tôi học rất thuộc chức năng của mật, nhưng giờ hồi hộp quá nên chẳng còn nhớ gì cả.


 Giáo sư Virchow nói đệm hài hước:


 - Anh thật là bất hạnh, anh là người duy nhất thế gian đấy – người hiểu biết rộng mà chẳng nhớ gì cả.


 Hỏi thi


 Virchow bị cảm lạnh nặng nhưng vẫn đến hỏi thi. Ông hỏi thí sinh:


 - Anh nhìn và nghe thì biết tôi bệnh ra sao. Nếu là bác sĩ thì anh có lời khuyên gì?


 - Thưa giáo sư, ông nên về nhà và nghỉ tĩnh dưỡng.


 Virchow cho thí sinh đỗ.


 Giả sử


 Thí sinh nêu tên thuốc. Virchow nói:


 - Anh sẽ cho thuốc gì nữa, nếu bệnh nhân không khỏi?


 Thí sinh nêu tên thuốc mà Virchow ưa dùng kê đơn cho bệnh nhân. Ông hỏi tiếp:


 - Giả sử bệnh vẫn không hết thì làm sao?


 - Lúc ấy tôi chỉ còn cách gửi bệnh nhân tới giáo sư bác sĩ Virchow.


 Với câu trả lời ấy, thí sinh đỗ.


 Dịch ngay


 Người ta xin ý kiến Virchow về một cuốn sách ngành y. Tác giả cuốn sách dùng nhiều từ khó hiểu với lối hành văn khô khan. Virchow nói:


 - Ối chà, đó là một công trình khoa học có giá trị quan trọng. Phải cho dịch ngay ra tiếng Đức!


WILHELM BUSCH (1832 - 1908)


 Trong số những người thành công trong hội họa, rất ít người thông qua tranh vẽ của mình khiến người ngắm tranh mỉm cười tủm tỉm suy ngẫm bởi những gì đứng sau bức tranh đó. Nói cách khác:


 - Rất ít họa sĩ đồng thời là nhà hiền triết. Và Wilhelm Busch là một trong những họa sĩ đó.


 Toàn bộ tranh và thơ của Wilhelm Busch - nét vẽ điêu luyện, lời thơ đầy tính hài hước triết lý - tạo thành một vở hài kịch của con người với tất cả tình thương, lòng cảm thông, máu trào lộng, tính hài hước.


 Nhà hiền triết xứ Wiedensahl - những người cùng thời gọi ông như vậy - có một chỗ đứng trang trọng rất đặc biệt trong lịch sử hội họa Đức.


 Trắng - đen


 Wilhelm Busch học ở trường làng. Một hôm, thầy giáo giảng cho cả lớp nghe ý nghĩa của các màu:


 - Các em có biết tại sao cô dâu lại mặc đồ cưới màu trắng?


Trong lúc các trò còn ngơ ngác, thầy giảng:


 - Nào, chuyện đó thật đơn giản. Trắng là màu của niềm vui, mà ngày cưới là ngày đẹp nhất trong đời của người thiếu nữ. Vì vậy mà cô dâu mặc đồ cưới mầu trắng.


Thầy vừa dứt lời, trò Wilhelm giơ tay hỏi:


 - Thưa thầy, tại sao chú rể lại mặc com lê mầu đen trong ngày cưới?


 Không còn hứng thú nữa


Wilhelm Busch là họa sĩ châm biếm, đồng thời là nhà thơ. Có người hỏi tại sao ông ngại gần mọi người, ông đáp:


 - Tôi làm quen với quá nhiều người đồng tính luyến ái, vì vậy tôi đâm ra phát ngán, không còn hứng thú nữa.


 Chỉ cần vung cán chổi


Có người khen kỹ thuật vẽ tuyệt hảo của Wilhelm Busch, ông chỉ cần thêm một nét vẽ là từ khuôn mặt cười trở thành khuôn mặt khóc. Họa sĩ mỉm cười nói:


 - Cái đó ngày xưa mẹ tôi chỉ cần vung cán chổi.


JOHANNES BRAHM (1833 - 1897)


 Johannes Brahm là con của một nhạc công thành phố cảng phương Bắc Hamburg, nên từ thưở niên thiếu ông đã nghe nhiều bài hát dân ca, nhạc nhảy của Hungary, nhạc Walzer trữ tình.


