tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27653288
05.12.2018
Vũ Bằng
Nói có sách (8)


THƯƠNG THẢO VÀ THƠM THẢO


Có nhiều người lầm chữ “thương thảo” và “thơm thảo”. “Thơm thảo” là tốt đẹp, hậu hĩ, quý hóa. Trong bài hát trẻ con, có câu: “Thơm thảo bà lão ăn thừa”, có ý nói rằng “nào có quý hóa gì đâu, đó là thứ ăn thừa của bà lão”.


“Thương thảo” có nghĩa khác hẳn: Thương thảo là chữ tắt của chữ “thương lượng” “thảo luận”. Ngày nay là thời đại của thần tốc. Trong ngôn ngữ, muốn đi nhanh theo đà cơ khí, ta thường đổi chữ kép ra chữ đơn cho vắn tắt. Và có khi hai chữ kép đi liền nhau thì thu lại thành hai chữ đơn ghép lại. Thương thảo là một thí dụ.


Thương lượng thảo luận mà ghép thành thương thảo thì không hại gì, nhưng bênh vực che chở mà ghép lại thành bênh che, nghe như không còn là tiếng Việt, cam khổ gay go ghép thành cam go để chỉ sự khó khăn khổ sở thì không đúng vì trong chữ cam khổ nếu khổ là đắng cay thì cam lại là ngọt (khổ tận đến ngày cam lai): Dùng một chữ cam ắt không còn nghĩa là khổ nữa.


Trại của gia đình binh sĩ, gọi tắt là gia binh, ai không biết là chỉ gia đình binh sĩ, sẽ có thể hiểu là trại binh của nhà, của gia đình.


Nếu cứ theo lối “cắt bốn thành hai” này mà áp dụng vào bốn chữ tối cao pháp viện chẳng hạn thì viện đó không lẽ sẽ thành cao pháp hay tối viện hoặc cao viện hay tối pháp?


HỦ BẠI, HỦ LẬU, HỦ HÓA


Chữ “hủ hóa” không phải là một danh từ, mà là động từ, có nghĩa là trở thành hư hỏng, tồi tệ, xấu xa. Sở dĩ “hủ hóa” có nghĩa như vậy là vì chữ “hủ hóa” quen dùng để nói về sự thông dâm với những người không phải là vợ hay chồng mình. Hủ hóa là làm điều tồi bại, tội lỗi, do đó mới dùng để nói rộng ra tất cả những công việc gì có tính cách hư hỏng, tồi tệ thối nát.


“Hủ hóa” hàm một ý nghĩa đương tốt mà trở thành tồi tệ; chớ “hủ bại”, “hủ lậu” thì có ý nghĩa là tồi tệ, xấu xa, không hợp thời đã lâu rồi. Hủ bại là hỏng, là nát, là xấu (thí dụ phong tục tồi bại) còn hủ lậu thì chữ “lậu” hàm một ý không hợp thời, thô lậu, không lịch sự, tinh tế.


Chữ “lậu” và chữ “bại” trong hủ lậu và hủ bại làm tăng ý nghĩa hẹp hòi, tồi tệ lên. Riêng chữ “hủ” đã có ý nghĩa hẹp hòi mục nát và cũ kỹ rồi; (ông đồng hủ) hay “hủ nho” dùng để chỉ những nhà nho hẹp hòi cố chấp, hay “hủ tục” để chỉ những phong tục cũ kỹ, không hợp thời.


OANH KÍCH, PHỤC KÍCH, CÔNG KÍCH, DU KÍCH…


Ít lâu nay các phóng viên quân sự vì nhu cầu phải dùng nhiều thuật ngữ quá do đó đôi khi có sự sai lầm. Một ký giả viết: “Máy bay Mỹ lại tái pháo kích I-rắc trong chiến tranh vùng Vịnh”. Tốt hơn hết là ta nên minh định lại những danh từ có chữ “kích”.


Nói “máy bay Mỹ tái pháo kích” là không đúng; phải nói là “oanh kích”. Oanh kích có nghĩa là đánh bằng cách thả bom (oanh tạc): Máy bay Mỹ oanh kích các căn cứ quân sự của I-rắc.


