tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27711090
20.09.2008
Lương Văn Hồng
Danh nhân thế giới

KARL ĐẠI ĐẾ (Karl der Grosse) (742 - 814)


 Cuộc đời và sự nghiệp của Karl như huyền thoại. Hình như hoàng tử Karl được sinh ra để kế tục và hoàn thiện những gì vua cha Pipin des Jũngeren (Pipin trẻ) đã bắt đầu và là người nổi tiếng nhất trong số vua của vương triều Karolingen. Vương quốc Karolingen dưới thời Karl đại đế rộng tới mức bao gồm cả một vùng rộng lớn mà ngày nay chúng ta gọi là nước Pháp, nước Đức và nước Ý. Chính vì vậy, những nhà sử học Pháp và Đức hay lấy Karl đại đế là người mở mang bờ cõi và lập nên nước mình. Người Pháp thì gọi ông là Charles đại đế, trong khi đó người Đức với lòng kính trọng gọi ông là Karl đại đế.


 Ngoài ham mê và có tài chinh chiến, Karl còn chú trọng đến nhiều lĩnh vực khác nhau như chính trị, văn hóa, khoa học. Ông tổ chức vương quốc Karolingen một cách có hệ thống, phân ra nhiều cơ quan chức năng khác nhau: quân đội, tòa án, chính quyền. Ông cho xây dựng nhà thương, thiết lập nhiều trường học dành cho nam cũng như nữ và mời các nhà thông thái nước ngoài đến dạy.


 Dưới thời trị vì của Karl đại đế, nhà thờ Cơ đốc đã trở thành một thế lực thống trị về tinh thần cũng như về chính trị. Karl đại đế sinh năm 742 và mất năm 814 ở Aachen (LHLB Đức ngày nay). Nhà thờ ở Aachen là nơi đăng quang của các vua Đức từ 814 tới 1531.


 Chiếc nhẫn dưới đáy hồ ở Aachen


 Hồi ấy, Karl đại đế yêu say đắm một thiếu nữ con nhà bình dân, yêu cuồng si đến mức quên lãng việc triều chính, thậm chí cả việc ăn uống. Cả triều đình lúng túng, không biết nên ứng xử như thế nào trước mối tình say đắm ấy. Bỗng người thiếu nữ kia đổ bệnh rồi chết.


 Tưởng chừng mối tình ấy thế là hết. Nhưng mọi người thất vọng, khi thấy Karl suốt ngày ngồi bên thi thể nàng, ôm hôn và trò chuyện với người đã khuất làm như ở bên người tình đang sống.


 Rồi thi thể kia bốc mùi, nhưng Karl vẫn cứ ngồi trò chuyện với người tình. Linh mục Turpin, người phụ trách giáo phận vùng Aachen cho rằng, phải có ma thuật trong chuyện tình này.


Một hôm đợi Karl rời buồng, ông cho lật khám thi thể người


chết thì không thấy gì, nhưng khi cạy miệng thì thấy dưới lưỡi có chiếc nhẫn. Ông cầm lấy cất đi. Khi quay trở vào buồng, Karl như người vừa tỉnh cơn mộng và hỏi:


 - Ai đã khênh xác chết này vào trong buồng?


 Và ngay sau đó ra lệnh đưa đi mai táng.


 Cũng từ đó, Karl đi đâu cũng có linh mục Turpin đi theo. Vốn thông minh và ngoan đạo, Turpin thấy sức mạnh huyền bí của chiếc nhẫn, ông lo chiếc nhẫn khi vào tay kẻ tà nghịch sẽ có hại cho mọi người, vì thế ông ném chiếc nhẫn xuống hồ Aachen.


 Người ta kể rằng, từ ngày đó Karl không muốn rời Aachen, chỉ thích Aachen, cho xây dựng hoàng cung tại đây, cho xây một nhà thờ lớn nguy nga tráng lệ để thưởng ngoạn những lúc nhàn rỗi và để khi chết mai táng trong nhà thờ lớn đó. Và Karl cũng đưa ra tập tục qui định, những người nối ngôi vua sau này phải được vẩy nước thánh làm lễ đăng quang tại nhà thờ lớn ở Aachen.


 Chọi gà


 Vua Karl đại đế và hoàng hậu sống trong lâu đài ở Kempten. Một hôm, vua và hoàng hậu ngồi kể chuyện về các bậc vua tiền bối cho ba hoàng tử nghe. Nghe xong, Pipin nói:


 - Mẹ ơi, khi nào cha về trời thì con sẽ là vua nhỉ.


Karl –con thứ hai - quay lại phía vua và nói:


 - Pipin không được, con sẽ nối ngôi vua cha để trị vì đất nước.


Ludwig, hoàng tử con út, nhìn vua và hoàng hậu và cũng xin mình được nối ngôi. Nghe các hoàng tử tranh cãi nhau, hoàng hậu Hildagard bảo:


 - Các con tranh nhau thế này thì cũng phải xét chứ, giờ cả ba vào làng và bảo nông dân cho mỗi đứa một con gà trống.


 Ba hoàng tử cùng sư phụ và bạn bè rời lâu đài vào làng và mang gà về.


 Và lúc bấy giờ hoàng hậu bảo:


 - Giờ thả gà ra cọi. Gà ai thắng thì chủ nó sẽ được làm vua.


 Sau khi lần lượt hạ con thứ nhất, rồi con thứ hai, gà của Ludwig là gà thắng cuộc. Đúng y như lời hứa, sau khi vua băng hà, Ludwig được lên làm vua.


MARTIN LUTHER (1483 - 1546)


 1503 Martin Luther được thụ phong linh mục, 1509 ông là giáo sư triết học và thần học ở Trường đại học Wittenberg. Do phê phán những công việc giáo hội nên Luther bị rút phép thông công và bị cho là người theo tà giáo. Luther phải sống trong lâu đài Wartburg ở Eisenach. Trong suốt thời gian trốn tránh ông dịch Kinh thánh từ tiếng La tinh ra tiếng Đức. Cùng với việc truyền bá kinh thánh bằng tiếng Đức, tiếng Đức có dịp trở thành ngôn ngữ thống nhất ở những vùng nói tiếng Đức. Bản dịch Kinh thánh đánh dấu sự hình thành của tiếng Đức hiện đại.


