tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29481326
29.11.2018
Vũ Bằng
Nói có sách (7)


TAM SINH, TAM VÔ, TAM SAO


“Tam sinh” là từ của tôn giáo theo quan điểm, có ý nghĩa là con người chết đi sống lại ba lần mới thực hết kiếp. Vì thế ta thường gọi kiếp người là kiếp “ba sinh”. Song riêng trong việc lễ bái, lễ “tam sinh” lại có nghĩa là cái lễ mà đồ cúng là ba con vật. Ba vật ấy hoặc lớn có trâu, heo, dê, nhỏ thì có gà, cua, tôm v.v…


“Tam vô” là ba cái không. Trong sách Kinh Lễ nói: “Nhạc tấu không có thanh âm là một cái không; Tế lễ mà không có nghi thức là hai cái không; Tang chế mà không có vật để trở (khăn trắng, gậy vông…) là ba cái không”.


Ba cái không hay là ba điều tối kỵ.


Trong thời kỳ chiến tranh để giữ bí mật, người ta cũng đề ra khẩu hiệu “tam vô” tức “không nghe”, “không thấy”, “không biết”, để ứng phó với gián điệp đối phương muốn dò la, thăm hỏi tình hình.


“Tam sao thất bản” có hai nghĩa, hiểu theo nghĩa nào cũng được cả.


1) Ba lần sao chép lại thì mất nguyên bản (thất là mất).


2) Ba lần sao chép lại thì bảy bản khác nhau (thất là bảy).


Đến nay, không ai rõ các cụ ta ngày xưa viết chữ “thất” nào. Song cả hai đều có nghĩa. Sao chép nhiều bản, thì làm sao tránh được cho nguyên văn khỏi bị sai lệch?


LY HÔN VÀ LY THÂN


Hai từ này rõ nghĩa nhưng có một số người, nhất là các bà các cô hay dùng lầm. Ta cũng nên biết sơ qua:


“Ly hôn” hay “ly dị” và việc hai vợ chồng lấy nhau có lập hôn thú, được phép bỏ nhau do đơn của một bên được tòa án ra phán quyết công nhận, đồng thời với việc ly hôn, vấn đề tài sản và con cái của hai vợ chồng cũng được giải quyết dứt khoát.


Sự ly hôn có hiệu lực tiêu hủy hôn thú giữa hai vợ chồng, khiến hai đàng có thể tái lập hôn thú với người khác sau khi án văn đã thành nhất định và đã được chuyển tải vào sổ bộ hộ tịch.


“Ly thân” là một biện pháp tạm thời cho phép vợ chồng có cơ sở riêng biệt khi tòa xét có duyên cớ chính đáng phạm tới nghĩa vụ và quyền lợi của vợ chồng đến nỗi sự sống chung với nhau không thể tiếp tục được nữa.


Sự ly thân cũng cho phép giải quyết tạm thời vấn đề của cải và con cái của hai bên vợ chồng, nhưng không có hiệu lực đoạn chung hôn thú nên hai đàng không thể lập hôn thú với người khác được.


PHÁT TRIỂN, PHÁT HUY, PHÁT SINH


Cả ba từ này đều được người ta hàng ngày nói tới nhiều, nhưng đôi khi dùng sai vì không phân biệt rõ nghĩa của mấy chữ “triển”, “huy” và “sinh”. Trước đây, có một ký giả viết trong một bài phóng sự: “Tư tưởng chán đời phát huy từ đó, nhưng phải đợi đến bốn tháng sau, cô X mới quyết định nhảy từ lầu 7 ở khách sạn Ca-ra-ven xuống đất”.


Thay vì “phát huy”, ở trong câu đó, phải nói là “phát sinh” mới đúng.


“Phát triển” là mở rộng ra, trải rộng ra, như phát triển nông thôn, phát triển ngành chăn nuôi (chữ “triển” đây tương tự như chữ “triển vọng”).


Thí dụ: Do có chính sách đúng đắn công tác nông nghiệp ngày càng phát triển vững chắc.


Từ “phát huy” có nghĩa là tỏa ánh sáng ra, đem nghĩa lý, học thuyết bàn luận về những cái ý tứ trước vẫn giữ thầm kín, hay chưa được nhiều người biết.


Thí dụ: Phát huy một nghệ thuật, một học thuyết cho ánh sáng tỏa rộng ra.


Điều chú ý là những ý niệm, phát huy là đã có rồi, bây giờ chỉ làm tỏa ánh sáng ra thôi, chớ “phát sinh” thì không thể: Cái gì phát sinh là trước đây chưa có, bây giờ mới nảy ra. Người con gái nói trên kia từ trước chưa chán đời, gặp sự thất vọng mới chán đời, thế là cái tư tưởng chán đời phát sinh từ đó. Lại nữa, tư tưởng chán đời ấy không hay ho chi, đâu có cần phải tỏa ánh sáng ra làm gì!


