tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 25357005
07.12.2018
Vũ Hạnh
Tuyển tập Vũ Hạnh: Số đào hoa của Khái Hưng


Trong một cuộc sống mà ái tình chi phối phần lớn tâm não con người thì cái tên sách Số đào hoa có thể lưu ý được nhiều người đọc. Lại thêm dưới cái đầu đề của sách có chua mấy tiếng “xuất bản lần thứ nhất” thì sự lôi cuốn độc giả hẳn phải đậm đà. Bấy nhiêu sự kiện, đi kèm với tên tác giả - Khái Hưng - thật là thuận lợi cho nhà xuất bản Đời Nay, xét về phương diện thương mãi.


Số đào hoa gồm 6 truyện ngắn: Số đào hoa, Đi Nam Kỳ, Linh hồn thi sĩ, Ada Kwaben, Hoàng Oanh, Cái thù ba mươi năm, những truyện viết từ một thuở xa xôi, có lẽ trước thời đại chiến nhiều năm, nếu những niên biểu 1932, 1934 ghi dưới đôi truyện có thể đại diện cho cái thời gian sáng tác chung của tác phẩm.


Trong 150 trang sách, Số đào hoa đã chiếm gần một trăm trang. Đó là hồi ký của “một anh chàng xinh trai” kể lại “những trang lịch sử của một cuộc đời tình ái”.


Anh chàng này tên là Văn - Nguyễn Văn - sinh vào thời vua Thành Thái, tuổi Dần, con một ông Huyện. Theo lời anh ta kể lại thì đời của anh rất đỗi tầm thường nhưng bao nhiêu kẻ đứng ngoài cứ tưởng náo động, “đầy rẫy những sự biến cố phi thường, nhất là về đường tình ái”. Anh ta bị họ ghen ghét, kết tội đã làm bại hoại phong hóa nhưng sự thực thì anh đã mắc tiếng oan trọn một quãng đời.


Nỗi oan thứ nhất là khi anh ta cất tiếng khóc chóe ban đầu thì chuông đồng hồ đánh 11 tiếng. Thế là giờ Hợi. Nhưng ở nhà còn có một đồng hồ khác kém 15 phút, thế là giờ Tí. Giờ Hợi xấu hơn giờ Tí cho nên anh ta sinh vào giờ Tí. Và theo lá số Tử-vi thì sao Đào Hoa chiếu mệnh, nghĩa là mai sau “nhiều vợ mà hiền”!


Nếu cứ tin theo lá số thì vụ ái tình thứ nhất của anh chàng này là chị vú em vì chị bỗng ẵm, nâng niu anh ta, ru ngủ anh ta bằng lời êm ái, dịu dàng. Rồi người vợ hiền thứ nhất của anh là một đứa gái chăn bò, tên gọi Cái Tôm mà anh gặp gỡ ngoài đồng những khi trốn học đi chơi, lúc anh mới chín tuổi đầu. Đậu xong sơ học Pháp-Việt, và ra Hà Nội, mua cái mũ mới, gặp được bạn bè, anh chàng bắt đầu nghĩ ngợi phân vân đến chữ ái tình. Cuộc đời thành thị tiếp diễn qua bao nhiêu việc khờ khạo, buồn cười. Anh chàng bắt đầu ham mê tiểu thuyết, bắt đầu tiêu luôn cả khoản tiền xe mỗi ngày hai buổi đến trường, bỏ học lang thang, gặp một cô gái trốn học, rủ nhau đi chơi Bách Thú. Cuộc tình ái vơ vẩn ấy cứ kéo dài trong một không khí hoàn toàn… lý tưởng, đúng hơn là hoàn toàn lý thuyết. Rồi sau một vụ hè về ở nhà quê, anh chàng lại ra Hà Nội và được tin cô bạn tình lý tưởng - cô Thi - đã bỏ nhà theo trai. Trai ấy, theo dư luận, thì là anh Văn!