“Phục kích” là quân đội nấp một chỗ, chờ địch đến mà đánh. Chữ “phục” đây cùng ý với chữ phục binh, mai phục.


Thí dụ: Đoàn công voa đi đến cách đèo A chừng hai cây số thì bị quân đội phục kích, thiệt hại khá nặng nề.


“Công kích” có ý nghĩa rộng rãi hơn. Đánh bằng võ khí.


“Pháo kích” chỉ một lối đánh rõ rệt hơn: Đánh bằng trọng pháo, chớ không phải đánh bằng gươm, bằng mã tấu, lựu đạn hay súng trường.


Thí dụ: Bộ đội pháo kích vào vị trí địch, làm cho một đồn tan nát, số thương vong khá lớn.


“Xạ kích” là từ chỉ những người chuyên bắn súng (đội xạ kích) ít khi dùng làm động từ.


“Truy kích” là địch chạy rồi còn đuổi theo để đánh.


“Tập kích” không có nghĩa là tập bắn như nhiều người tưởng mà cũng không phải là tập trung một số rất đông quân lính lại để đánh, mà chỉ có nghĩa là đánh úp. Tập kích còn có thể gọi là “tập công”.


Cuối cùng đánh “du kích” là một lối đánh không có mặt trận rõ rệt, khi ẩn khi hiện thất thường. Chữ “du” có nghĩa là lang thang như du mục, nay đánh đây mai đánh đó, không nhất định. Nói một cách nôm na, đánh du kích từa tựa như lối đánh lén, đánh rồi rút, chớ không công khai. Chiến tranh du kích có thể lấy một số ít để đánh một số nhiều rồi bỏ đi nơi khác, hay trà trộn vào dân để cho địch không biết ai là chiến sĩ du kích, ai là thường dân. Chữ du kích còn có nghĩa là những chiến sĩ đánh theo lối “du kích chiến”.


Ý ĐỒ VÀ XÍ ĐỒ


Trong từ chính trị, mỗi khi muốn nói lên một ý định làm việc gì, người ta hay dùng chữ “ý đồ” hay “xí đồ”. Vậy đồ là thế nào?


“Ý đồ” là ý định đã nằm trong kế hoạch giải quyết. Chữ “đồ” nghĩa đen là sự mưu toan.


Thí dụ: Việc chiếm đánh tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường nằm trong ý đồ của người Pháp xâm chiếm toàn bộ Nam Kỳ. “Ý đồ” cũng có nghĩa tương tự như chủ trương, song chủ trương có nội dung dứt khoát hơn, còn “ý đồ” mới chỉ là ý định, mang ý nghĩa đen tối hơn.


Nói “ý đồ” cũng được, hoặc nói “xí đồ” cũng được. “Ý” là ý định, “xí” là kiễng chân lên mà ngóng.


Nếu chỉ muốn nói cho cụ thể mà đó mới chỉ là một rắp tâm mưu toan, thì nên dùng “xí đồ”, đúng nghĩa hơn “ý đồ”.


BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ


“Biểu đồ” là bản ghi bằng hình ảnh và số liệu về kết quả thành tích của một hiện trạng hay của sự việc. Nhiều người phụ trách về thông tin tuyên truyền thường hay lầm và dùng “sơ đồ” thay cho “biểu đồ”.


“Biểu đồ” và “sơ đồ” là hai cái khác hẳn nhau.


Thí dụ: Trong biểu đồ về tình hình thời tiết chẳng hạn, tất phải có những nét vẽ đậm, lạt hoặc màu sắc khác nhau, nói lên được sự thay đổi mưa gió, sức nóng, tai biến bất thường giữa tháng này và tháng khác, hoặc giữa ngày hôm trước và ngày hôm sau, để tổng quát ta có một khái niệm ngay về tình hình ấy trong một thời gian nhất định.


Còn “sơ đồ” là bản vẽ đại cương về một tình hình nào đó.