 Brahm sống trong thời kỳ hết sức phức tạp của lịch sử Đức. Sau cách mạng 1848 - 1849, thế lực phản động ở nước Đức ngày càng phát triển. Trong âm nhạc cũng có nhiều trường phái trái ngược nhau, mâu thuẫn nhau gay gắt như trường phái lãng mạn Weimar, trường phái kinh viện Leipzig. Trong lúc các trường phái này đang hưng thịnh thì Brahm kiên quyết chủ trương tiếp tục truyền thống của Beethoven. Trong sáng tác của Brahm ta thấy rõ tình yêu tổ quốc, lòng ngưỡng mộ sự phong phú của nền văn hóa dân tộc Đức và thái độ trung thành tiếp bước truyền thống tốt đẹp của những thế hệ đàn anh. Chính vì vậy mà Bulow đã gọi bản Giao hưởng số 1 của Brahm là Giao hưởng số 10 của Beethoven.


 Quan niệm của Brahm


 Toàn bộ sáng tác của Brahm chính là gạch nối âm nhạc cổ điển thế kỷ XIX với âm nhạc mang tính kế thừa truyền thống ấy trong thế kỷ XX.


 Với dân tộc mình, Brahm nói:


 - Trong đời tôi có hai sự kiện lớn: Đó là việc thống nhất nước Đức, việc hoàn thành xuất bản những tác phẩm của Johann Sebastian Bach.


 Với âm nhạc, ông nói:


 - Nếu chúng ta không thể nào viết hay và đẹp như Mozart, ít nhất chúng ta hãy cố gắng viết cẩn thận như ông.


 … còn nướng chín tôi


 Nhạc của Brahm thông minh và quả cảm, dịu dàng và sôi nổi, kiên nghị và trong sáng; nó mang dáng dấp của dân ca và kế thừa truyền thống Đức, chính vì vậy nhạc của Brahm được nhiều người đương thời ưa thích.


 Một hôm, Brahm đến thăm một gia đình quen biết. Gia đình chủ nhà rất thích nhạc Brahm, rất hân hạnh được đón tiếp nhạc sĩ tại nhà nên đã tự tay làm một chiếc bánh, trên mặt bánh là bản nhạc của Brahm. Chủ nhà mời Brahm tự tay cắt bánh. Brahm vui vẻ nhận lời và nói với giọng hài hước:


 - Không những bà chơi nhạc của tôi, hát bài của tôi, mà còn nướng chín tôi.


 Rượu hiệu Brahm


 Frankfurt am Main là một trong những trung tâm thương mại lớn ở Đức. Nhiều ngân hàng lớn đóng trụ sở ở đây. Ladenburg là chủ một trong những ngân hàng, đồng thời cũng là một người rất say mê âm nhạc.


 Trong thời gian Brahm lưu lại Frankfurt am Main, Ladenburg ngỏ lời mời Brahm tới dự bữa tối. Brahm nhận lời. Chủ nhà rất lấy làm vinh dự được tiếp một nhạc sĩ lớn tại phòng khách nhà mình. Để chứng minh cho sự hiếu khách, Ladenburg cho lấy từ hầm rượu những loại rượu ngon nhất, rồi đặt trên bàn những chai còn bám đầy bụi thời gian.


 Brahm có thói quen trước khi ăn uống phải cởi cravát và nút áo cổ cho thoải mái.


“Kính thưa ông tiến sĩ thân mến” chủ nhà mở đầu, “Sự có mặt của ngài ngày hôm nay là một vinh dự lớn đối với gia đình tôi. Với niềm vinh dự này, tôi cho lấy trong hầm rượu tất cả những loại rượu ngon nhất, xin ngài cứ thưởng thức tự nhiên. Trong số rượu bày ở đây có cả loại rượu tên Brahms.”


 Nhạc sĩ liếc nhìn quanh bàn và dừng lại nơi chủ nhà ngồi, nâng cốc lên uống với vẻ sành điệu:” Ngon tuyệt!” - nhạc sĩ gật gù nói với giọng hài hước:” Thật là hạnh phúc được ông cho uống rượu Brahms, rất mong được ông cho thưởng thức nốt loại rượu hiệu Beethoven.”


ROBERT KOCH (1843 - 1910)


 Robert Koch là nhà vi trùng học người Đức đã công bố kết quả nghiên cứu của mình về vi trùng gây ra bệnh lao vào năm 1882.


 Do những công lao đóng góp cho ngành vi trùng học, năm 1905 Robert Koch được giải thưởng Nobel về Sinh lý học và Y học.


 Lời thề Hypocrate


 Robert Koch là một thầy thuốc giỏi và là giám đốc Viện truyền nhiễm từ năm 1891. Ông rất tận tâm cứu chữa cho tất cả bệnh nhân, dù đó là người nghèo hay người giàu. Có lần công tước Wilhelm mời ông đến chữa bệnh, Công tước nói:


 - Tôi hy vọng ông sẽ chữa bệnh cho tôi khác hơn so với những kẻ nghèo khó ở Viện truyền nhiễm của ông.