Suốt hai năm trời chán nản, u buồn, tập tò làm thơ đau khổ, anh chàng bước vào ngưỡng cửa Cao Đẳng và làm sinh viên. Thấy những bạn bè ai cũng có một nhân tình, anh chàng cũng bịa ra một cô gái để mà nói dối bạn bè, nâng mình lên mức ngang hàng với những học sinh Cao Đẳng! Do sự bịa đặt vu vơ này mà anh bị một cô gái chê chồng - cô Bảo - bám sát và anh đành chịu bao nhiêu dư luận xấu xa. Rốt cuộc, trước một nỗi oan như Thị Kính ấy, anh chàng xin phép sang Pháp để học, hầu thoát bao nhiêu tai nạn của Số đào hoa “nhiều vợ mà hiền”!


Đi Nam Kỳ là chuyện ân tình lừa lọc của cô đầu Lan với những ông Ký, ông Tham. Đầu Lan khi lấy anh Ký Cán được hơn năm trời thì sinh chán ngấy và bắt buộc chồng xin đổi vào Nam. Nhưng ngày thầy Ký được phép lên đường thì cô đầu Lan thu xếp… chưa xong, đành phải “vào sau”. Cố nhiên là cô chẳng bao giờ vào. Cô bận ở lại với ông Thám Ái. Được chín tháng sau, cô lại nũng nịu đòi chồng “xin đổi vào trong Nam Kỳ”.


Ông Tham ngẫm nghĩ… thở dài… nói một mình:


- Đi Nam Kỳ! (trang 106)


Truyện thứ ba, Linh hồn thi sĩ, là truyện dã sử, đặt vào khung cảnh đời Hồ. Thi sĩ Trần Can không chịu khuất phục trước sự bạo tàn của Hồ Quý Ly, luôn luôn sáng tạo những bài chống đối. Cuối cùng, vì phải cam kết với vua không được tiếp tục sáng tác để bảo vệ mạng sống cho người cung nữ có nhiều thiện cảm với chàng, nên uống thuốc độc tự tử.


Ada Kwaben là sự tương phản giữa hai quan niệm, hai lý tưởng, Ada Kwaben, cô gái Nhật yêu một chàng trai Trung Hoa, Ly-Jem-Pan. Ngày Nhật xâm chiếm Trung Hoa thì anh của cô gái là Matsudo, bạn học của Ly-Jem-Pan trước kia, ra chốn chiến trường. Sau trận giao phong, Trung úy Matsudo bại trận được vị Thiếu tá Ly-Jem-Pan cứu thoát. Nhưng Matsudo rút súng tự sát - vì thấy nhục nhã. Và nàng Ada cải trang làm cô gái Tàu, tìm cách báo thù cho anh. Nàng gặp được Ly-Jem-Pan, rút súng bắn chàng rồi nàng “nhặt súng tự đặt vào tim quả quyết mổ cò”. (trang 127)


Hoàng Oanh, một cô gái Chiêm Thành, con một vị Thái sư, yêu thái tử Chế Mân và cha mẹ nàng cũng muốn xây dựng cho cuộc nhân duyên của nàng thành tựu. Nhưng Chế Mân sang nước Việt, dâng lễ, lấy nàng Công Chúa Huyền Trân. Lúc vợ chồng Thái tử về đến kinh thành thì giữa đám người chờ đón, Hoành Oanh ngã ngất trong lòng Thái sư. Và Thái sư ghé tai con, thì thầm:


- Con nên đặt quốc gia lên trên ái tình…(trang 138).


Cái thù ba mươi năm kể lại một mối mâu thuẫn giữa bác Xã Tài - sau thành Nghị Tài - với quan Thượng Bùi.


Nguyên khi Xã Tài muốn ra tranh chức phó lý ở làng bị người em ruột quan Thượng kể xấu với quan Thượng Bùi lúc ấy đang làm Tổng Đốc Hải Dương nên bị quan Thượng can thiệp tới sự bầu cử, Xã Tài mất dịp ăn trên ngồi trốc ở chốn đình trung.