Thí dụ: Sơ đồ xây cất biệt thự Long Phụng, hay sơ đồ tổ chức phòng thủ xóm ấp để chống càn quét của địch.


Trong sơ đồ xây cất biệt thự, có vẽ rõ chỗ nào là nhà chính, nhà phụ, nơi để xe, cầu tiêu, vườn chơi v.v… Còn sơ đồ tổ chức phải nêu lên được công tác phối hợp, liên lạc và chỉ huy của tổ chức ấy nư thế nào.


“Sơ đồ” là bản ghi đại lược song không phải vì đơn giản mà nó không có cái khó của nó, là phải làm thế nào cho người xem nắm ngay được cái mấu chốt của vấn đề. Trình bày một sơ đồ mà chỉ để lộ ra những chi tiết, còn bộ phận trọng tâm, công tác trọng tâm lại mờ đi, như thế là hỏng, không đáng kể.


“Sơ đồ tổ chức” và “hệ thống tổ chức” cũng có khác nhau về tình tiết. Một sơ đồ có thể sơ sài đại quát, song một hệ thống bắt buộc phải đầy đủ.


Thí dụ: Khi ta muốn nói về hệ thống tổ chức Bộ Nông nghiệp chẳng hạn, ta phải nói lên được vị trí của Bộ Nông nghiệp trong Chính phủ, sự quan hệ của nó với Thủ tướng Chính phủ, với các cấp ngang Bộ, với Quốc hội, các Sở trực thuộc Bộ và sự chỉ huy cùng tổ chức dọc xuống tới các đơn vị Thành, Tỉnh, Quận, Xã v.v…


Nhìn vào hệ thống tổ chức, ta có thể biết ngay được lề lối làm việc của cơ cấu khoa học hay không khoa học, dân chủ hay không dân chủ v.v… Nếu nhìn vào bản sơ đồ tổ chức ta cũng thấy tương tự, nhưng đơn giản hơn nhiều.


BỐI CẢNH


“Bối cảnh” không phải là cảnh tượng như một số người thường hiểu, hoặc một cảnh giả đặt ở đàng sau cảnh thật.


“Bối cảnh” nguyên nghĩa của nó là những bài trí sân khấu, gồm có phòng và các thứ bày biện ở sau lưng và bên phải, bên trái các diễn viên.


“Bối cảnh” còn có nghĩa là cái nền ở xung quanh bức vẽ làm nổi bức vẽ lên. Do đó dùng rộng ra, “bối cảnh” có nghĩa là khung cảnh xã hội làm cơ sở cho các hoạt động.


Thí dụ: Bối cảnh lịch sử của truyện Kiều.


TRỌNG BỆNH VÀ MAO BỆNH


“Trọng bệnh” nghĩa thông thường là bệnh nặng. Phong, lao, cổ, đều là những trọng bệnh.


Song nói về khuyết điểm, sai lầm của một người hay của một tập thể, mỗi khi nói đến sự sa sút lớn, lầm lẫn lớn, người ta cũng có thể dùng hai chữ “trọng bệnh”.


Thí dụ: Nhà chính khách ấy bị một “trọng bệnh” là nói tếu, tiền hậu bất nhất.


Trọng bệnh là bệnh nặng thì “mao bệnh” cũng có nghĩa là bệnh lông. Song bệnh lông đây không phải là bệnh của lông nách hay lông chân, nhưng là bệnh nhẹ - nhẹ như lông - bệnh lặt vặt, không tai hại gì lắm, thuộc về nếp sống (bây giờ ít dùng).


Thích uống nước trà đặc, thích uống la ve nói tếu, thích la cà ngoài đường phố sau giờ làm việc buổi chiều đều có thể coi là “mao bệnh”…


TRÀO LỘNG, TRÀO PHÚNG, TRÀO MẠ VÀ U MẶC


Cho đến bây giờ chưa mấy ai ấn định được đúng mức độ khác biệt giữa những từ “khôi hài”, “trào phúng”, “trào lộng”, “trào mạ”.