 Koch đáp:


 - Thưa Công tước, tôi sợ không làm được điều đó, vì tôi phục vụ bệnh nhân của mình như phục vụ các vị vua.


 Bệnh không chữa được


 Một hôm có “bà lớn” đến khám bệnh ở phòng mạch của Robert Koch. Bác sĩ niềm nở hỏi thăm:


 - Quý bà có sao không ạ?


 - Thưa giáo sư, người ta vẫn thường nói “Thưa bà lớn” với tôi.


 Bác sĩ đáp:


 - Đáng tiếc là tôi không chữa được bệnh ấy!


 Bác sĩ mời người khác vào khám và không để “bà lớn” nói tiếp.


CARL FRIEDRICH BENZ (1844 - 1929)


 Carl Friedrich Benz là con của một người lái tầu hỏa ở Karlruhe. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường Cao đẳng kỹ thuật, Benz đã mơ ước sáng chế ra loại máy tốt hơn máy hơi nước. Sau khi ra trường, năm 1872, Benz mở xưởng riêng. Ông để hết tâm trí mầy mò sáng chế chiếc máy mà thời sinh viên từng mơ ước. Năm 1878, ông chế tạo thành công động cơ 2 thì. Vào đêm giao thừa năm 1879, chiếc xe ô tô đầu tiên với động cơ 2 thì được đem ra chạy trên đường phố.


 Năm 1883, Benz thành lập xí nghiệp sản xuất ô tô Benz ở Mannheim. Năm 1885 ông chế tạo thành công động cơ bốn thì. Mùa xuân năm 1885, chiếc xe ba bánh lắp động cơ bốn thì chạy trên đường phố. Chuyến chạy xa đầu tiên do vợ ông cùng hai người con trai mười ba và mười lăm tuổi điều khiển. Xe chạy từ Mannheim tới Pforzheim. Đọan đường ấy dài 180 km mà ba mẹ con chạy từ sáng sớm đến chập tối mới tới nơi.


 Chiếc xe Benz bốn bánh đầu tiên được sản xuất năm 1893, và từ đó tới nay ô tô có bốn bánh.


 Cảnh sát giao thông cấm chạy nhanh


 Khi chiếc xe Benz đầu tiên chạy trên phố, mọi người đổ xô ra xem chiếc xe chạy không có ngựa kéo.


 Hồi ấy người ta cho chuyện đi ô tô là phiêu lưu mạo hiểm. Có người khi bước lên xe còn hồi hộp bắt tay tạm biệt bà con, người quen và nghĩ:


 - Ai mà biết trước được, chắc gì mình còn sống mà gặp lại mọi người, chuyến đi thú vị thật, nhưng đầy nguy hiểm.


 Để đề phòng tai nạn, cảnh sát giao thông hồi đó chỉ cho xe chạy sáu kilômét giờ trong thành phố và phải có người chạy trước rung chuông báo để khách bộ hành tránh sang bên đường.


 Xe Benz có thể chạy nhanh hơn, nhưng với người Đức: pháp luật là pháp luật. Kỹ sư Benz buồn bực lắm. Một hôm, ông nghĩ ra một kế hay: mời cảnh sát giao thông đi dạo bằng xe Benz.


 Cảnh sát bước lên xe, vui vẻ ngồi nói chuyện trong khi xe chạy. Nhưng rồi họ chợt thấy có xe ngựa chạy ngang xe ô tô của kỹ sư Benz, rồi xe ngựa chạy vượt lên. Lúc đó, cảnh sát hỏi:


 - Này ông Benz, xe ông có chạy vượt được xe ngựa không?


 Benz đáp:


 - Thưa chạy được, nhưng tôi không được phép. Cảnh sát giao thông cấm.


 Cảnh sát nói lớn:


 - Thì cứ cho xe chạy nhanh hơn trước đi!


 Benz nhấn ga cho xe chạy vượt chiếc xe ngựa. Và cũng từ đó ô tô được phép chạy nhanh.


MAX LIEBERMANN (1847 - 1935)


 Max Liebermann là một trong những họa sĩ tiêu biểu nhất của trường phái Ấn tượng Đức. Lúc sinh thời, Max Liebermann được gọi là “Sứ giả của sự xấu xa”, chỉ vì năm 1872 ông cho trưng bày một bức tranh lớn có tiêu đề “Những người vặt lông ngỗng”.