Tức giận, Xã Tài bán sạch ruộng vườn, lên Hà Nội ở, quyết chí làm giàu. Mười năm sau, Xã Tài giàu có, thành ông Nghị Tài. Nghị Tài cho con sang Pháp du học, rồi tìm mọi cách giao du với quan Tri Phủ, con ông Thượng Bùi, giúp tiền giúp bạc cho ông này mượn để đi đến chỗ sa ngã, đa mang bệnh ghiền. Rồi khi cả hai gia đình về quê dưỡng lão thì Nghị Tài tìm cách mua đất của Thượng Bùi và tìm mọi cách làm nhục gia đình đã cản trở mình lên chức phó lý ngày xưa. Cuối cùng, nhờ cậu Cử ở Pháp về biết cách dàn xếp, hai gia đình tạm nguôi mâu thuẫn, kết thân với nhau, và cậu Cử hỏi cô Liên, con gái quan Phủ làm vợ.


* * *


Đề cao Khái Hưng, nhà văn đã từng được nhiều bạn đọc một thời thán phục qua Nửa chừng xuân, Tiêu sơn tráng sĩ, Hồn bướm mơ tiên… có lẽ là việc lẩn thẩn, cũng như công kích tính cách lỗi thời của nhà văn ấy, xét trên yêu cầu văn nghệ hiện nay, có lẽ là việc quá thừa. Tác phẩm Khái Hưng cũng như của nhóm Tự Lực Văn Đoàn thuở nào, chỉ là đánh dấu cho những xu hướng của một lớp người trong một một giai đoạn lịch sử, đó là tầng lớp trí thức tân học, hình thành ở trong chính sách Thực dân đô hộ, ý thức về cái vai trò của mình đối với dân tộc. Nhưng sau những vụ đàn áp đẫm máu của Pháp đối với phong trào cách mạng của tầng lớp ấy - biểu hiện cao nhất là vụ 13 liệt sĩ lên đoạn đầu đài Yên Bái - và những nhà tù, trại giam đầy chính trị phạm, thì cái tinh thần cách mạng biến thành tinh thần cải lương, cụ thể là Hội Ánh Sáng, là những sửa đổi phong tục, và đối tượng chính của sự tranh đấu ngày xưa là thực dân Pháp đã được thay thế bằng đối tượng phụ là bọn vua quan phong kiến, cho nên cái đầu Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh được gõ chan chát trước sự dửng dưng của bọn Thực dân.


Một số phần tử trí thức ưu tú thời ấy tìm trong văn chương một sự giải thoát để tránh thực trạng gay go trước mắt. Hồn bướm mơ tiên dẫn người chơi vơi ở trong cõi tình mộng tưởng, Mười điều tâm niệm nói lên những sự khao khát mơ hồ, không có điều kiện thực tế để mà giải quyết.


Cái tâm trạng lơ mơ, trên cuộc đời ấy, làm cho nam nữ thanh niên tân học một thời ưa thích bởi vì nó khuây khỏa được lòng người. Nhưng trước đạn bom của cuộc Đại chiến thứ hai và những tiếng thét gào trong cuộc chiến tranh Việt Pháp, mọi người bừng tỉnh, đối diện với những sự thực lớn lao, bi đát vô cùng.


Và nhìn lại những tác phẩm ngày nào ưa thích, chúng ta tưởng đấy là những con người xa lạ.


 * * *


Bởi vậy, ngày nay, đọc những truyện ngắn Khái Hưng chúng ta không còn tìm thấy hứng thú như xưa. Trong sự thưởng thức, ta có cảm tưởng về thăm dĩ vãng. Và 6 truyện ngắn của Số đào hoa là những di tích được đem chưng bày sau khi khai quật khỏi lớp gạch ngói điêu tàn!


