tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29373957
29.11.2018
Vũ Hạnh
Nghĩ về tâm trạng lớp trẻ & Con đường "đĩ hóa"


NGHĨ VỀ MỘT TÂM TRẠNG CỦA LỚP TRẺ HIỆN NAY


Hiện tượng khá rõ mà ai cũng có thể nhìn thấy được, đó là tâm trạng hoang mang của các trẻ em. Sự hoang mang ấy thật ra có nhiều nguyên nhân hết sức sâu xa, phức tạp. Trước hết ta có thể nói đến sự phá sản của nhiều giá trị và sự tan rã của những thần tượng. Con trẻ ngày nay, sau những chiến tranh phá hoại, sau những chế độ đổi thay, được thức tỉnh nhiều ở trên suy xét. Những thế hệ trước chiến tranh, mỗi khi lớn lên đã được gia đình uốn nắn theo một khuôn khổ, trong một hoàn cảnh xã hội tạm ổn với những tín điều gần như cố định, bao giờ cũng có thể thấy trên đầu trên cổ mình một vài nhân vật trưởng thượng rất đáng tùng phục, tôn kính. Lớp trẻ ngày nay, tuy học hỏi trong sách vở không nhiều - đôi khi chẳng chịu học hành gì hết - nhưng lại có thừa cơ hội để mà nhìn thấy cuộc đời. Có thể nói rằng họ được nhìn đời gần quá, đến mức thiển cận lắm khi, chứ không như lớp trẻ của ngày xưa khép nép hé nhìn cuộc sống qua khung cửa nhỏ hay qua một lớp kính màu giáo lý. Khi va chạm với thực tế, các em thiếu một cái nhìn tổng quát để thấy cuộc đời hai mặt và thiếu một quan điểm động để nhìn được một chiều hướng tương lai, do đó trên những chiến trường đang còn thu dọn sau các trận giặc lớn lao họ chỉ nhìn thấy xác chết, mùi tanh và rồi chỉ thấy quái thai, hỗn độn. Giữa cái xã hội phố phường càng ngày càng chật chội hơn, càng thiếu hụt hơn, đầy những con người tranh sống một cách tàn ác, bất lương, cho đến chính trị cũng bày những trò gian trá, điên đảo, phần đông mệt mỏi vì những cuộc chiến đã qua, mệt mỏi vì những cuộc chiến đang diễn, hay sẽ lại diễn, cộng với mệt mỏi của cuộc vật lộn cơm áo hàng ngày, vội vàng đổ xô đi tìm giải trí như muốn sống vội sống vàng những phút quên lãng dù nó có thể dẫn đến bao nhiêu hậu quả tai hại về sau, giữa cuộc sống ấy, con trẻ làm sao mà chẳng ngơ ngác, hồ nghi, không biết là mình ở đâu và sẽ lạc lối về đâu. Đồng thời trong sự cạnh tranh kinh tế càng ngày càng gay gắt hơn, mọi mặt của xã hội đều bị thương mãi hóa một cách trắng trợn, trong đó những hạng con buôn nhiều vốn tự do khuynh đảo thị trường, kể cả thị trường chính trị, thị trường văn hóa, nghệ thuật. Tất cả những giá trị tốt mà ngày xưa rất tôn sùng, tất cả những lẽ cao quí mà lớp trẻ rất kính trọng khi còn bé thơ, đến lúc nhìn rõ vào cuộc đời chúng bỗng phân vân, kinh ngạc, hoảng hốt lạ lùng: cha mẹ mà chúng thương yêu rất mực nhiều khi cũng vì cơm áo, đồng tiền mà mắng chửi nhau, đối xử với nhau một cách thô lỗ, tầm thường quá đổi. Các bậc đàn anh đàn chị mà chúng mến yêu cũng chứa đầy những khuyết điểm