tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 26218127
12.12.2018
Hà Nguyên Huyến
Làng Việt cổ Đường Lâm


Từ thủa hồng hoang vẫn vậy, dòng sông Cái (sông Hồng) đỏ nặng phù sa cuồn cuộn đổ về xuôi làm nên đồng bằng Bắc bộ. Song, tam giác châu thổ này thực sự trở thành nhưng cánh đồng phì nhiêu phải kể đến quá trình hình thành các làng Việt mà đặc trưng cơ bản là canh tác lúa nước. Quá trình ấy cũng là quá trình chinh phục và khai mở đồng bằng của các cộng đồng cư dân hai bờ sông. Phải chăng, bản anh hùng ca ấy được cô đúc trong hình tượng đức Thánh Tản, đức Thánh trị thuỷ mà sự kỳ vĩ rợp bóng trong tâm linh đối với mỗi người dân mọi thời đại sinh sống trên mảnh đất này. Xứ Đoài, trong quan niệm cũ còn bao hàm của vùng đất bên kia sông Cái nay thuộc tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc. Cả một vùng mênh mông của đỉnh tam giác châu đồng bằng Bắc bộ hôm nay là địa bàn cư trú và sinh sống của các làng Việt sau thời đại các Vua Hùng. Gần một nghìn năm Bắc thuộc, dòng sông Cái vô tình đã làm nên một danh giới tự nhiên, một cái trục phân chia. Nếu vùng đất Tả ngạn sông Hồng nay thuộc các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và xa hơn nữa là các tỉnh thuộc vùng Kinh Bắc mang đậm chất Đông Bắc Á với những làng nghề như làm giấy, làm pháo, làm vàng mã.. . thì Hữu ngạn sông Hồng là vùng đất Xứ Đoài với làng Đường Lâm hôm nay còn mang đậm dấu ấn đặc trưng Đông Nam Á của các cộng đồng cư dân nông nghiệp lúa nước. Phải chăng, đó là hình thức biểu hiện tính tự cường chống lại sự xâm thực của văn hoá ngoại bang.


 


Trải năm tháng thời gian với các cuộc chiến tranh liên miên, đặc biệt là hai cuộc chiến tranh chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, biết bao nhiêu làng quê thanh bình và trù mật đã không còn nguyên vẹn. Bên cạnh đó phải kể đến sự phát triển thiếu ồ ạt, định hướng của những năm gần đây. Vô hình chung đã làm phôi pha nhiều giá trị văn hoá truyền thống mà hình thức lưu giữ bền vững nhất là thông qua các làng quê. Điều đó đồng nghĩa với việc biến mất của các làng Việt theo đúng tinh thần mà các làng quê này đã từng tồn tại trong một giai đoạn dài của lịch sử và phát triển một cách rực rỡ, làm nên hồn cốt một vùng đất, một dân tộc.


 


Tục truyền, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan có câu sấm: Mặc dù đánh Bắc dẹp Đông/ Ba phủ bốn huyện của ông thì chừa. Chẳng biết có phải vùng đất Xứ Đoài một bên có dòng sông Hồng cuộn chảy, lưng tựa vào dãy núi Tản Viên. Thời ấy, chỉ có con đường thiên lý độc đạo nay là Quốc lộ số 32 hướng tới kinh thành Thăng Long đã làm nên một thế đất hiểm trở, khiến cho Xứ Đoài với bớt nạn binh đao! Bên cạnh đó phải kể đến tính đóng kín của các cộng đồng cư dân nông nghiệp và nhiều nguyên nhân khác nữa... Để cho đến hôm nay, những năm đầu của thế kỷ XXI chúng ta vẫn còn hầu như nguyên vẹn một làng Việt cổ. Nếu như Phố cổ Hội An là một bảo tàng sống về nếp sống đô thị thì đây, làng Việt cổ Đường Lâm trong quá trình duy tu, gìn giữ chúng ta cũng sẽ có một mô hình, một bảo tàng sống về làng Việt cổ với những đặc trưng canh tác lúa nước truyền thống. Đường Lâm là địa danh chung chỉ đơn vị hành chính cấp xã. Xã Đường Lâm có 9 làng, trong đó 5 làng biên giới liền kề như Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Thịnh, Đoài Giáp, Cam Lâm. Du khách đến đây khó có thể phân định được rạch ròi. 5 làng làm nên cụm dân cư đông đúc, song phong tục, tập quán, tín ngưỡng thì ngàn đời nay không hề đổi thay. Đó là bản sắc văn hoá truyền thống được lưu giữ bền vừng trong mỗi làng quê.