Theo chúng tôi, “trào lộng” (cũng có thể kêu là triều lộng) nghĩa đen là sự bỡn cợt bằng lời nói (trào hước). Trào lộng chỉ những lời hài hước không mức độ để giễu cợt cho thỏa thích, nêu lên hết mọi khía cạnh của sự việc, cốt để cười, cười cho lớn, cười “bể bụng”.


Ba Giai, Tú Xuất và gần đây Tú Xe, Tú Nạc, Tú Phe, Tú Rua, Tú Rít, Tú Lơ Mông đều là những nhà văn trào lộng. Chọc ra mà cười, cười chết thôi, cười chảy nước mắt (và cũng để than khóc cho cuộc đời!).


“Trào phúng” nghĩa dịu hơn “trào lộng”, chỉ những lời nói hay cử chỉ bông đùa, tế nhị hơn, với mục đích can gián hay khuyên răn người.


Nếu nói “trào lộng” ít tinh thần xây dựng (hay hiểu theo phản ứng mạnh, xây dựng một cách tiêu cực) thì “trào phúng” nhẹ nhàng và có nhiều ý thức xây dựng hơn.


Các nhà văn như Tú Xương, Yên Đổ, hay gần đây như Tú Mỡ, Đồ Phồn, Vũ Trọng Phụng… đều có một lối văn trào phúng đặc sắc.


Trái lại, “trào mạ” cũng là cười, nhưng đặt vấn đề chửi bới, thóa mạ nhiều hơn vấn đề cười.


Cũng nói về cái cười, còn một từ nữa mà người mình ít khi dùng tới: U mặc. Có lẽ từ này xuất xứ từ chữ “humour” của Pháp. Thái độ “u mặc” là thái độ khôi hài, dùng châm biếm để bới vạch những sai lầm của người đời. “U mặc” tuy bao hàm ý nghĩa hài hước, phúng thế, song chỉ chuyên dùng lối khoái hoạt nhẹ nhàng. Nó còn ở mức độ nhẹ hơn trào phúng một mức nữa.


Một tác phẩm “u mặc” là một tác phẩm chuyên dựa vào sự quan sát hợp lý rồi đem những mâu thuẫn khách quan, những tính cách không hợp lý và những ý chí cừu địch mà bộc lộ ra hoặc phản kích lại bằng giọng văn thú vị nhẹ nhàng khiến độc giả hái được một thứ thực cảm tự nhiên thích đáng và thấm thía, rồi nảy ra mối phản ứng đồng tình.


“U mặc” văn chương không áp dụng đao to búa lớn, không chỉ trích trực diện và chủ quan.


Thí dụ: Bài thơ “Ông thừa tự thuật” không phải trào lộng, trào phúng mà có thể liệt vào thơ u mặc.


Một nhà nho tài học uyên bác mà chỉ đỗ tú tài, sau vì sinh kế eo hẹp phải đi làm thừa phái. Có bài thơ nhạo như sau:


Ông là thừa phái Hoàng nông,


Ông ngồi ông nghĩ mình ông thật thừa.


Người trong thế giới đã vừa


Cớ chi Trời lại lọc thừa ra ông…


Mắt thừa ông chẳng buồn trông.


Sau khi kê ra tai, mũi, miệng, tay, chân, bụng, gan cái gì cũng là thừa, tác giả viết:


Ông còn thừa cái gì không?


Ông còn thừa cái giấu trong đũng quần.


Cô nào lịch sự thanh tân,


Hỏi rằng có thiếu, “muốn mần” ông cho!


Ngán cho một số nhà nho,


Mất tiền mất của đi lo ông thừa.


BỘI TÍN VÀ LƯỜNG GẠT KHÁC NHAU RA SAO?


Nhiều người, kể cả các phóng viên, tưởng “bội tín” và “lường gạt” là một tội. Thật ra, hai cái đó khác nhau.