 Hãy thản nhiên


 Martin Luther giảng đạo cho các con chiên bằng chính ngôn ngữ mẹ đẻ của họ: tiếng Đức. Có một linh mục tò mò hỏi:


 - Ông làm thế nào mà những buổi giảng đạo của ông có sức thu hút đông người tới nghe như vậy?


Luther đáp:


 - Hãy giở Kinh thánh ra, đi tới bục giảng và hãy thản nhiên để cho lời nói phát ra cửa miệng, phải biết ngừng đúng lúc.


 Hai người khách


 Một trong những điều cải cách tôn giáo của Martin Luther là việc từ bỏ cảnh sống độc thân và lối tu khổ hạnh. Linh mục được lập gia đình với lối sống đời thường.


 Nói là làm. 1925, Martin Luther đã cưới một trong những tín đồ của mình, nữ tu sĩ Kathearina von Bora. Khi Kathearina có bầu đứa con thứ hai, thì đứa thứ nhất hãy còn bú ẵm. Luther vui miệng nói:


 - Thật là khó khi phải nuôi dưỡng hai người khách cùng một lúc: người thì ở trong nhà, người thì ở ngoài nhà.


 Xem tay


 Có người nói với Martin Luther rằng người ta có thể đoán tính người bằng xem tay. Qua đó có thể biết được người đó keo kiệt hay rộng rãi, hào hiệp. Luther cười nói:


 - Tất nhiên là phải xem tay rồi … Chẳng ai đưa một vật gì đó cho người khác bằng chân.


HANS SACHS (1494 - 1576)


 Hans Sachs là người tiêu biểu nhất trong số những nhà thơ, nhà soạn kịch của Văn học chủ nghĩa nhân văn và cải cách tôn giáo (1450 - 1600). Thi ca của ông mang nội dung đạo và đời, có tinh thần nhân văn chống phong kiến, ủng hộ cải cách tôn giáo của Luther. Với óc quan sát tinh tế và sử dụng cách diễn đạt hình ảnh sinh động của văn học dân gian nên văn thơ ông được người đương thời rất ưa đọc.


 Cháy


 Hans Sachs cầm roi bò phạt học trò. Chú học trò khóc nức nở. Thầy ngừng nhưng nói:


 - Trò hỗn láo, thầy cho nợ số roi còn lại. Nếu mai làm thầy bật cười thì được tha.


 Sớm tinh mơ, Hans Sachs nghe tiếng học trò hô lớn:


 - Cháy, cháy!


Hans Sachs vội vùng dậy, vung chăn chạy ra hỏi:


 - Cháy ở đâu đấy?


 - Thưa thầy, chỗ bị roi thầy đánh hôm qua.


 Hans Sachs bật cười và tha cho trò.


GOTTFRIED WILHELM LEIBNITZ (1946 - 1716)


 Gottfried Wilhelm Leibnitz là triết gia, đồng thời là nhà toán học vĩ đại của nước Đức ở nửa cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII. Leibnitz có cống hiến to lớn trên nhiều lĩnh vực khoa học và áp dụng nó trong đời sống thực tiễn hồi bấy giờ.


Leibnitz là một trong những nhà bác học vạn năng trong lịch sử văn minh loài người, đồng thời ông là người cuối cùng trong số những người ấy.


 Triết học Leibnitz có ảnh hưởng lớn đến nhiều nhà triết học thế hệ sau ở Đức như Kant, Fichte, Schelling, Hegel v..v.. ở Pháp như Maine de Biran, Ravaisson, Lachelier v..v..


 Những cuộc phiêu lưu trong sách


 12 tuổi, Leibnitz tự học và thông hiểu nhiều tác phẩm cổ điển, bắt đầu từ mơ ước tới sự khám phá những bí mật của tự nhiên. Có lần, ông Freidrich bắt gặp cậu con trai đang loay hoay ở trong thư viện của nhà với những sách của Platon, Aristote, Cicero. Ông hỏi:


 - Trời, làm sao mà con có thể hiểu được những điều cao siêu nói trong sách đó?


Cậu con trai ngẩng lên đáp:


 - Thưa cha, con thấy không cao siêu. Con tưởng như đang phiêu lưu trong những cánh rừng đầy hoa thơm cỏ lạ vậy.


 Say mê học tập


 Năm mười lăm tuổi, Leibnitz là sinh viên trường Đại học Tổng hợp. Leibnitz không những học giỏi các môn khoa học tự nhiên, mà còn học giỏi các môn cổ ngữ như tiếng La tinh và tiếng Hy Lạp. Các bạn học hết sức ngạc nhiên và hỏi tại sao anh lại đạt được kết quả như vậy. Anh đáp:


 - Tôi học không phải do tính hiếu kỳ, mà do một lòng say mê đặc biệt.


 Khiêm tốn


 Từ 1672 tới 1676, Leibnitz sống ở Paris. Leibnitz nói thông thạo tiếng Pháp, lúc rảnh ông thường tới các hiệu sách. Có lần ông bước vào một hiệu sách lớn, định mua một cuốn sách quí hiếm. Chủ hiệu ngạc nhiên hỏi:


 - Ông nghĩ lại xem có thật cần đến cuốn sách đó không?


Tôi nghĩ rằng …


 Giữa lúc đó, tác giả cuốn sách bước vào - tác giả là một nhà toán học nổi tiếng ở Paris - thấy Leibnitz, ông này niềm nở nói:


 - Xin kính chào Leibnitz vĩ đại. Tôi có thể xin phép được tặng ông một cuốn sách nhỏ tôi vừa cho in không?


 Chủ hiệu liền niềm nở và xin lỗi …, nói cửa hàng mình lấy làm vinh dự được đón nhà bác học vạn năng người Đức.