Đường Lâm là đất địa linh, ba mươi sáu quả đồi gò và mười tám giộc sâu cùng với khúc sông Tích chảy qua làng uốn lượn như một mớ lòng cò tạo nên thế hùng hiểm. Hình sông thế núi hun đúc khí thiêng sản sinh ra những anh tài kiệt hiệt. Đường Lâm một ấp hai vua, Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng và Ngô Vương quyền là hai vị anh hùng dân tộc đã có công lao to lớn trong sự nghiệp chống xâm lược phương Bắc. Đặc biệt là Ngô Vương Quyền sau khi đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, giành độc lập tự chủ cho đất nước vào năm 938. Thật xứng đáng với lời tôn vinh của nhà yêu nước Phan Bội Châu: Đức Vua là vị tổ trung hưng thứ nhất của dân tộc. Truyền thống ấy còn để lại dấu ấn cho mảnh đất Đường Lâm với những địa danh đầy tinh thần thượng võ: Đồi Gậy, Mũi Giáo, Cội Đa Gươm, Bè Xe, Bến Thuyền, Đồi Hổ Gầm, Xà Mâu, Trung Xa.. . Những cái tên thiêng liêng, kiêu hãnh, tự hào.


 


Nói đến làng quê Việt Nam là nói đến mái đình, cây đa, bến nước, cổng làng. Cổng làng Mông Phụ còn đó, một chiếc cổng duy nhất còn sót lại trong hệ thống cổng làng đã từng tồn tại ở Đường Lâm. Biết bao nhiêu đời nay người nông dân một nắng hai sương sớm tối đi về. Biết bao nhiêu thế hệ lớn lên rồi ra đi, đem lại những điều vẻ vang cho đất nước. Dấu chân cụ Thám Hoa Giang Văn Minh trên đường biên viễn đi sứ Trung Quốc. Cụ Phan Kế Toại, Hà Kế Tấn dặm dài trên những nẻo đường chiến khu Việt Bắc đã gắn liền với những mốc son lịch sử. Và hôm nay những người con Đường Lâm lại bắt đầu cho những thế hệ của mình từ chiếc cổng này.. .


 


Theo số liệu thống kê gần đây của Sở VHTT Hà Tây qua cuộc triển lãm về cổng làng thì Hà Tây hiện có 1500 ngôi làng chỉ còn 84 cổng làng, trong đó nhiều cái không còn nguyên vẹn. Khác với cổng làng của những làng xuôi, cổng làng Mông Phụ không có gác trên mái với những vòm cổng cuốn tò vò. Cổng làng Mông Phụ đơn giản chỉ là một ngôi nhà hai mái dốc, đứng án ngữ trên trục chính của con đường dẫn vào làng. Phải chăng, bên cạnh ý nghĩa hiện thực của cổng làng như nó đã từng tồn tại để phòng vệ thì, cổng làng cũng là một trong những cửa mở của mỗi cộng đồng dân cư? Chính tính đóng kín trong quá trình tồn tại và phát triển của các cộng đồng cư dân nông nghiệp cổ cũng đồng thời là nơi bảo lưu tốt nhất văn hoá làng.