Hơn nữa, nhà văn Khái Hưng đã hóa ra người thiên cổ, và những truyện này được in thành sách chắc gì đã thuận ý người? Độc giả có thể nghĩ rằng những người chủ trương Tự Lực Văn Đoàn ngày nay muốn tròn nhiệm vụ thừa kế di sản của người quá cố nên đã lục lọi cho in thành sách những gì còn lại của người tản mác đó đây. Và cái công trình “vớt hương dưới đất, bẻ hoa cuối mùa”, như Kiều đã nói, có tránh được sự gượng gạo hay chăng?


Chúng ta dám nghĩ như vậy là vì ngày sinh tháng đẻ của những truyện này thực quá xa xưa, nếu như ưa thích, trong lúc sinh thời Khái Hưng đã chọn làm nên tuyển tập mất rồi. Hơn nữa, kỹ thuật cũng như nội dung các truyện thật là đơn giản, có lẽ toàn là công trình ở vào giai đoạn tài năng tác giả mới qua được những bước đầu.


Truyện Số đào hoa chiếm phần quan trọng ở trong tác phẩm, tuy có một số chi tiết hóm hỉnh, gây cười nhưng không được khai thác sâu hơn khiến cho toàn bộ có vẻ lỏng lẻo, rời rạc. Nguyên nhân là vì cá tính của nhân vật chính không được xây dựng công phu và người đọc không rõ anh Văn là ngốc hay hiền, là kẻ lãng mạn vẩn vơ hay là con người đoan trang nề nếp. Câu chuyện có vẻ mờ nhạt như là hồi ký của một nhân vật nào đó, một thứ hồi ký chưa được nâng cao lên hàng nghệ thuật, nghĩa là chưa được gạn lọc những gì vô bổ, đúc kết những gì cần thiết, khai thác những gì thuộc phần trọng tâm. Nói một cách khác, truyện kể thiếu nhiều chi tiết bề sâu. Tác giả như tổng kết lại một số tài liệu đây đó để mà mua vui đồng thời diễu cợt tâm lý lãng mạn vẩn vơ vốn là cái “mốt” của một thời đại qua rồi. Nhưng vì thiếu một quan niệm dứt khoát về phần nội dung cho nên tác giả không tránh được sự pha loãng vấn đề. Lối hành văn cũng nhợt nhạt, có vẻ êm đềm, xuôi thuận như một công trình hợp lệ mà thiếu những nét độc đáo, sâu sắc của một tài năng lớn lao.


Về các truyện khác, Khái Hưng vẫn không thoát khỏi cái nhược điểm ấy. Trong truyện Linh hồn thi sĩ, nhân vật Trần Can không làm cảm động, thán phục mà chỉ khiến cho người đọc thương hại, nếu không nhẫn tâm dùng chữ buồn cười. Trần Can chống đối Hồ Quý Ly để tỏ lòng trung với vua. Nhưng vì cần bảo vệ mạng sống cho một cung nữ, Trần Can đành phải từ chối lý tưởng của mình. Giữa lòng trung nghĩa với vua và xót thương người đàn bà có chút cảm tình với mình, Trần Can đã không ngần ngại chọn người đàn bà. Mới biết, “đàn bà muốn, ấy là Trời muốn”, kể gì đến vua là thứ… con Trời!


Cuối cùng, có lẽ hối hận, xấu hổ với mình - thực sự Khái Hưng không quan niệm rõ tâm trạng nhân vật - Trần Can tự tử. Trước khi lìa đời, chàng nói: “Linh hồn ta, ta cam đoan rằng muôn nghìn năm không ai ức chế nổi, tấm linh hồn tự do của nhà thi sĩ tự do” (trang 118). Thực là câu nói vô nghĩa, đáng thương không biết chừng nào! Linh hồn của chàng đã bị ức chế dễ dàng bởi Hồ Quý Ly chỉ vì lòng thương một người cung nữ. Chàng mất tự do từ lâu, há chàng không biết vậy sao? Chàng chỉ là một thi sĩ ở trong ngục tù của một tình cảm lãng mạn, không quan niệm nổi thế nào là một lý tưởng cao cả. Cuối cùng chàng tìm tự do ở trong cõi chết, một thứ tự do không phải dành riêng cho mỗi mình chàng! Đợi gì chàng phải “cam đoan” cho mất thì giờ! Thế mà lối thoát tiêu cực, nhục nhã ấy được tác giả hân hoan diễn tả trong câu kết thúc: “Chung quanh tiếng pháo nổ ran như để tiễn mừng linh hồn Trần Can đã thoát ly ra ngoài vòng kiềm tỏa”. (trang 18)