và những tật xấu mà chúng không ngờ. Vào các trường học, chúng càng thất vọng hơn nữa: học đường đã hết ảo tưởng thiêng liêng mà chỉ là một cảnh chợ ồn ào, trong đó người ta tuy vẫn nói lớn những danh từ đẹp như là giáo dục, văn hóa, lương tâm chức nghiệp, nhưng các chủ trường không ngớt dùng mọi thủ đoạn cạnh tranh để được đắt hàng, kể cả dọa nạt, phỉnh lừa và thường xuyên là nói dối. Đồng thời một số khá lớn ông thầy lại dùng thủ đoạn bôi nhọ lẫn nhau để tranh giờ dạy, ba hoa khoác lác tự quảng cáo mình một cách trơ trẽn, khai thác những chuyện nhảm nhí, dâm ô để giải trí đám học trò, đấy là chưa kể bao nhiêu thói tật vụ lợi tầm thường của “đấng tôn sư”, từ sự ép buộc học trò mua lấy bài vở của mình, đến những phản ứng nông nổi hẹp hòi như sự bỏ lớp vì câu chất vấn của một học sinh, hoặc dùng lớp học để nói việc nhà, chửi bới hiệu trưởng, phàn nàn đồng lương… đấy là chưa nói nhiều khi tỏ ra hết sức lúng túng nếu gặp học trò hỏi về bài học. Ông thầy quả đã dốt nát, tầm thường như vậy, thì còn biết cậy nhờ ai? Hướng vào những kẻ cầm đầu dân chúng, những kẻ tượng trưng cho những quyền hành tương đối lớn lao, trẻ em cũng đến sững sốt: bao nhiêu năm rồi những kẻ tay đầy máu dân vẫn nói bênh vực cho dân, và hạng đĩ điếm vô lương lại được toàn quyền định đoạt cuộc đời thiên hạ. Rồi các danh từ đảo ngược: tự do trở thành trói buộc, nhân đạo trở thành dã man, công bằng trở thành cướp đoạt. Trẻ em không chán nản nữa, chúng chán chường rồi. Như mọi lớp trẻ tuổi trong mọi thế hệ, chúng đều khát khao một lý tưởng đẹp, một trật tự tốt, và một cuộc đời cao quí, đáng sống. Nhưng mà rác rưởi đầy đường, mùi hôi khắp nẻo, tâm hồn ngạt thở, biết nói làm sao? Không còn thần tượng để mà tôn thờ, không còn giá trị để mà tin tưởng. Ở trường người ta dạy chúng nhiều điều quan trọng bằng những tiếng nói cao siêu, nhưng ra đến cổng, mọi việc đã ngược lại rồi. Có những học trò biếng học, bỏ nhà theo bọn điếm đàng thế mà một hôm nào đó trở thành ca sĩ, minh tinh được các tờ báo in lên trang nhất, được ra nước ngoài, được các ông lớn đại diện chính quyền, đại diện tôn giáo tiếp đón niềm nở. Thế thì học làm quái gì để thành công chức với lương ba cọc ba đồng? Thế gì hi sinh làm gì khổ nhọc âm thầm như người mẹ kia trọn đời cặm cụi ở trong xó bếp mà vẫn thiếu trước hụt sau, không ai an ủi một lời? Chính sự đề cao những bọn đĩ điếm, vô lương ở trên mặt báo, mặt sách hàng ngày đã làm tủi nhục cho tất cả người lương thiện. Với sự suy luận đơn giản của mình, với sự nhận định vội vàng và sức chịu đựng có hạn của mình, lớp trẻ làm sao mà không cảm thấy bị dồn hơi ngực, bị xô ngã nhào, bị sự lừa gạt khủng khiếp ở giữa lý thuyết và thực hành, ở giữa sách vở học đường và giữa sinh họat xã hội?