 Đối với chúng ta ngày nay, Max Liebermann là một họa sĩ lớn về vẽ cảnh sinh hoạt đời thường của tầng lớp bình dân. Gam mầu của ông chuyển từ màu nâu sẫm tới sáng dần. Vào thời kỳ cuối, màu sáng bạc là đặc điểm rõ nét ở nhiều bức tranh của ông.


 Điều khó nhất


 Vợ một chủ nhà băng ở Berlin đến thăm xưởng vẽ của Max Liebermann và nói nguyện vọng của mình muốn có bức tranh để treo trong ngôi nhà mới xây.


 Sau hai giờ suy nghĩ, bà ta vẫn chưa quyết định. Bà còn “tra tấn” họa sĩ bằng những câu hỏi vô vị làm cho ông phải nén lòng mới giữ được lịch sự. Cuối cùng bà ta hỏi:


 - Thưa ông, cái gì khó nhất đối với một họa sĩ?


 Thở phào nhẹ nhõm, Max Liebermann trả lời:


 - Đó là việc bán tranh.


 Ông nội


 Khi bản phác thảo chân dung nhà thơ Richard Dehmel đã hoàn tất nhưng nhà thơ lại cứ muốn sửa vài nét. Max Liebermann nói:


 - Ta nên kết thúc ở đây. Hay là ông muốn trở thành ông nội, bà nội.


 Lỗi nghề nghiệp


 Max Liebermann nổi tiếng về vẽ chân dung. Ông là họa sĩ có cảm nhận rất sắc bén và cũng là người thường có những câu nói hóm hỉnh tinh đời.


 Lieber vẽ chân dung bác sĩ phẫu thuật Sauerbruch. Vì phải ngồi bất động lâu để cho họa sĩ ngắm vẽ, bác sĩ cứ cử động, thay đổi thế ngồi. Max Liebermann nói:


 - Đừng thế! Ông biết đấy, nếu ông có sai sót trong nghề nghiệp thì cỏ sẽ mọc xanh phủ kín đi, còn lỗi của tôi cả trăm năm sau người ta vẫn nhìn thấy.


SIGMUND FREUD (1856 - 1939)


 Sigmund Freud là nhà phân tâm học Áo gốc Do Thái. Theo Freud, những người bị bệnh liên quan đến thần kinh đều do bị ức chế thèm muốn. Vì vậy phương pháp điều trị là giải tỏa các ức chế đó. Freud đã nghiên cứu và phát triển phương pháp trên thành một liệu pháp mà ông đặt là “phân tâm” (Psychoanalysis).


 Sau 40 năm đầy sóng gió, vất vả, thường xuyên tiến hành tự phân tâm trên chính mình, Sigmund Freud đã thành công. Năm 1908, hội nghị quốc tế về phân tâm học đầu tiên được tổ chức, và Freud trở thành cha đẻ của ngành Phân tâm học. Những sách ông viết về học thuyết của mình là “Giải thích về những giấc mơ”, “Tổ vật và các vật huý kị”, “Tâm lý cộng đồng và phân tích” cái tôi” “, “Nhập môn về phân tâm học”.


 Phân tâm học của Freud có ảnh hưởng tới văn học nghệ thuật và y học thế kỷ XX. Nhờ nó mà ngành y tiến được một bước rất dài với tâm lý liệu pháp (Psychotherapy).


 Thèm muốn và giấc mơ


 Sigmund Freud là bác sĩ nổi tiếng nhất của Trường phái Viên (Wien). Qua tác phẩm của mình, ông cho ta thấy những bản năng của con người đằng sau cái bề ngoài có vẻ rất hiện đại và văn minh. Ông giải thích nét cơ bản trong học thuyết phân tâm:


 - Khi những thèm muốn của chúng ta không thể được thỏa mãn vì những lý do luân lý, giáo dục, phong tục, tôn giáo, ta phải kìm hãm và đẩy lui chúng vào tiềm thức. Những thèm muốn xuất hiện dưới nhiều hình thức. Thông thường những thèm muốn bị ức chế hay xuất hiện lại trong giấc mơ.


 Thiêu người – đốt sách


 Freud sinh ở Mãhren thuộc Freiberg nước Đức, nhưng hành nghề ở Viên thủ đô nước Áo. Ông là người gốc Do Thái. Khi Hitler lên nắm chính quyền, người Do Thái bị bắt giam trong các trại tập trung. Sản phẩm tinh thần của họ cũng không thoát: Sách của họ bị gom lại và đem đốt. Sách của Freud cũng chung cảnh ngộ. Nhìn cảnh đốt sách, Freud nói:


 - Đúng là có tiến bộ nhiều! Ở thời trung cổ người ta sẽ đưa tôi lên dàn hỏa thiêu, còn ngày nay người ta thỏa mãn với việc đốt sách.