 Ẩn số


 Sau khi làm quen với hệ thống triết học của Descartes, và nghe giảng toán ở trường đại học rất nổi tiếng thời bấy giờ, Đại học Tổng hợp Jena. Leibnitz nảy ra ý nghĩ: toán học hóa môn triết học. Leibnitz đã dành nhiều thời gian xây dựng một hệ thống kí hiệu hoàn chỉnh sử dụng ngôn ngữ toán mà ngày nay chúng ta gọi là toán lô - gích.


Leibnitz thường nói:


 - Dữ kiện càng đầy đủ, rõ ràng thì ẩn số càng dễ tìm ra.


JOHANN SEBASTIAN BACH (1685 - 1750)


 Johann Sebastian Bach là người đạt tới đỉnh cao nhất trong sáng tác âm nhạc phức điệu (12 nốt).


 Đối với Bach, âm nhạc là một phương tiện tín ngưỡng. Những người sành âm nhạc đều biết tới bản “Konzert Brandenburg” ; “Bản thánh ca Thánh John” ; “Thánh Mattew” ; “Konzert cho đàn Klavier” ; “Khúc Missa cung Si thư” .


 Thói quen


 Bach có thói quen để cho vợ lo toan mọi việc trong gia dình. Khi vợ Bach qua đời, nhạc sĩ đứng bên quan tài khóc. Bà già giúp việc bảo nhạc sĩ đưa tiền để đi mua vòng hoa. Theo thói quen, nhạc sĩ nói:


 - Bảo vợ tôi ấy.


 Suối - biển cả


 Johann Sebastian Bach được coi là bậc thầy và là người sáng lập ra nền âm nhạc hiện đại. Beethoven, Schumann và nhiều nhạc sĩ khác có chịu ảnh hưởng ít nhiều của Bach.


 Trong lúc nói chuyện về Bach, Beethoven nhận xét:


 - Bach không phải là Bach (con suối) mà là Meer (biển cả).


FRIEDRICH II (1702 - 1786)


 Với tác phẩm "Thủ đoạn", Friedrich Đệ Nhị đã trình bày lập trường tư tưởng của mình là gìn giữ hòa bình, phụng sự quyền lợi tối cao của quốc gia.


 Triều đại Friedrich II kéo dài 46 năm (1740 - 1786). Nước Phổ thời Friedrich II có công nghiệp và khoa học phát triển, có đội quân thiện chiến 200. 000 lính. Friedrich Đệ Nhị đã đưa nước Phổ trở thành một cường quốc ở Châu Âu.


 Friedrich II được coi là người mở đường cho sự thống nhất nước Đức. Những năm cuối đời, Friedrich được suy tôn là Friedrich đại đế, người dân thì gọi Friedrich với cái tên trìu mến "Ông già Fritz".


 Nhiều và nổi tiếng


 Friedrich II rất sáng suốt trong quyết định và hành động, nhưng cũng rất trào phúng. Có lần để cho ngự y Johann Georg von Zimmermann khám bệnh, Friedrich hỏi đùa:


 - Ông đã cho được bao nhiêu người sang thế giới bên kia rồi?


 Ngự y Zimmermann tâu:


 - Thưa không được nhiều bằng hoàng thượng, và cũng không được nổi tiếng như hoàng thượng.


 Cũng mủi lòng thương!


 Friedrich II là người có công đặt nền móng cho Luật pháp nước Phổ. Friedrich II trải qua thời niên thiếu trong kỷ luật khắc khổ của vua cha - Wilhelm Friedrich I - nhưng Friedrich lại là người yêu thích văn chương và âm nhạc, một người rất hóm hỉnh trong ứng xử. Những câu trả lời thông minh, đầy tự tin được nhà vua đánh giá cao.


 Một người lính lấy trộm đồ trang sức ở bức tượng Đức bà Maria. Người lính bị bắt quả tang và bị án tử hình.


Tòa án trình tâu nhà vua sự việc với lời thỉnh cầu giảm án cho người lính. Nhà vua cho gọi người lính tới. Người lính tâu:


 - Thưa hoàng thượng, thánh Maria thấy con nghèo khổ


nên động lòng thương và bảo:"Ngươi không nuôi nổi sáu


đứa con. Hãy cầm lấy những thứ này, ta tặng ngươi đấy!"


 Nhà vua cho gọi bốn linh mục tới và hỏi có đúng thánh Maria đã nói như vậy không. Bốn linh mục tâu:


 - Thưa hoàng thượng, quả thánh có rủ lòng thương ạ.


 Nhà vua ký bỏ án tử hình với lời dặn, từ nay người lính không được phép nhận đồ tặng của thánh nữa.


 Người lính Phổ gốc Pháp


 Được giáo huấn nghiêm ngặt theo kỷ luật nhà binh Phổ, nên đến khi lên ngôi vua, Friedrich vẫn không quên những thói quen được rèn luyện khi trước.


 Khi bắt gặp một người lính làm nhiệm vụ canh gác ở hoàng cung, Friedrich thường hỏi:


 - Anh bao nhiêu tuổi?


 - Anh đã làm nhiệm vụ ở đây bao nhiêu năm rồi?


 - Anh có thấy hài lòng về hai thứ: ăn uống và tiền lương không?


 Trong số lính canh hoàng cung có một anh lính là người Pháp nhưng không biết tiếng Đức. Viên chỉ huy đã dạy anh học thuộc lòng cách trả lời ba câu hỏi:"Hai mươi. Một tháng. Cả hai ạ.” Để đề phòng khi nhà vua hỏi.


 Một buổi sáng, nhà vua gặp anh khi đang đứng canh gác. Chẳng may lần này nhà vua hỏi câu thứ hai trước:


 - Anh đã làm nhiệm vụ ở đây bao nhiêu năm rồi?


 Anh lính "trả bài":


 - Tâu bệ hạ, hai mươi.