Con trẻ ngày nay phải sống giữa một thời đại nói láo rất đổi kinh hoàng. Ở nơi gia đình, ở trong học đường, ở ngoài xã hội, và sách vở báo chí, thảy đều chứa đầy một sự dối trá dày dạn mỗi ngày mỗi phát triển hơn, mỗi điêu ngoa hơn. Không tìm thấy được lẽ phải ngoài đời, chúng cũng không tìm thấy được lẽ phải ở trong sách vở. Nhiều tên ký giả bồi bút không còn chút liêm sỉ gì lại toàn nói lời bênh vực tự do, tuyên truyền ái quốc. Một số nhạc sĩ chuyên môn lừa gạt đàn bà lại phổ biến nhạc yêu đương, nói chuyện sống chết vì tình. Lại có những người cầm bút cả ngày ngồi trong quán rượu hay bên bàn đèn lại cất cao giọng hơn ai để mà nhận xét cuộc đời, tuyên truyền lẽ sống, hoặc những lớp người tự nhận là nhà triết học mà chỉ có mỗi thái độ cong lưng rụt cổ trước bọn bạo quyền. Đồng thời không thiếu những kẻ no đủ ngồi nói những chuyện cao xa trước những đồng loại đang lâm vào vòng đói khổ, những kẻ nông nổi, hư đốn làm bộ buồn chán cuộc đời để che tội lỗi của mình, những kẻ phóng túng, liều lĩnh gọi sự xuẩn động là một thái độ nổi loạn. Tất cả những trò bịp bợm và dối gạt đời chỉ có mỗi một tác dụng là tự bào chữa cho những xấu xa, yếu đuối của cá nhân mình. Con trẻ có thể bắt gặp ở trong sách vở những sự thực ấy và chúng dần dần không còn cảm thấy kính nể văn chương, mà chỉ coi những công trình văn nghệ hoặc là xa lạ với mình, hoặc là những thứ bày đặt nhảm nhí, đôi khi là những gặp gỡ thích thú, hấp dẫn, nhưng đọc đến trang cuối cùng đã thấy lạt lẽo. Cái thời của những sách gối đầu giường quả đã xa lắm lắm rồi.