HEINRICH RUDOLPH HERTZ (1857 - 1894)


 Có thể nói Hertz là một trong những người sáng lập ra ngành phát thanh (mặc dù chính ông chưa từng được nghe phát thanh bao giờ), vì bộ rung Hertz là cơ sở cho sự phát triển của ngành này.


 Thật đáng … tiếc


 Chàng thanh niên người thành phố cảng Hamburg Rudolph Hertz học nghề tiện và ước mơ trở thành thợ tiện giỏi.


 Nhưng rồi Hertz lại thích nghiên cứu, và trở thành học trò xuất sắc của nhà bác học Helmholz. Hertz là người tìm ra sóng điện từ và hiệu ứng quang điện.


 Khi Hertz rất nổi tiếng trong lĩnh vực sóng điện từ với bộ rung Hertz, bác thợ cả dạy Hertz nghề tiện khi xưa nói:


 - Thật đáng tiếc. Nếu cậu ta không chuyển sang nghiên cứu vật lý thì đã trở thành thợ cả trong nghề tiện.


MAX PLANCK (1858 - 1947)


 Max Planck là nhà vật lý lý thuyết Đức gốc Do Thái. Ông quan niệm rằng vật chất tồn tại dưới 2 dạng bổ sung cho nhau: dạng hạt (còn gọi là chất) và dạng trường (còn gọi là bức xạ). Bức xạ và chất tương tác với nhau tạo ra mọi hiện tượng. Lý thuyết trường lượng tử do ông đề xướng (công bố ngày 14.12.1900 tại Hội vật lý Đức ở Berlin) là một trong các khám phá quan trọng nhất của thế kỷ XX, nó có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của vật lý hiện đại. Vì vậy người ta gọi lý thuyết đó là lý thuyết trường lượng tử Planck. Hằng số Planck là hằng số phổ biến của thuyết lượng tử. Năm 1918, ông được giải thưởng Nobel vì những cống hiến lớn lao trong ngành vật lý. Ông được coi là cha đẻ của vật lý lượng tử.


 Đừng đến đây làm gì


 Say mê nghiên cứu, nên có lúc Planck đãng trí, chỉ nhớ giờ dạy học mà không nhó¬ mình thuyết trình ở giảng đường nào. Ông vào văn phòng trường Đại học Tổng hợp để hỏi:


 - Xin bác cho biết, hôm nay giáo sư Planck thuyết trình thuyết trình ở giảng đường nào?


 Ông già ngồi trong văn phòng nhìn Planck từ đầu đến chân, rồi nhún vai đáp:


 - Này anh bạn trẻ, đừng đến đây làm gì. Còn trẻ như anh thì làm sao hiểu nổi lý thuyết trường lượng tử của Planck!


 Tôn giáo và khoa học tự nhiên


 Các nhà vật lý tin rằng vũ trụ là một thực tại khách quan, tồn tại độc lập với con người. Các nhà vật lý đi tìm cái gì tạo dựng và điều hành vũ trụ. Mỗi người nói theo cách của mình. Planck bảo:


 - Tôn giáo và khoa học tự nhiên gặp gỡ trong vấn đề đi tìm tự tính của một năng lực tối cao điều hành thế giới. Cả hai đều tới những điểm chung là: thứ nhất, có một trật tự thế giới tồn tại độc lập với con người; thứ hai, tự tính của trật tự thế giới đó không bao giờ được hiểu thấu.


HEINRICH ZILLE (1858 - 1929)


 Không họa sĩ Đức nào hiểu biết đời sống của những người lao động ở thành phố Berlin như Heinrich Zille. Ông dùng nét vẽ của mình thể hiện sống động những cảnh đời thường của người dân lao động với óc hài hước, châm biếm, bằng cái nhìn cảm thông đầy nhân bản của nghệ sĩ tài ba.


 Năm 1927, ông xuất bản tập tranh vẽ “Berlin xưa và nay”. Mặc dù chủ đề tranh của ông rất đời thường, nhưng với nét vẽ điêu luyện biểu hiện được cái thần sắc của sự việc nên tranh của ông được mọi người yêu thích.


 Heinrich Zille là viện sĩ Viện Hàn lâm nghệ thuật Phổ từ năm 1924.


 Ai rồi cũng phải chết!


 Zille đến thăm một người quen trước kia bán hoa ở phố Friedrichstrasse, hiện đang ốm nặng và khó lòng qua khỏi. Họa sĩ an ủi:


 - Bà biết đấy. Tất cả mọi người, ai rồi cũng phải chết!