 Nhà vua rất đỗi ngạc nhiên, vì thấy anh ta còn trẻ, nên hỏi tiếp:"


 - Thế anh bao nhiêu tuổi?


 Theo thứ tự học thuộc lòng, anh thưa:


 - Tâu bệ hạ, một tháng.


 Vua càng sửng sốt kêu lên:


 - Thế thì một trong hai ta phải là người điên.


 Người lính nói nốt câu thuộc lòng thứ ba:


 - Tâu bệ hạ, cả hai ạ.


GOTTHOLD EPHRAIM LESSING (1729 - 1781)


 Để tạo ra một sân khấu dân tộc Đức, Lessing đã khắc phục được cách bắt chước máy móc, rập khuôn theo những nguyên tắc kịch cổ điển Pháp của Johann Christoph Gottsched bằng những tác phẩm lý luận sân khấu “Lakoon hay là giới hạn của hội họa và thi ca” và “Kịch trường Hamburg”. Với những vở kịch “Minna von Barnhelm”, “Miss Sarah Sampson”, “Emilia Galotti”, “Nathan – nhà hiền triết”, Lessing đã đưa nền nghệ thuật sân khấu dân tộc – nền sân khấu tư sản Đức – tới mức hoàn chỉnh và tạo nên cơ sở lý luận mỹ học của chủ nghĩa hiện thực.


 Lessing là đỉnh cao, nhưng đồng thời cũng là kết thúc của Văn học Khai sáng Đức (1720 - 1785)


 Văn học – Sử ký


 Lessing đặc biệt nhấn mạnh đến tính chân thực của văn học.:


 - Cái không chân thực không thể là vĩ đại.


 Ông cho rằng, sự thật lịch sử đối với nhà văn chỉ là phương tiện, chứ không phải là mục đích. Nhà viết sử chép lại những gì xảy ra trong quá khứ, còn nhà văn sử dụng sử liệu để tái hiện con người và xã hội của một thời đại.


 Lessing luôn nhấn mạnh tới nguyên tắc khái hoát quá trong xây dựng tính cách nhân vật. Ông cho rằng:


 - Chính nhờ ở nguyên tắc khái quát hóa mà văn học triết lý hơn và bổ ích hơn sử ký.


 Mỹ học Aristoteles


 Lessing giải thích quan điểm mỹ học của Aristoteles theo cách hiểu riêng của mình. Ông cho rằng, mục đích của bi kịch là gợi lên ở người xem nỗi xót thương và lo sợ. Người xem xót thương cho nhân vật khi gặp phải tai họa chết chóc, rồi lo sợ mình cũng có thể gặp tai họa như thế ở ngoài đời.


 Ông định nghĩa:


 - Lo sợ chính là xót thương cho bản thân mình. Lo sợ và xót thương có tác dụng “tẩy rửa” người xem, khiến họ tự tu dưỡng để tránh những hành động có thể đem tai họa đến cho người khác hay cho mình.


 Linh mục – thầy thuốc – kịch gia


 Lessing học Thần học và Y khoa, nhưng lại viết hài kịch. Bằng ngòi bút của mình, Lessing đã đấu tranh không khoan nhượng chống lại chế độ phong kiến quân phiệt.


 Trong một buổi dạ hội, một quý bà hỏi Lessing:


 - Thưa ông, linh mục có được viết hài kịch không?


 - Để trả lời câu hỏi của bà cho đến nơi đến chốn, tôi phải đặt câu hỏi: Diễn viên có được phép giảng đạo không? Người ta sẽ trả lời: Tại sao lại không! Nếu người ấy muốn thì cứ làm. Và giờ xin trả lời câu hỏi của quý bà: Nếu ông ta viết được, tại sao lại không nhỉ?


 Yên nghỉ nơi đây


 Trong lúc đi dạo chơi cùng một số bạn văn chương, Lessing đi qua nơi hành hình một tội phạm.


 Có một người mới bị treo cổ, đang còn lơ lửng trên giá. Các bạn đề nghị Lessing cho một vài dòng bia mộ cho người đó. Chẳng cần suy nghĩ lâu, ông nói:


 - Nếu không có gió thổi, người này sẽ yên nghỉ nơi đây.


ERNST LUDWIG HEIM (1747 - 1834)


 Ernst Ludwig Heim là một bác sĩ giỏi về chuẩn đoán bệnh và là người hay hài hước. Ông là một trong những người nổi tiếng nhất được dân Berlin mến phục vì lòng tốt bụng và tài chẩn đoán. Họ gọi ông là "Bác Heim già".


 Nhưng bà đừng có quên …


 Có một phụ nữ kia hay đau đầu, đến khám bệnh. Vốn biết bác sĩ Heim là người chẩn đoán rất đúng bệnh nên bà ta lúng túng, hết e thẹn xin lỗi, rồi lại nói vòng vo. Cuối cùng bà mới kể thật tình bệnh trạng. Mỗi khi có cơn đau đầu, bà chỉ dùng có một phương thuốc hiệu nghiệm là đắp dưa cải chua lên đầu, chỉ một lúc sau là cơn đau đầu chấm dứt.


Nghe khai bệnh xong, bác sĩ Heim khuyên:


 - Trời ơi, tuyệt quá! Nhưng bà đừng có quên đặt lên trên dưa cải chua một chiếc dồi rán lớn(1).


Một người Berlin “chính thống"


 Mặc dù bác sĩ Heim không được vẩy nước sông Spree trong buổi lễ đặt tên(2) nhưng ông được coi như là người dân Berlin chính cống vì thói trực tính đến mức khó chịu và lòng tốt bụng. Ông vốn sinh ra và lớn lên ở Thũringen, ba mươi tuổi ông mới về Berlin sống.


 Đối với bác sĩ Heim thì bệnh nhân là đối tượng quan trọng


nhất chứ không phải chức tước, đẳng cấp.


 Một hôm bác sĩ Heim được mời tới hoàng cung để khám bệnh. Chị của vua Friedrich II là Amalie muốn ông phải khúm núm. Ông nói ngay:"Tôi không phải là người có chức sắc trong hoàng cung. Tôi chỉ hợp với thường dân và những người biết nghĩ."