Trước bao nhiêu là đổ vỡ, xáo trộn, bao nhiêu là những xấu xa bỉ ổi, cứ việc tiếp tục không dứt, bao phủ lấy cuộc đời chúng, con trẻ dần dần thấy mình không thể chịu đựng. Đồng thời với óc suy luận đơn giản, rõ ràng là chúng không nhìn thấy được lối thoát, và cũng chẳng ai đưa đường chỉ nẻo một cách rõ ràng, hợp lý cho chúng noi theo. Cuối cùng con trẻ phẫn uất, bất bình, muốn làm những chuyện ngược ngạo, trái đời, muốn chứng tỏ rằng mình có cuộc sống và cuộc sống ấy có những kêu đòi, có những tham vọng mà nó thấy là chính đáng. Tình cảm của lớp trẻ em ngày nay đối với cha mẹ quả đã khác xưa. Khi còn bé bỏng, chúng yêu và sợ cha mẹ của mình. Lớn lên, lòng yêu sợ ấy biến thành thương hại. Có thể nói rằng con trẻ ngày nay bị tước đoạt mất một thứ cảm tình quí giá, là lòng tôn kính. Con trẻ không còn biết đến kính nể, và đã mất hẳn hương vị đặc biệt của một thái độ nghiêng mình bái phục và lòng thiết tha hướng cuộc đới mình về một nhân vật lý tưởng. Thật ra, chúng vẫn có những thần tượng, nhưng là thần tượng tạm bợ, ngắn ngủi một ngày. Đó là những mẫu loại người đã đạt được sự thành công giai đoạn ở trên thực tế, chẳng hạn là một cầu thủ tài năng, một tay đua xe thắng cuộc, một đào một kép ăn khách, hay một nhà văn đoạt giải thưởng nào. Những giá trị này có thể gây được nơi chúng những sự kích động, hưởng ứng sôi nổi một lúc nào đó, rồi thôi, và qua ngày sau chúng có thể quên một cách thật sự khi chính những con người ấy cũng bị loại ra ngoài cuộc. Bây giờ chúng lại chờ đợi những thần tượng khác, cố tạo những giá trị khác cũng rất giả tạm như thế để mà chán nản rất là vội vàng. Mà thực cuộc đời chúng ta đang sống, nhiều quá những thứ huy chương mạ vàng không chịu đựng được thử thách. Những tiếng “hoan hô” của ngày hôm nay trở thành “đả đảo” ngày mai rất chóng. Không thể làm sao tìm thấy những kiểu mẫu người lý tưởng dài hạn tương tự như loại quân tử, hiệp sĩ, hay võ sĩ đạo đã từng là loại hạng người tiêu chuẩn cho những thời đại tương đối cố định xa xưa, có đủ tư cách lôi cuốn lớp lớp con người noi theo bằng tất cả những nỗ lực của bản thân mình. Lớp trẻ, bất cứ là lớp trẻ nào, và ở bất cứ thời nào cũng cần hướng dẫn, cũng muốn bắt chước, cũng thích vươn lên. Và khi không còn tìm thấy một ai xứng đáng với lòng tin tưởng, mong chờ, để được rập khuôn hay đồng hóa với, tất nhiên chúng phải bắt chước những kiểu mẫu khác, tuy không cao quí, phi thường, nhưng vẫn có sức hấp dẫn. Điều đó cắt nghĩa vì sao có những cung cách ăn mặc theo một tài tử màn bạc, có lối chải tóc theo một chính kách, có những xử sự theo một nhân vật nào đó có thể rất là quái gở nhưng vốn đặc biệt. Đôi khi không còn biết hướng theo ai, chúng lại tự tạo cho mình những cung cách sống lập dị, khác đời để được thấy mình đặc biệt, và đây chỉ là đặc biệt ở phần hình thức, bởi lẽ nội dung đã phá sản rồi. Thiếu nội dung quan trọng vì không có thể tự tạo hay vay mượn những giá trị đáng kể, lớp trẻ mất hẳn tự tin, tự cường. Tưởng nên thêm rằng trên một cơ sở xã hội có nhiều tàn tích nô lệ, lại không cố gắng vận dụng sức mình để tự vươn lên mà mọi sinh họat đều chỉ vụ sự giúp đỡ của những người ngoài như một yếu tố quyết định, thì tâm lý của người dân cũng hướng về sự ỷ lại, và cảm thấy một bất ổn thường xuyên, dễ biến thành hoảng hốt, thành sự sợ hãi, đầu mối của những hành động liều lĩnh, điên cuồng, của những phản ứng mù quáng, quái gở.