TRÂN TRỌNG VÀ TRANG TRỌNG


Nhiều chữ ta dùng sai nghĩa, nhưng dùng quen rồi thành ra nghĩa sai lại trở nên nghĩa chính: Những chữ tử tế (nghĩa chính là tinh mật kỹ lưỡng), lịch sự (nghĩa chính là trải đời) đều quen dùng theo nghĩa hiền hậu, và sang trọng.


Theo ông Lãng Nhân, chữ “trân trọng” nghĩa là xem quý trọng thân mình nên giữ gìn sức khỏe (trong Kiều có câu: Gìn vàng giữ ngọc cho hay - ngại ngùng một bước một xa, một lời trân trọng châu sa mấy hàng) khác với “trang trọng” có nghĩa là đoan chính, kính trọng.


Muốn cho thật đúng, ta phải viết hay nói: “Tôi trang trọng mời ông đến xơi cơm với tôi vào ngày…” nhưng bây giờ ai cũng quen miệng “tôi trân trọng mời ông…”.


Bây giờ các thiếp mời dự tiệc đám cưới đều viết “trân trọng kính mời” có lẽ cũng hàm cái ý bảo nhỏ người được mời nên giữ gìn.


Nhân đây, cũng nên nói thêm một hai câu về chữ “lưu ý”. Trước đây, ai cũng viết và nói: “Tôi xin quý vị lưu ý”. Không hiểu tại sao ít lâu nay, theo cái mốt nào, người viết văn nói chuyện lại bắt chước nhau nói “tôi lưu ý quý vị”.


Có người bảo viết như thế cũng là một cách để tỏ cho biết là người nói không coi người nghe ra gì, mà lại còn có ý dọa “tôi để ý đến ông, ông coi chừng!”.


NGHỆ SĨ, NGHỆ NHÂN, NGHỆ SƯ, NGHỆ THUẬT GIA


Có người tò mò giở tự điển Trung Hoa tìm chữ “nghệ sĩ” không thấy, chỉ thấy “nghệ nhân”, “nghệ sư”, “nghệ thuật gia”, lấy làm thắc mắc, tự hỏi chữ “nghệ sĩ” ta dùng rất thường có lẽ sai chăng?


Đây là một chữ có lẽ dùng lâu ngày quen tai thành ra cứ được dùng luôn, không cần phải có trong tự điển. Vả lại, tự điển Trung Hoa được soạn ra từ lâu đời rồi, làm sao chú được những chữ dùng theo nghĩa riêng của ta và thời đại ta như chữ “sĩ”? Nghệ sĩ, chúng ta hiểu là những người làm nghề trí thức như văn sĩ, thi sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ, kịch sĩ, thuật sĩ, dược sĩ… Có nghề không lấy trí thức làm tiêu chuẩn cũng dùng chữ sĩ: Nghị sĩ!


Theo ông Lãng Nhân, từ “bác sĩ” trỏ những người thầy thuốc, chỉ là một thứ ước hiệu, vì nghĩa chính của nó là kẻ sĩ học rộng. Vì thế ta không nên lấy làm lạ có những chính khách không học thuốc bao giờ, không đỗ bác sĩ bao giờ mà cứ được kêu là “bác sĩ”.


Mặt khác, chữ “sĩ” một khi đã dùng được trong từ “nha sĩ”, rất có thể còn được dùng trong khoa mắt, dạ dày và tai mũi họng và chúng ta sẽ có những “mục sĩ” “tỳ vị sĩ” “nhĩ tị hầu sĩ”…


Cũng như các bậc “nhân sĩ”, có lẽ vì hiếm hoi quá nên cũng không có trong tự điển. Hay là tại ta đã đổi hai chữ “thân sĩ” ra là “nhân sĩ” cho hợp thời trang (và để tránh cho người ta đừng lầm thân sĩ và nhân sĩ thân chính quyền).


CẦU AN


Từ “cầu an” khởi thủy được người ta nói đến nhiều là sau cuộc vạn lý trường chinh của Trung Hoa. Cuộc trường chinh này gian nan vất vả hết sức, các bạn đọc đều đã biết. Những lúc quân sĩ chán nản vì đói rét, vì bệnh tật, vì chết chóc nhiều quá, các cán bộ, chính trị viên thường vẫn phải tìm cách nâng cao tinh thần binh sĩ bằng các buổi nói chuyện. Trong các câu chuyện đó, danh từ “cầu an” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, đại ý khuyến cáo quân sĩ phải hăng hái lên, đừng có tinh thần cầu an, nghĩa là gặp lúc quốc biến gia vong thì phải hăng hái chiến đấu, dù chết cũng không quan ngại, chớ đừng nên nghĩ lấy chuyện an thân cho riêng mình mà bỏ bê phận sự của người dân cứu nước.