Và ông rảo bước ra khỏi hoàng cung.


Ngự y Heim


 Mặc dù không ưa thói trực tính của bác sĩ Heim, nhưng thà để cho một người như vậy chuẩn đoán đúng bệnh còn hơn là để cho một người xu thời chuẩn đoán sai. Hoàng cung quyết định vẫn cứ tuyển "Heim già” là ngự y.


Heim không thấy thế là vinh dự, ông đặt điều kiện như sau:


 1. Không bao giờ được để phải đợi lâu, vì còn nhiều bệnh nhân đang chờ.


 2. Được gọi bằng "Ông".


 3. Không bắt mặc lễ phục khi vào hoàng cung, vì không có thời gian thay quần áo, cho ăn mặc quần áo thụng cho thoải mái.


 Viên trung úy


 Một viên trung úy tới khám bệnh, phàn nàn về bệnh ho mãn tính của mình. Bác sĩ Heim nói:


 - Bệnh ho thường như sau: hoặc là cơn ho nó kéo từ phổi, hay là từ việc uống nhậu quá nhiều. Cơn ho của ông không phải từ phổi.


 Bà du Tittre


 Bà du Tittre sinh năm 1748 ở Berlin. Bà nổi tiếng ở Berlin vì giàu có, và cũng vì là người nói giọng Berlin với tất cả những nét yêu kiều của nó. Giàu có nhưng vẫn ốm, bà thỉnh thoảng vẫn đến khám bệnh ở bác sĩ Heim.


 Vốn biết bác sĩ lúc nào cũng vội vã, tất bật đi khám hết chỗ này tới chỗ khác, biết vậy, bà đứng bên cửa sổ đợi bác sĩ cưỡi ngựa qua thì há miệng, thò dài lưỡi ra để báo cho bác sĩ biết mình đã khỏe.


JOHANN WOLFGANG VON GOETHE (1749 - 1832)


 Đại văn hào Đức, nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, nhà khoa học, nhà chính khách thế kỷ 18 và 19, một đỉnh cao của văn học thế giới. Goethe sinh ra trong một gia đình khá giả, cha là một viên tham nghị triều đình. Goethe sống thời niên thiếu ở thành phố Frankfurt am Main, được bố mẹ đẻ và các gia sư dạy chữ và nhiều ngoại ngữ.


Sự nghiệp sáng tác phong phú và đa dạng của Goethe hướng về một nghệ thuật dân tộc Đức, thoát ly mẫu mực cổ điển Pháp. Goethe sống suốt từ thời kỳ văn học Ánh Sáng, qua thời kỳ Bão táp và Xung kích cho tới giai đoạn Văn học Lãng mạn Đức. Ở thời kỳ nào ông cũng có những tác phẩm phản ánh trung thực hiện thực. Tác phẩm của Goethe đã nâng văn học dân tộc Đức lên trình độ cổ điển mẫu mực nổi tiếng thế giới.


 Đỉnh cao trong sáng tác của Goethe là Faust. Faust là tác phẩm tượng trưng cho con người sáng tạo và nỗ lực vươn lên không ngừng nhằm chinh phục thiên nhiên, chinh phục mọi thế lực hắc ám trong xã hội, tượng trưng cho nhân loại đi tìm sự thật, hành động để thay đổi thế giới, phản ánh lịch sử loài người, cuộc đấu tranh giữa Thiện và Ác.


 Cuộc gặp gỡ của hai thiên tài


 Lúc bảy tuổi, Wolfgang Amadeur Mozart đi Frankfurt am Main để biểu diễn. Sau buổi biểu diễn có một thiếu niên tới gặp Mozart và nói:


 - Em chơi đàn tuyệt lắm. Em tên là Wolfgang phải không?


 - Vâng, em tên là Wolfgang. Thế anh tên là gì?


 - Cũng tên là Wolfgang.


 - Thế họ là gì?


 - Goethe.


 - Anh lớn hơn em!


 - Mười bốn, nhưng anh không chơi đàn hay tuyệt như em.


Cậu bé bảy tuổi nói:


 - Cái đó có gì là khó đâu. Chắc anh biết sáng tác nhạc?


 - Không, nhưng viết thơ.


 - Làm thơ khó lắm!


Cậu bé mười bốn tuổi chỉ mỉm cười.


Buổi gặp gỡ đó là một trong những kỉ niệm đẹp trong đời Goethe. Chính Goethe là người rất mê nhạc của Mozart.


 Ông thư ký, xin ông …


 Nhận lời mời của Công tước Karl August, Goethe dời đến Weimar sống và làm việc. Năm 1776, Goethe được cử vào Hội đồng tư vấn tối cao của công quốc Weimar, giữ chức Bộ trưởng Tài chính.


 Bộ trưởng Goethe sinh ra và lớn lên trong khuôn khổ gia giáo nên rất nghiêm, luôn giữ đúng mực thước trong đối nhân xử thế, tìm cách giáo huấn những thanh niên đua đòi. Một hôm ông chủ tọa cuộc họp Bộ Tài chính, thư ký hôm đó là một thanh niên ăn mặc gọn gàng nhưng đi giày kị binh, nền nhà sạch, trơn nên anh ta suýt trượt chân mấy lần. Goethe không ưa những mốt không đúng chỗ. Ông rất bực, nhưng rồi ông nén mình và nói với giọng ôn tồn, hài hước:


 - Ông thư ký, xin ông cưỡi ngựa sang buồng bên lấy hồ sơ!


Chàng thanh niên đỏ bừng mặt đi lấy hồ sơ. Từ đó về sau không ai thấy chàng thanh niên ấy đi giày kị binh nữa.