Như thế, ngơ ngác, phân vân, hoài nghi đã đưa đến một trạng thái hoang mang hết sức nặng nề và từ hoang mang đã dẫn đến những biến thái chán chường, phẫn uất gây nên xuẩn động liều lĩnh.


 


CON ĐƯỜNG ĐĨ HÓA
VÀ SỰ NGĂN CHẶN CỦA GIA ĐÌNH


Khoảng 5, 6 năm về trước, con số tổng kết những loại nguyên nhân xô đẩy phụ nữ vào đường bán dâm cho thấy có đến 80% là do nghèo khổ. “Một sớm bụng thấy đói - Trăm năm thân phải liều”, câu thơ của thời tiền chiến phần nào đã minh họa được cái bi kịch đó. Những nguyên nhân khác, trong đó nổi cộm là sống phóng túng và thích ăn diện, đua đòi, chiếm 20% còn lại.


Nhưng mấy năm gần đây hơn, các tỉ lệ ấy đã đảo ngược rồi: 80% kẻ bán dâm là do cuộc sống xa xỉ, đua đòi gây nên. Nghèo đói, và một số nguyên nhân khác, lại là 20%.


Như vậy, đời sống kinh tế chúng ta đã có khởi sắc - vì sự đói nghèo không còn là một hiện tượng bức xúc ở trong xã hội - nhưng đời sống tinh thần, cụ thể là nền đạo lý, thì đang xuống cấp một cách trầm trọng. Chúng ta không lấy làm lạ khi các tệ nạn được truy quét mạnh, song vẫn tồn tại. Hẳn ai cũng đều hiểu rõ, chống đối, truy quét thật là cần thiết, nhưng vẫn chưa đủ. Làm thế, chúng ta chỉ mới giải quyết phần ngọn, chứ chưa tận gốc. Chừng nào cái gốc vẫn còn thì nó sẽ lại sinh sôi, nẩy nở cho đến vô cùng. Hãy nói đến một trong những thành phần chủ yếu của cái gốc ấy.


Từ thi hoa hậu đến thi thanh lịch, thời trang


Chúng ta đều biết làm đẹp là một nhu cầu bậc cao của loài người. Từ chỗ làm sao có đủ cái ăn, cái mặc, con người tiến lên mặc đẹp, ăn ngon. Nhu cầu làm đẹp vừa là thế mạnh - và cả thế yếu - của người phụ nữ. Thế mạnh, vì người phụ nữ đã dùng sắc đẹp chinh phục nam giới. Thế yếu, vì người phụ nữ bị bắt buộc phải làm thế để chiều chuộng người khác giới. Những câu trong Chinh phụ ngâm: “Vắng chàng, điểm phấn trang hồng với ai - Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng” đã cho thấy rõ mục tiêu của sự làm đẹp. Có lẽ, khi người đàn bà đã qua cái thời hái lượm, hết đóng vai trò chủ động của một xã hội mẫu hệ, chuyển vai trò ấy cho người đàn ông phụ hệ trong nền sản xuất canh tác, thì người đàn bà mới ý thức hơn về sự làm đẹp, đồng thời tự tìm cho mình sức mạnh trong cái thế yếu.


Làm đẹp, rõ ràng là một nhu cầu xã hội mỗi ngày đang có chiều hướng gia tăng. Đàn bà tìm đủ mọi cách để mình được đẹp, và để tưởng rằng mình đẹp, đi từ các thẩm mỹ viện, các hiệu thời trang đến những ảnh viện nghệ thuật và bàn trang điểm, nơi đó ngoài các mỹ phẩm, dược phẩm, còn có củ nghệ giã nát và cả dưa leo xắt mỏng… Đàn ông, dĩ nhiên, tìm đủ mọi cách cổ vũ cho nhu cầu này. Để được thỏa mãn về phần xúc cảm, để thấy mình được chị em cưng chiều, và quan trọng hơn là để kiếm lời: vô số các ông đã làm giàu lớn nhờ tài nống mũi, xẻ môi, độn mông, nâng ngực, nhờ những công ty mỹ phẩm, cửa hiệu thời trang, nhờ viết sách báo dạy bảo cách ăn mặc đẹp và cả một ngàn lẻ một thứ dịch vụ khác để giúp tân trang, cải tạo con người về mặt hình thức, dầu ba phần tư loại đó là trò bịp lừa. Nói chung, sự nghiệp gia công làm đẹp, đến từ hai phía, hiện nay đang khiến xã hội mất hẳn quân bình trong việc kiếm tìm giá trị, khiến nó chao đảo trong sự phát triển.


Thật ra, không ai lẩm cẩm, dở hơi lên tiếng phản đối sự kiện làm đẹp của người phụ nữ. Làm đẹp, trong một mức độ nào đó, là một nhu cầu xã hội, vừa là vấn đề tự trọng của những cá nhân. Chúng ta chỉ phản đối sự làm đẹp khi nó vượt khỏi ni tấc vốn có, và cần phải có, của một xã hội đang cố gắng bằng mọi giá vượt ra khỏi đói nghèo, đang không ngừng nghỉ kêu gọi tiết kiệm và chống lãng phí nhiều mặt, để mà vươn lên tránh cái nguy cơ tụt hậu. Và chúng ta chỉ chống sự làm đẹp khi nó đang bị lợi dụng trong kiểu kinh doanh bất chính của một số người, trở thành đầu mối của nhiều tệ nạn xã hội. Chưa nói sự làm đẹp đó, trực tiếp hoặc gián tiếp, chịu sự tác động từ các đồng tiền bên ngoài, và các thế lực chường mặt hay giấu mặt này không chỉ nhằm vào mục đích kinh tế hay là văn hóa đơn thuần mà rất có thể nuôi nhiều ý đồ chính trị. Đây không phải là một sự suy diễn võ đoán có tính chụp mũ, nhưng là kết quả của những tìm hiểu đã được thực tiễn chứng minh. Làm đẹp, hiện nay, đã là sự kiện rất bất bình thường, có tính hủy hoại hơn là xây dựng, trong đó những người phụ nữ, trước hết, trở thành nạn nhân.