 


Làng Mông Phụ cùng với các làng khác trong vùng làm nên khái niệm Làng Việt cổ đá ong Đường Lâm. Nơi đây còn một hệ thống đình, chùa, lăng, miếu, đền, điếm, các giếng nước và hệ thống nhà cổ. Một trong những kiến trúc điển hình phải nhắc đến là đình Mông Phụ. Đình Mông Phụ theo những sắc phong còn lại được xây dựng từ năm 1864, đời vua Lê Vĩnh Tộ. Đình Mông Phụ là một bông hoa về giá trị nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc như rất nhiều ngôi đình hiện còn tồn tại ở Xứ Đoài. Song, đặc sắc hơn nữa là nghệ thuật qui hoạch mang tính tổng quát không riêng ở đình làng, mà không phải bất cứ ngôi đình nào cũng có thể có được, điều này cũng không dễ dàng nhận ra. Đình Mông Phụ tục truyền được xây dựng trên đầu một con rồng, sân đình thấp hơn mặt bằng xung quanh. Khi mưa, nước ào ạt chảy vào rồi mới từ từ thoát ra theo hai cống ở nách đình. Trong mưa hai dòng nước làm nên hai râu rồng vừa thật lại vừa ảo. Việc chủ động lái nước đi như thế để chống thuỷ lôi tâm, một trong những điều tối kỵ của kiến trúc cổ. Phải chăng, đó cũng là khát vọng ngàn đời của cư dân nông nghiệp lúa nước! Nước khởi nguồn cho sự sống, của cải như nước chảy về chẳng đã là niềm mơ ước của mỗi con người, mỗi vùng quê!


 


Trước cửa đình là một khoảng sân rộng, lễ hội của làng được tổ chức từ mùng Một đến mùng Mười tháng Giêng âm lịch hàng năm. Nơi đây trước kia thường diễn ra hội thi lợn, thi gà. Những cuộc thi mà đằng sau đó là hình thức khuyến nông sơ khai để lại những nguồn gien vô cùng quí giá. Những lể hội ấy chỉ còn lại âm hưởng vang vọng trong tiềm thức của làng. Ngày nay hội thi lợn, thi gà không còn nhưng lễ rước tế vẫn diễn ra hàng năm với một tấm lòng thành kính. Vật phẩm cũng gản dị từ bàn tay cấy cày tạo ra như ngàn đời nay thường vẫn thế. Sân hội của làng còn là một ngã sáu, mọi con đường từ đây toả về các xóm và cũng từ các xóm hội tụ về đây. Có điều vô cùng đặc biệt, dù bất ai, hoặc đi hoặc về đều không phải quay lưng trực tiếp với hướng đình.


 


Mông Phụ còn là một làng tương đối hoàn chỉnh về mặt kết cấu kiến trúc. Sự hoàn chỉnh ấy không chỉ nằm ở từng đơn vị nhà cụ thể mà còn ẩn sâu trong từng qui hoạch đến từng ngõ xóm. Lệ làng qui định vậy, Trong mười ngày hội làng nếu gia đình nào không may có người chết, tang lễ không được đi ngang qua cửa đình mà phải đi qua cổng Sui. Để ra được cổng Sui, mỗi xóm có một con đường nhỏ dành riêng cho việc này. Mấy chục năm những con đường này không phải dùng đến. Gần đây người đông lên, đất đai thêm chật chội. Một số gia đình nhân cơ hội đó bịt mất lối đi này. Bất đồ một người dân trong làng mất đúng vào kỳ lễ hội, lúc ấy mới thấm thía hết ý định của người xưa. Các kiến trúc sư cổ đã tính đến việc trăm năm có khi chỉ sử dụng có một lần.


Về Đường Lâm, lang thang trên những con đường làng rồi bất ngờ lạc vào một ngỏ nhỏ sâu hun hút. Một mình mình nghe tiếng bước chân mình rộn vang trong từng ngõ nhỏ, những con ngõ nhỏ với những tường đá ong sừng sững âm thầm đổ bóng mà thấy thời gian như ngưng trệ, mọi sự đổi thay của một thời tao loạn hình như không có ý nghĩa gì. Chỉ còn lại rêu phong trên những mảng tường đá ong giãi dầu cùng năm tháng. Đây là lối kiến trúc phòng chống trộm cướp và giặc giã, cho đến tận bây giờ hiệu quả ấy vẫn còn tác dụng giữ gìn an ninh cho xóm làng.