 Goethe nói về những địch thủ của mình


 Vốn sinh trưởng trong một gia đình quyền quí, trưởng thành trong tầng lớp thượng lưu xã hội, Goethe biết rất rõ những địch thủ, đối thủ của mình, ông viết:


 - Trước hết đó là những người không hiểu tôi, họ quở trách tôi mà chẳng hề quen biết tôi. Số lượng người này cũng nhiều và gây cho tôi những nỗi buồn bực. Nhưng người ta có thể tha lỗi cho họ, vì họ không biết mình phải làm gì.


 - Nhóm người địch thủ lớn thứ hai là những người gang tị với tôi. Họ không thể vui vẻ với những thành công và vị trí vinh hạnh mà tôi có được do tài năng và công sức của mình. Họ chỉ muốn làm tổn hại vinh quang của tôi và nếu được thì tiêu diệt tôi. Họ chỉ ngưng khi thấy tôi bất hạnh và khốn khổ.


 - Nhóm người khác là những người có năng khiếu nhưng không thành đạt trong cuộc đời. Họ trở thành địch thủ của tôi và không thể tha tôi được, vì những thành công của tôi đã che khuất mất họ trong bóng tối.


 - Nhóm địch thủ thứ tư là những người làm hại tôi ít nhất. Vì bản thân tôi cũng là người, nên tôi có những điều hay và điều dở. Những trang viết của tôi có khi không phải là không có những điều cần sửa. Nhưng tôi là con người nghiêm túc trong học hỏi, luôn hướng tới những cái cao đẹp, vì vậy tôi thường xuyên tiến tới trong đường đời. Nhóm người thứ tư này thường khiển trách những lỗi mà tôi đã từng mắc, hõ săn đuổi tôi, khi tôi đã đi xa họ hàng dặm rồi.


WOLFGANG AMADEUS MOZART (1756 - 1791)


 Người ta thường ví âm nhạc của Mozart với ánh thái dương, với tuổi trẻ và mùa xuân. Thần đồng âm nhạc được các nhạc sĩ nổi tiếng đánh giá rất cao.


“Mozart - biểu tượng của chính âm nhạc."


“Ít ai trong số các nhạc sĩ có thể tư duy bằng âm thanh với sự rõ ràng, giản dị và có sức hấp dẫn đến thế. Hiếm có ai trong các nghệ sĩ đã kết hợp tính dễ hiểu, "dễ tiếp xúc” với tính chân thật và sự sâu sắc của cuộc sống trong những nhạc phẩm của mình như Mozart."


Với tâm hồn nhạy cảm và trí tuệ tinh tế, Mozart đã sáng tác những nhạc phẩm thể hiện rõ, đầy đủ và sâu sắc những nét chủ yếu của nghệ thuật trong thời đại mới. Âm nhạc Mozart đã tạo nên một thời kỳ trong lịch sử âm nhạc. Sau những giao hưởng của Mozart là những tác phẩm hoành tráng của Beethoven, kế tiếp là những tác phẩm lớn để lại dấu ấn trong lịch sử âm nhạc của các nhạc sĩ chủ nghĩa lãng mạn.


 Bản nhạc dành cho đàn dương cầm


 Đó là ngày thứ năm, nhạc trưởng Leopld Mozart về nhà thì thấy cậu con trai bốn tuổi hay hí hoáy gạch gạch xóa xóa bằng bút lông ngỗng. Leopld hỏi:


 - Wolfgang, con làm gì đó?


 - Con viết bản nhạc dành cho đàn dương cầm, phần I sắp xong rồi ba ạ.


 - Con đưa ba xem nào!


 - Nhưng con chưa viết xong.


 - Con đưa ba xem nào. Phải viết cho sạch hơn chứ.


Leopld cầm bản nhạc mà cậu con trai bốn tuổi gạch xóa, viết chồng lên nhau,một lúc sau ông mới đoán được những nốt nhạc trên đó. Ông nói với nhạc công Schachtner - khách của gia đình - Bác xem, viết rất đúng cách phổ âm và đúng luật, nhưng khó thế này thì không ai biểu hiện trên đàn được.


Hai giọt nước mắt từ từ rơi xuống từ khuôn mặt của Leopld, ông sướng vui đến rơi nước mắt.


 Thử tài thần đồng âm nhạc


 Ban nhạc tí hon gồm Maria Anna Walburga Ignatia Mozart và Wolfgang Amadeus Mozart - mười ba và tám tuổi - được vua và hoàng hậu Anh thân hành đón tiếp nồng hậu và thân tình.


 Hai chị em được vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt sau khi trình diễn tay đôi các bản nhạc hòa tấu của Johann Sebastian Bach và Georg Freidrich Handel. Trong không khí đầy hào hứng ấy, bỗng Johann Christian Bach - thầy dạy nhạc của hoàng cung nước Anh - đứng dây đi tới bên đàn dương cầm, trước sự ngơ ngác của mọi người, bất thần ông ngồi xuống và dạo đoạn đầu của bản nhạc thính phòng - Sonat do ông sáng tác. Rồi ông đứng dậy và mời cậu bé Wolfgang tám tuổi "đánh giùm nốt". Wolfgang bối rối một phút trước cách thử tài bất ngờ và độc đáo ấy, cả phòng hòa nhạc yên ắng hồi hộp tới mức nghe rõ từng hơi thở. Họ chờ đợi và lo thay cho cậu bé.


Với trí nhớ phi thường, với khả năng sáng tác tùy hứng hết


sức nhạy bén. Với vẻ tập trung căng thẳng cậu bé lướt uyển chuyển những ngón tay mềm mại trên những phím đàn. Tác giả và người nghe hết sức ngạc nhiên khi Wolfgang hoàn tất bản nhạc ngẫu hứng ấy một cách hài hòa tuyệt vời.


 Với vẻ mặt xúc động gần như kinh hoàng, Johann Christian Bach chạy tới và ôm lấy Wolfgang bế bổng lên. Từ chỗ im phăng phắc, giờ đây cả hoàng cung trào lên như sóng dội bởi tiếng reo hò hoan hô và những tràng vỗ tay.


Nữ hoàng Anh hai tay nắm lại và giơ cao: “Thật tuyệt trần! Thật siêu phàm!”