Cái tâm trạng ấy còn gặp trong Ada Kwaben, khi Ly-Jem-Pan bị người tình bắn chết “còn ngắc ngoải dùng hết sức tàn ghì lấy bạn, vừa hôn vừa nói: - Tôi yêu cô đến tận phút cuối cùng và sẵn lòng tha thứ cho cô và cả nước cô… Nhân loại trường thọ…” (trang 127). Kể ra, Ly-Jem-Pan có thể yêu đến phút cuối của đời mình, có thể tha thứ cho nàng Ada mù quáng nghe lời theo bọn quân phiệt xâm lăng, nhưng tha thứ cho “cả nước cô” - tha thứ cho kẻ thù xâm lược - là điều không thể tha thứ cho Ly-Jem-Pan. Nhưng Ly-Jem-Pan là ai? Là Trần Can, là Khái Hưng, là ý thức hệ của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, chủ trương cải lương để mà từ chối cách mạng, sống dưới kẻ thù chứ không tiêu diệt kẻ thù. Và rốt cuộc, đã bị kẻ thù tiêu diệt trực tiếp hay là gián tiếp, như Ly-Jem-Pan, như chàng thi sĩ Trần Can.


Trong truyện Hoàng Oanh người ta gặp lại một cái tinh thần quốc gia gượng gạo như vậy. Số Thái Sư tán thành nhân duyên của Thái tử Chế Mân với nàng Huyền Trân nước Việt, mặc dù cuộc nhân duyên ấy có thiệt thòi đến hạnh phúc con mình. Tác giả viết: “Ông chỉ nhận thấy rằng cuộc hôn nhân của thái tử Chế Mân với Huyền Trân công chúa sẽ gây nên kết quả hay cho sự bang giao với nước láng giềng mạnh gấp mấy nước mình”(trang 137). Nhưng Số Thái Sư có lẽ tính lầm. Cuộc hôn nhân ấy chỉ làm đất nước Chiêm Thành thua lỗ thêm thôi.


Có thể bảo rằng tác giả không cần viết theo lịch sử và chỉ mượn lịch sử làm một chiếc đinh để treo bức họa của mình, như Dumas đã từng quan niệm. Nhưng dù không vâng theo, thiết tưởng cũng không nên đi ngược lại với nội dung lịch sử. Nhất là đối với sự kiện Hồ Quý Ly, tác giả không thoatự học khỏi được cái nhìn đã cũ, vẫn còn đánh giá sự giành ngôi của Hồ Quý Ly bằng một quan niệm cố chấp của những triều đại tự xem mình là chính thống, tuy trên thực tế hai tiếng chính thống thực rất hồ đồ.


Nói chung, quan niệm của tác giả về quốc gia, dân tộc, nhân loại, ý tưởng, trong Số đào hoa cũng như tâm lý của nhiều nhân vật đều có vẻ gì mơ hồ, mờ nhạt, do một nhận thức trừu tượng, đơn giản. Riêng truyện Đi Nam Kỳ và Cái thù ba mươi năm có lẽ gần gũi với cuộc đời tác giả nhiều hơn nên người đọc tìm gặp khá nhiều chi tiết sống động. Nhất là truyện Đi Nam Kỳ, thật là bình dị, linh hoạt, đạt đến một sự điều độ nghệ thuật phù hợp với những đề tài như thế. Trong Cái thù ba mươi năm, tâm lý Nghị Tài quá thô sơ, tâm lý cậu Cử còn máy móc và giữa Xã Tài với cụ Thượng Bùi, nhà văn Khái Hưng vẫn trọng cụ Thượng nhiều hơn.