Đã vậy, nhiều trò kích thích sự làm đẹp ấy lại được nuôi dưỡng, cổ võ hết sức nồng nhiệt trên các báo, đài. Đó là những cuộc thi hoa hậu cùng các loại thi thanh lịch, thời trang. Trừ một số người thật sự vững mạnh biết chống chỏi lại những sự lôi cuốn của các đua đòi, thời thượng, còn thì khá đông dễ bị chi phối một cách thụ động bởi những khêu gợi từ môi trường sống. Những kẻ thích chạy theo mốt, chạy theo các loại thời trang, không hề nghĩ rằng chính nhà tạo mốt người Pháp, nổi tiếng ở trên thế giới, là Yves Saint Laurent, đã từng phát biểu cách đây không lâu và được báo chí đăng tải, rằng: “Chạy theo thời trang là mất nhân cách”. Những hạng người này dễ dàng đồng hóa với các loại giá trị… dỏm, vì những giá trị loại này không đòi hỏi nhiều nỗ lực về mặt tinh thần. Trong những xã hội chưa thật sự bình đẳng giữa nam và nữ thì những người nữ, quen sống thụ động, lại càng ưa sự đua đòi về mặt hình thức. Các cô hoa hậu, với họ, là những thần tượng, dầu là hoa hậu nước ngọt, hoa hậu bia lon hay là hoa hậu bột giặt. Những thần tượng này khuyến khích các cô gái trẻ lo chuyện may mặc, chăm việc phấn son, học các kiểu dáng uốn éo, tự ngắm nhìn mình hơn là lo cho nhân cách, trí tuệ, thích ăn xài hơn tiết kiệm, muốn chuyện phô trương hơn là sự giữ khiêm cung. Nếu là con những nhà giàu thì các cô ít băn khoăn về những xuất xứ của các đồng tiền được cha mẹ cho ăn diện: đó là kết quả của sự lao lực, lao tâm chính đáng, hay là có được từ trò buôn lậu, từ ngón tham ô, hoặc từ thủ đoạn ăn cắp của công một cách vô lương. Nó từ đâu đến? Khỏi cần suy nghĩ. Miễn là có tiền để phủ lụa là, phấn son lên người, thế là quí rồi. Còn những cô gái nhà nghèo không tự chế ngự được mình trước những đòi hỏi chưng diện, ăn xài, tất sẽ dễ dàng chấp nhận mọi sự sa ngã, miễn được đánh đổi bằng tiền.


Cách đây khoảng 30 năm, trên tờ Tin Văn ấn hành tại Sài Gòn này, chúng tôi cũng đã phản đối việc thi hoa hậu, và chị Vân Trang có trích tài liệu từ báo nước ngoài rằng những hoa hậu, ở trên thế giới, hầu hết đều có cái đoạn cuối đời hết sức bi thảm. Có thể hoa hậu ngày nay may mắn hơn chăng, đó là điều còn chờ đợi. Nhưng không chắc gì họ sẽ hưởng được hạnh phúc, vì cái giá họ phải trả cho danh vị này quá đắt - về mặt thời gian, về mặt nhân cách, về mặt ứng xử và những mặc cảm nhiều loại.