 Buổi thử tài ấy đã làm cho danh tiếng của Mozart vang dội khắp London. Một nhạc sĩ đương thời đã viết: “Cậu bé Mozart đúng là một thần đồng âm nhạc, tôi thật sự yêu quí con người ấy tới mức không bút nào tả hết tình yêu ấy. Nhưng cậu bé này sẽ làm cho người đời quên mất chúng ta.”


ALEXANDER VON HUMBOLDT (1769 - 1859)


 Alexander von Humboldt có tới 1000 công trình nghiên cứu trên các lĩnh vực thiên văn học, sinh học, hóa học, địa lí, toán, khí tượng thủy văn, địa chất, hải dương học, vật lí, dân tộc học. Humboldt được coi là cha đẻ của ngành đại học hiện đại Đức, vì ông đã đề xuất và thực hiện ý tưởng khoa học kỹ thuật phải phục vụ đời sống và đáp ứng những nhu cầu của xã hội.


Alexander von Humboldt đã dành cả đời mình cho khoa học và thọ đúng 90 tuổi (1769 - 1859)


 Bạn hãy nhanh lên


 Năm 1829, Humboldt tới Kazan nước Nga. Ông thăm nhà toán học Nga nổi tiếng thời bấy giờ N. Lobasepski. Tài năng của Lobasepski đã gây được sự mến mộ ở nhà khoa học người Đức.


Humboldt nói với nhà toán học Nga:


 - Tôi chưa gặp một nhà khoa học nào thú vị như ông. Tại sao ông không phải là nhà sinh học? Ông rất am hiểu khoáng sản và nắm chắc môn thực vật học.


Lobasepki trả lời:


 - Thực vật học là niềm say mê của tôi. Tôi sẽ cưới vợ, sẽ trồng các cây tùng ở Xiberi và trồng một vườn cam.


Humboldt chân thành khuyên:


 - Nếu vậy thì ông bạn hãy nhanh lên. Còn tôi thì ngược lại. Niềm say mê khoáng sản và thực vật đã làm tôi lỡ cả cuộc đời. Tôi đã qua cái tuổi lập gia đình rồi.


LUDWIG VAN BEETHOVEN (1770 - 1827)


 Ludwig van Beethoven là một trong những nhạc sĩ thiên tài. Ông đã đưa âm nhạc cổ điển thành Viên lên đến đỉnh cao của âm nhạc cổ điển thế giới và ảnh hưởng của nó còn âm vang đến ngày nay.


Những bản giao hưởng của Beethoven đã mở ra kỷ nguyên mới - lần đầu tiên trong lịch sử âm nhạc, giao hưởng sánh vai ngang tầm với những bi hài kịch của Shakespeare và những khúc nhạc thánh ca.


 Cho trả tiền!


 Một hôm, Beethoven tới tiệm ăn "Schwan” (Thiên Nga) ăn trưa. Sau khi ngồi xuống, ông gõ bàn gọi người phục vụ. Gõ mấy lần mà chưa thấy ai tới. Beethoven lấy giấy bút ra ghi chép những cảm xúc âm nhạc. Khi người phục vụ tới là lúc Beethoven đang say sưa ghi chép, ông không hề biết gì ngoài việc cắm cúi ghi cho kịp dòng suy nghĩ. Sau khi hỏi khách một vài lần nhưng không nói gì mà cứ cúi đầu ghi chép, người phục vụ nhận ra khách quen: Ludwig van Beethoven. Người đó từ từ rời khỏi chỗ Beethoven đang ngồi, đợi một lát sau sẽ lại.Khi ghi chép xong, Beethoven gõ mạnh bàn nói:


 - Cho trả tiền!


Nhà nhạc sĩ thiên tài ngạc nhiên khi nghe người phục vụ đáp:


 - Quý ông chưa gọi món ăn ạ.


 Năm mươi đồng tiền vàng 23 Karat


 Năm 1823, Beethoven bị bệnh đau tai nặng, nhiều người thân quen lại qua đời, ông sống cảnh cô đơn, nghèo túng. Cũng năm 1823 ông viết xong bản thánh ca "Missa solemnis” ông gởi bản thảo tới các vua ở Châu Âu với khoản tiền nhuận bút là 50 Dukaten.


Vua Phổ thích mua bản nhạc thánh ca, nhưng lại cho sứ giả tới hỏi Beethoven:


 - Ông có thích huân chương Phổ thay cho tiền nhuận bút không?


Beethoven trả lời ngắn gọn;


 - Năm mươi Dukaten.


 Đại tướng âm nhạc


 Tin nhạc sĩ thiên tài Ludwig van Beethoven qua đời làm chấn động dư luận, văn nghệ sĩ và những người yêu nhạc ở khắp mọi nơi đều về Viên để dự tang lễ và đưa Beeethoven về


nơi an nghỉ cuối cùng.


 Tang lễ đang cử hành vào ngày 19 tháng 3 năm 1827. Số người đưa đám đông tới mức phải huy động sĩ quan và binh lính làm nhiệm vụ giữ trật tự. Một người khách không hiểu tại sao, tò mò hỏi bà bán hoa:


 - Tang ai mà đông người đi đưa đám thế hở bà? Lại có cả nhà binh nữa?


 Nhìn người lạ mặt, với giọng hài hước bà bán hoa đáp:


 - Đây là lần đầu tiên có chuyện như vậy ở Viên. Hôm nay người ta đưa ông Đại tướng Âm nhạc về nơi an nghỉ cuối cùng.