Tóm lại, về phần kỹ thuật người ta có thể nhận thấy hai điểm sau đây:


a) Một là về phần đối thoại, Khái Hưng không làm hiện rõ cá tính của từng nhân vật, khiến cho lời nói của họ hầu hết giống nhau, nhân vật vì thế mất đi bản sắc độc đáo, câu chuyện mất đi giá trị sát thực. Nhất là trong những truyện cổ như Linh hồn Thi sĩ, Hoàng Oanh hay truyện nước ngoài như Ada Kwaben tác giả không gợi được cái không khí phù hợp với nội dung câu chuyện.


b) Hai là về phần diễn tả, tác giả tỏ ra quá sức dễ dãi, bằng lòng với những nhận xét thô sơ, không chịu tìm tòi phát hiện hình ảnh thích đáng để gây ấn tượng rõ đậm nhiều hơn. Chẳng hạn, tả cuộc giao chiến, về đêm, tác giả đã viết: “Một giờ đêm tại Hạp Bắc. Suốt hai dãy phố Tsin-Tsang cửa đóng kín mít. Ngoài đường tối đen như mực. Tuy thế trận không chiến còn dữ dội như buổi sáng, song tiếng súng nghe vẫn liên thanh. Thỉnh thoảng quả trái phá rơi nổ, làm rung động một gốc thành. Theo liền tường nhà đổ, tiếng mái nhà sập” (trang 119). Người ta dễ có cảm tưởng đang đọc một trang nhật ký chiến sự ghi chép vội vàng. Lối diễn tả ấy còn gặp nhan nhản ở trong tác phẩm. Chúng ta bắt buộc phải phỏng đoán rằng hoặc vì tác giả ở vào thời kỳ khởi đầu nên chưa có một trình độ hình dung vấn đề, hoặc vì tác giả sáng tác vội vàng, lấy có, để đủ cung cấp bài vở cho một kỳ báo.


Như thế, Số đào hoa, dù là xuất bản lần đầu, vẫn không có giá trị gì đáng kể. Nó cũng như anh chàng Văn trong truyện, dù là được tiếng đào hoa, nhiều vợ mà hiền, nhưng rốt cuộc lại chẳng yêu được một người nào cho xứng với cái ngôi sao chiếu mệnh.


(Tin Sách, tháng 10, 11 và 12/1961)


(còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn. Bản thảo biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.


www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Về miền an lành - Triệu Xuân 12.01.2019
Nguyễn Xuân Khoát - Người mở ra buổi “bình minh” của lịch sử tân nhạc - Hoài Anh 11.01.2019
Danh sỹ Hà Nội: Trần Đức Thảo - “Người Việt Nam duy nhất được coi là triết gia” - Hoài Anh 10.01.2019
Danh sỹ Hà Nội: Nguyễn Mạnh Tường - Người tiêu biểu cho trí tuệ Việt Nam - Hoài Anh 10.01.2019
Nước Mỹ như tôi biết - Thái Chí Thanh 27.12.2018
Khu Năm thương nhớ tự hào - Triệu Xuân 26.12.2018
Làng Việt cổ Đường Lâm - Hà Nguyên Huyến 12.12.2018
Một vùng rau Láng xa xưa... - Vũ Thị Tuyết Nhung 11.12.2018
Tuyển tập Vũ Hạnh: Hai nhạc sỹ tài danh trong dòng văn học dân tộc - Vũ Hạnh 07.12.2018
Tuyển tập Vũ Hạnh: Số đào hoa của Khái Hưng - Vũ Hạnh 07.12.2018
xem thêm »