Nghe nói, trong cuộc gặp mặt của các đại biểu phụ nữ trên toàn thế giới vừa qua ở Bắc Kinh, một phụ nữ Mỹ cũng đã lên án gay gắt cuộc thi hoa hậu. Theo bà, không có gì nhục nhã hơn cho giới chị em khi họ chấp nhận để cho đàn ông định ra ni tấc cho các vòng ngực, vòng eo của mình để mà đánh giá đẹp, xấu, để mà chấm điểm, toàn quyền cân đo đong đếm trên cái hình thể đàn bà. Và cũng không gì là vô lý hơn khi mỗi cuộc thi lại chọn ra một hoa hậu và vài á hậu - theo con mắt nhìn của họ - và bao nhiêu kẻ còn lại tự thấy là mình bị loại, vì rằng mình xấu. Mặc cảm mình là người xấu được trút lên một đám đông rất lớn, và họ lãnh cái án ấy kể như suốt đời từ cái sự kiện tồi tệ - là thi hoa hậu - gây ra. Có lẽ người đại biểu ấy thật sự đã thấy bất bình khi bọn đàn ông tiếp tục những thứ trò chơi xúc phạm như thế lên trên cuộc đời của giới phụ nữ, tiếp tục sử dụng cái quyền chúa tể đã lỗi thời rồi. Nếu được biết thêm rằng đồng tiền do một số công ty, tổ chức nước ngoài bỏ ra cho dân bổn xứ thực hiện các cuộc thi này, thật sự đã được xuất xứ từ đâu và nhằm thực sự vào mục đích gì thì vấn đề không giản đơn như ta vẫn tưởng. Kẻ viết bài này, đã từng nhận lời chấm một cuộc thi sắc đẹp, chỉ mong được biết cụ thể về những đồng tiền đầu tư như thế.


Sẽ có nhiều người bảo rằng ở trên thế giới nhiều nước gọi rằng phát triển, có đời sống cao vẫn thi hoa hậu, tại sao ta lại quan niệm vấn đề một cách hẹp hòi, cổ lổ? Trước hết, chúng ta không phải là họ, và họ không phải chúng ta, trên quan niệm sống, trên những nhận thức về giá trị người, trên những đòi hỏi trước mắt cũng như tương lai. Chúng ta cũng không bắt buộc phải làm mọi thứ họ làm, và chúng ta đã tồn tại qua nhiều sóng gió lịch sử nhờ ta đã biết suy nghĩ theo cách riêng biệt của mình. Từ khi còn rất khổ nghèo và bị đế quốc, thực dân áp bức, chúng ta từng đã đứng lên với những khát vọng thật cao về cuộc sống này. Chính chiều cao ấy của những khát vọng đã giúp chúng ta chiến thắng kẻ thù mạnh hơn gấp bội.


Kỷ niệm 30 tháng 4 và 1 tháng 5 năm nay, chúng ta có dịp để thấy trở lại rằng những thành tích lớn lao đạt được vừa qua là nhờ ở những phẩm cách tuyệt vời về mặt tinh thần. Không có những giá trị ấy làm cái xương sống, chúng ta khó lòng vượt khỏi cuộc đời lệ thuộc tối tăm. Nay đã hòa bình, bên cạnh các vẻ đẹp về tinh thần đã gầy tạo được, chúng ta có thêm thì giờ, phương tiện để lo cái đẹp về mặt thể chất. Điều đó hoàn toàn không cho phép ta được lấy cái đẹp hình thể lấn át - thậm chí thay thế - cái đẹp tinh thần. Nếu vậy, đó quả là một nguy cơ, vì đó chính là tụt hậu.