 


Đường Lâm hiện nay còn 956 ngôi nhà truyền thống. Làng Mông Phụ có 350 nhà, làng Đông Sàng có 441 nhà, làng Cam Thịnh có 165 nhà. Trong số đó ở Đường Lâm có 54 ngôi nhà có giá trị tiêu biểu cần bảo tồn toàn bộ bên cạnh nhà còn có Văn Miếu Sơn Tây xây dựng trên đất làng Mông Phụ vào năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) và hệ thống nhà thờ họ. Họ Hoàng, họ Cát ở Đoài Giáp xây dựng năm 1670. Họ Phan xây dựng năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1900), họ Giang triều Tự Đức và họ Hà năm 1900.


 


Gần 400 năm với lịch sử là một khoảng thời gian không dài, nhưng gần 400 năm với một kiến trúc gỗ bên cạnh những biến thiên về nhiệt độ, độ ẩm của một nước nhiệt đới thì quả là một điều kỳ diệu. Bao nhiêu đời nay, bao nhiêu thế hệ với những mùa vụ của cuộc đời nông tang đã bình lặng qua đi để hôm nay, đời sống ấy vẫn là một dòng chảy liên tục. Phải chăng, đó là thông điệp sinh động nhất, là tiếng vọng thăm thẳm của một cộng đồng cư dân nông nghiệp mà sự huỷ hoại của thời gian, sự khốc liệt của chiến tranh đã đẩy nhiều giá trị vất chất vào quá khứ vĩnh viễn câm lặng.


 


Ông Nguyễn Ngọc Lê, hậu duệ đời thứ tư của cụ Nguyễn Khắc Nguyên, án sát tỉnh Quảng Bình trong triều vua Tự Đức. Sinh thời, cụ án làm quan thanh liêm. Lúc tuổi già về quê tĩnh dưỡng, cụ cho xây dựng ở làng một ngôi nhà để vui thú điền viên. Nếp nhà này cũng như tất cả các ngôi nhà trong làng, năm gian nhà ngói toạ lạc giưa một khuôn viên um tùm cây cối. Ngõ nhỏ đá ong sâu hun hút, vào đây không ai nghĩ rằng chỉ nhảng có vài bước chân thì ngoài kia đã là nơi đình chung ồn ào đông đúc. Cho đến tận bây giờ du khách đến làng không ai có thể ngờ rằng đây là nơi an cư lúc tuổi già của một vị quan hàng tỉnh.


 


Đường Lâm còn nổi tiếng với nhiều di tích lịch sử - văn hoá. Có lẽ không nơi nào trên đất nước này mà ở một làng đã có tới 8 di tích được xếp hạng, trong đó có 7 di tích được xếp hạng quốc gia. Nếu như đình Mông Phụ, một ngôi đình đặc trưng cho đình truyền thống với những dấu vết kiến trúc, điêu khắc của đời Hậu Lê thế kỷ IIXX, hoặc sớm hơn nữa thì chùa Mía, tên chữ là Sùng Nghiêm tự được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp vào loại di tích đặc biệt quan trọng. Với một hệ thống tượng phật 287 pho lớn nhỏ, trong đó có 6 pho tượng đồng, 107 pho tượng gỗ, 174 pho tượng đất. Về kỹ thuật đắp tượng đất cho đến tận bây giờ vẫn là bài toán chưa có lời giải, để lại nhiều điều kinh ngạc cho các nhà nghiên cứu. Chỉ có đất sét nhào nhuyễn và cốt tượng được làm từ thân và rẽ cây si, tượng đất chùa Mía là một kiệt tác vô giá tồn tại như một sự thách thức với năm tháng thời gian. Bên cạnh kỹ thuật chế tác, kỹ thuật tạo hình cũng vô cùng độc đáo mà ta không thấy lặp lại ở bất cứ chùa nào. Có thể kể đến như bộ Kim Cương, Quan Âm ngoạ Niết Bàn, Quan Âm tống tử. Về mặt qui hoạch chùa được xây dựng theo lối nội công, ngoại quốc. Địa điểm đặt chùa cũng rất đắc địa. Trước mặt chùa là chợ nhưng chỉ bước qua tam quan là vào địa phận chùa, vào đây là một thế giới khác. Ở đây sự u nhã, tịch mịch của chốn phật đường giường như ngự trị mọi không gian. Từ hành lang, góc tường, cho đến từng lá cây, ngọn cỏ... Tất cả như tiềm tàng một đời sống, một thế giới mà sự bình lặng trở thành khát vọng. Chẳng biết có phải đây là dụng ý của người xưa để tạo ra sự đối lập giữ hai thế giới, thế giới hiện tại và thế giới mà con người hướng tới.