 Bà kia bực mình nói:


 - Điều đó ai cũng biết, nhưng giá như người ta có thể chết đi sống lại hàng chục lần thì chết lần đầu tiên chẳng đáng nói làm gì.


 Sống bằng…


 Có người hỏi Zille về sự khác nhau giữa tài năng và năng khiếu, Zille trả lời:


 - Tài năng sống bằng tài của mình, còn năng khiếu sống bằng lương tháng.


 Tất nhiên …


 Zille vào một nhà hàng sang trọng. Người phục vụ tới và hỏi:


 - Thưa ông, ông uống bia, rượu vang, rượu Kognak?


 Zille thản nhiên đáp:


 - Tất nhiên, theo thứ tự ấy!


 Bốn trong số đó… là của Zille


Trong buổi tiệc mừng tân gia, Zille đứng trò chuyện suốt buổi tối với người đốc công và biết ông này có bảy người con. Zille khuyên:


 - Ăn tiệc to thế này thì cũng phải mang về cho con chút ít chứ!


 Người kia giấu ba chiếc bánh mì dăm bông vào trong người. Zille nhìn và nói:


 - Thế là thế nào? Bốn đứa nhịn phải không?


 Rồi họa sĩ dúi tiếp cho đốc công bốn chiếc bánh mì dăm bông nữa.


 Ông chủ đi ngang qua, nghe lõm bõm con số bảy, ông hỏi đốc công:


 - Ông có tới bảy đứa con à? Thế thì lo cho chúng cũng bở hơi tai!


 Đốc công tưởng chủ ám chỉ việc làm của mình, nên đáp:


 - Thưa ông chủ,… bốn trong số đó là của Zille.


CARL LUDWIG SCHLEICH (1859 - 1922)


 Schleich học Y và từng là phụ tá của Virchow. Năm 1900, ông là Trưởng khoa Ngoại bệnh viện Gross - Lichfelde.


 Ông và Braun nổi tiếng vì đã hoàn thiện phương pháp cắt những cơn đau thắt ở bệnh nhân.


 Schleich không những thành thạo cầm dao mổ, mà còn rất tinh tế trong ứng xử và trong hành văn. Ông là người viết tiểu thuyết và tiểu luận có tài.


 … chuyên hãm phanh


 Có một bà tới thăm bác sỹ Schleich. Trong lúc vui vẻ bà hỏi:


 - Thưa bác sĩ, liệu có thể gọi thầy thuốc là người kiểm soát vé hành khách trên chuyến tàu sang bên kia thế giới?


 - Bà nhầm rồi, tôi chỉ mong được là người phụ việc trên chuyến tàu ấy với chức năng chuyên hãm phanh.


THOMAS MANN (1875 - 1955)


 Thomas Mann là nhà văn hiện thực phê phán lớn nhất của Đức ở thế kỷ XX, ông tiếp tục truyền thống nhân đạo chủ nghĩa của Goethe, Schiller, Hõlderlin, có ý thức về công việc sáng tác. Ông quan niệm nhà văn phải sáng tác vì “chân, thiện, mỹ, vì văn minh, vì hoà bình và lòng tôn trọng con người.”


 Tiểu thuyết “Dòng họ Buddenbrock” (in năm 1901) là tác phẩm đầu tay của ông. 28 năm sau (1929) ông được giải Nobel văn chương nhờ cuốn tiểu thuyết nổi tiếng ấy.


 Chẳng có gì là lạ!


 Hồi còn đi học, có lần thầy giáo hỏi cậu học trò Heinrich Mann:


 - Tôi lấy làm lạ, tại sao bài văn viết tả con chó của em lại giống hệt bài của Thomas! (Heinrich là anh ruột Thomas)


 Heinrich Mann trả lời:


 - Thưa thầy, điều đó không có gì là lạ, vì cả hai đều tả con chó của nhà em.


 Tôi không phải …


 Gehart Hauptmann đợi Thomas Mann ở nhà ga. Cả hai đều chưa gặp nhau lần nào. Sau khi chào hỏi xã giao nhau, Hauptmann kể đã hỏi hai người, rằng họ có phải là Thomas Mann không. Người thứ nhất nói:” Không, tôi không phải là ông ta.” Người thứ hai nói:” Tôi mong muốn được là ông đó.”


 Thomas Mann nói:


 - Chắc chắn một trong hai người đã đọc sách của tôi.


Hauptmann đáp:


 - Cái đó có thể lắm, nhưng ai trong số hai người ấy?


 Xin mời


 Những năm cuối đời, Thomas Mann sống ở Kilchberg. Một chủ nhà hàng bán thực phẩm rất muốn được làm quen với Thomas Mann – người được giải Nobel văn chương. Ông ta gửi qua bưu điện patê gan cho Thomas Mann kèm theo dòng chữ:” Xin ông dùng thử, nếu hợp khẩu vị, chúng tôi rất mong được ông đặt mua.”