Sự “bội tín” là sự xâm phạm một khế ước đã có từ trước giữa hai người. Tội “bội tín” sẽ cấu thành khi xâm phạm một trong các loại khế ước sau đây:


- Khế ước thuê mướn


- Khế ước ký thác


- Khế ước ủy thác


- Khế ước cầm cố


- Khế ước mượn để dùng


- Khế ước lao động…


Muốn cấu thành tội “bội tín” thì phải chứng minh được rằng đã có một khế ước trước đó giữa hai người, mà khế ước đó bị xâm phạm.


“Lường gạt” khác hẳn tội “bội tín”. “Lường gạt” là làm hay toan làm cho người ta trao cho mình hay phát ra cho mình những tiền bạc, động sản hay trái phiếu (obligations), những giao ước, giấy nợ, những hứa hẹn, biên lai hay giấy giải trừ, hoặc bằng sự dùng tên giả, và chức phận giả, hoặc bằng sự dùng mánh khóe gian trá mà làm cho người ta tin rằng mình có lập ra những xí nghiệp gì hay mình có quyền hành hay một tín dụng mà mình không có, và làm như thế để lường gạt hay toan lường gạt mà lấy trọn hay một phần sự nghiệp của người ta.


Nếu sự “lường gạt” đã thực hành nhờ sự giả mạo tên họ thì không cần phải có sự can thiệp của người thứ ba, tội phạm cũng cấu thành.


Thí dụ: Có một tên bịp ở đâu đến, ăn mặc bảnh bao, tự xưng là A, chức vụ là B. Ai muốn mua xe gắn máy hãy nộp tiền cho y, y sẽ can thiệp với chính quyền để được mua. Ai cũng tin và nộp tiền cho y. Như thế là tội lường gạt.


ĐỀ CAO CẢNH GIÁC


Nhiều người cho rằng “đề cao cảnh giác” là sự khôn ngoan, nâng cái trí óc lên để mà đối phó với thời cuộc, đấu tranh triệt để v.v…


Sự thật, những người không đấu tranh cũng vẫn đề cao cảnh giác. Đề cao là nâng lên, làm cho có giá trị.


Thí dụ: Đề cao công tác giáo dục tư tưởng.


Cảnh giác không phải trí óc hay là cảnh sát, nhưng có nghĩa là tỉnh táo đề phòng (thí dụ: cảnh giác trước âm mưu của địch).


Cụm từ “đề cao cảnh giác” chỉ có ý nghĩa là phải hết sức thận trọng, tỉnh táo để đề phòng mà thôi.


ĐỐI TƯỢNG


Nhiều người lầm chữ “đối tượng” có ý nghĩa chống lại (cũng như lầm phủ nhận là thừa nhận). Họ lầm chữ đối tượng có ý nghĩa chống lại có lẽ là vì có chữ “đối” (phản đối, chống đối, đối lập).


Thực ra, “đối tượng” chỉ là sự vật làm đích cho sự nghiên cứu và hành động của con người.


Thí dụ: Lúc tôi viết cuốn sách ấy, tôi đã chọn sẵn các nữ sinh làm đối tượng. Hay: Đối tượng của cách mạng dân tộc, dân chủ là thực dân, đế quốc và phong kiến.


CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CẢI LƯƠNG, XÃ HỘI KHOA HỌC
VÀ XÃ HỘI KHÔNG TƯỞNG


Thoạt đầu, từ xã hội chỉ có nghĩa là tập đoàn người xây dựng trên quan hệ về sản xuất, gia đình, chính trị, văn hóa.


Thí dụ: Xã hội loài người, xã hội Việt Nam.


Về sau, từ “xã hội” được nhắc nhở nhiều là vì có chủ nghĩa xã hội. “Chủ nghĩa xã hội” là lý luận cách mạng của giai cấp công nhân do Các Mác và Ăng Ghen đề xướng, nhằm chống lại chế độ tư bản, lập nền chuyên chính vô sản và xã hội hóa các tư liệu sản xuất, tức là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, có những đặc điểm như:


1) Công cụ sản xuất, ruộng đất, cơ quan là của chung xã hội.


2) Sản xuất lấy xã hội làm cơ sở và tổ chức theo kế hoạch: Mọi người “làm việc theo năng lực và hưởng thụ theo sức lao động”.