 Cũng là người tầm thường


 Đối với Beethoven, hào khí là nguyên tắc tự nó biểu thị trong cuộc sống. Sự nghiệp của Napoleon - con người dùng những đòn sấm sét đập tan chế độ quân chủ, đã khích lệ Beethoven sáng tác bản giao hưởng số 3. Ông hi vọng ở người anh hùng lý tưởng Napoleon rất nhiều, hi vọng chính Napoleon sẽ là người đặt nền móng cho hạnh phúc của cả loài người. Với tâm trạng ấy, với dòng máu Prometheus. Beethoven sáng tác bản giao hưởng số 3 vừa mới hoàn thành, tên của Napoleon đã đứng ở trang bìa thì Beethoven được tin Napoleon lên ngôi hoàng đế. Nhạc sĩ Beethoven thất vọng, dằn giọng nói:


 - Con người ấy cũng là người tầm thường. Bây giờ ông ta sẽ chà đạp lên tất cả các quyền con người, chạy theo sự hiếu danh, hiếu thắng … và sẽ trở thành một tên bạo chúa.


 Beethoven xé tờ bìa bản tổng phổ giao hưởng số 3. Vì bản giao hưởng dồi dào sắc thái chất liệu anh hùng nên nó được Beethoven đặt tên là Eroica - Bản giao hưởng “Anh hùng".


 Beethoven và Goethe


 Teplitz là nơi có suối nước nóng có muối khoáng, là nơi an dưỡng nổi tiếng của Châu Âu. Hồi đó Nữ hoàng Áo và nhiều công tước Áo cũng đi tắm nước suối ở Teplitz. Cũng thời gian này Goethe và Beethoven cũng đang an dưỡng ở đây.


 Một hôm, Goethe và Beethoven đang cùng nhau đi dạo chơi thì gặp Nữ hoàng Anh và đoàn tùy tùng đi ngược chiều hướng về phía hai người. Beethoven nhìn thấy và nói:


 - Ta cứ dắt tay nhau đi, họ phải tránh đường ta đi, ta không phải tránh đường cho họ.


 Goethe là người không quen làm ngược những nghi lễ thông thường với vua chúa, ông bỏ tay Beethoven và ngả mũ đứng sang đường chào Nữ hoàng, còn Beethoven cứ thế đi vào giữa đoàn tùy tùng. Các công tước trong đoàn vui vẻ chào Beethoven và né sang bên để Beethoven đi tiếp. Đi một đoạn Beethoven đứng lại đợi Goethe. Khi Goethe tới gần Beethoven nói:


 - Tôi chỉ đợi ông thôi, vì ông là người có những tác phẩm mà tôi phải kính nể, nhưng với những người kia, ông đã kính nể họ quá đáng đấy.


GEORG WILHELM FRIEDRICH HEGEL (1770 - 1831)


 Hegel sinh ngày 27.8.1770 ở Stuttgart. Trong những năm học ở Tuebingen (1788 - 1793) ông kết bạn với nhà thơ Hoelderlin và nhà triết học Schelling.


 Hegel đã từng dạy học ở Bern (Thụy Sĩ), Frankfurt am Main, Jena, Nuermberg, Berlin, Heidelberg. Sau khi Hegel qua đời, môn đệ của ông cho xuất bản những bài giảng của thầy:


 - Những bài giảng về lịch sử triết học (1833 - 1836)


 - Những bài giảng về mỹ học (1836 - 1838)


 - Những bài giảng về triết học lịch sử (1837)


 Tư tưởng triết học của Hegel có ảnh hưởng tới nhiều nhà triết học hiện đại. Chính vì thế tháng 4.1930 tại Hague, Hà Lan, người ta đã thành lập Hội nghiên cứu Hegel quốc tế, cứ 2 năm họp mặt một lần.


 Thật là tồi tệ …


 Georg Wilhelm Friedrich Hegel là nhà triết học đại diện xuất sắc của triết học cổ điển Đức thế kỷ XIX, cha đẻ của phép biện chứng.Tác phẩm quan trọng nhất của Hegel là "Khoa học Logic"(3 tập, 1812 - 1816)


Từ năm 1821. Hegel giảng triết học ở Đại học tổng hợp Berlin. Có lần, một sinh viên thắc mắc hỏi Hegel:


 - Thưa giáo sư, trong lúc giảng bài, giáo sư đã rút ra kết luận từ những sự việc mà chính nó không có trong thực tế.


Hegel đáp:


 - Chà, tất nhiên điều đó là tồi tệ với những sự việc đó.


 … như những người khác!


 Chủ nghĩa Hegel là triết học duy tâm khách quan hay tuyệt đối. Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx và Engels là con đẻ của quan niệm lịch sử Hegel.


 Có người hỏi Hegel, liệu ông có tin rằng, lúc nào đó sẽ có người có khả năng làm thay đổi những định kiến trong xã hội. Hegel trả lời:


-          Cho dù người ấy tranh luận rất nhiều về thế giới, anh ta bị đưa đi đẩy lại, nhưng cuối cùng thì anh ta cũng có một cô gái để yêu, cũng phàm phu tục tử như những người khác.


 


(Còn tiếp)


Nguồn: Danh nhân thế giới. Lương Văn Hồng dịch và biên soạn. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info


 


__________




(1)  Dồi rán ăn với dưa cải chua là món ăn dân gian Đức




(2) Được vẩy nước sông Spree trong buổi lễ đặt tên: sinh ra ở Berlin, sông Spree chảy qua Berlin.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hòa bình khó nhọc - Nguyên Ngọc 17.06.2019
Người Trung Quốc xấu xí (9, kỳ cuối) - Bá Dương 12.06.2019
Người Trung Quốc xấu xí (8) - Bá Dương 11.06.2019
Xong cả - Võ Phiến 07.06.2019
Một thời thanh xuân - Châu La Việt 04.06.2019
Nhớ Hoàng Tiến - Vũ Thư Hiên 27.05.2019
Ghi chép trong chuyến đi Mỹ - Nguyễn Quang Thiều 26.05.2019
Thương nhớ mười hai: Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt - Vũ Bằng 03.02.2019
Bình “Đào lê mỹ tửu” của Thạch Lam - Vũ Bằng 27.01.2019
Tam Ích Lê Nguyên Tiệp - Một lời nguyện thiết tha: Xin cho tôi chết lẹ - Vũ Bằng 27.01.2019
xem thêm »