Từ “cầu an” nguyên thủy chỉ có ý nghĩa đó thôi, sau này người ta đem dùng rộng ra như thường viết và nói trong bất cứ trường hợp nào, thành ra có lắm chỗ làm sai cả ý nghĩa hai chữ “cầu an” đi.


PHỦ NHẬN, CÔNG NHẬN, XÁC NHẬN


Ít lâu nay, người ta dùng nhiều chữ “phủ nhận”, nhưng không phải vì thế mà người ta dùng đúng nghĩa. Đến bây giờ vẫn còn có một số người cho rằng, phủ nhận tức là “nhận”. Sự thực trái hẳn: Phủ nhận tức là chối bỏ, không thừa nhận; có cái ý tương tự như thủ tiêu, bác bỏ.


Thí dụ: Kỷ cương của xã hội phong kiến là thủ tiêu vai trò của cá nhân, phủ nhận tư cách độc lập của cá nhân, thực chất là không đếm xỉa gì đến quyền lợi của quần chúng để chỉ thừa nhận vai trò, quyền uy, lợi ích của kẻ cầm quyền, kẻ cầm đầu mọi tổ chức, kẻ đứng đầu mọi quan hệ.


“Phủ nhận”, nói một cách khác, có nghĩa trái hẳn với công nhận. Chữ “công” đây có thể hiểu theo nghĩa công khai, hay công cộng tức là cùng nhận. Vì thế có nhà nho cho rằng khi một người nói ra thì không thể dùng chữ “công nhận” được.


Thí dụ: Tôi công nhận rằng truyện trào phúng khác với truyện khôi hài: Khôi hài chỉ nhằm vào mục đích giải trí, còn trào phúng là những chuyện vui cười có mục đích chủ yếu là phê phán. Nói như thế không được. Phải nói là “Tôi nhận…”. Chữ “công nhận” chỉ có thể dùng khi nào có nhiều người nhận.


Thí dụ: Nhiều người công nhận rằng truyện vui cười chĩa mũi nhọn vào những thói hư tật xấu của con người, bất luận thuộc vào tầng lớp nào trong xã hội, chớ không phải chỉ nhằm vào bọn tư bản hay tiểu tư sản.


Chữ “xác nhận” có ý nhấn mạnh hơn, quả quyết hơn. Chữ xác nhận dùng ở đây đồng nghĩa với chữ “xác” trong danh từ “xác định”, “minh xác”.


Thí dụ: Tôi xác nhận rằng tôi lầm, và tôi rất hối hận về cử chỉ của tôi. Từ “xác định” rộng hơn xác nhận và được dùng trong trường hợp phải đưa ý kiến trong một vấn đề gì nhất định.


Thí dụ: Xét ra trong cuốn Cổ tích nước Nam, ông Nguyễn Văn Ngọc không xác định rõ tiêu chuẩn phân loại cho nên khi thì ông chú ý đến nội dung, khi thì ông lại chú ý đến hình thức nhiều hơn.


QUAN HỆ, QUAN TRỌNG


Nhiều người lầm chữ “quan hệ” và “quan trọng” đồng nghĩa với nhau. Họ nói: “Việc đó quan hệ lắm” với ý nghĩa “việc ấy quan trọng lắm” rồi do đấy cho rằng khi dùng chữ “quan hệ” làm chủ từ thì cũng như quan trọng và dịch: “L’importance de vivre” - sách của Lâm Ngữ Đường - ra là “Quan hệ của sự sống”.


Thường thường khi dùng làm chủ từ, chữ “quan hệ” có một ý nghĩa khác. Quan hệ không phải là “importance” nhưng là “rapport” - quan hệ với nhau.


Thí dụ: Sự quan trọng của dân ca nằm ở chỗ nó là một tài liệu nghiên cứu rất hay về nguyện vọng và ý muốn của nhân dân. Quan trọng không có ý so sánh sự việc, hai yếu tố, nhưng quan hệ thì nhất định phải có sự so sánh.


Hay: Quan hệ địa chủ và nông dân ở nông thôn trước đây thường nằm ngay trong quan hệ gia đình như quan hệ dì ghẻ con chồng, vợ cả, vợ lẽ thậm chí có khi cả trong quan hệ mẹ chồng nàng dâu nữa. Hay: Quan hệ tình cảm của con người với thiên nhiên từ xưa đến nay vẫn còn ghi trong những lời thơ sinh động.


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
Sông Ba, Cầu Đà Rằng & Cầu Dinh - Giấc mơ 300 năm - Phạm Ngọc Hiền 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (12 A/ tiếp & hết) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (12) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (11) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (10) - Huỳnh Quang 01.09.2019
Người con của mẹ Năm Bê (9) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (8) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (7) - Huỳnh Quang 29.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (6) - Huỳnh Quang 29.08.2019
xem thêm »