“Xã hội học” là môn học nghiên cứu nguồn gốc, sự biến đổi và sự phát triển của các hiện tượng trong đời sống xã hội.


“Xã hội hóa” là đem hiện tượng sản xuất của cá nhân làm của chung của xã hội.


Thí dụ: Xã hội hóa các phương tiện giao thông vận tải. Khi nói “xã hội hóa giáo dục”, ta nên hiểu là làm thế nào cho những hoạt động giáo dục có mối liên quan hữu cơ với toàn thể xã hội, với mọi người.


Hiện nay có ba chủ nghĩa xã hội chính: Chủ nghĩa xã hội cải lương, chủ nghĩa xã hội khoa học và chủ nghĩa xã hội không tưởng.


“Chủ nghĩa xã hội cải lương” là chủ trương chính trị của đệ nhị quốc tế, không đấu tranh giai cấp nhưng dùng cải lương cải cách để thay đấu tranh giai cấp.


“Chủ nghĩa xã hội khoa học” là chủ nghĩa xã hội do Các Mác và Ăng Ghen dùng duy vật biện chứng pháp dựng lên.


“Chủ nghĩa xã hội không tưởng” là chủ nghĩa vận hội do Sanh-si-mông, Phu-ri-ê, O-uyn căn cứ vào những ý muốn chủ quan của mình mà dựng nên.


KHỦNG HOẢNG KINH TẾ, TỔNG KHỦNG HOẢNG,
KHỦNG HOẢNG THIẾU, KHỦNG HOẢNG THỪA


“Khủng hoảng” nghĩa chung là rối loạn, mất thăng bằng cần thiết. Từ “khủng hoảng” được áp dụng nhiều trong tình trạng kinh tế, cho nên thoạt đầu từ khủng hoảng có nghĩa là tình trạng rối loạn trong nền kinh tế tư bản, do sức sản xuất và sức tiêu thụ không đồng đều, không thăng bằng, khiến cho dân chúng thiếu thốn, khó sống, vất vả.


Về sau này, từ “khủng hoảng” được dùng với một tính cách rộng rãi hơn để chỉ tất cả cái gì mất thăng bằng (khủng hoảng tinh thần, khủng hoảng tình cảm), rồi do đó có cả từ “tổng khủng hoảng” để chỉ sự khủng hoảng toàn diện của cả hệ thống tư bản thế giới thể hiện ở sự đấu tranh giai cấp ngày càng quyết liệt.


Mặt khác, trong lãnh vực kinh tế, còn mấy từ liên quan đến khủng hoảng nữa.


“Khủng hoảng chu kỳ” tức là sự khủng hoảng của nền kinh tế cứ sau một thời gian lại bùng ra.


“Khủng hoảng thừa” tức là sự khủng hoảng kinh tế do mức sản xuất quá nhiều so với sức mua của người dân, làm cho hàng hóa ứ đọng, giá hàng sụt xuống, nhà máy phải đóng cửa, công nhân mất việc làm.


“Khủng hoảng thiếu” tức là khủng hoảng kinh tế do sức sản xuất kém quá không đủ cung cấp cho nhu cầu của nhân dân, làm cho giá hàng tăng cao, sinh hoạt đắt đỏ.


Hiện nay vẫn còn người nói và viết “khủng hoảng” là sai, cũng như phải nói “khích thích” mới đúng chớ không phải là “kích thích”.


ĐẶC BIỆT, ĐẶC THÙ VÀ ĐỘC ĐÁO


Ít lâu nay, mỗi khi nói tới một cái gì khác người, đặc biệt, người ta hay dùng chứ “độc đáo” và tưởng rằng “độc đáo” cũng như “đặc biệt”. Sự thực “độc đáo” và “đặc biệt” hơi khác một chút.


“Độc đáo” có nghĩa là có tính chất đặc biệt, người khác, nơi khác không có.


Thí dụ: Giọng văn độc đáo, nét nhạc độc đáo.


Còn “đặc biệt” thì là khác mức thường, nhưng ở người khác, nơi khác có thể có.