 


Không ai truy nguyên hai chữ Đường Lâm bắt đầu từ đâu, song hai chữ Đường Lâm xuất hiện trong các văn tự cổ như được dùng trong Việt điện u linh thế kỷ thư 8. Có thể phỏng đoán rằng: Hai chữ Đường Lâm có nguồn gốc từ chữ mía. Theo giáo sư Kiều Thu Hoạch, từ Mía được bắt đầu từ âm mỵ ê. Mỵ ê hay Mỵ nương trong thời đại các vua Hùng dùng để chỉ người con gái. Tục truyền rằng, có một người con gái vua Hùng dạy dân trồng cỏ ngọt. Thứ cỏ này là thuỷ tổ của cây mía ngày nay. Mỵ ê hay Mỵ nương biến đổi theo thời gian mà chuyển sang từ mía. Chẳng biết có phải đó là cách dân gian gọi để tưởng nhớ đến công lao người đã có công vun trồng cho đời sống ấm no hôm nay. Kẻ Mía là tục danh như Kẻ Noi, Kẻ Lủ hay Kẻ Sặt. Từ Mía mà thành Cam Giá, Cam Giá theo Hán tự có nghĩa là mía ngọt. Cam Giá, Cam Giá thượng và Cam Giá hạ cũng là dùng để chỉ vùng đất này. Cam Giá Thịnh tổng thành tên trong các văn bản hành chính hồi đầu thế kỷ 20.


 


Cái tên vùng đất cổ còn gắn liền với nghề nấu kẹo, hộn đưòng ở làng Đông Sàng. Nghề này lúc thịnh phát đã từng cung cấp đường, mật cho phố Hàng Đường, Hà Nội. Vài năm trở lại đây nhà nước mở cửa, các doanh nghiệp kẹo liên kết với nước ngoài cùng cấp cho thị trường nhiều sản phẩm phong phú có nguồn gốc từ mật mía. Nghề nấu kẹo của làng Đông Sàng theo đó mà dần mai một. Nhưng không phải ai cũng dễ dàng quên đi món quà của những chợ quê. Đó là những chiếc kẹo bột, kẹo vừng mộc mạc song đậm đà cái ngọt ngào của một vùng đất đã để lại tên tuổi của mình trong lịch sử đất Đường Lâm!


Hiện nay ở làng Đông Sàng nhà nào cũng biết nấu kẹo, nhưng nấu kẹo để có một thương hiệu, để có một thị trường thì không nhiều. Có thể kể đến hai nhà Hiền Bao và Hiền Chinh, cả hai thương hiệu này đều được ghép cả tên chồng. Âu cũng là sự đơn giản song cũng rất hiệu quả mà các làng nghề từ xưa vẫn thường làm.


 


Có thể hôm nay lớp trẻ khó hình dung ra một cách cụ thể đời sống trong các cộng đồng cư dân nông nghiệp cổ. Đời sống ấy ở một khía cạnh nào đó có thể dùng mệnh đề: Cơm cày, cá kiếm để khái quát. Hoàn toàn không phải sự thô thiển mà chính là sự bình lặng, giản dị trong mỗi làng quê. Nơi ấy, cuộc đời canh nông nhọc nhằn mưa nắng, một năm hai vụ bốn mùa khép lại một vòng luân chuyển của đất trời, cũng là khép lại một năm lo lắng trên con đường mưu sinh trong phạm vi một thửa ruộng, một cánh đồng. để rồi, vào những đêm giời trong, giăng sáng, đằng sau luỹ tre làng tiếng hát đồng dao lại vang lên, vang lên những khát vọng phập phồng: Ơn trời mưa xuống/ Lấy nước tôi uống/ Lấy ruộng tôi cày/ Lấy bát cơm đầy/ lấy khúc cá to.