 Để đáp lại thịnh tình của chủ nhà hàng kia, Thomas Mann gửi qua bưu điện một tập truyện ngắn với dòng chữ: “ Nếu ông thấy sách hay, xin mời ông tới cửa hàng sách” ghi ở tấm danh thiếp kèm trong gói bưu phẩm.


 Dòng họ Buddenbrock


 Vào thế kỷ XIX, Lũbeck là thành phố cảng thịnh vượng nhất trong các thành phố cảng ở phương Bắc nước Đức.


 Tiểu thuyết “Dòng họ Buddenbrock” vẽ lên bức chân dung: sự suy tàn tất yếu của tầng lớp tư sản và sự hình thành của tư bản độc quyền.


 Người dân Lũbeck cảm thấy mình bị xúc phạm. Họ bảo: - Thomas Mann hỗn láo, dám nói xấu quê hương mình. Thầy giáo dạy học ông nói:


 - Thomas Mann ngày xưa là một học trò chậm hiểu, không viết nổi một bài văn.


 Có nhà phê bình văn học viết:


 - Thomas Mann là người nói tiếng mẹ đẻ không sõi nên tiểu thuyết của ông toàn những điều nhảm nhí về những con người tầm thường.


ALBERT EINSTEIN (1879 - 1955)


 Nhà vật lý lý thuyết và toán học người Đức gốc Do Thái Albert Einstein là cha đẻ của thuyết Tương đối, thuyết Tương đối đã đặt nền móng cho vật lý hiện đại. Albert Einstein được coi là một trong những vĩ nhân của khoa học hiện đại.


Những ý tưởng khoa học cao siêu tưởng chừng cách biệt Einstein với mọi người, nhưng lối sống giản dị và những lời nói khôi hài, hóm hỉnh khiến Einstein giành được sự ngưỡng mộ và tình cảm của mọi giai tầng trong xã hội.


 Nếu bác có thời gian


 Theo Einstein, tất cả chỉ là tương đối, kể cả không gian và thời gian cũng như lực hấp dẫn vạn vật. Cái chúng ta gọi là tuyệt đối chỉ là tuyệt đối của thuyết Tương đối.


Một nhà báo nữ trẻ hỏi tác giả thuyết Tương đối:


 - Thưa bác, giữa thời gian và vô tận có sự khác biệt nào?


Với giọng đôn hậu của người bậc cha chú, nhà vật lý trả lời:


 - Con gái ơi, nếu bác có thời gian để giải thích cho cháu sự khác biệt đó thì sẽ là sự vô tận trước khi cháu hiểu điều đó.


 Và tôi có thể tin …


 Albert Einstein là một trong những nhà bác học vĩ đại nhất thế giới. Thuyết Tương đối của Einstein đã làm chấn động dư luận giới vật lý, nhiều người không hiểu nổi thuyết ấy, nhiều người nghi ngờ.


Một hôm, sau buổi thuyết trình về thuyết tương đối, có một người nói với Einstein:


 - Với trí thông minh của người mạnh khỏe, tôi không thể chấp nhận những cái mà nó không nhìn thấy.


Einstein đứng lặng một lát, rồi đáp:


 - Điều đó hình như cũng có lý. Nếu ông có thể đặt trí thông minh của ông lên trên bàn này, thì tôi có thể tin rằng ông có trí thông minh của người khỏe mạnh.


 Đơn giản hơn


 Trên một chuyến tàu từ Châu Âu sang Mỹ, mọi người đều mệt nhoài vì bị sóng biển nhồi lắc. Họ ngạc nhiên khi thấy một ông già quần áo xuềnh xoàng, nhưng dáng thông minh, thản nhiên ngồi hút thuốc, nghe nhạc. Sự ngạc nhiên chuyển sang thán phục khi họ biết đó chính là tác giả của thuyết Tương đối, thuyết làm khuynh đảo nhiều suy nghĩ trong ngành vật lý thế giới. Có người mạnh dạn hỏi Einstein:


 - Thưa ông trong thuyết Tương đối, nhiều và ít được hiểu như thế nào?


 - Ồ, có gì đâu! Đơn giản thôi: Mấy trăm sợi tóc trên đầu là ít, nhưng trong một ly nước giải khát chỉ cần có vài ba sợi tóc cũng là nhiều.


 Cần gì phải để ý đến


 Einstein vốn ăn mặc rất giản dị. Khi còn là một nhà vật lý bình thường, có người hỏi ông tại sao ăn mặc xuềnh xoàng như vậy. Ông đáp:


 - Một nhà vật lý bình thường như tôi thì ai để ý đến mà phải li về ăn mặc.