Nhu cầu giao lưu với toàn nhân loại có thể đòi hỏi nơi ta những sự nhượng bộ, về mặt nào đó, nếu nhượng bộ ấy không đi ngược lại định hướng của mình. Một xã hội đã đứng lên vì những quyền lợi chính đáng của người lao động, vì sự tôn trọng, đề cao phụ nữ, vì nền độc lập và sự tự do quý nhất của mình không sao chấp nhận các loại sinh hoạt mang tính hạ đẳng của những cuộc thi hoa hậu cùng với các thứ gọi là thanh lịch, thời trang. Dĩ nhiên, hoa hậu không thể xuất thân từ những thành phần lao động khổ nghèo và càng không thể là loại hạng người siêng năng làm việc, dậy sớm, thức khuya. Hiện nay, để cho các cuộc thi này bớt vẻ trần trụi, thô tục của một số người hiếu sắc, người ta có thêm vào vài câu hỏi gọi là… “kiến thức”. Báo chí đã diễu cợt nhiều cái loại kiến thức ngụy trang này rồi. Không phải quệt vài vết son lên một khúc gỗ là biến nó thành những cây cột đền. Còn những cô gái đang còn là học sinh, sinh viên, đến trường là để rèn luyện nhân cách, trau dồi kiến thức chứ không phải để học cách ăn diện và khoe đùi, ngực. Không nên làm thêm tủi nhục những gia đình nghèo, vốn rất đông đảo, đang đóng góp phần quan trọng cho sự vững mạnh của dân tộc này. Những cô gái sống nết na, chăm học, chăm làm, nhưng phải chịu đựng một nắng hai sương chứ không có thừa thì giờ trau chuốt, cần được hỗ trợ tinh thần nhiều hơn, cần được báo đài chiếu cố cũng như xã hội quan tâm. Những cuộc thi về thời trang, về sắc đẹp cho thấy chúng ta chạy theo kinh tế thị trường một cách bị động, gần như đã muốn tự phủ nhận mình.


Chúng ta yêu mến cái đẹp hình thể nhưng yêu mến hơn cái đẹp nội dung. Cái đẹp bên ngoài phần nào chỉ là kết quả của sự rủi may. Cái đẹp bên trong bao giờ cũng là kết quả của sự phục thiện, của lòng tự trọng, của phấn đấu và kiên trì. Không thể vì những vé số bán đầy trên các đường phố mà chúng ta lại coi trọng các sản phẩm của sự rủi may hơn các giá trị của sự nỗ lực!


Sự ngăn chặn của gia đình


Tổ chức cuộc thi hoa hậu các loại không phải là chuyện của các gia đình. Nhưng gia đình có toàn quyền hưởng ứng hay không hưởng ứng.


Chúng ta mong đợi một sự nhận thức trở lại về vấn đề này. Tất cả những trò đua đòi, ăn diện, khoe ngực, khoe mông đều là những tảng đá lớn lót đường cho sự đĩ hóa tâm hồn. Một khi tâm hồn đã đĩ hóa rồi, thì cái thể xác chỉ là vấn đề phụ thuộc.


Không chỉ những gia đình lớp trung lưu trở lên - mà con cái mới có đủ điều kiện tham gia vào các cuộc chơi mất nhân phẩm này - mà cả những gia đình nghèo, không nuôi hy vọng gì con cái mình được tròng vào đầu những thứ vương miện ngụy tạo, cũng nên cho con cái mình những nhận thức đúng về các cuộc thi như thế. Xin đừng tưởng rằng người ta dễ kiếm việc làm và kiếm chồng giàu bằng các nhãn hiệu hoa hậu hay là á hậu. Cái đó chỉ là giai đoạn khởi đầu. Đoạn sau mới là đáng kể.


Những người thiếu nữ có giá trị thật và có quan điểm tiến bộ không mong tiến thân bằng da thịt mình và bằng vải vóc cùng những mỹ phẩm các loại. Họ chinh phục bằng kiến thức, bằng nhân cách, bằng quan niệm sống cao đẹp, trong đó nổi bật là sự tự trọng và lòng vị tha.


1995


(còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn. Bản thảo biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.


www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
Sông Ba, Cầu Đà Rằng & Cầu Dinh - Giấc mơ 300 năm - Phạm Ngọc Hiền 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (12 A/ tiếp & hết) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (12) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (11) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (10) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (9) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (8) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (7) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (6) - Huỳnh Quang 29.08.2019
xem thêm »