 


Tính đóng kín của các cộng đồng công xã nông nghiệp đã biến mỗi gia đình thành một đơn vị kinh tế. Tính tự cấp tự túc tồn tại cho đến những năm trước Cách mạng tháng Tám. Ở Đường Lâm có những gia đình nhiều chục năm trời hầu như chỉ phải mua muối và dầu Tây của nhà nước. Trong mỗi gia đình chum tương đầy, ao rau muống, vại cà thợ cày thợ cấy giã vụ đã trở thành món ăn thường nhật.


Khách đến Đường Lâm vài năm trước đây vào bất cứ nhà nào cũng có thể được gia chủ đãi những bừa cơm thân mật. Trong bữa ăn không bao giờ thiếu món tương. Mùa hè rau muống chấm tương, mùa đông cá kho tương. Tương Đường Lâm về chất lượng không thua kém bất cứ nơi nào. Có thể sánh ngang hàng với các địa phương có nghề làm tương nổi tiếng như tương Bần của làng Bần Yên Nhân, tỉnh Hưng Yên, tương Cự Đà của huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Sau mở cửa, tương Đường Lâm thành thương hiệu có tiếng trên thương trường. Tương trở thành hàng hoá góp phần cải thiện đời sống trong mỗi gia đình. Có lẽ đây là lần đầu tiên một nghề cổ truyền đồng hành trong đời sống của một cộng đồng nông nghiệp có tư cách hàng hoá theo đúng nghĩa của nó.


 


Làm tương vốn là công việc thường niên của các cộng đồng cư dân nông nghiệp miền Bắc. Các vùng ấy, nhà nào cũng phải có chum tương. Chum tương như một sự biểu hiện về tính nề nếp, cơ bản nông gia. Cách làm tương na ná giống nhau nhưng các cụ bảo do tay nên mỗi nhà mỗi mùi, mỗi vị và cũng từ đây mới quyết định nét độc đáo riêng biệt của từng nhà.


 


Tháng sau máu rồng. Đó là tháng mà các bà, các chị trổ tài nội trợ trong món thực phẩm đặc biệt này. Bắt đầu là gạo, gạo đem đồ xôi rồi ủ thành mốc. Mốc có màu hoa cải là đẹp nhất. Sau mốc là nước đậu tương. đầu tương rang vàng rồi xay vỡ đôi cho vào nồi nấu, nấu xong cho vào chum vào vại. Chum vại được mua từ các thuyền buôn ngoài sông Cái, tốt nhất là chum vại của làng Thổ Hà.


Đồ làm tương phải là đồ đất nung chín đến độ sành. Khi gõ vào thành chum tiêng kêu phải chuông thanh. Nước làm tương phải sạch, làng Mông Phụ có giếng Giang là giếng nước vẫn được cả làng dùng làm tương. Mốc khó lúc ủ, nước đậu khó lúc ngâm. Mốc là giai đoạn thiu, nước đậu là giai đoạn thối. Hai thứ đó hoà nhập vào nhau trong một thời khắc thích hợp tạo thành tương. Chẳng biết có phải vì thế mà người làm tương thường có câu đùa rằng: Chồng thiu vợ thối khối người mê!


 


Chum tương từ xa xưa đã trở thành cái tủ lạnh trong góc sân mỗi gia đình. Tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác. Đây là nơi cất giữ sâu thịt còn lại sau ngày giỗ chạp, quả cà giã vụ cơm cấy cơm cày tháng sáu, tất cả đều được ngâm trong tương. Tháng Tám heo may, quả cà trong chúm đã chín, cà muối sổi phải xé bằng tay mới ngon, cà ngâm tương phải cắt bằng dao mới đẹp. Nhìn những miếng cà trong đĩa sứ đỏ au như hổ phách ai đã một lần thưởng thức mới hiểu hết ý nghĩa câu ca: Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống, nhờ cà giầm tương.