 Thuyết tương đối ra đời, Einstein nổi danh khắp thế giới, lại có người khác hỏi ông về chuyện tại sao lại xuềnh xoàng trong ăn mặc như vậy. Ông nói:


 - Giờ thì ai cũng chú ý đến tôi, nên tôi việc gì phải để ý đến ăn mặc.


 Nổi tiếng vì …


 Einstein rất mê phim của Saplin và viết thơ cho nghệ sĩ điện ảnh:"… Phim "Cơn sốt vàng” của ông ai xem cũng hiểu. Ông trở nên nổi tiếng chính vì tính dễ hiểu ấy."


 Nhận được thư, Saplin liền viết trả lời:


“Thuyết Tương đối của ông không mấy ai trên thế giới hiểu nổi, ông trở nên nổi tiếng chính vì sự khó hiểu ấy".


 Nhờ vậy …


 Năm 1915, Einstein công bố thuyết Tương đối của mình, gời đây chẳng còn gì là tuyệt đối nữa, kể cả không gian và thời gian. Năm 1921, Einstein nhận được giải thưởng Nobel vì những cống hiến lớn lao trong ngành vật lý thế giới.


 Một lần, một phóng viên đề nghị ông cho biết nhờ đâu ông đã tìm ra thuyết Tương đối. Ông đáp:


 - Mọi người có cái may mắn hơn tôi là hiểu rõ không gian và thời gian ngay từ khi còn nhỏ. Tôi do trí thông minh kém phát triển, nên lúc lớn rồi vẫn chưa hiểu thế nào là không gian và thời gian. Vì vậy tôi phải cố công tìm hiểu nó. Nhờ vậy mà tôi tìm ra thuyết Tương đối.


 Tạm dùng được


 Cái khổ của người nổi tiếng là luôn luôn bị phỏng vấn. Có một phóng viên đề nghị ông cho biết những tư tưởng vĩ đại thường đến trong óc ông vào những lúc nào trong ngày. Nhếch môi mỉm cười, ông đáp:


 - Suốt cả đời tôi, may mắn chỉ có được một tư tưởng tạm dùng được là thuyết Tương đối, còn phần lớn là những ý nghĩ bé nhỏ.


 Đa quốc tịch


 Khi đã nổi tiếng thế giới, Albert Einstein thường mất rất nhiều thời gian để trả lời phỏng vấn. Ông vốn gốc người Do Thái, sinh ra ở Ulm trên đất Đức. Năm 1933, khi Hitler lên nắm chính quyền, ông cũng như nhiều người Do Thái khác phải lánh mạn, ra nước ngoài sống. Ông sang Mỹ, năm1940 ông lấy quốc tịch Mỹ.


Vào khoảng 1950, có phóng viên hỏi ông về quốc tịch, ông nói:


-          Các ông đừng nghĩ vấn đề quốc tịch của tôi như thế là đã xong. Những năm còn lại của đời tôi, theo giấy tờ tùy thân thì tôi là người Mỹ. Nhưng sau khi tôi chết, nếu như những lý thuyết của tôi đề ra là đúng thì người Đức sẽ nói, tôi chính gốc là người Đức. Người Pháp sẽ nói tôi là công dân quốc tế. Nếu như sau này có những chứng minh chỗ thiếu sót, thì người Pháp sẽ nói tôi đã từng là người Đức, và người Đức sẽ nói tôi là một tên Do Thái.


(Còn tiếp)


Nguồn: Danh nhân thế giới. Lương Văn Hồng dịch và biên soạn. NXB Văn học, 2005.


 


 


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hòa bình khó nhọc - Nguyên Ngọc 17.06.2019
Người Trung Quốc xấu xí (9, kỳ cuối) - Bá Dương 12.06.2019
Người Trung Quốc xấu xí (8) - Bá Dương 11.06.2019
Xong cả - Võ Phiến 07.06.2019
Một thời thanh xuân - Châu La Việt 04.06.2019
Nhớ Hoàng Tiến - Vũ Thư Hiên 27.05.2019
Ghi chép trong chuyến đi Mỹ - Nguyễn Quang Thiều 26.05.2019
Thương nhớ mười hai: Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt - Vũ Bằng 03.02.2019
Bình “Đào lê mỹ tửu” của Thạch Lam - Vũ Bằng 27.01.2019
Tam Ích Lê Nguyên Tiệp - Một lời nguyện thiết tha: Xin cho tôi chết lẹ - Vũ Bằng 27.01.2019
xem thêm »