Thí dụ: Tài năng đặc biệt, nét vẽ đặc biệt.


“Đặc biệt” là có màu sắc đặc biệt, hay tốt hơn mức thường.


Thí dụ: tiết mục đặc sắc.


“Đặc thù” cũng có ý nghĩa đặc biệt, có tính cách riêng biệt, khác với thông thường. Đặc thù khác với đặc trưng: Đặc thù nói về tính riêng biệt, còn “đặc trưng” là dấu hiệu riêng biệt.


Thí dụ: Đặc trưng của văn học dân gian.


THẾ NÀO LÀ TRỌNG TÂM, TRỌNG ĐIỂM, CHỦ ĐIỂM?


Theo định nghĩa chung, “trọng tâm” là điểm trung tâm tập hợp toàn thể trọng lượng của vật thể (centre de gravité). Về phương diện chính trị, dùng từ “trọng tâm” để nói lên lực lượng hay nhân vật trung tâm thu hút toàn khối quần chúng.


Thí dụ: Quốc trưởng X là trọng tâm của đoàn kết dân tộc.


Song, đứng về công việc, hay khi nói về một tài liệu, “trọng tâm” có nghĩa là điểm mấu chốt, tất cả mọi công việc khác khi làm đều phải xoay vào phục vụ điểm đó trước, vì khi làm việc đó hoàn mỹ thì các việc khác cũng sẽ làm được dễ dàng.


Thí dụ: Quý này Ủy ban có năm công tác lớn, song công tác trọng tâm là cứu trợ đồng bào bị lũ lụt… Hay nói về tài liệu: đây là một tài liệu huấn luyện về cách thức trồng cây ăn trái, yêu cầu trọng tâm là phương pháp lựa và gầy giống.


Yêu cầu của trọng tâm quán triệt tất cả mọi yêu cầu khác vì đòi hỏi người thi hành phải hoàn thành cho được, cho tốt.


“trọng tâm” rồi lại có “trọng điểm” cho từng phần việc, từng mục, từng địa phương.


Thí dụ: Trọng tâm công tác là cứu trợ đồng bào bị lũ, song trọng điểm là các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long.


“Trọng điểm” là những điểm phải làm trước vì tính chất quan trọng của nó. Song, không phải tất cả những công việc gì phải làm trước đều là trọng điểm. Làm trước chỉ là một phần quan trọng trong toàn bộ quan tâm đến sự việc phải chú ý ấy mà thôi.


Một công trình chỉ có một trọng tâm, nhưng có thể có nhiều trọng điểm.


Một chương trình hoạt động mà không quy định trọng tâm, trọng điểm là một chương trình hoạt động thiếu kế hoạch.


Khác hẳn với lối định nghĩa trọng tâm, trọng điểm, “chủ điểm” không phải là điểm chủ yếu mà là điểm quy tụ các vấn đề cùng một loại, một tính chất (centre d’intérêt).


Thí dụ: Cuốn ngữ vựng Pháp văn của nhà xuất bản A phân ra nhiều chủ điểm: gia đình, học đường, xã hội v.v…


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hòa bình khó nhọc - Nguyên Ngọc 17.06.2019
Người Trung Quốc xấu xí (9, kỳ cuối) - Bá Dương 12.06.2019
Người Trung Quốc xấu xí (8) - Bá Dương 11.06.2019
Xong cả - Võ Phiến 07.06.2019
Một thời thanh xuân - Châu La Việt 04.06.2019
Nhớ Hoàng Tiến - Vũ Thư Hiên 27.05.2019
Ghi chép trong chuyến đi Mỹ - Nguyễn Quang Thiều 26.05.2019
Thương nhớ mười hai: Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt - Vũ Bằng 03.02.2019
Bình “Đào lê mỹ tửu” của Thạch Lam - Vũ Bằng 27.01.2019
Tam Ích Lê Nguyên Tiệp - Một lời nguyện thiết tha: Xin cho tôi chết lẹ - Vũ Bằng 27.01.2019
xem thêm »