 


Chẳng biết từ bao giờ hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình và đặc biệt ở Đường Lâm là những giếng nước cổ. Mỗi xóm hầu như có một cái lại trở thành thân thương, gần gũi đến như thế. Đã bao nhiêu mối tình, đã bao nhiêu lời hò hẹn của trai làng với các cô thôn nữ. Đôi khi lời hò hẹn ấy chỉ là những nút buộc thầm kín trên dây gầu tưởng như rất vô tình... đã nên vợ nên chồng và mãi mãi bền chặt.


Người đi xa, trước khi bước chân ra khỏi cổng làng còn ngoái đầu nhìn lại. Lịch sử của làng là một dòng chảy liên tục mấy trăm năm. Dẫu cho trai thời loạn khi đất nước lâm nạn đao binh có người ra đi không bao giờ trở lại. Rồi ai đó ra khỏi làng dài rộng những bước chân hải hồ trên con đường mưu sinh, hay cô gái làng một chiều nao sang sông đi làm dâu xứ người. Chắc hẳn trong sâu thẳm lòng mình vẫn còn lại một góc quê. Không phân biệt sang hèn, người vinh thăng trên con đường hoạn lộ, kẻ thành công trên thương trường. Không thể không kể đến những mảnh đời gập ghềnh nhoà bóng lầm lụi kiếm ăn. Tất cả, tất cả vẫn bồi hồi chung một nỗi nhớ làng, nhớ quê!


 


Cổng làng ngàn đời nay vẫn thế, mỗi sáng sớm tinh mơ lại ồn ào thức dậy. Trâu bò của thợ cày, thợ cấy gồng gánh ra đồng, trẻ con náo nức đến trường. Bao nhiêu công việc thường niên của một làng quê cứ lặp đi, lặp lại mỗi ngày hai buổi đi về. Đơn giản, bình dị mà sao da diết nhơ nhung. Tình cảm ấy đã nâng bước chân bao lớp người đi trước làm nên một cốt cách, một truyền thống tốt đẹp trên mảnh đất này. Giá trị ấy thấm sâu trong mỗi ngôi nhà, từng ngõ xóm và bền chặt trong một cộng đồng dân cư. Mặc cho những biến thiên của thời gian, cho đến hôm nay chúng ta vẫn còn đây, nguyên vẹn một làng Việt cổ đá ong Đường Lâm - Di tích kiến trúc nghệ thuật, được Bộ Văn hoá - Thông tin ra quyết định xếp hạng ngày 28 tháng 11 năm 2005. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị văn hoá của làng.


HNH/ Facebook ngày 23-11-2018


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thương nhớ mười hai: Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt - Vũ Bằng 03.02.2019
Bình “Đào lê mỹ tửu” của Thạch Lam - Vũ Bằng 27.01.2019
Tam Ích Lê Nguyên Tiệp - Một lời nguyện thiết tha: Xin cho tôi chết lẹ - Vũ Bằng 27.01.2019
Sương Xuân và hoa đào - Vũ Thư Hiên 27.01.2019
Doãn Mẫn - “Biệt ly” mà không biệt ly - Hoài Anh 22.01.2019
Lê Yên - nhạc sỹ thuộc thế hệ đầu của tân nhạc Việt Nam - Hoài Anh 22.01.2019
Dương Thiệu Tước và “Tiếng Xưa” - Hoài Anh 21.01.2019
Phù Dung ơi, vĩnh biệt! (tên cũ là "Cai" -Kỳ cuối) - Vũ Bằng 20.01.2019
Về miền an lành - Triệu Xuân 12.01.2019
Nguyễn Xuân Khoát - Người mở ra buổi “bình minh” của lịch sử tân nhạc - Hoài Anh 11.01.2019
xem thêm »